Bài viết trình bày đánh giá mối liên quan giữa một số đặc điểm cận lâm sàng với kết quả hình ảnh PET/ CT ở bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim cấp. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu bao gồm 45 bệnh nhân (BN) sau nhồi máu cơ tim cấp (NMCTC) được điều trị tại Viện Tim mạch, Bệnh viện TƯQĐ 108, thời gian từ năm 2011 đến năm 2015.
Trang 1Mối liên quan giữa một số đặc điểm
cận lâm sàng với kết quả hình ảnh PET/CT
ở bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim cấp
Ngày nhận bài: 02/11/2020
Ngày phản biện: 08/12/2020
Ngày chấp nhận đăng: 15/12/2020
Đặng Văn Hưng 1 , Phạm Trường Sơn 2 , Lương Công Thức 1 , Nguyễn Văn Hùng 1
1 Học viện Quân y
2 Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá mối liên quan giữa một số
đặc điểm cận lâm sàng với kết quả hình ảnh PET/
CT ở bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim cấp
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu bao
gồm 45 bệnh nhân (BN) sau nhồi máu cơ tim
cấp (NMCTC) được điều trị tại Viện Tim mạch,
Bệnh viện TƯQĐ 108, thời gian từ năm 2011 đến
năm 2015 Các BN được tiến hành thăm khám
lâm sàng, cận lâm sàng và làm xạ hình tưới máu cơ
tim (XHTMCT) Sau đó, tiến hành chụp PET/
CT sử dụng 18F-FDG đánh giá cơ tim còn sống
cho những BN có kết quả là khuyết xạ cố định
trên XHTMCT và chụp động mạch vành cho các
bệnh nhân có chỉ định
Kết quả: Không có sự phù hợp chẩn đoán trong
đánh giá cơ tim còn sống giữa XHTMCT và FDG
PET với hệ số kappa = 0,105; p>0,05 Không có
sự khác biệt đáng kể cả 3 chỉ số EFsp, EDV, ESV ở
3 nhóm tổn thương cơ tim đông miên, nhóm tổn
thương dạng sẹo cơ tim và nhóm tổn thương hỗn
hợp Không có sự khác biệt về tỷ lệ BN có vùng cơ
tim dạng đông miên ở nhóm tắc hoàn toàn ĐMV có tuần hoàn bàng hệ (THBH) và nhóm tắc hoàn toàn ĐMV không có THBH Không có sự khác biệt về
tỷ lệ BN có vùng cơ tim dạng sẹo ở nhóm tắc hoàn toàn ĐMV có THBH và nhóm tắc hoàn toàn ĐMV không có THBH
Kết luận: Trong chẩn đoán sự sống còn của cơ
tim, khả năng phát hiện của chụp PET/CT sử dụng
18F-FDG nhạy hơn chụp XHTMCT Các mức độ và đặc điểm tổn thương trên chụp ĐMV không phản ánh tình trạng sống còn của cơ tim được đánh giá trên PET/CT Mức độ rối loạn chức năng thất trái trên siêu âm tim không có mối liên quan với sự sống còn của cơ tim được đánh giá trên kết quả hình ảnh chụp PET/CT
Từ khóa: Sự sống còn cơ tim, 18F- FDG PET/
CT, xạ hình tưới máu cơ tim, nhồi máu cơ tim cấp ĐẶT VẤN ĐỀ
Các BN sau NMCTC thường có tỷ lệ tai biến tim mạch cao do tình trạng thiếu máu cơ tim tồn dư (residual ischemia), rối loạn chức năng thất trái và
Trang 2loạn nhịp tim Vì vậy, các thăm dò chẩn đoán nhằm
đánh giá tình trạng BN sau NMCT để có biện pháp
điều trị thích hợp là hết sức cần thiết Tình trạng tổn
thương sau NMCTC có thể là cơ tim còn sống (bao
gồm cơ tim choáng: stunning, cơ tim đông miên:
hibernating) và sẹo cơ tim (scar) làm rối loạn chức
năng tim Việc xác định rõ tình trạng cơ tim “còn
sống” hay “không còn sống” (myocardial viability)
là yếu tố quan trọng quyết định có hay không lợi ích
khi tiến hành thủ thuật tái tưới máu và là yếu tố tiên
lượng trong việc đánh giá phục hồi chức năng thất
trái sau can thiệp tái tưới máu [1],[2]
Phát hiện khả năng còn sống của cơ tim có ý
nghĩa rất lớn trong lựa chọn chiến thuật điều trị suy
tim ở bệnh nhân động mạch vành Các bệnh nhân
có tình trạng cơ tim đông miên, giảm chức năng
thất trái nên được chẩn đoán và điều trị tái tưới máu
(nong, đặt stent hoặc phẫu thuật cầu nối chủ vành)
kết hợp điều trị nội khoa tích cực nhằm cải thiện
chức năng thất trái, giảm tỉ lệ tai biến và tử vong Các
bệnh nhân có tổn thương hoại tử, xơ hóa cơ tim nên
điều trị nội khoa tích cực
Hiện nay có nhiều kỹ thuật có thể đánh giá được
khả năng sống của cơ tim như: siêu âm tim gắng
sức sử dụng Dobutamin, chụp cộng hưởng từ tim
mạch (CMR), xạ hình tưới máu cơ tim Tc99m –
MIBI sử dụng nitroglycerin và FDG PET Trong đó
FDG PET được coi là phương pháp chuẩn để đánh
giá khả năng phục hồi vận động và chức năng thất
trái sau can thiệp tái tưới máu động mạch vành (độ
nhạy trên 90%, giá trị dự đoán âm tính xấp xỉ 90%)
Kỹ thuật chụp PET sử dụng 18F-FDG cho phép
đánh giá khả năng còn sống của cơ tim, phân biệt
tình trạng cơ tim đông miên còn khả năng hồi phục
với sẹo cơ tim (scar) sau nhồi máu cơ tim [3]
Tại Việt Nam, tim mạch học hạt nhân được sử
dụng trong lâm sàng từ những năm 2000 và hiện
nay đang trở thành một trong những xét nghiệm
hàng đầu chẩn đoán bệnh động mạch vành ở các
trung tâm y khoa lớn như Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện TƯQĐ 108 Việc triển khai kỹ thuật FDG PET đánh giá cơ tim sống sẽ cung cấp một công cụ có độ nhạy cao, hỗ trợ đắc lực cho các bác
sĩ tim mạch trong quyết định chiến lược điều trị đối với bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim, cũng như góp phần tiên lượng cho bệnh nhân sau can thiệp tái tưới máu
Tuy nhiên, tại Việt Nam vai trò FDG PET đánh giá cơ tim còn sống sau NMCT cấp chưa được nghiên cứu nhiều Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành
đề tài này nhằm mục đích:"Nghiên cứu mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng với kết quả hình ảnh PET/CT ở bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim cấp".
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
Đối tượng nghiên cứu
Gồm 45 bệnh nhân đã được chẩn sau nhồi máu
cơ tim cấp có chỉ định đánh giá cơ tim còn sống được điều trị tại Viện Tim mạch, Bệnh viện TƯQĐ
108 từ năm 2011 – 2015
Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
- Các đối tượng BN sau NMCT được đưa vào diện nghiên cứu khi đã qua giai đoạn cấp ít nhất là
14 ngày, tình trạng lâm sàng và huyết động ổn định, xét nghiệm các men tim đặc hiệu đã trở về giới hạn bình thường, BN ở giai đoạn hồi phục sau NMCTC
- Các bệnh nhân đều được làm XHTMCT theo khuyến cáo của Hội Tim mạch Hạt nhân Hoa Kỳ (ASNC), chọn bệnh nhân có kết quả là khuyết cố định để tiến hành chụp PET/CT đánh giá cơ tim sống [3]
- Tiến hành chụp PET/CT theo hướng dẫn của Hội Tim mạch Hạt nhân Hoa Kỳ (ASNC) 2009 [3]
Tiêu chuẩn loại trừ
- Nhồi máu cơ tim cấp chưa ổn định: còn đau ngực, biến đổi điện tim
- Suy tim cấp mất bù nặng
- Nhiễm trùng nặng
Trang 3- Đái tháo đường chưa kiểm soát được đường
huyết
- Rối loạn nhịp tim nặng chưa khống chế được
- Bệnh nhận năng, ung thư giai đoạn cuối
- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu:
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu mô
tả cắt ngang
- Các bước tiến hành: BN được khám lâm sàng
và các xét nghiệm cần thiết và đăng ký vào hồ sơ
nghiên cứu theo mẫu thống nhất Chụp XHTMCT
quy trình 2 ngày pha nghỉ - gắng sức
- Chụp FDG – PET đánh giá khả năng sống của
cơ tim:
+ Dược chất phóng xạ: 5 - 12 mCi 18F – FDG
sản xuất tại trung tâm gia tốc Cyclotron – Bệnh viện
TƯQĐ 108 Phương tiện: máy PET/CT Discovery
STE của hãng GE Hoa kỳ đặt tại Khoa Y học hạt
nhân, Bệnh viện TƯQĐ 108
+ Quy trình thực hiện: theo hướng dẫn thực
hành của Hội Tim mạch Hạt nhân Hoa Kỳ (2009)
[3] với quy trình sử dụng glucose đường uống
(glucose loading) hoặc kết hợp với sử dụng insulin
+ Thu nhận FDG PET và xử lý hình ảnh
Tư thế bệnh nhân: nằm ngửa, hai tay để gác lên
giá đỡ phía trên đầu Chụp CT scout, chụp CT
scanner liều thấp hiệu chỉnh hiệu ứng suy giảm (CT
attenuation correction) và chụp PET với chuẩn 3
D, 1 bed x 15 phút Xử lý hình ảnh, tái xử lý, trình bày hình ảnh chuyển hóa FDG PET/CT và Tc99m – MIBI SPECT tưới máu cơ tim với phần mềm chuyên dụng QPS
+ Đánh giá hình ảnh FDG PET cơ tim kết hợp với hình ảnh SPECT tưới máu cơ tim pha nghỉ - gắng sức Tổn thương dạng không phù hợp (mismatch) giữa hình ảnh tưới máu – chuyển hóa (giảm nặng tưới máu nhưng duy trì, giảm nhẹ chuyển hóa glucose) có nghĩa cơ tim có khả năng sống Nếu là dạng phù hợp (match) giảm nặng, mất
tưới máu và chuyển hóa có nghĩa là sẹo nhồi máu cơ
tim (cơ tim không hồi phục nếu tiến hành can thiệp tái tưới máu)
Chụp ĐMV cho những bệnh nhân có chỉ định: Theo hướng dẫn của ACC/AHA năm 1999 [8] Khi kết quả trên chụp 18F-FDG PET/CT là có vùng
cơ tim đông miên
Xử lý số liệu
Số liệu nghiên cứu được xử lý theo các thuật toán thống kê y học bằng chương trình SPSS 20.0
và Medcalc 12.3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Mối liên quan giữa hình ảnh 18 F-FDG PET và XHTMCT
Bảng 1 Phù hợp chẩn đoán giữa chụp xạ hình tưới máu cơ tim và 18 F-FDG PET trong đánh giá có tim còn sống
XHTMCT
Khuyết xạ trên XHTMCT
Kappa
PET
(p>0,05)
Nhận xét: Sự phù hợp chẩn đoán thấp trong đánh giá cơ tim còn sống giữa XHTMCT và FDG PET với
hệ số kappa = 0,105; p>0,05
Trang 4Bảng 2 Liên quan giữa các thông số định lượng trên xạ hình TMCT và tình trạng còn sống của cơ tim trên PET/CT
Các thông số
định lượng
Đông miên (1) (n =12 )
Sẹo cơ tim (2) (n =14 )
Hỗn hợp (3)
Nhận xét: Chỉ số SSS ở nhóm bệnh nhân có tổn thương sẹo cơ tim (36,4±10,5) cao hơn nhóm bệnh
nhân có tổn thương cơ tim đông miên (27,7±7,8); p1-2<0,05
Mối liên quan giữa đặc điểm tổn thương trên hình ảnh 18F-FDG PET với chức năng tâm thu thất trái
Bảng 3 So sánh diện tích trung bình tổn thương dạng đông miên và diện tích tổn thương dạng sẹo theo phân số tống máu trên siêu âm
Chỉ số EF
Nhận xét: Diện tích sẹo cơ tim ở nhóm EFsp≤40% (29,2±17,7) lớn hơn nhóm EFsp>40% (26,1±11,3),
tuy nhiên chưa có ý nghĩa thống kê Diện tích cơ tim đông miên ở nhóm EFsp≤40% (22,2±14,8) lớn hơn nhóm EFsp>40% (21,7±14,1), tuy nhiên chưa có ý nghĩa thống kê
Bảng 4 Mối liên quan giữa các dạng tổn thương trên 18 FDG-PET/CT với chức năng tâm thu thất trái trên XHTMCT
Dạng tổn thương
Chỉ số EF
p Đông miên
(n =12)
Sẹo (n =14 )
Hỗn hợp (n =19 )
Nhận xét:
Phân số tống máu pha gắng sức của nhóm cơ tim động miên (36,1±11,1) cao hơn nhóm sẹo cơ tim (30,9±6,6) và nhóm tổn thương hỗn hợp (30,7±8,4); p>0,05
Phân số tống máu pha nghỉ của nhóm bệnh nhân cơ tim đông miên (40,1±10,9) cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm sẹo cơ tim (29,9±8,0) và nhóm tổn thương hỗn hợp (34,4±6,9)
Trang 5Mối liên quan giữa đặc điểm tổn thương trên hình ảnh 18 F-FDG PET với kết quả chụp động mạch vành
Bảng 5 Mối liên quan giữa dạng tổn thương sẹo cơ tim trên kết quả chụp 18 FDG-PET với tổn thương của động mạch vành chi phối tương ứng
Chụp ĐMV
Độ tổn thương (n=31)
Không có sẹo cơ tim
(Tỷ lệ %)
0 0%
0 0%
5 33,3%
3 33,3%
8 25,8%
p>0,05 Sẹo cơ tim
(Tỷ lệ %)
4 100%
3 100%
10 66,7%
6 66,7%
23 74,2%
Nhận xét: Các bệnh nhân có sẹo cơ tim nằm chủ yếu trong các nhóm có mức độ hẹp động mạch vành
≥90% với tỷ lệ 16/23 (69,5%) trường hợp Trong 9 bệnh nhân có nhánh động mạch vành bị tắc hoàn toàn thì có 6 bệnh nhân (66,7%) có dạng tổn thương là sẹo cơ tim Có 4 bệnh nhân (100%) hẹp <70% vẫn tổn thương dạng sẹo cơ tim hoặc xen kẽ sẹo cơ tim và cơ tim đông miên
Bảng 6 Mối liên quan giữa dạng tổn thương đông miên trên kết quả chụp 18 FDG-PET với tổn thương của động mạch vành chi phối tương ứng
Chụp ĐMV
Độ tổn thương (n=31)
Không đông miên
(Tỷ lệ %)
3 75%
1 33,3%
2 13,3%
2 22,2%
8 25,8%
p>0,05 Đông miên
(Tỷ lệ %)
1 25%
2 66,7%
13 86,7%
7 77,8%
23 74,2%
Nhận xét: Các bệnh nhân có cơ tim đông miên nằm chủ yếu trong các nhóm có mức độ hẹp động mạch
vành ≥90% với tỷ lệ 20/23 (87,0%) trường hợp Trong 9 bệnh nhân có nhánh động mạch vành bị tắc hoàn toàn thì có 7 bệnh nhân (77,8%) có dạng tổn thương là cơ tim đông miên hoặc xen kẽ cơ tim đông miên và sẹo cơ tim
Bảng 7 Mối liên quan giữa dạng tổn thương sẹo cơ tim trên kết quả chụp 18 FDG-PET với tuần hoàn bàng hệ tương ứng trên chụp ĐMV.
Chụp ĐMV (n=31)
Tuần hoàn bàng hệ
P
p>0,05
Trang 6Nhận xét: Tỷ lệ BN có sẹo cơ tim ở nhóm không tuần hoàn bàng hệ cao hơn (76,0%) tỷ lệ BN có sẹo cơ
tim ở nhóm có tuần hoàn bàng hệ (66,7%) tuy nhiên sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê
Bảng 8 Mối liên quan giữa tổn thương dạng cơ tim đông miên trên kết quả chụp 18 FDG-PET với tuần hoàn bàng
hệ tương ứng trên chụp ĐMV.
Chụp ĐMV
Tuần hoàn bàng hệ
p
p>0,05
Nhận xét: Tỷ lệ BN có cơ tim đông miên ở nhóm không tuần hoàn bàng hệ thì cao hơn (76,0%) tỷ lệ
BN cơ tim đông miên ở nhóm có tuần hoàn bàng hệ (66,7) sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê
Bảng 9 Mối liên quan giữa các dạng tổn thương trên PET/CT với THBH ở nhóm có tổn thương tắc hoàn toàn
Chụp ĐMV
Tắc hoàn toàn
p
Đông miên
(n=9)
p>0,05
Sẹo
(n=9)
p>0,05
Nhận xét: Tỷ lệ cơ tim dạng động miên trên
những bệnh nhân tắc hoàn toàn có THBH (75%)
thấp hơp tỷ lệ cơ tim đông miên trên những bệnh
nhân tắc hoàn toàn mà không có THBH (80%), sự
khác biệt không có ý nghĩa thống kê
Ngược lại, tỷ lệ tổn thương dạng sẹo cơ tim ở
những bệnh nhân tắc hoàn toàn có THBH lại cao
hơn tỷ lệ tổn thương dạng sẹo cơ tim ở những bệnh
nhân tắc hoàn toàn không có THBH, sự khác biệt
không có ý nghĩa thống kê
BÀN LUẬN
Mối liên quan giữa đặc điểm hình ảnh 18 F-FDG
PET/CT với XHTMCT
Nghiên cứu của chúng tôi ở bảng 1 chỉ ra có sự
phù hợp thấp trong đánh giá cơ tim sống giữa xạ
hình SPECT tưới máu cơ tim so với 18F-FDG PET
(tưới máu-chuyển hoá) với hệ số kappa là 0,105 (p
>0,05) Ở BN sau NMCTC, dựa vào mức độ bắt giữ (uptake)Tc99m – sestamibi pha nghỉ và kết hợp với vận động thành thất trái (sử dụng kỹ thuật ECG – gated SPECT) có thể cho phép đánh giá khả năng sống của vùng cơ tim Theo hầu hết các nghiên cứu, vùng cơ tim được coi là có khả năng sống nếu hoạt tính phóng xạ của cơ tim khoảng từ 50 – 60% trở lên
so với vùng cơ tim bình thường
Các tiêu chuẩn sử dụng để chẩn đoán sẹo cơ tim bao gồm vùng cơ tim khuyết xạ cố định (không thay đổi ở pha nghỉ và gắng sức), mật độ phóng xạ < 50%
so với cơ tim bình thường, mất vận động thành thất
và cơ thất không dày lên ở thì tâm thu khi chụp xạ hình SPECT tưới máu cơ tim theo phương pháp cổng điện tim Một số nghiên cứu cũng cho thấy các phương pháp làm tăng sự bắt giữ Tc 99m – sestamibi cũng được sử dụng trong xạ hình tưới máu cơ tim để đánh giá khả năng sống của cơ tim Các thuốc giãn
Trang 7mạch vành dẫn xuất từ nitrat được sử dụng với cơ chế
cần bằng cung cầu oxy ở cơ tim bằng giảm tiền gánh
và hậu gánh và cơ chế giãn các mạch tổn thương, tái
phân bố lưu lượng vành cho vùng thiếu máu thông
qua các nhánh bàng hệ Sự cải thiện mức độ bắt giữ
Tc99m – sestamibi và vận động ở các vùng thành tim
ở pha chụp sau khi sử dụng nitroglycerin rất có giá trị
trong tiên lượng khả năng hồi phục sau can thiệp tái
tưới máu Tuy nhiên, một số nghiên cứu lại cho thấy
khoảng gần 50% tổn thương này có thể bắt xạ trên
xạ hình Thallium-201 và cho thấy sự hạn chế của xạ
hình tưới máu cơ tim Tc99m – sestamibi trong đánh
giá khả năng còn sống cơ tim Điều này lý giải sự cần
thiết nên sử dụng các phương pháp có độ nhạy và độ
đặc hiệu cao hơn để phân biệt giữa sẹo NMCT và cơ
tim đông miên khi BN có các tổn thương khuyết xạ
cố định, mức độ nặng được coi là không có khả năng
hồi phục trên xạ hình Tc99m-sestamibi [6],[7]
Chỉ số SSS ở nhóm bệnh nhân có tổn thương sẹo
cơ tim là 36,4±10,5 cao hơn chỉ số này trên những
nhóm bệnh nhân có tổn thương cơ tim đông miên là
27,7±7,8 một cách có ý nghĩa thống kê với P1-2<0,05,
chỉ số SRS ở nhóm sẹo cơ tim là 32,7±11,4 cũng cao
hơn so với 2 nhóm còn lại nhưng sự khác biệt chưa
có ý nghĩa thống kê (Bảng 2)
Mối liên quan giữa đặc điểm hình ảnh 18 F-FDG
PET/CT với chức năng tâm thu thất trái.
Ở nhóm bệnh nhân sẹo cơ tim thì phân số tống
máu pha gắng sức (30,9±6,6) và và phân số tông
máu pha nghỉ (29,9±8,0) là thấp nhất trong các dạng
tổn thương của cơ tim trên 18F-FDG PET/CT Phân
số tống máu khi nghỉ của nhóm bệnh nhân cơ tim
đông miên (40,1±10,9) cao hơn có ý nghĩa thống kê
so với 2 nhóm còn lại là sẹo cơ tim (29,9±8,0) và tổn
thương hỗn hợp (34,4±6,9), p<0,05.(Bảng 4)
Tình trạng giảm chức năng co bóp cơ tim ở các BN
suy tim do bệnh động mạch vành, kể cả sau NMCTC
thường do cơ tim choáng váng (myocardial stunning),
đông miên (myocardial hibernating) và/hoặc sẹo cơ
tim sau NMCTC (post-myocardial infarction scar) Tình trạng giảm co bóp sau thiếu máu có thể được hồi phục hoàn toàn nếu không có thiếu máu tái phát và thời gian đủ dài cho phép cơ tim hồi phục
Cơ tim đông miên (myocardial hibernating) là tình trạng rối loạn chức năng thất trái kéo dài do giảm lưu lượng máu mạn tính nhưng còn khả năng hồi phục chức năng co bóp Tình trạng giảm co bóp cơ tim mạn tính này được giải thích là do cơ chế tự bảo vệ,
tế bào cơ tim giảm nhu cầu oxy để duy trì khả năng sống của nó Tuy nhiên, chính cơ chế bảo vệ của cơ tim gây nên giảm đáng kể chức năng co bóp dẫn đến giảm toàn bộ chức năng thất trái 18F-FDG PET cho phép chẩn đoán phân biệt sẹo cơ tim là tổn thương không hồi phục và vùng cơ tim đông miên có khả năng hồi phục thất trái sau can thiệp tái tưới máu góp phần quan trọng cho định hướng điều trị ở những bệnh nhân sau NMCTC [8],[9],[10]
Mối liên quan giữa đặc điểm hình ảnh 18 F-FDG PET/CT với kết quả chụp ĐMV
Trong nghiên cứu này tổn thương dạng sẹo cơ tim
và cơ tim đông miên nằm chủ yếu trong nhóm có tổn thương mạch vành >90%, sẹo cơ tim là 16/23 trường hợp và cơ tim đông miên là 20/23 trường hợp (bảng
5 và 6), sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p<0,05 Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Wang và cộng sự (2018) cho thấy rằng lưu lượng dòng chảy của động mạch vành không dự đoán chính xác sự còn sống của cơ tim và có độ nhạy thấp trong việc dự đoán chức năng cơ tim trong vùng cơ tim chi phối bởi nhánh động vành bị tổn thương [11] Trong tổng số 31 bệnh nhân được chụp ĐMV của chúng tôi thì 6 trường hợp có tuần bàng hệ Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ở bảng 7 và bảng 8 chỉ
ra rằng trong những bệnh nhân có tuần hoàn bàng
hệ thì có 66,7% có xuất hiện tổn thương sẹo cơ tim
và tỷ lệ xuất hiện cơ tim đông miên trong nhóm này cũng là 66,7% với sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê p>0,05, điều này cho thấy tuần hoàn bàng
Trang 8hệ ảnh hưởng đến dạng tổn thương sẹo cơ tim và cơ
tim đông miên là như nhau và đều chưa có ý nghĩa
Kết quả này cũng giống với nghiên cứu của Wei
Dong và cộng sự năm 2017 khi phân tích kết quả
chụp mạch vành của 104 bệnh nhân Tất cả các bệnh
nhân đã được chụp XHTMCT và PET/CT trong
vòng 1 tuần Nghiên cứu đó đã cho thấy không có
sự tương quan đáng kể giữa mức độ giảm tưới máu,
khả năng sống của cơ tim và tuần hoàn bàng hệ Khả
năng sống cơ tim là bình thường ở các vùng giảm vận
động nhẹ, trung bình và giảm ở các vùng giảm vận
động và rối loạn vận động nặng [12]
Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tuần hoàn bàng
hệ có thể cung cấp lượng máu đầy đủ duy trì hoạt
động cơ tim và giảm tỷ lệ cơ tim đông miên so với
các vùng cơ tim không có tuần hoàn bàng hệ Tuần
hoàn bàng hệ thường xuất hiện ở những bệnh nhân
tắc hoàn toàn ĐMV mạn tính, tắc hoàn toàn ĐMV
thường do mảng xơ gây nên và tắc mạch vành trong
thời gian> 3 tháng, tỷ lệ tắc hoàn toàn phát hiện bởi
chụp mạch vành là khoảng 10-30% [12] Trong
nghiên cứu của chúng tôi, với 31 BN được chụp
ĐMV, phát hiện 9 trường hợp tắc hoàn toàn và 6
trường hợp có tuần hoàn bàng hệ Theo kết quả thu được ở bảng 9 thì không thấy có sự tương quan có ý nghĩa thống kê giữa sự còn sống của cơ tim với tuần hoàn bàng hệ và tắc hoàn toàn ĐMV Kết quả này cũng giống với nghiên cứu của Wei Dong và cộng
sự khi kết quả nghiên cứu đó cũng cho thấy tắc hoàn toàn ĐMV, tuần hoàn bàng hệ dường như không thể
là một cách hiệu quả cho việc dự đoán khả năng còn sống của cơ tim Nhưng nghiên cứu cũng chỉ ra sự cần thiết của chụp FDG-PET/CT để hướng dẫn tái thông mạch máu và dự đoán sự cải thiện chức năng
và lợi ích còn sống [12]
KẾT LUẬN Trong chẩn đoán sự sống còn của cơ tim, khả năng phát hiện của chụp PET/CT sử dụng
18F-FDG nhạy hơn chụp XHTMCT Các mức độ
và đặc điểm tổn thương trên chụp ĐMV không phản ánh tình trạng sống còn của cơ tim được đánh giá trên PET/CT Mức độ rối loạn chức năng thất trái trên siêu âm tim không có mối liên quan với
sự sống còn của cơ tim được đánh giá trên kết quả hình ảnh chụp PET/CT
SUMMARY
The relationship between some characteristics of subclinical and 18 F-FDG PET/CT imaging in patients with myocardial infarction
Objectives: To investigate the relationship between some subclinicals and 18F-FDG PET/CT imaging
in patients with myocardial infarction
Subjects and methods: This cross-sectional study included 45 patients with myocardial infarction
who were treated in Cardiology Institute, 108 military hospital from 2011 to 2015 These patients were examined clinical, subclinical and underwent myocardial perfusion SPECT/CT After that, they were performed 18F-FDG cardiac PET/CT to assess myocardial viability and coronary angiography for theo patients who had indication
Results: Comparison SPECT/CT with 18F-FDG PET/CT, The diagnosing of the viability myocardium had no concordant (kappa = 0,105; p>0,05) Myocardial injuries: hibernating, stunning and scar were
no significantly differences in all three parameters: EFsp, EDV, ESV (p>0,05) There had no significantly differences between the proportion of the patient with myocardial hibernating area in chronic total occlusion coronary artery (CTO) with collateral flow and those without collateral flow (p>0,05) There
Trang 9had also no significantly differences between the proportion of the patient with myocardial scar area in CTO with collateral flow and those without collateral flow (p>0,05)
Conclusion: In the assessment of myocardial viability, the sensitivity of 18F-FDG cardiac PET/CT was higher than SPECT/CT.The severity and characteristics of leisions on coronary angiography did not reflect accurately myocardial viability, which was assessed by 18F-FDG PET/CT The degree of left ventricular dysfunction on echocardiography were not associated with the viablility myocardium that was performed
by 18F-FDG PET/CT
Key words: Viability myocardium, 18F-FDG PET/CT, Myocardial perfusion SPECT/CT, Myocardial infarction
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 A Desideri, P M Fioretti, L Cortigiani et al (2003) Cost of strategies after myocardial infarction
(COSTAMI): a multicentre, international, randomized trial for cost-effective discharge after uncomplicated myocardial infarction Eur Heart J, 24 (18), 1630-1639.
2 A Kositwattanarerk, C Sritara and P Sritara (2009) Correlation between myocardial perfusion
imaging findings and cardiac events J Med Assoc Thai, 92 (11), 1470-1475.
3 R C Hendel, D S Berman, M F Di Carli et al (2009) ACCF/ASNC/ACR/AHA/ASE/SCCT/
SCMR/SNM 2009 Appropriate Use Criteria for Cardiac Radionuclide Imaging: A Report of the American College of Cardiology Foundation Appropriate Use Criteria Task Force, the American Society of Nuclear Cardiology, the American College of Radiology, the American Heart Association, the American Society of Echocardiography, the Society of Cardiovascular Computed Tomography, the Society for Cardiovascular Magnetic Resonance, and the Society of Nuclear Medicine J Am Coll Cardiol, 53 (23), 2201-2229.
4 J A Spertus, E Peterson, J S Rumsfeld et al (2006) The Prospective Registry Evaluating Myocardial
Infarction: Events and Recovery (PREMIER) evaluating the impact of myocardial infarction on patient outcomes Am Heart J, 151 (3), 589-597.
5 Vũ Thị Phương Lan (2012) Nghiên cứu đặc điểm và giá trị tiên lượng cảu xạ hình tưới máu cơ tim ở bệnh
nhân sau nhồi máu cơ tim, Luận án tiến sỹ y học, Viện nghiên cứu y dược học lâm sàng 108,
6 Port Steven C (1999) Imaging guidelines for nuclear cardiology procedures Journal of Nuclear
Cardiology, 6 (2),
7 Pete Shackett (2004) Nuclear medicine technology: Procedures and quick reference Lippincott William
& Wilkin, Philadelphia, USA,
8 B Hesse, K Tagil, A Cuocolo et al (2005) EANM/ESC procedural guidelines for myocardial
perfusion imaging in nuclear cardiology Eur J Nucl Med Mol Imaging, 32 (7), 855-897.
9 Machac J (2005) Cardiac positron emission tomography imaging Semin Nucl Med, 35, 17-26.
10 B J Pichler, H F Wehrl and M S Judenhofer (2008) Latest advances in molecular imaging
instrumentation J Nucl Med, 49 Suppl 2, 5s-23s.
11 L Wang, M J Lu, L Feng et al (2018) Relationship of myocardial hibernation, scar, and angiographic
collateral flow in ischemic cardiomyopathy with coronary chronic total occlusion J Nucl Cardiol,
12 W Dong, J Li, H Mi et al (2018) Relationship between collateral circulation and myocardial viability
of (18)F-FDG PET/CT subtended by chronic total occluded coronary arteries Ann Nucl Med, 32 (3), 197-205.