1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá độc tính cấp và bán trường diễn trên động vật thực nghiệm của viên nang cứng Kaviran bào chế từ quả nhàu, cúc hoa vàng và sâm ngọc linh sinh khối

8 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 359,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày việc đánh giá được độc tính cấp và bán trường diễn của viên nang cứng Kaviran trên động vật thực nghiệm. Phương pháp nghiên cứu: Chuột nhắt trắng được chia làm 8 lô, mỗi lô 12 con để thử độc tính cấp; thỏ chia 3 lô, mỗi lô 12 con để đánh giá độc tính bán trường diễn trên thỏ trong 42 ngày.

Trang 1

Đánh giá độc tính cấp và bán trường diễn

trên động vật thực nghiệm của viên nang cứng Kaviran bào chế từ quả nhàu, cúc hoa vàng

và sâm ngọc linh sinh khối

Ngày nhận bài: 10/11/2020 Ngày phản biện: 23/12/2020 Ngày chấp nhận đăng: 28/12/2020

Nguyễn Trọng Điệp, Nguyễn Thị Thanh Hải Nguyễn Tùng Linh, Trịnh Nam Trung, Đỗ Quyết

Học viện Quân y

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá được độc tính cấp và bán

trường diễn của viên nang cứng Kaviran trên động

vật thực nghiệm

Phương pháp nghiên cứu: Chuột nhắt trắng

được chia làm 8 lô, mỗi lô 12 con để thử độc tính

cấp; thỏ chia 3 lô, mỗi lô 12 con để đánh giá độc

tính bán trường diễn trên thỏ trong 42 ngày;

Kết quả: Kaviran dùng đường uống trên chuột

nhắt trắng đến mức liều cao nhất có thể cho chuột

nhắt uống là 36g/kg KLCT/24h, sau 72 giờ đến 7

ngày không thấy chuột thí nghiệm nào chết Khi

cho thỏ uống Kaviran liều 240mg và 1.200mg/ kg/

24 giờ liên tục trong 42 ngày không nhận thấy có sự

ảnh hưởng đến khối lượng cơ thể, không biến đổi

điện tim thỏ và các chỉ số huyết học (bạch cầu, hồng

cầu, HST, tiểu cầu); các chỉ số đánh giá chức năng

gan (hoạt độ ALT, AST), thận (nồng độ creatinin,

ure) trong giới hạn bình thường; trên đại thể và mô

bệnh học gan, thận, lách thỏ không nhận thấy các

dấu hiệu bất thường

Kết luận: Chưa tìm thấy LD50 trên chuột nhắt

trắng theo đường uống; Kaviran uống liều 240 và

1.200mg/ kg/ 24 giờ trong 42 ngày không ảnh

hưởng đến khối lượng cơ thể, chỉ số huyết học, chức năng gan, thận và lách của thỏ thực nghiệm

Từ khóa: Kaviran, LD50, độc tính bán trường diễn ĐẶT VẤN ĐỀ

Viên nang cứng Kaviran được bào chế từ bột cao khô quả nhàu (180mg/viên), bột cao khô cúc hoa vàng (180mg/viên) và bột cao khô sâm Ngọc Linh sinh khối (60mg/viên) Các nghiên cứu gần đây cho thấy quả nhàu và cúc hoa vàng (CHV) có nhiều tác dụng sinh học quí như: tăng cường miễn dịch, chống oxy hoá, ức chế khối u, kháng khuẩn, chống nấm, chống viêm…[1], [2] Sâm Ngọc linh sinh khối (NLSK) có tác dụng tăng lực, tăng quá trình nhận thức và ghi nhớ, chống oxy hóa, bảo vệ gan [3] Hiện nay, chưa có chế phẩm thuốc nào kết hợp ba loại dược liệu này Do đó, nhằm nghiên cứu bào chế một loại thuốc mới từ ba dược liệu trên nhằm tăng cường miễn dịch, bảo vệ gan và chống gốc tự do, chúng tôi đã nghiên cứu bào chế thành công viên nang Kaviran Tuy nhiên, qua quá trình chiết xuất, bào chế và việc phối hợp ba thành phần dược liệu trong cùng công thức bào chế có thể làm thay đổi độc tính và tác dụng của chế phẩm so với

Trang 2

dược liệu ban đầu Do vậy, việc đánh giá độc tính

cấp, bán trường diễn cũng như tác dụng sinh học

trên động vật thực nghiệm là rất cần thiết Trong

nghiên cứu này, chúng tôi công bố kết quả đánh giá

độc tính cấp và bán trường diễn của viên nang trên

động vật thực nghiệm

NGUYÊN VẬT LIỆU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG

PHÁP NGHIÊN CỨU

Nguyên liệu, thiết bị và động vật nghiên cứu

- Nguyên vật liệu: Viên nang cứng Kaviran do

Học viện Quân y nghiên cứu và sản xuất đạt tiêu

chuẩn cơ sở

- Thiết bị: Máy xét nghiệm sinh hoá tự động

Chemix 180, hãng Sysmex; máy xét nghiệm huyết

học tự động XE2100, hãng Sysmex; máy điện tim

NIHON KOHDEN Corporation (Đức)

- Động vật thí nghiệm: Thỏ chủng Orytolgus

cuniculus, cả 2 giống, trưởng thành, khỏe mạnh, cân

nặng 2,0 ± 0,2kg Chuột nhắt trắng chủng Swiss, cả

hai giống, khỏe mạnh, cân nặng 20,0 ± 2,0g Động

vật được nuôi trong phòng thí nghiệm, ánh sáng tự

nhiên, uống nước và ăn thức ăn được nấu chín, bảo

đảm theo nhu cầu

Phương pháp nghiên cứu

Đánh giá độc tính cấp

Tiến hành theo hướng dẫn của Bộ Y tế, OECD

và WHO [4], [5], [6] Chuột nhắt trắng được chia

ngẫu nhiên thành các lô, mỗi lô 12 con Cho chuột

uống viên nang cứng Kaviran với các mức liều tăng

dần Chuột được nuôi dưỡng chu đáo, theo dõi tình

trạng chung và xác định tỷ lệ chuột chết trong 72

giờ của từng lô sau uống thuốc và tiếp tục theo dõi

đến ngày thứ 7

Đánh giá độc tính bán trường diễn

Tiến hành theo quy định của WHO và Bộ Y tế

[4], [6]

- Thỏ trắng được chia ngẫu nhiên thành 3 lô, mỗi

lô 12 con:

+ Lô chứng: uống dung dịch natri clorid 0,9%,

liều 2,5 ml/kg/24 h

+ Lô thử liều 1: uống viên Kaviran mức liều

240mg/kg/24h

+ Lô thử liều 2: uống viên Kaviran mức liều

1200mg/kg/24h

Tất cả thỏ nghiên cứu được uống liên tục trong thời gian 42 ngày

- Các chỉ tiêu đánh giá:

+ Sinh lý - dược lý: Theo dõi tình trạng chung,

hoạt động, ăn uống, đặc biệt là khối lượng cơ thể (KLCT) và điện tim

+ Huyết học: Hồng cầu, hemoglobin, bạch cầu,

tiểu cầu

+ Sinh hóa: AST, ALT, ure, creatinin.

+ Mô bệnh học: Vào ngày thứ 42, giết thỏ, quan

sát hình ảnh đại thể gan, lách, thận Sau đó sinh thiết các tạng để nghiên cứu hình ảnh mô bệ`nh học tại Khoa Giải phẫu bệnh - Học viện Quân y

- Thời điểm xét nghiệm: Lấy máu xét nghiệm các chỉ số sinh hóa, huyết học, ghi điện tim, tại 3 thời điểm: xuất phát điểm, sau 3 tuần, sau 6 tuần

Xử lý số liệu

Các dữ liệu được phân tích bằng phần mềm Microsoft excel 2007 Sự khác biệt giá trị trung bình giữa các lô chuột đánh giá bởi Duncan’s Multiple Range Test bằng phần mềm SAS (α = 0,05) Quy ước: Khi so sánh giữa các nhóm, giá trị trong cùng một cột

có cùng một trong các ký tự (biểu thị theo a, b, c, d )

là khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Kết quả đánh giá độc tính cấp của viên nang Kaviran theo đường uống

Chuột nhắt trắng được phân chia ngẫu nhiên thành các lô và được uống Kaviran với mức liều tăng dần Theo dõi tình trạng chuột, tỷ lệ sống chết ở mỗi

lô trong 72 giờ đến 7 ngày sau khi uống thuốc Kết quả được trình bày ở bảng 3.49

Trang 3

Bảng 1 Tỷ lệ chuột sống, chết sau 72 giờ uống Kaviran

Số lượng động vật chết

Số lượng động vật sống

Bảng 1 cho thấy: Dùng Kaviran đến mức liều

cao nhất có thể cho chuột nhắt uống là 36g/kg

KLCT/24h (gấp 50 lần liều dự kiến lâm sàng), đây

cũng là lượng thuốc tạo thành dịch đặc nhất còn có

thể qua kim đầu tù Sau 72 giờ đều không thấy chuột

thí nghiệm nào chết ở tất cả các lô nghiên cứu Sau

7 ngày, giết chuột quan sát đại thể cho thấy trạng

thái và màu sắc các tạng (Gan, thận, phổi, tim, lách)

của tất cả các chuột không có phù nề, xuất huyết, không thay đổi màu sắc so với lô chứng, trong lòng

dạ dày và ruột không có xuất huyết và hoại tử Như vậy, không xác định được LD50 của Kaviran theo đường uống trên chuột nhắt trắng

Kết quả đánh giá độc tính bán trường diễn của Kaviran

Ảnh hưởng của Kaviran đến khối lượng cơ thể thỏ

Bảng 2 Ảnh hưởng của Kaviran đối với khối lượng cơ thể thỏ, n=12

Thời điểm

nghiên cứu

Khối lượng cơ thể thỏ (kg) ở các lô nghiên cứu

p

Giá trị trong cùng cột có cùng ký tự là khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

Bảng 2 cho thấy: KLCT của thỏ ở hai lô dùng Kaviran và lô chứng sinh học tại cùng thời điểm là khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05 KLCT ở ba lô thỏ tăng dần sau tuần thứ 3 và tuần thứ 6 đều tăng

so với thời điểm ban đầu (p < 0,05) Tuy nhiên, KLCT thỏ ở tuần thứ 6 tăng lên so với tuần thứ 3 là không

có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

Ảnh hưởng của Kaviran đến điện tim thỏ

Trang 4

Bảng 3 Ảnh hưởng của Kaviran đối với điện tim thỏ, n = 12

Tần số tim (CK/phút, TB ± SD)

> 0,05

Biên độ QRS (mV)

> 0,05

Bảng 3 cho thấy: So sánh trong từng lô giữa các thời điểm thí nghiệm và giữa các lô ở cùng một thời điểm, tần số và biên độ của điện tim thỏ thay đổi không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Không có sóng bất thường trên điện tim của các lô thỏ tại các thời điểm nghiên cứu

Ảnh hưởng của Kaviran đến một số chỉ tiêu huyết học của thỏ

Bảng 4 Chỉ số hồng cầu, huyết sắc tố, bạch cầu và tiểu cầu ở các lô thỏ nghiên cứu (n = 12)

Chỉ tiêu Thời

điểm

Bạch cầu

(109/l)

> 0,05

Hồng cầu

(1012 /l)

> 0,05

HST (g/l)

Tiểu cầu

(109/l)

> 0,05

Giá trị trong cùng cột của cùng chỉ số có cùng ký tự là khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05), không ghi

ký tự là khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).

Bảng 4 cho thấy: Khi so sánh ở cùng thời điểm thì chỉ có hồng cầu ở lô uống Kaviran liều 2 là thấp hơn lô chứng ở thời điểm ban đầu (p < 0,05) và huyết sắc tố ở lô Kaviran liều 1 cao hơn lô chứng ở thời điểm sau 3 tuần (p < 0,05) Khi so sánh ở các thời điểm khác nhau của cùng một lô thì chỉ có

Trang 5

huyết sắc tố của lô Kaviran liều 1 ở thời điểm sau

3 tuần là tăng lên so với ban đầu, nhưng ở sau 6

tuần lại giảm xuống và tương đương với thời điểm

ban đầu (p > 0,05) Ở lô uống Kaviran liều 2 sau

3 tuần và 6 tuần đều có tiểu cầu cao hơn so với

ban đầu, nhưng so với lô chứng là không khác biệt (p > 0,05), còn lại là khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

Ảnh hưởng của Kaviran lên chức năng gan, thận thỏ thực nghiệm

Bảng 5 Nồng độ AST, ALT, Creatinin và Ure của các lô thỏ (n = 12)

ALT (U/l)

> 0,05

AST (U/l)

> 0,05

Creatinin

(mmol/l)

> 0,05

Ure (mmol/l)

> 0,05

Giá trị trong cùng cột của cùng chỉ số có cùng ký

tự là khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05),

không ghi ký tự là khác biệt không có ý nghĩa thống kê

(p>0,05).

Bảng 5 cho thấy: So sánh trong từng lô giữa

các thời điểm thí nghiệm và giữa các lô ở cùng

một thời điểm thì hoạt độ enzym AST, ALT và

hàm lượng creatinin, ure máu thay đổi không có ý

nghĩa thống kê (p > 0,05) Chỉ riêng nhóm dùng Kaviran liều 1 và liều 2, sau 3 tuần có hàm lượng ALT cao hơn thời điểm ban đầu (p < 0,05), nhưng sau 6 tuần lại giảm xuống và so với thời điểm ban đầu và sau 3 tuần thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

Đại thể và mô bệnh học gan, thận và lách của thỏ thí nghiệm

Hình 1 Hình ảnh đại thể gan, thận, lách thỏ của lô chứng sinh học (A), Kaviran liều 1 (B), Kaviran liều 2 (C)

Trang 6

Hình 1 cho thấy: Quan sát đại thể bằng mắt thường và dưới kính lúp có độ phóng đại 25 lần cho thấy: Màu sắc, hình thái của gan, lách và thận ở lô dùng Kaviran liều 1 và 2 không khác so với lô chứng

Kết quả đánh giá về mô bệnh học được trình bày ở bảng 6 và bảng 7

Bảng 6 Hình ảnh mô bệnh học gan, thận và lách của thỏ thí nghiệm

Lô thỏ Hình ảnh mô bệnh học gan, thận, lách thỏ của đại diện của các nhóm thỏ

Lô chứng sinh

học

Kaviran liều 1

(240mg/ kg/

24h)

Kaviran liều

2 (1200mg/

kg/ 24h)

Bảng 7 Tóm tắt nhận xét mô bệnh học gan, thận, lách thỏ thí nghiệm

Chứng sinh

học

- Gan: Có cấu trúc gồm các tiểu thùy gan và khoảng cửa Các tế bào gan bình thường

- Thận: có cùng vỏ và vùng tủy Các tiểu cầu thận và các ống thận bình thường Mô kẽ không có tổn thương

- Lách: Cấu trúc lách bình thường vùng tủy trắng và tuỷ đỏ rõ Tuỷ trắng có các nang lympho, trung tâm có động mạch bút lông, bao xung quanh là lưới tế bào võng Tuỷ đỏ gồm thừng lách (dây Billroth) xen kẽ với các xoang tĩnh mạch được lót bởi lớp tế bào nội mô Thừng lách có các tế bào lympho, tế bào võng, mẫu tiểu cầu và các tế bào máu khác

Kaviran liều

1 (240mg/

kg/ 24h)

- Gan: Cấu trúc gan rõ các tiểu thùy gan và khoảng cửa Các tế bào gan bình thường hoặc thoái hóa hạt nhẹ

- Thận: Vùng vỏ thận với các tiểu cầu thận và ống thận có cấu trúc bình thường

- Lách: Vùng tuỷ trắng với các nang lympho có tăng sinh nhiều lympho bào sắp xếp xung quanh động mạch bút lông Vùng tuỷ đỏ giãn rộng với các xoang mạch xung huyết, thấy có các mẫu tiểu cầu

Trang 7

Kaviran

liều 2

(1200mg/

kg/ 24h)

- Gan: Cấu trúc gan rõ các tiểu thùy gan và khoảng cửa Các tế bào gan bình thường hoặc có thoái hóa hạt nhẹ

- Thận: Vùng vỏ thận với các tiểu cầu thận và các ống thận có cấu trúc bình thường

- Lách: Vùng tuỷ trắng với các nang lympho có tăng sinh nhiều lympho bào sắp xếp xung quanh động mạch bút long Vùng tuỷ đỏ giãn rộng với các xoang mạch xung huyết, thấy có các mẫu tiểu cầu

BÀN LUẬN

Việc đánh giá tính an toàn là điều kiện bắt buộc

đối với chế phẩm bào chế từ dược liệu, vì qua quá

trình bào chế có thể vẫn xảy ra các quá trình hóa

học làm thay đổi thành phần hóa học Thêm nữa,

việc kết hợp nhiều dược liệu trong cùng chế phẩm

không những làm thay đổi tác dụng mà cả độc tính

Do đó, cần đánh giá tính an toàn của sản phẩm cuối

cùng, cho dù các dữ liệu về độc tính của nguyên liệu

đã được dự báo trước Bảng 1 cho thấy: Viên nang

Kaviran uống với liều cao nhất là 36g/kg cân nặng

(Gấp 50 lần liều dự kiến lâm sàng), sau 24 giờ và 7

ngày không thấy các bất thường và không có chuột

nào chết, chứng tỏ viên nang Kaviran có tính an

toàn cao

Căn cứ theo liều thường dùng của các dược

liệu và hàm lượng hoạt chất trong viên, đã xác định

được mức liều dự kiến lâm sàng của viên Kaviran

là 6 viên/ ngày, từ đó tính được liều thử trên thỏ

(gấp 4 lần liều dự kiến lâm sàng) Trong đó, mức

liều 240mg/kg là tương đương liều dự kiến lâm

sàng, liều 1200mg/kg cao gấp 5 lần liều dự kiến lâm

sàng Hiện nay, thời gian thử độc tính bán trường

diễn thường tính theo 2 cách: Thời gian thử thuốc

gấp 3 - 4 lần thời gian dự kiến lâm sàng Hoặc thử theo từng khoảng thời gian xác định: 14, 28 hoặc 90 ngày Đối với viên Kaviran, thời gian dự kiến dùng trên người là 7 - 10 ngày Do vậy, theo cách tính thứ nhất thì thời gian thử nghiệm là 10 ngày x 4 lần =

40 ngày Để thuận tiện cho việc thử nghiệm, đề tài lựa chọn thời gian thử nghiệm là 42 ngày (6 tuần) Các lô thỏ được đánh giá ở thời điểm ban đầu, sau

3 và 6 tuần Kết quả thử nghiệm trên thỏ cho thấy: Chế phẩm Kaviran uống liên tục trong 42 ngày với mức liều 240mg và 1200mg/kg/24h không thấy có những biến đổi bất thường về sinh hóa, huyết học và

mô bệnh học (gan, thận, lách)

KẾT LUẬN Không xác định được LD50 của Kaviran theo đường uống trên chuột nhắt trắng khi thử đến mức liều cao nhất có thể cho chuột nhắt uống là 36g/

kg KLCT/24h (gấp 50 lần liều dự kiến lâm sàng) Kaviran uống liên tục trong 42 ngày với mức liều 240mg và 1200mg/kg/24h trên thỏ thực nghiệm đều không thấy có những biến đổi bất thường về khối lượng cơ thể, điện tim, chỉ số huyết học và mô bệnh học (gan, thận, lách)

SUMMARY

Evaluation of the acute and subchronic toxicity of kaviran capsule

Objectives: To evaluate the acute and subchronic toxicity of Kaviran capsule

Methods: Mice were divided into 8 groups, each group included 12 mice to evaluate the acute toxicity;

rabbits were divided into 3 groups, 12 rabbits in each groups for the evaluation of subacute toxicity in 42 days

Results: the median lethal dose, LD50 hasn’t been found with maximum oral dosage of 36 g/kg/24h on mice At the dosage of 240mg and 1200 mg/kg/24h on rabbit, continuously administrated for 42 days didn’t

Trang 8

affect the normal increment of body weight of rabbit, didn’t change the electrocardiogram, hematological indices such as red blood cell, white blood cell, platelet and hemoglobin content, hepatic indices (AST, ALT activity), renal indices (urea, creatinin levels) were within normal limits There were no abnormality on the liver, kidney and spleen of the rabbits macro-and micro-morphologically

Conclusion: LD50 hasn’t been found with maximum oral dosage At the dosage of 240mg and 1200 mg/kg/24h on rabbit, continuously administrated for 42 days didn’t affect the functions of liver, kidney and spleen of the rabbits

Key words: Kaviran, antioxydants, hepatoprotective effects.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Phạm Thị Vân Anh (2011) Nghiên cứu tác dụng kích thích miễn dịch và chống oxy hóa của cao quả nhàu

trên thực nghiệm, Luận án Tiến sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội.

2 Trần Vân Hiền, Trần Thanh Loan, Nguyễn Đặng Dũng và cộng sự (2008), “Tác dụng chống oxy hóa,

chống gốc tự do của flavonoid chiết xuất từ cúc hoa vàng (Chrysanthemum indicum L.)”, Tạp chí Y – Dược

học quân sự, số 3 -2008

3 Nguyễn Văn Long (2011), Nghiên cứu qui trình tạo sinh khối tế bào và đánh giá một số tác dụng sinh học

của sâm Ngọc linh sinh khối, Luận án tiến sỹ y học, Học viện Quân y.

4 Đỗ Trung Đàm (2014), Phương pháp xác định độc tính của thuốc, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr

184-215

5 OECD 423 (2001), OECD guideline for testing of chemicals - Acute oral toxicity – Acute toxic class method.

6 World Health Organization (2000), General Guidelines for Methodologies on Research and Evaluation of

Traditional Medicine.

Ngày đăng: 04/08/2021, 15:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w