1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu tác dụng chống tổn thương phổi cấp của bài thuốc cổ truyền để ứng dụng điều trị Covid-19

8 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 363,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày đánh giá tác dụng chống tổn thương phổi cấp của bài thuốc YCT trên động vật thực nghiệm để phát triển ứng dụng trong điều trị Covid-19. Bài thuốc YCT giúp cải thiện chức năng hô hấp của phổi bị tổn thương do axit oleic, hiệu quả điều trị tốt hơn so với thuốc đối chứng Ambroxol.

Trang 1

Ngày nhận bài: 04/11/2020 Ngày phản biện: 15/12/2020 Ngày chấp nhận đăng: 23/12/2020

Nghiên cứu tác dụng chống tổn thương phổi cấp của bài thuốc

cổ truyền để ứng dụng điều trị Covid-19

Bùi Thị Thu Hiền 1 , Nguyễn Thanh Hằng 1 , Trần Thị Thu Huyền 1 , Hoàng Văn Nghĩa 2

Nguyễn Thái Biềng 1 , Chử Văn Mến 1 , Hồ Anh Sơn 1 , Trần Bá Hiếu 1

1 Học viện Quân y

2 Khoa Y học Cổ truyền, Bệnh viện Quân y 103, Học viện Quân y

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá tác dụng chống tổn thương

phổi cấp của bài thuốc YCT trên động vật thực

nghiệm để phát triển ứng dụng trong điều trị

Covid-19

Phương pháp nghiên cứu: Chuột nhắt trắng

được gây tổn thương phổi cấp bằng acid oleic Hình

ảnh giải phẫu bệnh lý, tỷ lệ trọng lượng ướt/khô của

phổi và tần suất hô hấp được dùng để đánh giá tác

dụng điều trị và dự phòng tổn thương phổi cấp của

bài thuốc

Kết quả: So với nhóm mô hình và nhóm dùng

Ambroxol, nhóm điều trị và dự phòng bằng bài

thuốc YCT giúp giảm tần suất hô hấp, giảm tỷ lệ

trọng lượng ướt/khô của phổi, giảm tổn thương

sung huyết phổi trên đại thể và vi thể

Kết luận: Bài thuốc YCT giúp cải thiện chức

năng hô hấp của phổi bị tổn thương do axit oleic,

hiệu quả điều trị tốt hơn so với thuốc đối chứng

Ambroxol

Từ khóa: Tổn thương phổi cấp, Covid-19, axit

oleic

ĐẶT VẤN ĐỀ Đại dịch COVID-19 do vi rút Corona chủng mới (SARS-CoV-2) xuất hiện tại Vũ Hán vào cuối năm

2019 đang đe dọa nghiêm trọng sức khỏe nhân loại

và sự phát triển kinh tế xã hội của mọi quốc gia trên thế giới [1] Do chưa có vaccine phòng bệnh cũng như chưa có thuốc điều trị đặc hiệu viêm phổi do SARS-CoV-2 vì vậy điều trị các triệu chứng nghiêm trọng để hạn chế tổn thương và giảm nguy cơ tử vong là sách lược chính trong điều trị hiện nay [2] Trong các tài liệu Đông dược kinh điển có từ hơn 2000 năm nay đã ghi chép rất nhiều bài thuốc

vị thuốc có tác dụng hiệu quả trong điều trị các bệnh liên quan đến hô hấp Dược lý học hiện đại đã chứng minh các vị thuốc trong các bài thuốc này không chỉ

có tác dụng kháng viêm, tiêu đờm, giảm tiết dịch

mà còn có tác dụng điều tiết chức năng miễn dịch của cơ thể Trong thập kỷ qua, các nhà khoa học

đã xác định được nhiều hoạt chất trong dược liệu

có hoạt tính chống SARS-CoV Do sự tương đồng của SARS-CoV và SARS-CoV-2, những nghiên cứu trước đây có thể làm sáng tỏ các hợp chất tự nhiên

Trang 2

có khả năng ức chế SARS-CoV-2 [3, 4]

Do vậy để giải quyết những nhu cầu bức thiết

trong điều trị COVID-19 hiện nay chúng tôi đề

xuất nghiên cứu chọn lọc xây dựng bài thuốc điều

trị triệu chứng tổn thương phổi cấp, đây là triệu

chứng nghiêm trọng nhất dẫn đến tử vong bởi đại

dịch này Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng

mô hình tổn thương phổi cấp bằng axit oleic trên

chuột nhắt trắng để đánh giá hiệu quả điều trị của

bài thuốc Bài thuốc này được chọn lọc và kết hợp từ

hai phương thuốc kinh điển trong điều trị các triệu

chứng liên quan đến hô hấp trong y học cổ truyền,

với các vị thuốc là ma hoàng, hạnh nhân, bán hạ,

trạch tả, phục linh, mà tác dụng và tính an toàn được

chứng minh qua hàng trăm năm sử dụng

NGUYÊN VẬT LIỆU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG

PHÁP NGHIÊN CỨU

Nguyên liệu, thiết bị và động vật nghiên cứu

Nguyên liệu

Dược liệu của bài thuốc bao gồm ma hoàng,

hạnh nhân, bán hạ, phục linh, trạch tả được mua

từ Công ty cổ phần Dược liệu Việt Nam Siro

Ambroxol, lọ 50 ml: 30 mg/5 ml được mua từ Công

ty cổ phần Dược DANAPHA - Việt Nam Acid

Oleic được mua từ Sigma-Aldrich-Mỹ

Thiết bị

Bộ dụng cụ dùng để tiêm và cho chuột uống

thuốc, bộ dụng cụ lấy máu chuột (vial tráng EDTA

K2, mao quản), cân phân tích 10-4, model CP224S,

Sartorius - Đức, máy xét nghiệm huyết học tự động

XE2100, hãng Sysmex, hệ thống PowerLab, AD

Instrument-Mỹ

Động vật thí nghiệm

Chuột nhắt trắng chủng Swiss, cả hai giống,

khỏe mạnh, cân nặng 20,0 ± 2,0g Động vật được

nuôi trong phòng thí nghiệm, ánh sáng tự nhiên,

uống nước và ăn thức ăn được nấu chín, bảo đảm

theo nhu cầu

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Dung dịch acid oleic được pha với tỷ lệ: Oleic: EtOH 70: EtOH 96 (2:7:0.5)

Chuột được gây viêm phổi bằng acid oleic (0.16 ml/kg) tiêm tĩnh mạch, nhóm chứng âm được tiêm dung dịch cồn với cùng thể tích

Động vật nghiên cứu 46 chuột nhắt trắng được phân làm 5 nhóm:

1) Nhóm 1 (n=6) chứng âm: tiêm dung dịch cồn và uống NaCl 0,9% (0.3 ml/ngày)

2) Nhóm 2: (n=8) gây mô hình: tiêm acid oleic

và uống NaCl 0,9% (0.3 ml/ngày)

3) Nhóm 3: (n=8) chứng dương điều trị: tiêm acid oleic và uống Ambroxol (0.3 ml /ngày) sau khi tiêm 5 ngày

4) Nhóm 4: (n=8) điều trị: tiêm acid oleic và uống dịch chiết của bài thuốc, (0.3 ml /ngày) sau khi tiêm 5 ngày

5) Nhóm 5: (n=8) chứng dương dự phòng: uống Ambroxol (0.3 ml /ngày) trước khi tiêm 3 ngày, acid oleic được tiêm ở ngày thứ 4, sau đó chuột được tiếp tục uống thuốc cho đến ngày thứ 5 6) Nhóm 6: (n=8) nhóm dự phòng: uống dịch chiết của bài thuốc, (0.3 ml /ngày) trước khi tiêm 3 ngày, acid oleic được tiêm ở ngày thứ 4, sau đó chuột được tiếp tục uống thuốc cho đến ngày thứ 5 Trừ nhóm dự phòng chuột được cho uống dịch chiết trước khi gây mô hình 4 ngày, các nhóm khác sau khi gây mô hình chuột được phân ngẫu nhiên vào các nhóm và cho uống thuốc 5 ngày

Theo dõi trọng lượng chuột

Chuột được cân xác định trọng lượng ở các thời điểm: trước khi tiêm và ngày thứ 2, 4 trong quá trình điều trị

Đánh giá chức năng hô hấp của chuột

Chức năng hô hấp của chuột được đo ở các thời điểm: trước khi tiêm, sau khi tiêm 6 giờ, 24h, 72h và ngày thứ 5

Trang 3

Quan sát đại thể và đánh giá lượng nước trong

phổi chuột

Sau 5 ngày, chuột được giết và bóc tách phổi để

quan sát mức độ phù và xung huyết phổi

* Quan sát hình hành đại thể, cân trọng lượng phổi.

* Xác định lượng nước trong phổi chuột:

Phổi của chuột được bóc tách khỏi lồng ngực

được rửa sạch bằng nước muối sinh lý thấm khô

bằng giấy thấm hoặc bông

- Cân ngay lập tức để ghi trọng lượng ướt của

phổi

lần nữa để ghi trọng lượng khô

Tỷ lệ trong lượng ướt/khô của phổi = trọng lượng

ướt/trọng lượng khô × 100%

Hình ảnh giải phẫu bệnh vi thể của phổi chuột

Thùy dưới phổi phải được cố định trong 10%

paraformaldehyd, nhúng trong parafin và nhuộm

màu HE Ba phần của phổi được chọn để nhuộm HE

Xử lý số liệu

Các dữ liệu được phân tích bằng phần mềm

GrapPad Prism 8 Số liệu được trình bày dưới dạng

giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn (X ± SD) hoặc

tỷ lệ phần trăm So sánh các giá trị trung bình bằng

independent t-test So sánh các biến liên tục trước

và sau điều trị được thực hiện với thuật toán paired

t-test hoặc Wilcoxon (đối với biến phi tham số) So

P< 0,05 được coi là có ý nghĩa thống kê

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trọng lượng

Trọng lượng chuột ở các ngày đo cân nặng

không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa các nhóm

Chức năng hô hấp

Quan sát đặc trưng bên ngoài cho thấy, ở nhóm

chứng âm chuột thở đều, hoạt bát, mắt trong và lông

mượt So với nhóm chứng âm, nhóm gây mô hình

bằng acid oleic chuột thở nhanh và gấp, vận động ít

hơn, lông hơi xù Ở các nhóm dự phòng và điều trị chuột thở nhanh và gấp hơn so với nhóm chứng âm nhưng chậm hơn so với nhóm mô hình

Sh am

OA +N l

OA +A

mb rox

ol

OA +Y

0 100 200 300 400 500

P<0.01 P<0.01

Hình 1 Tần suất hô hấp giữa các nhóm điều trị ở ngày thứ 5

Hình 2 Tần suất hô hấp giữa các nhóm điều trị ở ngày thứ 3

Kết quả đo tần số hô hấp cho thấy so với nhóm chứng âm, nhóm gây mô hình bằng acid oleic tần suất hô hấp tăng lên với P<0,01 khi so sánh ở tất cả các thời điểm Trong nhóm mô hình tần số hô hấp không có sự cải thiện đáng kể giữa các ngày

Sh am

OA +N l

OA +A

mb rox

ol

OA +Y

0 100 200 300 400 500

P<0.05 P<0.01

Trang 4

6h 24h 6h 24h

0

100

200

300

400

500

P<0.05

Pre-Ambroxol+OA Pre-YCT+OA

Sh am

OA +N l

OA +A

mb rox

ol

OA +Y CT 0

200

400

600

P<0.05

Hình 3 Tần suất hô hấp giữa các nhóm điều trị lúc 6h

sau khi tiêm acid oleic

Hình 4 Tần suất hô hấp giữa các nhóm dự phòng lúc

6h và 24h sau khi tiêm acid oleic

Hình 5 Tỷ lệ trọng lượng ướt/khô của phổi giữa các nhóm điều trị

Ở nhóm điều trị bằng Ambroxol so với nhóm

mô hình điều trị bằng Ambroxol không có sự cải

thiện về tần suất hô hấp với P>0,05 khi so sánh ở

tất cả các thời điểm Trong nhóm điều trị bằng

Ambroxol tần số hô hấp không có sự cải thiện đáng

kể giữa các ngày

Ở nhóm điều trị bằng bài thuốc YCT so với

nhóm mô hình, tần số hô hấp giảm có ý nghĩa ở

ngày thứ 3 (P<0,05) và thứ 5 (P<0,01) So với

nhóm điều trị bằng Ambroxol điều trị bằng YCT

giúp giảm tần số hô hấp ở thời điểm 6h (P<0,05),

ngày thứ 3 (P<0,01) và ngày thứ 5 (P<0,01) Trong

nhóm điều trị bằng YCT tần số hô hấp ở ngày thứ 5

giảm có ý nghĩa so với lúc 6h (P<0,05)

Khi so sách giữa nhóm dự phòng bằng YCT

và nhóm dự phòng bằng Ambroxol tần số hô hấp không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa hai nhóm Tuy nhiên ở nhóm dự phòng bằng YCT tần số hô hấp ở thời điểm 24h giảm xuống so với thời điểm 6h (P<0.05)

Tỷ lệ trong lượng ướt/khô của phổi

Ở nhóm điều trị bằng Ambroxol tỷ lệ trong lượng ướt/khô của phổi không có sự khác biệt ý nghĩa so với nhóm mô hình Tuy nhiên ở nhóm điều trị bằng YCT tỷ lệ trong lượng ướt/khô của phổi giảm xuống có ý nghĩa so với nhóm mô hình (P<0,05) và nhóm điều trị bằng Ambroxol (P<0,05)

l

mb rox

ol

CT

0 2 4 6

P<0.05 P<0.05

Khi so sánh giữa nhóm dự phòng bằng YCT và nhóm dự phòng bằng Ambroxol tỷ lệ trong lượng ướt/khô của phổi ở nhóm

dự phòng dùng YCT nhỏ hơn có ý nghĩa so với nhóm dự phòng bằng Ambroxol (P<0,05)

Trang 5

Pre-Ambroxol+OA Pre-YCT+OA

0

2

4

6

8

P<0.05

Hình 8 Hình ảnh giải phẫu bệnh phổi các nhóm

Hình 6 Tỷ lệ trọng lượng ướt/khô của phổi giữa hai

nhóm dự phòng

Hình ảnh đại thể phổi

Quan sát hình ảnh phổi cho thấy, ở nhóm chứng âm phổi màu hồng nhạt, kích thước nhỏ hơn Ở các nhóm khác phổi màu hồng đậm hơn do có biểu hiện xung huyết, kích thước phổi lớn hơn so với nhóm chứng âm Ngoài ra ở nhóm điều bằng YCT mức độ xung huyết nhẹ hơn, màu sắc phổi nhạt hơn

so với nhóm điều trị bằng Ambroxol Tương

tự ở nhóm dự phòng bằng YCT mức độ xung huyết và màu sắc phổi cũng nhẹ hơn so với nhóm điều trị bằng Ambroxol

Hình 7 Hình ảnh đại thể phổi giữa các nhóm

Kết quả giải phẫu bệnh

Ở nhóm chứng âm phổi có tổn thương sung

huyết nhẹ: các mao mạch máu ở vách phế nang bị

sung huyết Các phế nang lòng rộng và sáng

Ở nhóm gây mô hình bằng acid oleic phổi có

các tổn thương sung huyết: các mao mạch hô hấp bị

sung huyết mạnh, vách phế nang dày hơn nhóm 1,

có nơi bị xơ hóa với các tế bào sợi tăng sinh

Ở nhóm điều trị bằng Ambroxol có tổn thương sung huyết ở phổi: các mao mạch phế nang và các mạch máu bị sung huyết mạnh, vách phế nang dày Vách phế nang còn có nhiều đại thực bào mà bào tương chứa sắc tố máu màu vàng nâu do hồng cầu thoát mạch tạo nên

Trang 6

Ở nhóm điều trị bằng YCT có tổn thương sung

huyết ở phổi: các mao mạch phế nang và các mạch

máu bị sung huyết mạnh, vách phế nang dày Có ổ

viêm nhỏ cạnh phế quản gian tiểu thùy, gồm chủ

yếu là các tế bào lympho

Ở nhóm dự phòng bằng Ambroxol có tổn

thương của phù phổi cấp: các phế nang chứa dịch

phù màu hồng, các mao mạch máu ở vách phế

nang sung huyết và xuất huyết Lòng phế nang

rải rác có các đại thực bào bào tương chứa các hạt

Hemosiderin

Ở nhóm dự phòng bằng YCT có tổn thương

của phù phổi cấp, các phế nang chứa dịch phù màu

hồng, các mao mạch máu ở vách phế nang xung

huyết và xuất huyết Một số có tổn thương xung

huyết ở phổi:các mao mạch phế nang và các mạch

máu bị xung huyết mạnh, vách phế nang

BÀN LUẬN

Những nghiên cứu giải phẫu bệnh của bệnh

nhân tử vong do Covid-19 cho thấy, trong khoang

phế nang xuất hiện tương, dịch fibrin và màng trong

suốt Các tế bào tiết ra chủ yếu là bạch cầu đơn

nhân và đại thực bào, và các tế bào đa nhân lớn rất

dễ nhìn thấy Một lượng đáng kể tế bào biểu mô

phế nang loại II tăng sinh trong đó một số tế bào

phân lý Có thể nhìn thấy các phần bên trong các

tế bào biểu mô phế nang loại II Mạch máu tại vách

ngăn phế nang bị xung huyết, phù nề, có sự xâm

nhiễm của bạch cầu đơn nhân và tế bào lympho,

lòng mạch hình thành các cụng máu đông trong

suốt Tổ chức phổi có huyết khu trú và hoại tử có

thể gây nhồi máu xuất huyết Một số phế nang

xuất hiện thẩm thấu cơ học và xơ hóa kẽ phổi Tổn

thương đại thể nội tạng chiếm ưu thế ở các trường

hợp tử vong gồm phù phổi, tăng thể tích phổi với

nhiều vùng tổn thương dạng sung huyết, sưng hạch

bạch huyết rốn phổi và bụng, giảm trọng lượng lách

[5] Những thay đổi về hình thái bao gồm phá hủy

biểu mô niêm mạc phế quản, mất lông chuyển và

dị sản gai Hình ảnh mô học tổn thương pha sớm trong nhiễm SARS- CoV thường kết hợp với tổn thương phế nang lan tỏa trong khi ở pha muộn có

sự kết hợp tổn thương phá hủy phế nang với hiện tượng xơ hóa cấp tính và tổ chức hóa phổi [6] Cơ chế sinh bệnh nền tảng những trường hợp SARS-CoV nặng cho đến nay còn chưa được đầy đủ Tổn thương phổi lan rộng tỏ ra là có kết hợp với tải lượng virus ban đầu, tăng thâm nhiễm tế bào monocyte, macrophage, và neutrophil ở phổi và tăng ngưỡng huyết thanh các cytokines, chemokines tiền viêm

Do vậy, lâm sàng xấu đi trong SARS-CoV có thể do kết hợp giữa hiệu ứng trực tiếp tế bào-virus với đáp ứng miễn dịch bệnh lý được hình thành do tạo ra quá mức cytokine (bão cytokine) [7]

Mô hình động vật cung cấp cầu nối giữa bệnh nhân và các nghiên cứu tại phòng thí nghiệm Các giả thuyết được tạo ra trong các nghiên cứu

ở người có thể được thử nghiệm trực tiếp trên các

mô hình động vật và kết quả nghiên cứu trên tế bào giản đơn giản hơn có thể được thử nghiệm trên các mô hình động vật để đánh giá mức độ phù hợp của chúng trên một hệ thống cơ thể hoàn chỉnh [8] Trong nghiên cứu này bằng việc tiêm tĩnh mạch acid oleic chúng tôi đã tạo được

mô hình tổn thương phổi cấp có các triệu chứng giống như những bệnh nhân nhiễm SARS-CoV-2

ở giai đoạn tiến triển và nặng

Về mặt hô hấp trong quá trình thí nghiệm xác định liều gây tổn thương phổi bằng acid oleic quan sát thấy nhịp thở tăng lên với liều thấp và trung bình, trong khi đó nhịp thở giảm xuống và thường chuột

sẽ tử vong trong vòng 24 giờ khi tiêm tĩnh mạch acid oleic liều cao Trong khi đó điều trị bằng bài thuốc YCT giúp giảm hẳn nhịp thở của chuột gây tổn thương phổi cấp bằng acid oleic so với nhóm

mô hình và nhóm điều trị bằng Ambroxol, từ đó giúp cải thiện đáng kể chức năng hô hấp của chuột

Trang 7

Về hình ảnh đại thể phổi các mô phổi của nhóm

chứng âm vẫn mềm mại với vẻ ngoài hơi hồng,

trong khi các mô phổi của nhóm tiêm acid oleic cho

thấy xung huyết, xuất tiết và sưng ở các mức độ khác

nhau Ngoài ra, giống như nhồi máu vùng tối có thể

được quan sát trên bề mặt của nó, đồng thời có xuất

hiết dịch tiết trong màng phổi Tính thấm của vi

mạch phổi tăng lên rõ rệt, với sự gia tăng của nước

phổi ngoài phổi và rò rỉ chất lỏng giàu protein vào kẽ

và không gian không khí Trong nghiên cứu này so

sánh hình ảnh đại thể phổi giữa các nhóm cho thấy

cả nhóm điều trị và dự phòng bằng bài thuốc YCT

hình ảnh phổi sáng hơn, dịch màng phổi ít hơn so

với nhóm mô hình và nhóm dùng Ambroxol Điều

đó chứng tỏ bài thuốc YCT dù dùng điều trị hay dự

phòng đều giúp giảm mức độ xung huyết của phổi

cũng như dịch tiết từ đó hạn chế mức độ tổn thương

phổi gây ra bởi acid oleic

Về giải phẫu bệnh kết quả cho thấy thấy phù nề

kẽ và mức độ phù nề không khí khác nhau, và một

số khu vực cho thấy thâm nhiễm xuất huyết lan rộng

với lắng đọng fibrin Ngoài ra, có thâm nhiễm bạch

cầu trung tính, thành phế nang dày và màng hyaline

hoàn toàn tạo thành một cấu trúc giống như tổ ong

trong phổi Kết quả giải phẫu bệnh cũng cho thấy sử

dụng bài thuốc YCT giúp giảm tổn thương phổi ở

mức vi thể với các biểu hiện như các mao mạch phế

nang và các mạch máu bị sung huyết nhẹ hơn, vách phế nang mỏng hơn và mức độ viêm cũng thấp hơn

so với nhóm mô hình và nhóm dùng Ambroxol

Tỷ lệ trọng lượng khô-ướt của các mô phổi trong nhóm mô hình cao hơn nhóm chứng âm Những dữ liệu này chỉ ra rằng hàm lượng nước trong mô phổi của nhóm tiêm acid oleic đã tăng lên, cho thấy tính thấm của phế nang tăng lên Điều trị và dự phòng bằng bài thuốc YCT giúp giảm tỷ lệ trọng lượng khô ướt của phổi đó đã giảm lượng nước và tính thấm của phổi so với nhóm mô hình cũng như nhóm điều trị và dự phòng bằng Ambroxol Từ đó giúp giảm bớt tổn thương phổi và cải thiện cũng như phục hồi chức năng hô hấp của phổi

KẾT LUẬN Trong nghiên cứu này chúng tôi đã xây dựng thành công mô hình tổn thương phổi cấp với nhiều đặc điểm giống với tổn thương phổi gây ra bởi vi rút Sars-CoV-2 Dựa trên mô hình tổn thương phổi cấp trong nghiên cứu này chúng tôi đã chứng minh tác dụng hiệu quả trong cả dự phòng và điều trị của bài thuốc YCT Kết quả cho thấy bài thuốc thông qua giảm lượng dịch tiết, sung huyết phổi từ đó giúp cải thiện chức năng hô hấp của phổi bị tổn thương do acid oleic, hiệu quả điều trị tốt hơn so với thuốc đối chứng Ambroxl

ABSTRACT

Objectives: In order to apply for the treatment of Covid-19, this study was carried out to investigate the

therapeutic effect of traditional medicine YCT on mice with acute lung injury model

Methods: Acute lung injury was induced in the mice via the lateral tail vein injection of oleic acid

The histopathological of lung, lung wet-dry weight ratio and the respiratory rate were used to evaluate the therapeutic effect of YCT

Results: Compared to the model group and the Ambroxol group, the treatment and pre-treatment

group with YCT decreased the respiratory rate and the wet/dry weight ratio of the lungs as well as mitigated congestive lung damage

Trang 8

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Rolling updates on coronavirus disease (COVID-19) (Update: WHO characterizes COVID-19 as a

pandemic) Tổ chức Y tế Thế giới Ngày 11 tháng 3 năm 2020

2 Huang, Chaolin; Wang, Yeming, et al Clinical features of patients infected with 2019 novel coronavirus

in Wuhan, China” Lancet,(20)30183-5

3 Lam T.T., Shum M.H., Zhu H.C., et al Identifying SARS-CoV-2 related coronaviruses in Malayan

pangolins Nature, s41586-020-2169-0

4 Yang Yang, Sahidul Islam, Jin Wang, Yuan Li, and Xin Chen Traditional chinese medicine in the

treatment of patients infected with 2019-new coronavirus (sars-cov-2): a review and perspective Int J Biol Sci 2020; 16(10): 1708–1717

5 Haneen Amawi, Ghina'a I Abu Deiab, Alaa A A Aljabali, et al COVID-19 pandemic: an overview of

epidemiology, parthenogenesis, diagnostics and potential vaccines and therapeutics Ther Deliv 2020 Apr: 10.4155/tde-2020-0035

6 Yung-Fang Tu, Chian-Shiu Chien, Aliaksandr A Yarmishyn, et al A review of sars-cov-2 and the

ongoing clinical trials Int J Mol Sci 2020 Apr 10;21(7):2657

7 Dae-Gyun Ahn, Hye-Jin Shin, Mi-Hwa Kim, et al Current status of epidemiology, diagnosis,

therapeutics, and vaccines for novel coronavirus disease 2019 (covid-19) J Microbiol Biotechnol 2020 Mar 28;30(3):313-324

8 Beilman G Pathogenesis of oleic acid-induced lung injury in the rat: distribution of oleic acid during

injury and early endothelial cell changes Lipids 30: 817–823, 1995

Conclusion: YCT improved the respiratory function of lungs damaged by oleic acid and displayed a

better therapeutic effect than the control drug Ambroxol

Key wods: Acute lung injury, Covid-19, oleic acid.

Ngày đăng: 04/08/2021, 15:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w