ĐẠO TRADING GIAO DỊCH và trade theo những triết lý riêng, sâu sắc Đây là một trong những kiến thức cực kỳ quan trọng và cần thiết khi bước chân vào thị trường đầu tư – giao dịch chứng khoán, ngoại hối, để chiến thắng thị trường, từ đó kiếm tiền và làm giàu
Trang 1PHẦN 2
PHƯƠNG TIỆN
“Tâm thức tôi trưởng thành từ nghề trading.” – Vô Vi
Trang 2Thị trường tài chính ra đời xuất phát từ nhu cầu mua bán trao đổi huy động vốn và có tác động tích cực lên sự phát triển kinh tế Thực tế, người ta không chỉ dừng ở nhu cầu đó mà luôn ham muốn lợi nhuận cao nên cố ý tạo ra vô số cạm bẫy về giá cả cũng như thông tin Thế nên, chúng ta cần xác định rằng trading luôn phải đối diện với tình trạng không chắc chắn, rủi
ro cao và không có một phương pháp nào có thể dự đoán đúng hoàn toàn mọi động thái của thị trường
Có một điểm chung nhất là mọi người tham gia thị trường, kể cả giao dịch tự động đều
phải “nhìn” vào GIÁ để ra quyết định cuối cùng nên nó mang tính thực nhất Đó là lý do mà Đạo Trading giới thiệu kỹ thuật minh sát giá làm nền tảng cho công việc giao dịch
Phần này sẽ mô tả các nguyên lý vận động chung nhất của thị trường, cách thức quản
lý vốn, kỹ năng giao dịch từ quan sát học hỏi và trải nghiệm thực tế của tôi Đặc biệt, Đạo
Trading đề nghị thiết lập một bộ quy tắc ứng xử đối với công tác giao dịch luôn có xét đến yếu
tố tâm tánh con người, chứ không chỉ toán học thống kê hay các kiến thức kinh tế Chúng ta
sẽ chú ý tác động vào tiềm thức của chúng ta, “dặn dò” và “dạy bảo” nó thường xuyên để giảm thiểu sự phát tác của nó trong khi năng lực chánh niệm của chúng ta chưa đủ mạnh
Để tiện cho bạn đọc mới làm quen với kỹ thuật phân tích, tôi có giới thiệu một số khái niệm rất cơ bản nên nếu ai đã có kinh nghiệm thì xin cứ tự nhiên bỏ qua Ngoài ra, nếu kiến thức của bạn có khác biệt với một số vấn đề trình bày ở đây thì cũng là điều bình thường bởi
sự quan sát học hỏi của mỗi người là không giống nhau
Phần này gồm các chương sau:
1 Công cụ
2 Qui luật vận động
3 Kỹ năng giao dịch
4 Quản lý vốn
5 Phá “cản” tâm
Trang 3Chương 1
CÔNG CỤ
Trading là một nghề kiếm tiền tiềm ẩn rủi ro cao nhưng lợi nhuận tiềm năng cũng rất lớn nên người ta không tiếc công sức để tìm tòi nghiên cứu, sáng tạo ra các phương pháp giao dịch đa dạng nhằm làm chủ thị trường Khi bước chân vào nghề này, chúng ta sẽ phải đối diện với rất nhiều phương pháp, vô số những lời lẽ quảng cáo cùng những bằng chứng lợi nhuận đầy thuyết phục, rồi các khóa huấn luyện đào tạo… cho nên sẽ rất khó khăn để lựa chọn con đường đi phù hợp với mình Trong quá trình tìm hiểu và ứng dụng đạo Phật vào công việc trading, tôi bất ngờ phát hiện ra những điều tương tự đã được Đức Phật giảng giải trong bài kinh Kalama từ thuở xa xưa Ngài dạy chúng ta đừng bao giờ nên tin vào một điều gì hết, chỉ những gì tự mình biết rõ rồi thì ta mới có thể tin
- Bạch Ngài, có một số du sĩ, Bà-la-môn, đến Kesaputta Họ thuyết minh và phát huy giáo lý của mình, nhưng họ bài xích, khinh miệt, chê bai và xuyên tạc giáo lý người khác Lại
có một số du sĩ, Bà-la-môn khác đến Kesaputta, họ cũng thuyết minh và phát huy giáo lý của mình, nhưng họ cũng lại bài xích, khinh miệt, chê bai và xuyên tạc giáo lý người khác Bạch Ngài, đối với những người ấy, chúng con nghi ngờ phân vân: "Trong những du sĩ, Bà-la-môn này, ai nói đúng sự thật, ai nói không đúng sự thật?"
- Này quý vị Kalama, đương nhiên quý vị có những nghi ngờ, phân vân! Khi có điều đáng nghi ngờ, đương nhiên phân vân khởi lên
Này quý vị Kalama, đừng tin vì nghe truyền khẩu, đừng tin vì đó là truyền thống, đừng tin vì nghe đồn đại, đừng tin vì được ghi trong kinh điển, đừng tin vì lý luận, đừng tin vì suy diễn, đừng tin vì đã tư duy trên mọi lý lẽ, đừng tin vì dựa theo ý kiến đã được cân nhắc, đừng tin vì vị ấy có vẻ có uy quyền, đừng tin vì nghĩ rằng vị ấy là thầy của mình
… Nhưng này quý vị Kalama, khi nào quý vị tự mình biết rõ: ‘Các pháp này là bất
thiện; các pháp này là đáng chê; các pháp này bị người trí chỉ trích; các pháp này nếu được thực hiện và chấp nhận, sẽ đưa đến bất hạnh khổ đau’, quý vị hãy từ bỏ chúng"
… Nhưng này quý vị Kalama, khi nào quý vị tự mình biết rõ: ‘Các pháp này là thiện;
các pháp này là đáng khen; các pháp này được người trí ca ngợi; các pháp này nếu được thực hiện và chấp nhận, sẽ đưa đến lợi lạc hạnh phúc’, quý vị hãy đạt đến và an trú"
***
Trang 4Kỹ thuật MINH SÁT GIÁ được lựa chọn ở đây bới tính đơn giản, dễ hiểu, chỉ yêu cầu khả năng quan sát ghi nhận mà không đòi hỏi khả năng tư duy cao, kiến thức sâu rộng Nó đi thẳng vào thực tế thị trường trước mặt nên cũng phù hợp với thiền vipassana (thiền minh sát) Bạn nên có quá trình thử nghiệm kỹ thuật này và hoàn thiện nó trước khi có thể “đặt cược” vào
nó Cũng không vội tin điều tôi chia sẻ nếu nó không giúp bạn cảm nhận đúng sự vận động của thị trường hay không phù hợp với bạn
Khi mới làm quen với kỹ thuật này, chúng ta chưa phát triển được khả năng cảm nhận thị trường nên cần chú trọng sử dụng các công cụ hỗ trợ từng bước, rồi từ từ nắm bắt các qui luật vận động, tức là “thói quen” của thị trường Khi thuần thục thì chúng ta có thể minh sát và
cảm nhận trực tiếp trong từng tình huống thị trường cụ thể Ở đây xin nhắc lại là chúng ta chỉ
giao dịch dựa trên chuyển động thị trường đang xảy ra trước mặt (sự vận động của giá) mà không quan tâm đến các lý do phía sau bởi mức độ đan chéo, phức tạp và không minh bạch của chúng Các công cụ và thành tố hỗ trợ có thể tạm thời được phân chia thành 3 nhóm dựa trên tính chất của chúng:
Nhóm Bản chất: các thành tố này không nhìn thấy trực tiếp được mà chỉ cảm nhận
được, gồm: áp lực (pressure), đà đẩy (momentum), dao động (volatility), trở lực (resisting)
Khi thuần thục thì chúng ta chỉ còn cảm nhận chuyển động tổng thể
Nhóm Hình tướng: các công cụ cơ bản có hình tướng ghi nhận cụ thể, bao gồm: đồ thị (chart), khung thời gian (time frame), giá & nến (price & bar), khối lượng (volume), xu hướng
& phi hướng (trend & range), sóng (wave)
Nhóm Hỗ trợ: các công cụ bổ sung giúp phát hiện ra sự biến đổi: mẫu hình (pattern),
kênh (channel), đường xu hướng (trendline), mức cản dưới/cản trên (support/ resistance), mức
dự phóng (measured move, Fibonacci ratio), mức then chốt (pivot point)
1 NHÓM BẢN CHẤT
Theo nguyên lý khớp lệnh thì khi các lệnh mua bán được đưa vào thị trường mà gặp nhau ở cùng một mức giá và thời điểm thì sẽ khớp nhau và tạo ra một giao dịch Dù tốc độ máy tính cao, lệnh cùng giá vào nhiều, nhưng chúng vẫn phải xếp hàng theo trật tự vào trước
ra trước (FIFO) Độ lớn của lệnh và độ lớn của giao dịch có thể khác nhau nhưng trình tự khớp lệnh luôn được tôn trọng Có thể hình dung thị trường như một cỗ máy sản sinh ra các giao dịch (deal) rời rạc theo thời gian Dòng lệnh (orderflow) thực ra là không liên tục và không có
“dòng” nào cả, chỉ là sự biến đổi giá của các giao dịch, khi quá nhanh thì mắt bạn không theo kịp nhưng khi thanh khoản xuống thấp thì dễ thấy là thỉnh thoảng mới có một giao dịch được hình thành Giá không “đi lên đi xuống” mà chỉ có sự thỏa thuận phù hợp tại mỗi thời điểm Giá chỉ biến đổi (change) chứ không chuyển động (move) nhưng để thuận tiện diễn đạt, chúng
ta tạm dùng các từ như: chạy lên, rớt xuống, dòng lệnh, chuyển động, dao động…
Khi mắt quan sát sự thay đổi giá trên đồ thị thực ra là đang quan sát giao dịch đã khớp
từ dòng lệnh thị trường (market orderflow) Dòng lệnh tuôn vào thị trường liên tục từ bên mua
Trang 5và bên bán do mọi lý do, từ mọi ngóc ngách hình thành nên áp lực mua bán thay đổi theo thời gian và khối lượng khớp lệnh thành công là cường độ của thị trường Sự tương tác giữa áp lực
mua và áp lực bán tại mỗi thời điểm được sản sinh ra các giao dịch và được ghi nhận bằng một
con số khái niệm gọi là giá Dòng lệnh vào thị trường vốn không mang tính xác suất, lúc mạnh
lúc yếu, thay đổi tùy số lượng người tham gia thị trường mang theo các nhận định, đánh giá,
kỳ vọng, cảm xúc của họ Một khi nói đến trạng thái thị trường trong khoảng thời gian đang
xét cần chú ý đến hai mặt: mức độ mạnh yếu, tức là cường độ (intensity) và ưu thế đang thuộc
về bên nào, tức là độ thay đổi giá (change)
Cần phân biệt cường độ thị trường với độ thay đổi giá Độ thay đổi giá tăng giảm được tạo ra do sự chênh lệnh giữa áp lực mua và áp lực bán trong khi cường độ là “sự sung sức” của
thị trường được thể hiện qua khối lượng giao dịch khớp lệnh Do đó, giá có thể thay đổi mạnh
trong khi cường độ thị trường có thể mạnh hay yếu Có thể thấy trong trường hợp giá tăng
mạnh nhưng không thấy người mua đuổi theo, tạo ra bẫy tăng giá (bull trap)
Trạng thái thị trường thay đổi không ngừng, hình thành bởi các thành tố đà đẩy (momentum) và dao động (volatility) Đà đẩy là lực đẩy tới, nó là hướng đi của áp lực tổng hợp của thị trường Thông qua đà đẩy, ta có thể cảm nhận sự chuyển hướng hay định hướng
sắp tới của thị trường Hay theo cách nói toán học thì vector xu hướng thị trường gồm có cường
lực (cường độ khối lượng và áp lực giá) và hướng đi (đà đẩy) Đà đẩy thể hiện dòng tư tưởng,
cảm xúc tổng hợp của đám đông đang chảy về hướng nào, khả năng thu hút của nó lên những
ai đang tham gia thị trường và nhờ biểu hiện của nó, thị trường sẽ nhận ra và điều chỉnh lại chính nó
Dao động là một thành tố quan trọng khác trong qui luật vận động của thị trường Thị
trường không bao giờ biến đổi theo một đường thẳng mà luôn có sự tiến thoái, co giật Có khi
tại vùng giá này thì thị trường diễn biến êm ả, có khi lại cuộn xoáy ở vùng giá khác Dao động thể hiện mức độ đối kháng của các bên đối lập đang đánh giá, phán xét thị trường theo ý họ
Nó là động lực làm thay đổi hay củng cố hướng đi của thị trường
Sự đối kháng với hướng đi của thị trường luôn tồn tại theo thời gian, lúc mạnh lúc yếu
Nó cản trở đà tăng giảm của thị trường nhưng cũng góp phần thúc đẩy đà tăng giảm của thị trường sau đó Có những vùng giá mà ở đó sự đối kháng trở lên bất thường, rất mạnh mẽ mà
ta gọi là vùng trở lực (vùng cản, vùng cung/cầu) Trở lực tùy sức mạnh, có thể làm thay đổi áp
lực thị trường, thay đổi hướng đi hiện tại của thị trường từ mức độ suy yếu sang cân bằng
(hướng đi ngang) hay đảo chiều Trở lực xuất hiện càng mạnh tại những vùng giá mà càng
nhiều người đặt niềm tin vào đó hay nói cách khác là cố chấp vào đó, tạo ra những vùng xoáy không rõ hướng đi, rủi ro cao Sự cố chấp ở đây có nhiều dạng khác nhau, từ dạng có ý thức đến dạng không ý thức, từ lý trí đến cảm xúc Thí dụ như một trader có thể dựa vào lý do kinh
tế, chính trị, để quyết định một vùng giá anh ta sẽ mua bán; một trader khác có thể tin vào ai
đó để mua bán; người khác có thể mua bán do bị ám ảnh bởi một ảo tưởng hay một cảm xúc nào đó (cay cú, phấn khích ) Khi số lượng người cố chấp vào một vùng giá nhiều và mức độ
cố chấp càng chặt chẽ thì trở lực này có thể gây đảo chiều hướng đi của thị trường Ngược lại, nếu trở lực này bị vượt qua thì sức mạnh thị trường sẽ gia tăng mạnh mẽ do đám đông hoang
mang sợ hãi phải bỏ chạy theo hướng ngược lại Cũng lưu ý là “số lượng người” ở đây mang
Trang 6ý nghĩa tượng trưng, bởi vì giao dịch của một tay to có thể gây ảnh hưởng tương đương với
giao dịch của rất nhiều trader nhỏ lẻ
Ngoài ra, các hệ thống giao dịch tự động mua bán liên tục với tần suất cao (high frequency trading) cũng dựa vào sự biến động giá để vận hành, tạo thanh khoản và quán tính của thị trường Các trở lực chúng tạo ra tuân theo những qui luật đã được lập trình nên phần nào mang tính ổn định và thụ động
Nhìn sâu hơn vào trở lực tại một vùng giá, ta thấy ra các dạng khác nhau của thị trường
Trở lực có thể thoạt nhìn yếu ớt, kéo dài từ từ hoặc cũng có thể mạnh mẽ, chớp nhoáng Nó
cũng có thể pha trộn giữa hai dạng trên Cách thức phản ứng của thị trường cho thấy mức độ bám chấp và buông tay của các bên đối lập Ta có thể cảm nhận phản ứng thị trường qua thái
độ vội vã hay nghi ngờ tại vùng giá đang quan sát bởi đám đông bị tác động của lòng tham và
nỗi sợ Tùy mức độ trở lực trong bối cảnh đang xét mà nó có thể gây đảo ngược hoặc làm dao động niềm tin của những người đang đứng nắm giữ vị thế hay đứng ngoài, tác động lên hướng
đi tiếp theo của thị trường
Tất cả các thành tố trên biến đổi liên tục không bao giờ lập lại y như cũ, mà theo cách
nói của Mark Douglas thì mỗi thời khắc của thị trường là duy nhất Thế nên, kỹ thuật minh sát
giá không phải cách dự đoán thị trường dựa vào quan điểm lịch sử sẽ lập lại qua tính toán các
dữ liệu mà trọng tâm là quan sát thị trường như nó đang là và phán đoán các hành vi tương tự
sẽ xảy ra Giống như một dòng sông chuyển động luôn có sự thay đổi về dòng nước theo thời gian, thị trường luôn có số lượng người tham gia biến đổi theo thời gian cùng với mọi thay đổi
về suy nghĩ cảm xúc của họ Bạn không thể kỳ vọng những gì bạn đã chứng kiến trong đợt biến động giá trước đó sẽ xảy ra y hệt trong đợt biến động này nhưng các thói quen phản ứng xuất phát từ bản ngã con người là tương tự nhau
Người ta cố gắng lượng hóa các thành tố này qua rất nhiều chỉ báo (indicators) như
MA, MACD, ADX, RSI, ATR, OBV,…nhưng chúng đều có độ trễ nhất định và các tham số, giá trị tính toán có khi phản ánh khá đúng với giai đoạn này nhưng lại không phù hợp với giai đoạn khác của thị trường
Cũng cần quan tâm là bảng điện (liveboard) hoặc dòng lệnh (orderflow) nếu muốn theo
dõi sát sao trong giao dịch hàng ngày Bảng điện tử thường hiện thị vài mức giá và khối lượng
mua bán gần nhất và khi giá khớp lệnh chạy qua chạy lại thì nó cũng đang vẽ đồ thị intraday
(nội ngày) theo bước nhảy của giá khớp lệnh Tổng khối lượng mua bán và mức giá mua bán
thể hiện ở hai bên bảng điện chỉ phản ánh phần nào áp lực mua bán thực sự Có người đứng ngoài chờ mua bán thật nhưng không đưa các lệnh vào xếp hàng Có người vào lệnh xếp hàng nhưng không thực sự mua bán, sẵn sàng hủy lệnh để che giấu những ý định khác
Trang 7Nhận diện áp lực mua bán thực sự trên bảng điện cần kết hợp nhiều yếu tố như tổng khối lượng mỗi bên, độ lớn lệnh, bước giá, tốc độ khớp lệnh (độ dao động), xu thế chung của thị trường lúc đó đòi hỏi kinh nghiệm quan sát và độ bén nhạy của mỗi người Bạn cần cảm nhận được sự vội vã, thận trọng của thị trường cũng như sự
giằng co quyết liệt hay thờ ơ đứng ngoài Khi đội lái vào hàng thực
sự, họ luôn âm thầm, nhẹ nhàng nhưng khi cố tình thể hiện bằng khối lượng dư mua/bán lớn cho mọi người thấy, họ đều có mục đích khác phía sau; rồi sử dụng các chiêu thức chèn lệnh, hủy lệnh,
đè gom, kê xả, tự mình mua bán trao tay Nói chung, áp lực thể hiện trên bảng điện thực hư lẫn lộn, không công thức hóa được, đòi hỏi trader phải tự mình chú tâm quan sát và ghi nhận Cần nhớ rằng luôn tồn tại ba bên: bên mua, bên bán và bên chờ ngoài Tất cả họ đều có thể bất chợt hành động ngoài dự kiến của bạn và hơn nữa, suy nghĩ và cảm xúc của mọi người thường thay đổi khi đối diện với biến động giá
2 NHÓM HÌNH TƯỚNG
Khác với nhóm bản chất, nhóm này gồm các công cụ cơ bản được biểu thị rõ ràng, có thể dùng so sánh, đối chiếu, đo lường cụ thể Các công cụ này đã được qui ước rộng rãi để ghi
nhận lại biến động thị trường theo thời gian nhằm tạo thuận tiện cho việc theo dõi, mô tả và
giao dịch Tuy nhiên, khi đọc thị trường thông qua các công cụ qui ước này, bạn không nên bỏ quên bản chất của thị trường là luôn biến đổi và không lập lại y hệt
2.1 Đồ thị
Đồ thị giao dịch đã được sử dụng cách đây hàng trăm năm trước, là một cách để ghi nhận lại diễn biến thị trường qua các thông số đại diện là giá, khối lượng, thời gian Người ta dùng đồ thị để phân tích, đánh giá thị trường, tìm cơ hội giao dịch và để quản lý giao dịch
Có nhiều dạng đồ thị khác nhau, ở đây tôi sử dụng dạng nến bar thông thường để biểu
thị, không dùng nến Nhật, không dùng thang đo logarit
Đồ thị giao dịch thoạt nhìn giống như đồ thị toán học thông thường nhưng quan hệ giữa giá và khối lượng theo thời gian không tuân theo một qui luật nào cả
Kỹ thuật minh sát giá đơn giản chỉ là giới thiệu cách thức quan sát cảm nhận thị trường
và đồ thị giao dịch chính là công cụ không thể thiếu được trong việc quan sát giá
Trang 8Đồ thị, Giá, Khối lượng và Thời gian
2.2 Khung thời gian
Khung thời gian chỉ là qui ước phân đoạn thời gian giao dịch thành các khoảng bằng
nhau theo các cấp độ tháng, tuần, ngày, giờ, phút… ví dụ như khung thời gian H1 tức là quá trình giao dịch được phân đoạn thành từng giờ nối tiếp nhau
Dù ở cấp độ nào thì khung thời gian cũng chỉ hỗ trợ ghi nhận lại một số mức giá giao
dịch tiêu biểu trong phân đoạn thời gian đó Sự ghi nhận qui ước này tiện cho việc so sánh và
phán đoán các biến động sắp tới của thị trường nhưng cũng lọc bỏ nhiều thông tin về giá trong cùng phân đoạn Nếu đổi sang múi giờ khác thì các giá trị ghi nhận cũng sẽ thay đổi
Có một nguyên tắc chung là khi giao dịch ở khung thời gian càng ngắn thì càng tìm thấy nhiều cơ hội tham gia thị trường nhưng mức giá biến động sẽ không lớn và số lượng cạm bẫy cũng tăng lên Ở đây cũng không phân biệt đầu tư dài hạn hay đầu cơ ngắn hạn, vì thực ra
nó chỉ là do bạn chọn khung thời gian nào để giao dịch mà thôi
2.3 Giá và nến
Giá được hình thành qua một phương thức đấu giá Người nào muốn bán giá nào thì đưa lên, nếu đúng giá thì sẽ có người mua Và cứ lần lần như thế mà giá được tạo thành Đây
là căn bản của các thị trường tài chính thế giới khi họ định giá một vật gì Vì giá được định qua
phương pháp này cho nên giá thật ra chỉ là một khái niệm, không có gì là chính xác cả
(VietCurrency) Cũng chính vì thế giá thị trường luôn thay đổi, thoát ly khỏi giá trị của hàng
hóa giao dịch vì khái niệm của giá luôn thay đổi tùy theo cái nhìn của mỗi người trong cuộc
Trang 9chơi, tùy theo những tin tức kinh tế, và diễn biến của chính trị hằng ngày trên thế giới và phụ thuộc rất nhiều suy nghĩ, cảm xúc của đám đông Thật thú vị là khi giảng về cách vận hành của tâm, thiền sư Thích Nhất Hạnh cũng có lấy ví dụ sau: “Giá trị của đồng đô la được làm bằng suy nghĩ của cộng đồng chứ không phải chỉ là những yếu tố kinh tế khách quan Sự sợ hãi, tham vọng, mong muốn của con người làm cho đồng đô la lên xuống Chúng ta cũng bị ảnh hưởng bởi cách nhìn, cách suy tư của cộng đồng.”
Một trong những cách ghi nhận tượng hình sự biến đổi giá theo thời gian là kiểu nến
thông thường (bar) Mỗi nến bao gồm bốn mức giá gọi là mức mở nến (giá mở cửa), mức đóng nến (giá đóng cửa), mức cao nến (giá cao nhất), mức thấp nến (giá thấp nhất) trong phân đoạn
thời gian đang xét
Nói chung, nến có chiều dài và các mức giá ghi nhận khác nhau, chỉ ra tương quan áp lực mua bán của mỗi phân đoạn so với cả chuỗi phân đoạn đang xét và tương quan áp lực trong chính phân đoạn đó
Bạn nên chú ý đến bản chất của nến là biểu thị áp lực mua bán trong một phân đoạn
thời gian mạnh hay yếu và ưu thế thuộc về bên mua hay bên bán Hình thức bên ngoài và tên gọi của nến chỉ giúp bạn dễ nhận ra những giao dịch “bất thường” xảy ra ở tọa độ nào đó (vùng giá, thời gian) chứ không đủ để chỉ ra hướng biến động sắp tới của thị trường nên bạn cần tỉnh táo để không cố chấp vào tên gọi, hình tướng của mẫu nến
Ví dụ khi thấy một nến bất thường, thì bạn cần lưu ý xem xét thêm các yếu tố như độ dài, vị trí hình thành, thuận hay ngược xu hướng hiện hữu, có dấu hiệu đám đông bám theo không, đã xuất hiện các tín hiệu củng cố hay đối kháng với xu hướng chưa…
Nến ngày
Trang 102.4 Khối lượng
Một giao dịch được hình thành luôn bao gồm hai yếu tố giá cả và khối lượng tại thời điểm giao dịch xảy ra Khối lượng được biểu thị theo một phân đoạn thời gian trên đồ thị (nến)
là khối lượng cộng dồn của tất cả các giao dịch trong khoảng thời gian đó
Khối lượng giao dịch cho thấy sinh lực của thị trường mạnh hay yếu trong mỗi khoảng thời gian, thể hiện mức độ quan tâm của các bên đến thị trường, nhưng nó không giúp bạn nhận
biết ưu thế của mỗi bên Bạn cần phải đánh giá khối lượng trong bối cảnh chung của thị trường
và kết hợp với biến động giá (nến) để thấy được dòng áp lực biến đổi của thị trường; từ đó cảm nhận sự chuyển dịch tâm lý của đám đông
Khi đọc thị trường, yếu tố khối lượng sẽ hỗ trợ hiệu quả nhất khi giá đang đi vào vùng
có trở lực mạnh Đối với các thị trường không tìm được dữ liệu khối lượng tập trung (toàn bộ), thì cần cảm nhận qua mức độ dao động, tốc độ khớp lệnh Ở đây, khối lượng được tạm xem là
cường độ giao dịch của thị trường
2.5 Xu hướng và Phi hướng
Khi đám đông có sự đồng thuận cao về một phía (lực đối kháng yếu) thì giá sẽ biến
động có xu hướng và mức giá thị trường vào cuối xu hướng thay đổi rất nhiều so với ở đầu xu
hướng Ở góc độ tâm lý sâu sắc thì xu hướng là một biểu hiện của bản năng động vật để thích ứng với thay đổi xung quanh và đám đông chạy theo xu hướng không chỉ trong thị trường tài chính mà các lãnh vực khác như nghệ thuật, âm nhạc, thời trang Lý thuyết Dow định nghĩa một thị trường tăng giá (bull market) như là một chuỗi các đỉnh cao dần và một thị trường giảm giá (bear market) là một chuỗi các đáy thấp dần Khi mức giá của đỉnh hay đáy không còn xảy
ra tuần tự như vậy, thị trường đã bắt đầu thay đổi giai đoạn của nó Lý thuyết Dow là cha đẻ
của các phương pháp giao dịch theo xu hướng Nó không dựa vào toán học mà chỉ là từ sự
quan sát hợp lý về giá trong quá khứ và hiện tại để xác định hướng đi của thị trường
Xu hướng rất quan trọng đối với trader vì tiềm năng lợi nhuận rất cao nếu bám sát được
nó và phần lớn các giao dịch ngược xu hướng đều dẫn đến thua lỗ
Trạng thái phi hướng (không có xu hướng) của thị trường là những giai đoạn giao dịch
mà các lực đối kháng khá cân bằng, có khi do cả hai bên mua bán đều quyết liệt (áp lực mạnh) hoặc mua bán thờ ơ (áp lực yếu) Hiệu quả giao dịch trong giai đoạn này rất thấp, nên tránh xa Khi thị trường phi hướng thì mức thay đổi giá không nhiều mà thời gian lại kéo dài và người
ta ước tính rằng tổng thời gian thị trường phi hướng chiếm đến 80% trong khi có xu hướng chỉ chiếm khoảng 20% Đây chính là một khó khăn của nghề trading khi bạn phải kiên nhẫn đứng ngoài thị trường và chờ đợi trong phần lớn thời gian làm việc