Bài viết trình bày đánh giá tác dụng chống tổn thương phổi cấp của bài thuốc YCT trên động vật thực nghiệm để phát triển ứng dụng trong điều trị Covid-19. Bài thuốc YCT giúp cải thiện chức năng hô hấp của phổi bị tổn thương do axit oleic, hiệu quả điều trị tốt hơn so với thuốc đối chứng Ambroxol.
Trang 1Ngày nhận bài: 04/11/2020 Ngày phản biện: 15/12/2020 Ngày chấp nhận đăng: 23/12/2020
Nghiên cứu tác dụng chống tổn thương phổi cấp của bài thuốc
cổ truyền để ứng dụng điều trị Covid-19
Bùi Thị Thu Hiền 1 , Nguyễn Thanh Hằng 1 , Trần Thị Thu Huyền 1 , Hoàng Văn Nghĩa 2
Nguyễn Thái Biềng 1 , Chử Văn Mến 1 , Hồ Anh Sơn 1 , Trần Bá Hiếu 1
1 Học viện Quân y
2 Khoa Y học Cổ truyền, Bệnh viện Quân y 103, Học viện Quân y
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá tác dụng chống tổn thương
phổi cấp của bài thuốc YCT trên động vật thực
nghiệm để phát triển ứng dụng trong điều trị
Covid-19
Phương pháp nghiên cứu: Chuột nhắt trắng
được gây tổn thương phổi cấp bằng acid oleic Hình
ảnh giải phẫu bệnh lý, tỷ lệ trọng lượng ướt/khô của
phổi và tần suất hô hấp được dùng để đánh giá tác
dụng điều trị và dự phòng tổn thương phổi cấp của
bài thuốc
Kết quả: So với nhóm mô hình và nhóm dùng
Ambroxol, nhóm điều trị và dự phòng bằng bài
thuốc YCT giúp giảm tần suất hô hấp, giảm tỷ lệ
trọng lượng ướt/khô của phổi, giảm tổn thương
sung huyết phổi trên đại thể và vi thể
Kết luận: Bài thuốc YCT giúp cải thiện chức
năng hô hấp của phổi bị tổn thương do axit oleic,
hiệu quả điều trị tốt hơn so với thuốc đối chứng
Ambroxol
Từ khóa: Tổn thương phổi cấp, Covid-19, axit
oleic
ĐẶT VẤN ĐỀ Đại dịch COVID-19 do vi rút Corona chủng mới (SARS-CoV-2) xuất hiện tại Vũ Hán vào cuối năm
2019 đang đe dọa nghiêm trọng sức khỏe nhân loại
và sự phát triển kinh tế xã hội của mọi quốc gia trên thế giới [1] Do chưa có vaccine phòng bệnh cũng như chưa có thuốc điều trị đặc hiệu viêm phổi do SARS-CoV-2 vì vậy điều trị các triệu chứng nghiêm trọng để hạn chế tổn thương và giảm nguy cơ tử vong là sách lược chính trong điều trị hiện nay [2] Trong các tài liệu Đông dược kinh điển có từ hơn 2000 năm nay đã ghi chép rất nhiều bài thuốc
vị thuốc có tác dụng hiệu quả trong điều trị các bệnh liên quan đến hô hấp Dược lý học hiện đại đã chứng minh các vị thuốc trong các bài thuốc này không chỉ
có tác dụng kháng viêm, tiêu đờm, giảm tiết dịch
mà còn có tác dụng điều tiết chức năng miễn dịch của cơ thể Trong thập kỷ qua, các nhà khoa học
đã xác định được nhiều hoạt chất trong dược liệu
có hoạt tính chống SARS-CoV Do sự tương đồng của SARS-CoV và SARS-CoV-2, những nghiên cứu trước đây có thể làm sáng tỏ các hợp chất tự nhiên
Trang 2có khả năng ức chế SARS-CoV-2 [3, 4]
Do vậy để giải quyết những nhu cầu bức thiết
trong điều trị COVID-19 hiện nay chúng tôi đề
xuất nghiên cứu chọn lọc xây dựng bài thuốc điều
trị triệu chứng tổn thương phổi cấp, đây là triệu
chứng nghiêm trọng nhất dẫn đến tử vong bởi đại
dịch này Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng
mô hình tổn thương phổi cấp bằng axit oleic trên
chuột nhắt trắng để đánh giá hiệu quả điều trị của
bài thuốc Bài thuốc này được chọn lọc và kết hợp từ
hai phương thuốc kinh điển trong điều trị các triệu
chứng liên quan đến hô hấp trong y học cổ truyền,
với các vị thuốc là ma hoàng, hạnh nhân, bán hạ,
trạch tả, phục linh, mà tác dụng và tính an toàn được
chứng minh qua hàng trăm năm sử dụng
NGUYÊN VẬT LIỆU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
Nguyên liệu, thiết bị và động vật nghiên cứu
Nguyên liệu
Dược liệu của bài thuốc bao gồm ma hoàng,
hạnh nhân, bán hạ, phục linh, trạch tả được mua
từ Công ty cổ phần Dược liệu Việt Nam Siro
Ambroxol, lọ 50 ml: 30 mg/5 ml được mua từ Công
ty cổ phần Dược DANAPHA - Việt Nam Acid
Oleic được mua từ Sigma-Aldrich-Mỹ
Thiết bị
Bộ dụng cụ dùng để tiêm và cho chuột uống
thuốc, bộ dụng cụ lấy máu chuột (vial tráng EDTA
K2, mao quản), cân phân tích 10-4, model CP224S,
Sartorius - Đức, máy xét nghiệm huyết học tự động
XE2100, hãng Sysmex, hệ thống PowerLab, AD
Instrument-Mỹ
Động vật thí nghiệm
Chuột nhắt trắng chủng Swiss, cả hai giống,
khỏe mạnh, cân nặng 20,0 ± 2,0g Động vật được
nuôi trong phòng thí nghiệm, ánh sáng tự nhiên,
uống nước và ăn thức ăn được nấu chín, bảo đảm
theo nhu cầu
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Dung dịch acid oleic được pha với tỷ lệ: Oleic: EtOH 70: EtOH 96 (2:7:0.5)
Chuột được gây viêm phổi bằng acid oleic (0.16 ml/kg) tiêm tĩnh mạch, nhóm chứng âm được tiêm dung dịch cồn với cùng thể tích
Động vật nghiên cứu 46 chuột nhắt trắng được phân làm 5 nhóm:
1) Nhóm 1 (n=6) chứng âm: tiêm dung dịch cồn và uống NaCl 0,9% (0.3 ml/ngày)
2) Nhóm 2: (n=8) gây mô hình: tiêm acid oleic
và uống NaCl 0,9% (0.3 ml/ngày)
3) Nhóm 3: (n=8) chứng dương điều trị: tiêm acid oleic và uống Ambroxol (0.3 ml /ngày) sau khi tiêm 5 ngày
4) Nhóm 4: (n=8) điều trị: tiêm acid oleic và uống dịch chiết của bài thuốc, (0.3 ml /ngày) sau khi tiêm 5 ngày
5) Nhóm 5: (n=8) chứng dương dự phòng: uống Ambroxol (0.3 ml /ngày) trước khi tiêm 3 ngày, acid oleic được tiêm ở ngày thứ 4, sau đó chuột được tiếp tục uống thuốc cho đến ngày thứ 5 6) Nhóm 6: (n=8) nhóm dự phòng: uống dịch chiết của bài thuốc, (0.3 ml /ngày) trước khi tiêm 3 ngày, acid oleic được tiêm ở ngày thứ 4, sau đó chuột được tiếp tục uống thuốc cho đến ngày thứ 5 Trừ nhóm dự phòng chuột được cho uống dịch chiết trước khi gây mô hình 4 ngày, các nhóm khác sau khi gây mô hình chuột được phân ngẫu nhiên vào các nhóm và cho uống thuốc 5 ngày
Theo dõi trọng lượng chuột
Chuột được cân xác định trọng lượng ở các thời điểm: trước khi tiêm và ngày thứ 2, 4 trong quá trình điều trị
Đánh giá chức năng hô hấp của chuột
Chức năng hô hấp của chuột được đo ở các thời điểm: trước khi tiêm, sau khi tiêm 6 giờ, 24h, 72h và ngày thứ 5
Trang 3Quan sát đại thể và đánh giá lượng nước trong
phổi chuột
Sau 5 ngày, chuột được giết và bóc tách phổi để
quan sát mức độ phù và xung huyết phổi
* Quan sát hình hành đại thể, cân trọng lượng phổi.
* Xác định lượng nước trong phổi chuột:
Phổi của chuột được bóc tách khỏi lồng ngực
được rửa sạch bằng nước muối sinh lý thấm khô
bằng giấy thấm hoặc bông
- Cân ngay lập tức để ghi trọng lượng ướt của
phổi
lần nữa để ghi trọng lượng khô
Tỷ lệ trong lượng ướt/khô của phổi = trọng lượng
ướt/trọng lượng khô × 100%
Hình ảnh giải phẫu bệnh vi thể của phổi chuột
Thùy dưới phổi phải được cố định trong 10%
paraformaldehyd, nhúng trong parafin và nhuộm
màu HE Ba phần của phổi được chọn để nhuộm HE
Xử lý số liệu
Các dữ liệu được phân tích bằng phần mềm
GrapPad Prism 8 Số liệu được trình bày dưới dạng
giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn (X ± SD) hoặc
tỷ lệ phần trăm So sánh các giá trị trung bình bằng
independent t-test So sánh các biến liên tục trước
và sau điều trị được thực hiện với thuật toán paired
t-test hoặc Wilcoxon (đối với biến phi tham số) So
P< 0,05 được coi là có ý nghĩa thống kê
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trọng lượng
Trọng lượng chuột ở các ngày đo cân nặng
không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa các nhóm
Chức năng hô hấp
Quan sát đặc trưng bên ngoài cho thấy, ở nhóm
chứng âm chuột thở đều, hoạt bát, mắt trong và lông
mượt So với nhóm chứng âm, nhóm gây mô hình
bằng acid oleic chuột thở nhanh và gấp, vận động ít
hơn, lông hơi xù Ở các nhóm dự phòng và điều trị chuột thở nhanh và gấp hơn so với nhóm chứng âm nhưng chậm hơn so với nhóm mô hình
Sh am
OA +N l
OA +A
mb rox
ol
OA +Y
0 100 200 300 400 500
P<0.01 P<0.01
Hình 1 Tần suất hô hấp giữa các nhóm điều trị ở ngày thứ 5
Hình 2 Tần suất hô hấp giữa các nhóm điều trị ở ngày thứ 3
Kết quả đo tần số hô hấp cho thấy so với nhóm chứng âm, nhóm gây mô hình bằng acid oleic tần suất hô hấp tăng lên với P<0,01 khi so sánh ở tất cả các thời điểm Trong nhóm mô hình tần số hô hấp không có sự cải thiện đáng kể giữa các ngày
Sh am
OA +N l
OA +A
mb rox
ol
OA +Y
0 100 200 300 400 500
P<0.05 P<0.01
Trang 46h 24h 6h 24h
0
100
200
300
400
500
P<0.05
Pre-Ambroxol+OA Pre-YCT+OA
Sh am
OA +N l
OA +A
mb rox
ol
OA +Y CT 0
200
400
600
P<0.05
Hình 3 Tần suất hô hấp giữa các nhóm điều trị lúc 6h
sau khi tiêm acid oleic
Hình 4 Tần suất hô hấp giữa các nhóm dự phòng lúc
6h và 24h sau khi tiêm acid oleic
Hình 5 Tỷ lệ trọng lượng ướt/khô của phổi giữa các nhóm điều trị
Ở nhóm điều trị bằng Ambroxol so với nhóm
mô hình điều trị bằng Ambroxol không có sự cải
thiện về tần suất hô hấp với P>0,05 khi so sánh ở
tất cả các thời điểm Trong nhóm điều trị bằng
Ambroxol tần số hô hấp không có sự cải thiện đáng
kể giữa các ngày
Ở nhóm điều trị bằng bài thuốc YCT so với
nhóm mô hình, tần số hô hấp giảm có ý nghĩa ở
ngày thứ 3 (P<0,05) và thứ 5 (P<0,01) So với
nhóm điều trị bằng Ambroxol điều trị bằng YCT
giúp giảm tần số hô hấp ở thời điểm 6h (P<0,05),
ngày thứ 3 (P<0,01) và ngày thứ 5 (P<0,01) Trong
nhóm điều trị bằng YCT tần số hô hấp ở ngày thứ 5
giảm có ý nghĩa so với lúc 6h (P<0,05)
Khi so sách giữa nhóm dự phòng bằng YCT
và nhóm dự phòng bằng Ambroxol tần số hô hấp không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa hai nhóm Tuy nhiên ở nhóm dự phòng bằng YCT tần số hô hấp ở thời điểm 24h giảm xuống so với thời điểm 6h (P<0.05)
Tỷ lệ trong lượng ướt/khô của phổi
Ở nhóm điều trị bằng Ambroxol tỷ lệ trong lượng ướt/khô của phổi không có sự khác biệt ý nghĩa so với nhóm mô hình Tuy nhiên ở nhóm điều trị bằng YCT tỷ lệ trong lượng ướt/khô của phổi giảm xuống có ý nghĩa so với nhóm mô hình (P<0,05) và nhóm điều trị bằng Ambroxol (P<0,05)
l
mb rox
ol
CT
0 2 4 6
P<0.05 P<0.05
Khi so sánh giữa nhóm dự phòng bằng YCT và nhóm dự phòng bằng Ambroxol tỷ lệ trong lượng ướt/khô của phổi ở nhóm
dự phòng dùng YCT nhỏ hơn có ý nghĩa so với nhóm dự phòng bằng Ambroxol (P<0,05)
Trang 5Pre-Ambroxol+OA Pre-YCT+OA
0
2
4
6
8
P<0.05
Hình 8 Hình ảnh giải phẫu bệnh phổi các nhóm
Hình 6 Tỷ lệ trọng lượng ướt/khô của phổi giữa hai
nhóm dự phòng
Hình ảnh đại thể phổi
Quan sát hình ảnh phổi cho thấy, ở nhóm chứng âm phổi màu hồng nhạt, kích thước nhỏ hơn Ở các nhóm khác phổi màu hồng đậm hơn do có biểu hiện xung huyết, kích thước phổi lớn hơn so với nhóm chứng âm Ngoài ra ở nhóm điều bằng YCT mức độ xung huyết nhẹ hơn, màu sắc phổi nhạt hơn
so với nhóm điều trị bằng Ambroxol Tương
tự ở nhóm dự phòng bằng YCT mức độ xung huyết và màu sắc phổi cũng nhẹ hơn so với nhóm điều trị bằng Ambroxol
Hình 7 Hình ảnh đại thể phổi giữa các nhóm
Kết quả giải phẫu bệnh
Ở nhóm chứng âm phổi có tổn thương sung
huyết nhẹ: các mao mạch máu ở vách phế nang bị
sung huyết Các phế nang lòng rộng và sáng
Ở nhóm gây mô hình bằng acid oleic phổi có
các tổn thương sung huyết: các mao mạch hô hấp bị
sung huyết mạnh, vách phế nang dày hơn nhóm 1,
có nơi bị xơ hóa với các tế bào sợi tăng sinh
Ở nhóm điều trị bằng Ambroxol có tổn thương sung huyết ở phổi: các mao mạch phế nang và các mạch máu bị sung huyết mạnh, vách phế nang dày Vách phế nang còn có nhiều đại thực bào mà bào tương chứa sắc tố máu màu vàng nâu do hồng cầu thoát mạch tạo nên
Trang 6Ở nhóm điều trị bằng YCT có tổn thương sung
huyết ở phổi: các mao mạch phế nang và các mạch
máu bị sung huyết mạnh, vách phế nang dày Có ổ
viêm nhỏ cạnh phế quản gian tiểu thùy, gồm chủ
yếu là các tế bào lympho
Ở nhóm dự phòng bằng Ambroxol có tổn
thương của phù phổi cấp: các phế nang chứa dịch
phù màu hồng, các mao mạch máu ở vách phế
nang sung huyết và xuất huyết Lòng phế nang
rải rác có các đại thực bào bào tương chứa các hạt
Hemosiderin
Ở nhóm dự phòng bằng YCT có tổn thương
của phù phổi cấp, các phế nang chứa dịch phù màu
hồng, các mao mạch máu ở vách phế nang xung
huyết và xuất huyết Một số có tổn thương xung
huyết ở phổi:các mao mạch phế nang và các mạch
máu bị xung huyết mạnh, vách phế nang
BÀN LUẬN
Những nghiên cứu giải phẫu bệnh của bệnh
nhân tử vong do Covid-19 cho thấy, trong khoang
phế nang xuất hiện tương, dịch fibrin và màng trong
suốt Các tế bào tiết ra chủ yếu là bạch cầu đơn
nhân và đại thực bào, và các tế bào đa nhân lớn rất
dễ nhìn thấy Một lượng đáng kể tế bào biểu mô
phế nang loại II tăng sinh trong đó một số tế bào
phân lý Có thể nhìn thấy các phần bên trong các
tế bào biểu mô phế nang loại II Mạch máu tại vách
ngăn phế nang bị xung huyết, phù nề, có sự xâm
nhiễm của bạch cầu đơn nhân và tế bào lympho,
lòng mạch hình thành các cụng máu đông trong
suốt Tổ chức phổi có huyết khu trú và hoại tử có
thể gây nhồi máu xuất huyết Một số phế nang
xuất hiện thẩm thấu cơ học và xơ hóa kẽ phổi Tổn
thương đại thể nội tạng chiếm ưu thế ở các trường
hợp tử vong gồm phù phổi, tăng thể tích phổi với
nhiều vùng tổn thương dạng sung huyết, sưng hạch
bạch huyết rốn phổi và bụng, giảm trọng lượng lách
[5] Những thay đổi về hình thái bao gồm phá hủy
biểu mô niêm mạc phế quản, mất lông chuyển và
dị sản gai Hình ảnh mô học tổn thương pha sớm trong nhiễm SARS- CoV thường kết hợp với tổn thương phế nang lan tỏa trong khi ở pha muộn có
sự kết hợp tổn thương phá hủy phế nang với hiện tượng xơ hóa cấp tính và tổ chức hóa phổi [6] Cơ chế sinh bệnh nền tảng những trường hợp SARS-CoV nặng cho đến nay còn chưa được đầy đủ Tổn thương phổi lan rộng tỏ ra là có kết hợp với tải lượng virus ban đầu, tăng thâm nhiễm tế bào monocyte, macrophage, và neutrophil ở phổi và tăng ngưỡng huyết thanh các cytokines, chemokines tiền viêm
Do vậy, lâm sàng xấu đi trong SARS-CoV có thể do kết hợp giữa hiệu ứng trực tiếp tế bào-virus với đáp ứng miễn dịch bệnh lý được hình thành do tạo ra quá mức cytokine (bão cytokine) [7]
Mô hình động vật cung cấp cầu nối giữa bệnh nhân và các nghiên cứu tại phòng thí nghiệm Các giả thuyết được tạo ra trong các nghiên cứu
ở người có thể được thử nghiệm trực tiếp trên các
mô hình động vật và kết quả nghiên cứu trên tế bào giản đơn giản hơn có thể được thử nghiệm trên các mô hình động vật để đánh giá mức độ phù hợp của chúng trên một hệ thống cơ thể hoàn chỉnh [8] Trong nghiên cứu này bằng việc tiêm tĩnh mạch acid oleic chúng tôi đã tạo được
mô hình tổn thương phổi cấp có các triệu chứng giống như những bệnh nhân nhiễm SARS-CoV-2
ở giai đoạn tiến triển và nặng
Về mặt hô hấp trong quá trình thí nghiệm xác định liều gây tổn thương phổi bằng acid oleic quan sát thấy nhịp thở tăng lên với liều thấp và trung bình, trong khi đó nhịp thở giảm xuống và thường chuột
sẽ tử vong trong vòng 24 giờ khi tiêm tĩnh mạch acid oleic liều cao Trong khi đó điều trị bằng bài thuốc YCT giúp giảm hẳn nhịp thở của chuột gây tổn thương phổi cấp bằng acid oleic so với nhóm
mô hình và nhóm điều trị bằng Ambroxol, từ đó giúp cải thiện đáng kể chức năng hô hấp của chuột
Trang 7Về hình ảnh đại thể phổi các mô phổi của nhóm
chứng âm vẫn mềm mại với vẻ ngoài hơi hồng,
trong khi các mô phổi của nhóm tiêm acid oleic cho
thấy xung huyết, xuất tiết và sưng ở các mức độ khác
nhau Ngoài ra, giống như nhồi máu vùng tối có thể
được quan sát trên bề mặt của nó, đồng thời có xuất
hiết dịch tiết trong màng phổi Tính thấm của vi
mạch phổi tăng lên rõ rệt, với sự gia tăng của nước
phổi ngoài phổi và rò rỉ chất lỏng giàu protein vào kẽ
và không gian không khí Trong nghiên cứu này so
sánh hình ảnh đại thể phổi giữa các nhóm cho thấy
cả nhóm điều trị và dự phòng bằng bài thuốc YCT
hình ảnh phổi sáng hơn, dịch màng phổi ít hơn so
với nhóm mô hình và nhóm dùng Ambroxol Điều
đó chứng tỏ bài thuốc YCT dù dùng điều trị hay dự
phòng đều giúp giảm mức độ xung huyết của phổi
cũng như dịch tiết từ đó hạn chế mức độ tổn thương
phổi gây ra bởi acid oleic
Về giải phẫu bệnh kết quả cho thấy thấy phù nề
kẽ và mức độ phù nề không khí khác nhau, và một
số khu vực cho thấy thâm nhiễm xuất huyết lan rộng
với lắng đọng fibrin Ngoài ra, có thâm nhiễm bạch
cầu trung tính, thành phế nang dày và màng hyaline
hoàn toàn tạo thành một cấu trúc giống như tổ ong
trong phổi Kết quả giải phẫu bệnh cũng cho thấy sử
dụng bài thuốc YCT giúp giảm tổn thương phổi ở
mức vi thể với các biểu hiện như các mao mạch phế
nang và các mạch máu bị sung huyết nhẹ hơn, vách phế nang mỏng hơn và mức độ viêm cũng thấp hơn
so với nhóm mô hình và nhóm dùng Ambroxol
Tỷ lệ trọng lượng khô-ướt của các mô phổi trong nhóm mô hình cao hơn nhóm chứng âm Những dữ liệu này chỉ ra rằng hàm lượng nước trong mô phổi của nhóm tiêm acid oleic đã tăng lên, cho thấy tính thấm của phế nang tăng lên Điều trị và dự phòng bằng bài thuốc YCT giúp giảm tỷ lệ trọng lượng khô ướt của phổi đó đã giảm lượng nước và tính thấm của phổi so với nhóm mô hình cũng như nhóm điều trị và dự phòng bằng Ambroxol Từ đó giúp giảm bớt tổn thương phổi và cải thiện cũng như phục hồi chức năng hô hấp của phổi
KẾT LUẬN Trong nghiên cứu này chúng tôi đã xây dựng thành công mô hình tổn thương phổi cấp với nhiều đặc điểm giống với tổn thương phổi gây ra bởi vi rút Sars-CoV-2 Dựa trên mô hình tổn thương phổi cấp trong nghiên cứu này chúng tôi đã chứng minh tác dụng hiệu quả trong cả dự phòng và điều trị của bài thuốc YCT Kết quả cho thấy bài thuốc thông qua giảm lượng dịch tiết, sung huyết phổi từ đó giúp cải thiện chức năng hô hấp của phổi bị tổn thương do acid oleic, hiệu quả điều trị tốt hơn so với thuốc đối chứng Ambroxl
ABSTRACT
Objectives: In order to apply for the treatment of Covid-19, this study was carried out to investigate the
therapeutic effect of traditional medicine YCT on mice with acute lung injury model
Methods: Acute lung injury was induced in the mice via the lateral tail vein injection of oleic acid
The histopathological of lung, lung wet-dry weight ratio and the respiratory rate were used to evaluate the therapeutic effect of YCT
Results: Compared to the model group and the Ambroxol group, the treatment and pre-treatment
group with YCT decreased the respiratory rate and the wet/dry weight ratio of the lungs as well as mitigated congestive lung damage
Trang 8TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Rolling updates on coronavirus disease (COVID-19) (Update: WHO characterizes COVID-19 as a
pandemic) Tổ chức Y tế Thế giới Ngày 11 tháng 3 năm 2020
2 Huang, Chaolin; Wang, Yeming, et al Clinical features of patients infected with 2019 novel coronavirus
in Wuhan, China” Lancet,(20)30183-5
3 Lam T.T., Shum M.H., Zhu H.C., et al Identifying SARS-CoV-2 related coronaviruses in Malayan
pangolins Nature, s41586-020-2169-0
4 Yang Yang, Sahidul Islam, Jin Wang, Yuan Li, and Xin Chen Traditional chinese medicine in the
treatment of patients infected with 2019-new coronavirus (sars-cov-2): a review and perspective Int J Biol Sci 2020; 16(10): 1708–1717
5 Haneen Amawi, Ghina'a I Abu Deiab, Alaa A A Aljabali, et al COVID-19 pandemic: an overview of
epidemiology, parthenogenesis, diagnostics and potential vaccines and therapeutics Ther Deliv 2020 Apr: 10.4155/tde-2020-0035
6 Yung-Fang Tu, Chian-Shiu Chien, Aliaksandr A Yarmishyn, et al A review of sars-cov-2 and the
ongoing clinical trials Int J Mol Sci 2020 Apr 10;21(7):2657
7 Dae-Gyun Ahn, Hye-Jin Shin, Mi-Hwa Kim, et al Current status of epidemiology, diagnosis,
therapeutics, and vaccines for novel coronavirus disease 2019 (covid-19) J Microbiol Biotechnol 2020 Mar 28;30(3):313-324
8 Beilman G Pathogenesis of oleic acid-induced lung injury in the rat: distribution of oleic acid during
injury and early endothelial cell changes Lipids 30: 817–823, 1995
Conclusion: YCT improved the respiratory function of lungs damaged by oleic acid and displayed a
better therapeutic effect than the control drug Ambroxol
Key wods: Acute lung injury, Covid-19, oleic acid.