1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN phân tích quan điểm của đảng nguồn lực trong nước đóng vai trò quyết định nguồn lực ngoài nước đóng vai trò quan trọng trong phát triển nền kinh tế việt nam

22 41 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 61,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết hợp nội lực với ngoại lực là một nội dung quan trọng trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, của Đảng ta, là quy luật, bài học kinh nghiệm lớn của cách mạng Việt Nam. Việc kết hợp nội lực với ngoại lực trong phát triển kinh tế được thực hiện trong hoàn cảnh hiện nay của thế giới có nhiều biến động; trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang diễn ra như vũ bão xu thế toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ra sôi động; hoà bình hợp tác đang là xu thế chung của các quốc gia dân tộc. Tuy nhiên các thế lực hiếu chiến và phản động quốc tế, đứng đầu là đế quốc Mỹ đang tận dụng ưu thế về kinh tế, khoa học và công nghệ… để biến các nước thành sân sau, lệ thuộc ngày càng sâu vào các nước phát triển.

Trang 1

KHOA …



TIỂU LUẬNChủ đề: PHÂN TÍCH QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG NGUỒN LỰC TRONG NƯỚC ĐÓNG VAI TRÒ QUYẾT ĐỊNH; NGUỒN LỰC NGOÀI NƯỚC ĐÓNG VAI TRÒ QUAN TRỌNG TRONG PHÁT

TRIỂN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

Họ tên học viên:……….

Lớp:……….,

– 2021

Trang 2

2 Nguồn lực trong nước trong phát triển nền kinh tế Việt Nam 5

3 Nguồn lực ngoài nước trong phát triển nền kinh tế Việt Nam 74

Quan điểm của Đảng ta về nguồn lực trong nước đóng vaitrò quyết định; nguồn lực ngoài nước đóng vai trò quantrọng trong phát triển nền kinh tế Việt Nam 12

Trang 3

MỞ ĐẦU

Kết hợp nội lực với ngoại lực là một nội dung quan trọng trong hệ thống

tư tưởng Hồ Chí Minh, của Đảng ta, là quy luật, bài học kinh nghiệm lớn củacách mạng Việt Nam Việc kết hợp nội lực với ngoại lực trong phát triển kinh tếđược thực hiện trong hoàn cảnh hiện nay của thế giới có nhiều biến động; trongbối cảnh cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang diễn ra như vũ bão xu thế toàncầu hoá kinh tế đang diễn ra sôi động; hoà bình hợp tác đang là xu thế chung củacác quốc gia dân tộc Tuy nhiên các thế lực hiếu chiến và phản động quốc tế,đứng đầu là đế quốc Mỹ đang tận dụng ưu thế về kinh tế, khoa học và côngnghệ… để biến các nước thành sân sau, lệ thuộc ngày càng sâu vào các nướcphát triển

Thực tiễn hơn ba mươi năm đổi mới đã chỉ ra: Dưới sự lãnh đạo của Đảng,nhân dân ta đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tạo ra thế vàlực mới cho đất nước, được bạn bè quốc tế thừa nhận và khâm phục Những thành

tự đó thể hiện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốcphòng, an ninh và đối ngoại Một trong những nguyên nhân quan trọng cho nhữngthành tựu đạt được là Đảng ta đã có quan điểm đúng đắn trong việc kết hợp nguồn

lực trong nước và quốc tế để phát triển kinh tế Do vậy, nghiên cứu vấn đề “Phân

tích quan điểm của Đảng nguồn lực trong nước đóng vai trò quyết định; nguồn lực ngoài nước đóng vai trò quan trọng trong phát triển nền kinh tế Việt Nam” làm đề tài tiểu luận có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.

Trang 4

NỘI DUNG

1 Cơ sở lý luận quan điểm của Đảng về nguồn lực trong nước đóng vai trò quyết định; nguồn lực ngoài nước đóng vai trò quan trọng trong phát triển nền kinh tế Việt Nam

1.1 Nguồn lực

Cũng có các cách hiểu khác nhau; có cách hiểu đơn giản là nội lực bêntrong về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, hệ thống tài sản quốc gia, nguồn lựclao động; thậm chí là các đường lối chính trị, chính sách đúng đắn cũng có thể coi

là nguồn lực Nhưng nội hàm như vậy thì lại thiếu đi một yếu tố là nguồn lực từbên ngoài không phải của quốc gia, song lại là sức mạnh không thể không thu hút,như vốn đầu tư của nước ngoài, lao động nước ngoài, tri thức nhân loại, các tiến

bộ khoa học - kỹ thuật của các quốc gia tiên tiến, thậm chí là các chính sách củacác tổ chức, các định chế trên thế giới cũng có thể coi là nguồn lực bên ngoài

Nhưng nếu chỉ bao hàm các nội lực bên trong và sức mạnh bên ngoài thìvẫn còn thiếu một thành tố quan trọng đó là tiềm năng, thế năng và sức mạnh sẽhình thành trong tương lai của một quốc gia, như các tài sản vô hình và tài sảnhữu hình hình thành trong tương lai của quốc gia đó, bao gồm: Định hướng pháttriển, quy hoạch phát triển, những lợi thế đem lại nhờ các hiệp định thương mại,khả năng mở rộng sản xuất, kinh doanh, chuỗi giá trị, thương hiệu quốc gia,địa phương, doanh nghiệp

Do vậy, nguồn lực của một quốc gia phải là sức mạnh tổng hợp được tíchlũy từ điều kiện địa lý, lịch sử văn hóa, tài nguyên thiên nhiên, hệ thống tài sảnquốc gia, nguồn lực lao động, các tài sản hiện có khác và tiềm năng, thế năngcủa những tài sản hình thành trong tương lai của một quốc gia, bao gồm cả nộilực bên trong và ngoại lực từ bên ngoài mà quốc gia đó có thể huy động

1.2 Cơ sở lý luận quan điểm

Đây là một một quan điểm, phương châm chiến lược đúng đắn sáng tạocủa Đảng ta trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng và trở thành một vấn đềmang tính quy luật của cách mạng nước ta trong quá trình xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Một dân tộc không tự lực cánh

Trang 5

sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”[5, tr.290] Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Đảng ta luôn coi trọngviệc phát huy sức mạnh nội lực của dân tộc Chỉ có bằng sức mạnh của nội lựcthì chúng ta mới có nền tảng vững chắc để bồi bổ lực lượng vượt qua mọi hysinh, gian khổ mọi tình huống phức tạp, đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi.

Hiện nay, xuất phát từ bối cảnh quốc tế và cục diện cách mạng trong nước

kế thừa và phát triển những bài học kinh nghiệm kết hợp sức mạnh dân tộc vớisức mạnh thời đại trong điều kiện mới Đảng ta tiếp tục khẳng định phải khơidậy “phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủđộng hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững” vàxác định rõ “nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng, gắn kết với nhauthành nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nước” [2, tr.89]

Đảng ta đã nhận thức sâu sắc rằng kết hợp giữa nội lực và ngoại lực trongtrong quá trình phát triển nền kinh tế, trước hết phải nêu cao ý chí tự lực tựcường, phát huy cao nhất các yếu tố nội lực dựa vào nguồn lực trong nước làchính, bao gồm nguồn lực con người, đất đai, tài nguyên, trí tuệ, truyền thống(lịch sử, văn hóa của dân tộc) Kinh nghiệm cho thấy, nếu không nêu cao tinhthần độc lập tự chủ, tự lực tự cường, không phát huy đầy đủ nội lực thì không thểđứng vững, đi lên một cấch lâu bền và cũng không thể hội nhập quốc tế một cáchbình đẳng Ngược lại để hội nhập một cách chủ động, tránh “đánh mất” mình hay

“hòa tan” mình vào cuộc hội nhập đầy phức tạp và tiềm tàng những bất trắc thìkhông thể không xây dựng và phát triển một nội lực mạnh mẽ đủ khả năng giữvững độc lập tự chủ, tự lực tự cường, tiếp thu và sử dụng có hiệu quả ngoại lực đểxây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc

Thực tiễn cách mạng nước ta, nhất là sau hơn 30 năm đổi mới đã chứngminh rằng tư tưởng “độc lập, tự chủ, tự lực tự cường” là hoàn toàn đúng đắn.Chỉ có trên cơ sở độc lập tự chủ chúng ta mới có sự sáng tạo trong đường lốicách mạng, luôn luôn chủ động và năng động trong thực tiễn Có nêu cao tinhthần tự lực tự cường, phát huy nội lực thì trong khi cách mạng gặp khó khăn,hoàn cảnh quốc tế bất lợi, chúng ta mới có thể đứng vững và xử lý các tình

Trang 6

huống một cách tự tin, và do đó mới vượt qua được thử thách đưa cách mạngtiến lên Có biết phát huy cao độ các tiềm năng nội sinh, khơi dậy một cách sángtạo và năng động của các nguồn lực cả về vật chất và tinh thần, mới có điều kiện

và khả năng tiếp nhận, sử dụng sức mạnh thời đại có hiệu quả Độc lập tự chủ tựlực tự cường không chỉ là phát huy các tiềm năng vốn có của đất nước, mà còntích cực chuẩn bị, bổ sung không ngừng các điều kiện, khả năng để tiếp nhận và

sử dụng có hiệu quả cao nhất sức mạnh của thời đại

Tuy nhiên phát huy nguồn lực bên trong, là nền tảng và tiền đề giữ vai tròquyết định, nhưng không phải là duy nhất cho phát triển kinh tế Sức mạnh đókhông được kết hợp với sức mạnh của ngoại lực thì không những không tạo đượcsức mạnh tổng hợp, mà chính bản thân sức mạnh tổng hợp, mà chính bản thân sứcmạnh của nội lực cũng không thể phát huy được hiệu quả tối đa của mình Tuyệtđối hóa sức mạnh của nội lực là tự “giam hãm” và tự “cô lập” mình Ngược lại,sức mạnh của ngoại lực là các nguồn lực bên ngoài chỉ có thể phát huy được tácdụng là sức mạnh thực sự khi được kết hợp với sức mạnh nội lực trong nước,thông qua khả năng tiếp nhận và sử dụng của chúng ta Nhận tức sâu sắc về mốiquan hệ giữa kết hợp giữa nội lực và ngoại lực trong trong quá trình phát triển nềnkinh tế, Đại hội lần thứ XII, tổng kết 30 năm đổi mới, Đảng ta đã chỉ rõ bài họckinh nghiệm “Phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định độc lậpdân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóanhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp Việt Nam”

Trong khi kết hợp giữa nội lực và ngoại lực trong trong quá trình phát triểnnền kinh tế, chúng ta luôn quán triệt quan điểm dựa trên nguyên tắc giữ vữngđộc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi, không thể là sự “hợp tác bằng mọigiá” Ngày nay, chúng ta còn mở rộng hợp tác với các nước tư bản, nhưng đó là

sự hợp tác có đấu tranh Không thể không đồng ý với quan điểm cho rằng “hợptác toàn diện” với các nước tư bản là liều thuốc cải tư hoàn sinh”, là “tư duychính trị mới”, là “sự thông minh, tỉnh táo và thức thời nhất”… Hợp tác với cácnước tư bản là nhằm tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm

Trang 7

quản lý… nhằm khai thác những tiềm năng có thể để xây dựng nước ta thànhnước xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc, chế độ xãhội chủ nghĩa, chứ nhất quyết không phải để “hòa nhập với thế giới tự do” tưbản chủ nghĩa Trong hợp tác phải đấu tranh chống những thủ đoạn lợi dụng hợptác để chống phá ta, nhưng đấu tranh là để hợp tác tốt hơn tận dụng nguồn lựcbên ngoài tốt hơn.

Vì vậy đi đôi với giữ vững tự chủ tự lực, tự cường (nội lực) chúng ta cũngcần phải chủ động hội nhập quốc tế (ngoại lực), tranh thủ sự hợp tác, liên kết vớicác nước để khai thác nguồn vốn đầu tư, khoa học, kỹ thuật, công nghệ và kinhnghiệm quản lý, điều hành đất nước cả tầm vĩ mô và vi mô Đó chính là làphương hướng xây dựng, sử dụng sức mạnh tổng hợp làm cho các yếu tố thờiđại, quốc tế chuyển hóa và kết hợp với nội lực giúp chúng ta vượt qua nhữngkhó khăn thử thách để đứng vững đổi mới và phát triển kinh tế đất nước

2 Nguồn lực trong nước trong phát triển nền kinh tế Việt Nam

Để làm rõ quan điểm trên của Đảng chúng ta cần nghiên cứu làm rõ thựctrạng nguồn lực trong nước trong phát triển nền kinh tế Việt Nam thời gian qua

Nguồn lực trong nước bao gồm: Nhân lực, vật lực và tài lực Nhữngnguồn lực trên trong thời gian qua đã đóng góp quan trọng vào sự nghiệp đổimới, phát triển và hội nhập của đất nước Trong đó, nguồn nhân lực dồi dào; conngười Việt Nam có tinh thần yêu nước, cần cù, sáng tạo; trình độ dân trí và chấtlượng nguồn nhân lực từng bước được nâng lên đã đáp ứng cơ bản nhu cầu củathị trường lao động Lực lượng lao động có sự chuyển dịch nhanh từ khu vựcnông nghiệp sang các ngành công nghiệp và dịch vụ Nguồn lực tài nguyên thiênnhiên phong phú, đa dạng, có nhiều tiềm năng để khai thác, sử dụng; cơ sở vậtchất và hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng,góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hoá, xã hội, bảo đảm quốcphòng, an ninh nâng cao đời sống nhân dân Việc quản lý, khai thác và sử dụng

có hiệu quả nguồn lực tài chính, tiền tệ đã góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, tháo

gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, duy trì tăngtrưởng kinh tế

Trang 8

Tuy nhiên, việc quản lý, khai thác, sử dụng, phát huy các nguồn lực hiệncòn hạn chế, bất cập; việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực chưa hợp lý, hiệuquả chưa cao, nhiều trường hợp chưa theo cơ chế thị trường, gây lãng phí và làmcạn kiệt nguồn lực của đất nước Chất lượng nguồn nhân lực nhìn chung cònthấp, cơ cấu lao động theo trình độ đào tạo còn bất hợp lý, thiếu hụt nhân lực là

kỹ sư thực hành, công nhân kỹ thuật bậc cao, trình độ ngoại ngữ hạn chế, thiếucác kỹ năng mềm Kết nối cung - cầu trên thị trường lao động còn nhiều bất cập.Tình trạng thất nghiệp ở nhóm lao động trẻ hoặc không phù hợp giữa công việc

và trình độ đào tạo còn khá phổ biến

Chất lượng việc làm thấp, việc làm phi chính thức chiếm tỉ trọng cao.Năng suất lao động thấp so với các nước trong khu vực Việc quản lý, khai thác

và sử dụng tài nguyên thiên nhiên chưa hiệu quả Diện tích đất sử dụng kémhiệu quả hoặc chưa sử dụng còn lớn; nhiều địa phương buông lỏng quản lý dẫnđến tình trạng đất bị hoang hoá, bị lấn chiếm, tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng,gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và gây thất thungân sách nhà nước Năng lực khai thác tài nguyên khoáng sản còn nhiều hạnchế, công nghệ chậm được đổi mới Việc phối hợp giữa các chủ thể quản lý tàinguyên khoáng sản chưa tốt, còn hiện tượng cát cứ và thiếu đồng bộ, liên thônggiữa các vùng, miền, địa phương, làm giảm hiệu quả khai thác tài nguyên Tìnhtrạng khai thác tài nguyên khoáng sản, nguồn nước ngầm quá mức gây lãng phí

và huỷ hoại môi trường còn xảy ra ở nhiều nơi Thị trường tài nguyên khoángsản chậm được hình thành, phát triển thiếu đồng bộ Quan điểm đẩy mạnh kinh

tế hoá ngành tài nguyên, môi trường chậm được triển khai, thể chế hoá và tổchức thực hiện

Cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn lạc hậu, thiếu đồng

bộ, chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đầu tư vàokết cấu hạ tầng còn dựa nhiều vào ngân sách nhà nước; hoạt động xã hội hoá,thu hút các thành phần kinh tế khác tham gia đầu tư kết cấu hạ tầng còn nhiềuhạn chế Khung khổ pháp lý còn thiếu, chưa đồng bộ; việc quản lý, khai thác

và sử dụng cơ sở hạ tầng còn bất cập Hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính,

Trang 9

tiền tệ chưa cao: Cân đối chi chưa gắn kết chặt chẽ với khả năng thu từ nềnkinh tế; việc phân bổ các nguồn lực còn dàn trải, lãng phí; ứng chi và nợ đọngxây dựng cơ bản còn lớn; bội chi ngân sách ở mức cao, nguồn lực dự trữ quốcgia còn hạn chế Quản lý, sử dụng tài sản công còn kém hiệu quả, lãng phí, thấtthoát Nợ xấu tuy đã được xử lý một bước quan trọng nhưng vẫn tiềm ẩn rủi rođối với an toàn, hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng Việc dự báo, cânđối và quản lý quỹ bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội chưa tốt.

Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế trên là do chưa phát huy đượcsức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong công tác quản lý, khai thác,

sử dụng các nguồn lực của nền kinh tế Việc ban hành và tổ chức thực hiện một

số cơ chế, chính sách, pháp luật còn bất cập, thiếu đồng bộ, chưa theo kịp diễnbiến thực tiễn và yêu cầu phát triển Công tác phối hợp giữa các bộ, ngànhTrung ương và địa phương nhiều trường hợp còn thiếu chặt chẽ, kém hiệu quả.Việc kiểm tra, giám sát, quản lý các nguồn lực chưa được quan tâm, chú trọngđúng mức, thiếu tính chuyên nghiệp Công tác kiểm kê, đánh giá thực chất tìnhhình các nguồn lực của nền kinh tế chưa được tổ chức thường xuyên, địnhkỳ… [1, tr.67]

Tóm lại, từ thực trạng nguồn lực trong nước trong phát triển nền kinh tế

Việt Nam thời gian qua cho thấy, Đảng ta cần có quan điểm đúng đắn để khắcphục những hạn chế, đồng thời phát huy cao nhất nguồn lực trong nước chophát triển kinh tế Vấn đề là cần nhận thức rõ vị trí, vai trò của nguồn lực trongnước, thấy được mối quan hệ giữa nguồn lực này với nguồn lực ngoài nước.Trong những thời điểm nhất định cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữanguồn lực trong nước và nguồn lực ngoài nước

3 Nguồn lực ngoài nước trong phát triển nền kinh tế Việt Nam

Nguồn lực bên ngoài đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự phát triểnkinh tế của tất cả các quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.Không nằm ngoài quy luật đó, Việt Nam - một nền kinh tế đang phát triển rấtcần đến nguồn lực bên ngoài để tạo ra “cú huých” ban đầu Do đó, thu hút

Trang 10

nguồn lực bên ngoài là vấn đề trọng yếu luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm

Trong hơn 30 năm qua, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạtkhoảng 250 tỷ USD vốn đăng ký và đã thực hiện khoảng 100 tỷ USD của hơn16.000 dự án FDI Vốn FDI có tỷ trọng ngày càng tăng trong tổng vốn đầu tưtoàn xã hội (khoảng 20%) và đóng góp gần 70% kim ngạch xuất khẩu, tạo việclàm cũng như cải thiện thu nhập cho người lao động Nguồn vốn FDI ngày càng

có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam qua chuyển giao công nghệ,kinh nghiệm quản trị kinh doanh hiện đại và đào tạo nguồn nhân lực Chẳnghạn, nguồn nhân lực sản xuất các loại linh kiện điện tử cao cấp của Việt Namđược đào tạo thông qua các dự án của các tập đoàn như Intel (Hoa Kỳ),Samsung (Hàn Quốc)… [3, tr.90]

Tuy nhiên, nguồn vốn FDI của các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tạiViệt Nam đang bộc lộ nhiều hạn chế, nhất là trong chuyển giao công nghệ Một

số dự án còn gây ô nhiễm môi trường; tình trạng các doanh nghiệp nước ngoàichuyển giá để trốn thuế còn phổ biến Trong khi đó, cơ cấu dòng vốn FDI hướngnhiều vào bất động sản, gây nên những cơn sốt “ảo”, tình trạng đầu cơ trên thịtrường Điều này đặt ra yêu cầu cần lựa chọn dòng vốn FDI có chất lượng cao

ODA được coi là nguồn vốn quan trọng của Việt Nam Trong vòng hơn

30 năm trở lại đây, tổng số vốn ODA giải ngân ước đạt 36 tỷ USD trong tổng sốtrên 76 tỷ USD vốn ODA ký kết Nguồn ODA có tác động lớn đến các dự án cóthời hạn thu hồi vốn dài, đặc biệt hiện đại hóa hạ tầng cơ sở về đường giaothông, sân bay, năng lượng… Nó góp phần giải quyết các điểm nghẽn của nềnkinh tế về hoàn thiện thể chế và hiện đại hóa cơ sở hạ tầng Đồng thời, nguồn

Trang 11

vốn ODA còn thể hiện sự ủng hộ về chính trị của cộng đồng quốc tế đối với ViệtNam Nguồn ODA đòi hỏi vốn đối ứng trong nước, năng lực quản lý tốt và cơchế vận hành minh bạch Tuy nhiên, nguy cơ tiềm ẩn các khoản nợ ODA phảitrả trong dài hạn, đặc biệt là khoản nợ dễ có nguy cơ tăng lên do biến động của

tỷ giá Điều này có thể làm nợ công của Việt Nam tăng lên [4, tr.34]

Nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) đặc biệt thông qua thị trườngchứng khoán Việt Nam và việc cho phép nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phầncủa doanh nghiệp, ngân hàng trong nước Nhà đầu tư nước ngoài được phép sởhữu với tỷ lệ ngày càng cao trong các doanh nghiệp Việt Nam Số liệu thống kê

sơ bộ cho thấy, nguồn đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứngkhoán Việt Nam chỉ chiếm khoảng 2-3% tống vốn đầu tư của khối cá nhân và tổchức trong nước So với đầu tư trực tiếp, đầu tư vào thị trường chứng khoán cótính rủi ro cao khi nhà đầu tư nước ngoài có thể thoái lui nhanh, nếu có biến độngbất lợi Việc cho phép nhà đầu tư nước ngoài sở hữu một tỷ lệ nhất định cácdoanh nghiệp, đặc biệt các ngân hàng tạo điều kiện để thu hút mạnh hơn nguồnlực bên ngoài Tuy nhiên, việc cho phép này tạo điều kiện cho nhà đầu tư nướcngoài từng bước thâu tóm, thôn tính các cơ sở kinh tế quan trọng trong nước

Nguồn lực từ xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ Nguồn lực này đượcđánh giá thông qua kim ngạch xuất nhập khẩu tăng lên Năm 2019, tổng kimngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt khoảng 300 tỷ USD - mức cao nhất từkhi mở cửa nền kinh tế Nguồn lực này thể hiện ở việc thu về thêm nhiều nguồnngoại tệ cho đất nước, tiếp cận đến nhiều thị trường mới và khai thác theo chiềusâu các thị trường hiện có Danh mục mặt hàng xuất khẩu được mở rộng và cơcấu xuất khẩu chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các ngành có hàm lượngchế biến, chế tạo và giảm bớt nhóm hàng khoáng sản hoặc hàng sơ chế, nguyênnhiên liệu, góp phần bảo tồn các nguồn lực về khoáng sản, nông sản

Nguồn kiều hối và nguồn nhân lực chất lượng cao từ những người ViệtNam định cư ở nước ngoài Theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hàngnăm Việt Nam tiếp nhận lượng kiều hối trung bình khoảng 9-10 tỷ USD Chínhsách khuyến khích Việt kiều định cư ở nước ngoài gửi tiền hoặc đầu tư nhiều

Ngày đăng: 04/08/2021, 15:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Thị Vân Anh (2017), Tạo dựng nguồn lực trong nước - Một số kinh nghiệm của các nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạo dựng nguồn lực trong nước - Một số kinhnghiệm của các nước
Tác giả: Đỗ Thị Vân Anh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2017
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứIX
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
3. Trần Thọ Đạt (2015), Các nguồn lực tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nguồn lực tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Tác giả: Trần Thọ Đạt
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2015
4. Đào Minh Hồng, (2018), Nhận dạng các nguồn lực cho phát triển kinh tế trong thời kỳ mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận dạng các nguồn lực cho phát triển kinhtế trong thời kỳ mới
Tác giả: Đào Minh Hồng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2018
5. Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: tập 12
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
6. Trần Thị Thúy (2019), Kết hợp sức mạnh trong nước và sức mạnh bên ngoài cho phát triển kinh tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết hợp sức mạnh trong nước và sức mạnh bênngoài cho phát triển kinh tế
Tác giả: Trần Thị Thúy
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2019

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w