Bài viết trình bày khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hình ảnh chụp PET/CT sử dụng 18F-FDG ở bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim cấp. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu bao gồm 45 bệnh nhân (BN) sau nhồi máu cơ tim cấp (NMCTC) được điều trị nội khoa tại Viện Tim mạch, Bệnh viện TƯQĐ 108, thời gian từ năm 2011 đến năm 2015.
Trang 1Ngày nhận bài: 15/10/2020 Ngày phản biện: 26/11/2020 Ngày chấp nhận đăng: 15/12/2020
Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng
ở bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim cấp
Đặng Văn Hưng 1 , Phạm Trường Sơn 2 , Nguyễn Văn Hùng3,
Lương Công Thức 3 , Trần Viết Tiến 3
1 Hệ Sau đại học, Học viện Quân y
2 Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
3 Bệnh viện Quân y 103, Học viện Quân y
TÓM TẮT:
Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm
sàng và hình ảnh chụp PET/CT sử dụng 18F-FDG
ở bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim cấp
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu bao
gồm 45 bệnh nhân (BN) sau nhồi máu cơ tim cấp
(NMCTC) được điều trị nội khoa tại Viện Tim
mạch, Bệnh viện TƯQĐ 108, thời gian từ năm
2011 đến năm 2015 Các BN được tiến hành thăm
khám lâm sàng, cận lâm sàng và làm xạ hình tưới
máu cơ tim (XHTMCT) Sau đó, tiến hành chụp
sống cho những BN có kết quả là khuyết xạ cố định
trên XHTMCT và chụp động mạch vành cho các
bệnh nhân có chỉ định
Kết quả: Tuổi trung bình là 68,2±10,6 trong
đó phần lớn các BN ≥60 tuổi chiếm 80%; nam giới
chiếm 91,1% Các yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành:
tăng huyết áp (66,7%), hút thuốc (35,6%) LVEF
trung bình (39,1±10,1%) Trên XHTMCT, 100%
BN có vùng khuyết xạ cố định Khuyết xạ cố định
đơn thuần, mức độ nặng và diện rộng chiếm đa số
có tỷ lệ lần lượt là 68,9% 93,3% và 93,3% 95,6%
số BN có diện khuyết xạ mức độ rộng trên kết quả
liên thất trước chiếm tỷ lệ cao nhất (62,2%) BN có tổn thương dạng sẹo cơ tim diện rộng chiếm tỷ lệ cao nhất (69,7%), diện trung bình và hẹp có tỷ lệ như nhau (15,2%) và tổn thương dạng cơ tim đông miên diện rộng chiếm tỷ lệ cao nhất (45,2%), dạng trung bình (35,5%)
Kết luận: Bệnh nhân NMCTC trong nghiên
cứu có độ tuổi cao, nam giới chiếm chủ yếu và có các yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành Vùng cơ tim nhồi máu bị ảnh hưởng hay gặp ở vùng do động mạch liên thất trước chi phối và hay gặp tình trạng giảm chức năng tâm thu thất trái Đánh giá sự sống còn cơ tim trên XHTMCT và 18F-FDG PET/CT cho thấy chủ yếu các bệnh nhân có mức độ tổn thương nặng và rộng
Từ khóa: Sự sống còn cơ tim, 18F- FDG PET/
CT, xạ hình tưới máu cơ tim, nhồi máu cơ tim cấp ĐẶT VẤN ĐỀ
Các BN sau NMCTC thường có tỷ lệ tai biến tim mạch cao do tình trạng thiếu máu cơ tim tồn dư
Trang 2(residual ischemia), rối loạn chức năng thất trái và
loạn nhịp tim Vì vậy, các thăm dò chẩn đoán nhằm
đánh giá tình trạng BN sau NMCTC để có biện pháp
điều trị thích hợp là hết sức cần thiết Tình trạng tổn
thương sau NMCTC có thể là cơ tim còn sống (bao
gồm cơ tim choáng: stunning, cơ tim đông miên:
hibernating) và sẹo cơ tim (scar) làm rối loạn chức
năng tim Việc xác định rõ tình trạng cơ tim “còn
sống” hay “không còn sống” (myocardial viability)
là yếu tố quan trọng quyết định có hay không lợi ích
khi tiến hành thủ thuật tái tưới máu và là yếu tố tiên
lượng trong việc đánh giá phục hồi chức năng thất
trái sau can thiệp tái tưới máu [1],[2]
Phát hiện khả năng còn sống của cơ tim có ý
nghĩa rất lớn trong lựa chọn chiến thuật điều trị suy
tim ở bệnh nhân động mạch vành Các bệnh nhân
có tình trạng cơ tim đông miên, giảm chức năng
thất trái nên được chẩn đoán và điều trị tái tưới máu
(nong, đặt stent hoặc phẫu thuật cầu nối chủ vành)
kết hợp điều trị nội khoa tích cực nhằm cải thiện
chức năng thất trái, giảm tỉ lệ tai biến và tử vong Các
bệnh nhân có tổn thương hoại tử, xơ hóa cơ tim nên
điều trị nội khoa tích cực
Hiện nay có nhiều kỹ thuật có thể đánh giá được
khả năng sống của cơ tim như: siêu âm tim gắng
sức sử dụng Dobutamin, chụp cộng hưởng từ tim
mạch (CMR), xạ hình tưới máu cơ tim Tc99m –
MIBI sử dụng nitroglycerin và FDG PET Trong đó
FDG PET được coi là phương pháp chuẩn để đánh
giá khả năng phục hồi vận động và chức năng thất
trái sau can thiệp tái tưới máu động mạch vành (độ
nhạy trên 90%, giá trị dự đoán âm tính xấp xỉ 90%)
đánh giá khả năng còn sống của cơ tim, phân biệt
tình trạng cơ tim đông miên còn khả năng hồi phục
với sẹo cơ tim (scar) sau nhồi máu cơ tim cấp [3]
Tại Việt Nam, tim mạch học hạt nhân được sử
dụng trong lâm sàng từ những năm 2000 và hiện
nay đang trở thành một trong những xét nghiệm
hàng đầu chẩn đoán bệnh động mạch vành ở các trung tâm y khoa lớn như Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện TƯQĐ 108 Việc triển khai kỹ thuật FDG PET đánh giá cơ tim còn sống sẽ cung cấp một công cụ có độ nhạy cao, hỗ trợ đắc lực cho các bác
sĩ tim mạch trong quyết định chiến lược điều trị đối với bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim cấp, cũng như góp phần tiên lượng cho bệnh nhân sau can thiệp tái tưới máu
Tuy nhiên, tại Việt Nam vai trò FDG PET đánh giá cơ tim còn sống sau NMCTC chưa được nghiên cứu nhiều Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm mục đích: "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hình ảnh chụp PET/CT sử dụng 18F-FDG ở bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim cấp".
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
Đối tượng nghiên cứu
Gồm 45 bệnh nhân đã được chẩn sau nhồi máu
cơ tim cấp có chỉ định đánh giá cơ tim còn sống được điều trị tại Viện Tim mạch, Bệnh viện TƯQĐ
108 từ năm 2011 – 2015
Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
- Các đối tượng BN sau NMCTC được đưa vào diện nghiên cứu khi đã qua giai đoạn cấp ít nhất là
14 ngày, tình trạng lâm sàng và huyết động ổn định, xét nghiệm các men tim đặc hiệu đã trở về giới hạn bình thường, BN ở giai đoạn hồi phục sau NMCTC
- Các bệnh nhân được làm XHTMCT theo khuyến cáo của Hội Tim mạch Hạt nhân Hoa Kỳ (ASNC), chọn bệnh nhân có kết quả là khuyết xạ
cố định để tiến hành chụp PET/CT đánh giá cơ tim còn sống [3]
- Tiến hành chụp PET/CT theo hướng dẫn của Hội Tim mạch Hạt nhân Hoa Kỳ (ASNC)
2009 [3]
Tiêu chuẩn loại trừ
- Nhồi máu cơ tim cấp chưa ổn định: còn đau
Trang 3ngực, biến đổi điện tim.
- Suy tim cấp mất bù nặng
- Nhiễm trùng nặng
- Đái tháo đường chưa kiểm soát được đường
huyết
- Rối loạn nhịp tim nặng chưa khống chế được
- Bệnh nhận nặng, ung thư giai đoạn cuối
- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu:
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu mô
tả cắt ngang
- Các bước tiến hành: BN được khám lâm sàng
và các xét nghiệm cần thiết và đăng ký vào hồ sơ
nghiên cứu theo mẫu thống nhất Chụp XHTMCT
quy trình 2 ngày pha nghỉ - gắng sức
- Chụp FDG – PET đánh giá khả năng sống của
cơ tim:
+ Dược chất phóng xạ: 5 - 12 mCi 18F – FDG
sản xuất tại trung tâm gia tốc Cyclotron – Bệnh viện
TƯQĐ 108 Phương tiện: máy PET/CT Discovery
STE của hãng GE Hoa kỳ đặt tại Khoa Y học Hạt
nhân, Bệnh viện TƯQĐ 108
+ Quy trình thực hiện: theo hướng dẫn thực
hành của Hội Tim mạch Hạt nhân Hoa Kỳ (2009)
[3] với quy trình sử dụng glucose đường uống
(glucose loading) hoặc kết hợp với sử dụng insulin
+ Thu nhận FDG PET và xử lý hình ảnh:
Tư thế bệnh nhân: nằm ngửa, hai tay để gác lên
giá đỡ phía trên đầu Chụp CT scout, chụp CT scanner liều thấp hiệu chỉnh hiệu ứng suy giảm (CT attenuation correction) và chụp PET với chuẩn 3
D, 1 bed x 15 phút Xử lý hình ảnh, tái xử lý, trình bày hình ảnh chuyển hóa FDG PET/CT và Tc99m – MIBI SPECT tưới máu cơ tim với phần mềm chuyên dụng QPS
+ Đánh giá hình ảnh FDG PET cơ tim kết hợp với hình ảnh SPECT tưới máu cơ tim pha nghỉ - gắng sức Tổn thương dạng không phù hợp (mismatch) giữa hình ảnh tưới máu – chuyển hóa (giảm nặng tưới máu nhưng duy trì, giảm nhẹ chuyển hóa glucose) có nghĩa cơ tim có khả năng sống Nếu là dạng phù hợp (match) giảm nặng, mất tưới máu và chuyển hóa có nghĩa là sẹo nhồi máu cơ tim (cơ tim không hồi phục nếu tiến hành can thiệp tái tưới máu)
- Chụp ĐMV cho những bệnh nhân có chỉ định: Theo hướng dẫn của ACC/AHA năm 1999 [8] Khi kết quả trên chụp 18F-FDG PET/CT là có vùng
cơ tim đông miên
Xử lý số liệu
Số liệu nghiên cứu được xử lý theo các thuật toán thống kê y học bằng chương trình SPSS 20.0
và Medcalc 12.3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chung của các đối tượng nghiên cứu
Bảng 1 Đặc điểm về tuổi và giới của đối tượng nghiên cứu
Nhóm tuổi
Nhận xét: Tuổi trung bình của các đối tượng nghiên cứu là 68,2±10,56 Chủ yếu bệnh nhân ở 2 nhóm
tuổi trên 60 với tỷ lệ lần lượt là 37,8% và 42,2% Nam giới chiếm đa số (41/4)
Trang 4Bảng 2 Đặc điểm về yếu tố nguy cơ của đối tượng nghiên cứu
(n=45)
Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Các yếu tố nguy cơ hay gặp là THA (66,7%), hút thuốc lá (35,6%), đái tháo đường (22,2%),
tiền sử tai biến mạch máu não (15,6%) và rối loạn lipid máu (15,6%)
Bảng 3 Kết quả một số thông số trên siêu âm tim
EFs
Nhận xét: Thể tích thất trái cuối tâm trương trung bình 98,6±39,65ml và thể tích thất trái cuối tâm thu
trung bình là 63,7 ± 34,45ml Phân số tống máu trung bình là 39,1±10,1 Chiếm tỷ lệ cao nhất là nhóm BN
có EFs: 30-39% với 35,6%; tiếp theo là nhóm BN có EFs: 40-50%; có 20% BN có CNTT duy trì >50%
Bảng 4 Kết quả chụp động mạch vành
(n =31)
Tỷ lệ (%)
Số nhánh ĐMV hẹp
trên 1 BN
Trang 5Vị trí hẹp ĐMV
Nhận xét: Trong số BN nghiên cứu, 31 BN được chụp ĐMV 12,9% không có tổn thương hẹp ≥ 70%
đường kính ĐMV Trong số BN có tổn thương hẹp ≥ 70%, 58,1% BN tổn thương một nhánh ĐMV, 29,1% tổn thương đa mạch, trong đó 6,5 % số BN tổn thương 3 nhánh chính ĐMV Không có bệnh nhân tổn thương thân chung ĐMV trái, hẹp ĐMLTT (51,6%) chiếm tỷ lệ cao nhất trong các nhánh ĐMV, hẹp ĐM
mũ thấp nhất (29,0%)
Bảng 5 Đặc điểm khuyết xạ trên xạ hình tưới máu cơ tim
Khả năng phục hồi
(reversibility)
Mức độ khuyết xạ (severity)
Độ rộng khuyết xạ (Extent)
*Khuyết xạ kết hợp: khuyết xạ cố định xen lẫn khuyết xạ có hồi phục
Nhận xét: 100% BN có vùng khuyết xạ cố định trên XHTMCT Khuyết xạ cố định đơn thuần, mức độ nặng và diện rộng chiếm đa số có tỷ lệ lần lượt là 68,9%; 93,3% và 93,3%
Các đặc điểm trên hình ảnh 18 F-FDG PET
Bảng 6 Đối chiếu hình ảnh 18 F-FDG PET và XHTMCT
(n=45)
Tỷ lệ (%)
Khuyết xạ tương đồng tưới máu-chuyển hoá (perfusion-metabolism
Khuyết xạ dạng không tương đồng (perfusion-metabolism mismatch): cơ
Trang 6Nhận xét: Có 19 bệnh nhân có dạng tổn thương là hỗn hợp (bao gồm cả 2 dạng tổn thương) chiếm
42,2% 14 bệnh nhân có kết quả là sẹo cơ tim chiếm 31,1% 12 bệnh nhân có kết quả là cơ tim đông miên đơn thuần chiếm 26,7%
Bảng 7 Phân bố tỷ lệ các dạng tổn thương trên 3 vùng chi phối của nhánh ĐMV
Nhận xét: Cả 2 dạng tổn thương đều có xu hướng tập trung nhiều ở vùng trước vách do nhánh động
mạch LTT chi phối với tỷ lệ dạng sẹo cơ tim 40,0% và cơ tim đông miên là 37,8%
Bảng 8 Tỷ lệ % vùng cơ tim đông miên và sẹo cơ tim so với diện tích cơ tim thất trái
Diện tổn thương Dạng tổn thương
Hẹp
<10%
Trung bình
10 – 20%
Rộng
>20%
Sẹo cơ tim
(27,7±13,6)
Cơ tim đông miên
(22,0±14,2)
Nhận xét: BN có tổn thương dạng sẹo cơ tim
diện rộng chiếm tỷ lệ cao nhất (69,7%), diện trung
bình và hẹp có tỷ lệ như nhau (15,2%) BN có tổn
thương dạng cơ tim đông miên diện rộng chiếm tỷ
lệ cao nhất (45,2%) tiếp theo là dạng trung bình
(35,5%) và thấp nhất là diện hẹp (19,4%)
BÀN LUẬN
Tuổi trung bình của các bệnh nhân NMCTC
trong nghiên cứu của chúng tôi là 68,2±10,56
Trong đó có 80,0% các bệnh nhân có tuổi ≥60
Các nghiên cứu về bệnh động mạch vành cho
thấy NMCTC nói riêng và bệnh thiếu máu cơ tim
thường gặp ở nhiều ở nam giới lớn tuổi Có lẽ đây là
do đặc điểm thu dung của bệnh viện TWQĐ 108 là
đối tượng quân nhân mà quân nhân đa phần là nam giới Nghiên cứu PREMIER (Prospective Registry Evaluating Myocardial Infarction) [4] tiến hành trên 2498 BN sau NMCTC đã thấy 20,1% BN ở độ tuổi trên 75 tuổi và 41,7% số BN NMCT ở lứa tuổi
từ 64 đến 75 (Bảng 1)
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ
lệ BN có các yếu tố nguy cơ mắc động mạch vành khá cao như tăng huyết áp 66,7%, hút thuốc lá 35,6%, đái tháo đường 22,2% (Bảng 2) Các nghiên cứu trong và ngoài nước đều nhận thấy NMCTC hay gặp ở người lớn tuổi và có các yếu tố nguy cơ động mạch vành như đái tháo đường, tăng huyết áp, rối loạn chuyển hoá lipid, béo phì và hút thuốc… Nghiên cứu của Vũ Thị Phương Lan [5] (2012) cho
Trang 7thấy các yếu tố nguy cơ tim mạch ở BN NMCT khá
cao với tỷ lệ bệnh tăng huyết áp 60,4%, rối loạn lipid
máu 29,5%, thừa cân 34,5%, hút thuốc lá 30,9%, đái
tháo đường 15,1% Nghiên cứu của Zellweger M.J
và cs trên 1413 BN sau NMCT được chụp SPECT
xạ hình tưới máu cơ tim đã thấy BN tăng huyết áp
chiếm tỷ lệ 49,8%, rối loạn lipid máu chiếm 46,7%,
đái tháo đường 22,1% và hút thuốc lá 13,4% Sự kết
hợp giữa các yếu tố nguy cơ như tăng lipid máu,
THA, đái tháo đường, hút thuốc làm tăng nguy cơ
NMCT [6]
Trên xạ hình SPECT tưới máu cơ tim, 71,1%
số BN có khuyết xạ cố định hoặc kết hợp; 93,3%
ở mức độ nặng và 93,3% diện rộng 68,9% số BN
được đánh giá trên xạ hình SPECT có vùng khuyết
xạ cố định sau NMCT Trong nghiên cứu này, mức
độ nặng, diện rộng và tỷ lệ khuyết xạ cố định của
tổn thương trên hình ảnh XHTMCT cao hơn nhiều
so với các nghiên cứu khác có lẽ là do BN nghiên
cứu của chúng tôi chỉ là NMCT chứ không gồm cả
bệnh nhân BTTMCBMT Nghiên cứu của Vũ Thị
Phương Lan [5] năm 2012 trên BN NMCT nhận
thấy tỷ lệ BN có khuyết xạ mức độ nhẹ, vừa và nặng
lần lượt là 4,3%, 15,1% và 80,6% Trong đó 75,5%
BN có khuyết xạ mức độ rộng Cũng trong nghiên
cứu này, tác giả nhận thấy số BN có vùng cơ tim còn
sống với khuyết xạ hồi phục chiếm tỷ lệ 56,8% và
nhóm tổn thương khuyết xạ được coi là không còn
sống trên xạ hình SPECT chiếm tới 43,2% số BN
sau NMCTC (Bảng 5)
Trên kết quả chup PET/CT các dạng hình
ảnh tương ứng với tình trạng cơ tim bình thường
là vùng có trạng thái bình thường cả về tưới máu
và chuyển hóa glucose; vùng không tương đồng
tưới máu – chuyển hóa (perfusion/metabolism
mismatch) là vùng cơ tim giảm tưới máu nhưng
duy trì hoặc tăng chuyển hóa glucose (duy trì / tăng
bắt giữ FDG); vùng không tương đồng tưới máu –
chuyển hóa ngược (reverse perfusion/metabolism
mismatch) tương ứng với vùng cơ tim tưới máu bình thường hoặc gần bình thường nhưng giảm chuyển hóa glucose (giảm bắt giữ FDG); vùng cơ tim tương đồng tưới máu – chuyển hóa (perfusion-metabolism match) là vùng giảm nặng tưới máu
và không bắt giữ 18F-FDG Ba tình trạng tưới máu
tim sống, có khả năng hồi phục sau can thiệp tái tưới máu Tình trạng cuối thể hiện sẹo nhồi máu cơ tim, ít khả năng hồi phục sau can thiệp tái tưới máu Theo kết quả trên Bảng 6 ta thấy 19 bệnh nhân có dạng tổn thương là hỗn hợp (bao gồm cả 2 dạng tổn thương) chiếm 42,2% 14 bệnh nhân có kết quả là sẹo cơ tim chiếm 31,1% 12 bệnh nhân có kết quả là
cơ tim đông miên đơn thuần chiếm 26,7% Lê Ngọc
Hà và cs (2015) nghiên cứu trên 69 bệnh nhân sau NMCT cấp và bệnh ĐMV mạn tính kết quả cũng cho thấy có 33% là tổn thương sẹo cơ tim, 29% tổn thương dạng cơ tim đông miên và 38% có tổn thương dạng hỗn hợp [7]
Sự phân bố của các dạng tổn thương sẹo cơ tim
và cơ tim đông miên ở vùng chi phối của nhánh động mạch LTT có tỷ lệ cao hơn so với vùng chi phối của các nhánh động mạch vành khác, điều này
có lẽ là do nhánh động mạch này có kích thước lớn nhất và có vùng chi phối rộng hơn so với các nhánh động mạch còn lại (Bảng 7)
Bên cạnh việc xác định các dạng tổn thương trên
xạ hình 18F-FDG PET, việc đánh giá độ rộng của tổn thương cũng rất quan trọng giúp cho việc định hướng điều trị Một số nghiên cứu đều cho thấy diện tích cơ tim đông miên, thiếu máu càng rộng thì thủ thuật tái tưới máu đem lại lợi ích cải thiện chức năng thất trái (EF%) càng nhiều Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 35,5% số BN có diện cơ tim đông miên ở mức độ trung bình (10 – 20% so với cơ tim thất trái) và 45,2% cơ tim đông miên diện rộng (>20%) Kết quả này tương đồng với kết nghiên cứu của Lê Ngọc Hà và cộng sự năm 2015 [7] Như
Trang 8vậy, các BN này nhiều khả năng sẽ cải thiện được
chức năng thất trái và tiên lượng tốt hơn nếu tái tưới
máu động mạch vành thành công Kết quả nghiên
cứu của chúng tôi cũng cho thấy sẹo cơ tim sau
NMCTC diện rộng chiếm tỷ lệ 69,7%, diện trung
bình 15,2% và sẹo NMCTC diện hẹp cũng chiếm
15,2% (Bảng 8) Ngược lại với nhóm bệnh nhân có
cơ tim đông miên thì nhóm BN có diện tích sẹo cơ
tim lớn sẽ không cải thiện được chức năng tâm thu
thất trái sau tái thông động mạch vành
KẾT LUẬN Bệnh nhân NMCTC trong nghiên cứu có độ tuổi cao, nam giới chiểm chủ yếu và có các yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành Vùng cơ tim nhồi máu
bị ảnh hưởng hay gặp ở vùng do động mạch liên thất trước chi phối và tình trạng giảm chứ năng tâm thu thất trái Đánh giá sự sống còn cơ tim trên
yếu các bệnh nhân có mức độ tổn thương nặng
và rộng
SUMMARY
Clinical, laboratory characteristics and 18 F-FDG cardiac PET/CT imaging in patients with myocardial infarction
Objectives: To investigate some characteristics of clinical, laboratory and 18F-FDG cardiac PET/CT imaging in patients with myocardial infarction
Subjects and methods: This cross-sectional study included 45 patients with myocardial infarction
who were treated in Cardiology Institute, 108 military hospital from 2011 to 2015 These patients were examined clinical, subclinical and underwent myocardial perfusion SPECT/CT After that, they were
patients who had indication
Results: In our study, mean age was 68,2±10,6, the proportion of the patients with 60 or older age was
80%; the proportion of male was 91,1% Risk factors of coronary artery disease included: hypertension (66,7%), smoking (35,6%) Left ventricular ejection fraction was 39,1±10,1% On myocardial perfusion SPECT, 100% patients had fixed defect Fixed, severity and large defect areas were priority, 68,9%; 93,3%; 93,3%, respectively On 18F-FDG cardiac PET/CT, there were 95,6% patients with large defect region The defect regions, which were supplied by left anterior descending artery, were the highest rate (62,2%) The patients with large scar myocardium were the highest rate (69,7%), the proportion of the patients with medium and small myocardial scar were equal (15,2%) The proportion of the patients with large and medium hibernating myocardium were 45,2% (the highest); 35,5%, respectively
Conclusion: In our study, the patients with myocardial infarction were fundamental old people, male
and had usually risk factor for CAD Myocardial infarction regions, which were supplied by left anterior descending artery, were popular Left ventricular ejection fraction was reduction The assessment of myocardial viability by SPECT and 18F-FDG PET/CT demonstrated that the patients wiht large, severity defect areas were seen the most common
Key words: Viability myocardium, 18F-FDG PET/CT, Myocardial perfusion SPECT/CT, Myocardial infarction
Trang 9TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 A Desideri, P M Fioretti, L Cortigiani et al (2003) Cost of strategies after myocardial infarction
(COSTAMI): a multicentre, international, randomized trial for cost-effective discharge after uncomplicated myocardial infarction Eur Heart J, 24 (18), 1630-1639.
2 A Kositwattanarerk, C Sritara and P Sritara (2009) Correlation between myocardial perfusion
imaging findings and cardiac events J Med Assoc Thai, 92 (11), 1470-1475.
3 R C Hendel, D S Berman, M F Di Carli et al (2009) ACCF/ASNC/ACR/AHA/ASE/SCCT/
SCMR/SNM 2009 Appropriate Use Criteria for Cardiac Radionuclide Imaging: A Report of the American College of Cardiology Foundation Appropriate Use Criteria Task Force, the American Society of Nuclear Cardiology, the American College of Radiology, the American Heart Association, the American Society of Echocardiography, the Society of Cardiovascular Computed Tomography, the Society for Cardiovascular Magnetic Resonance, and the Society of Nuclear Medicine J Am Coll Cardiol, 53 (23), 2201-2229.
4 J A Spertus, E Peterson, J S Rumsfeld et al (2006) The Prospective Registry Evaluating Myocardial
Infarction: Events and Recovery (PREMIER) evaluating the impact of myocardial infarction on patient outcomes Am Heart J, 151 (3), 589-597.
5 Vũ Thị Phương Lan (2012) Nghiên cứu đặc điểm và giá trị tiên lượng cảu xạ hình tưới máu cơ tim ở bệnh
nhân sau nhồi máu cơ tim, Luận án tiến sỹ y học, Viện Nghiên cứu Y Dược học lâm sàng 108
6 M J Zellweger, G Tabacek, A W Zutter et al (2004) Evidence for left ventricular remodeling after
percutaneous coronary intervention: effect of percutaneous coronary intervention on left ventricular ejection fraction and volumes Int J Cardiol, 96 (2), 197-201.
7 Lê Ngọc Hà (2015) Nghiên cứu ứng dụng PET/CT sử dụng 18F- FDG trong bệnh nhồi máu cơ tim,
ung thư hạch và ung thư đại – trực tràng Chương trình KH & CN trọng điểm cấp nhà nước, BVTƯ QĐ 108
8 P J Scanlon, D P Faxon, A M Audet et al (1999) ACC/AHA guidelines for coronary angiography
A report of the American College of Cardiology/American Heart Association Task Force on practice guidelines (Committee on Coronary Angiography) Developed in collaboration with the Society for Cardiac Angiography and Interventions J Am Coll Cardiol, 33 (6), 1756-1824.