Bài viết trình bày việc xây dựng quy trình chẩn đoán sớm đột biến gây bệnh ở giai đoạn tiền làm tổ nhằm giúp đỡ những gia đình có tiền sử mắc bệnh nhưng mong muốn sinh con khỏe mạnh. Bằng việc kết hợp sử dụng các phương pháp giải trình tự, đặc biệt là giải trình tự theo nguyên lí Sanger với việc thực hiện các phản ứng PCR đơn cặp mồi, có thể xây dựng được quy trình phát hiện đột biến trên gen ABCD1 liên quan đến bệnh.
Trang 1Ngày nhận bài: 19/10/2020 Ngày phản biện: 20/11/2020 Ngày chấp nhận đăng: 09/12/2020
Xây dựng quy trình phát hiện đột biến gen ABCD1 liên quan đến loạn dưỡng não chất trắng
Triệu Tiến Sang 1 , Trần Văn Khoa 1 , Nguyễn Thanh Tùng 2
Lê Thị Thu Hiền 3 , Hoàng Xuân Cường 4 , Trần Ngọc Thảo My 5
1 BM Sinh học và Di truyền y học, Học viện Quân y
2 Viện Mô phôi và lâm sàng Quân đội, Học viện Quân y
3 Bệnh viện Nam học và hiếm muộn Hà Nội
4 Phòng Khoa học Quân sự, Học viện Quân y
5 Khoa Khoa học và Kỹ thuật, Trường Đại học Sorbonne, Pháp
TÓM TẮT
Loạn dưỡng não chất trắng thượng thận
(X-ALD) là một bệnh lí di truyền lặn liên kết giới
tính hiếm gặp làm rối loạn chức năng tuyến thượng
thận, dây thần kinh tủy sống và chất trắng của hệ
thần kinh Theo các thống kê về dịch tễ học, bệnh
lí này gây ảnh hưởng đến 1 trên 15000 người, tuy
nhiên, tỷ lệ mắc bệnh trong thực tế được ước tính là
cao hơn nhiều nhờ vào việc áp dụng kết hợp các kĩ
thuật hiện đại giúp chẩn đoán sớm bệnh Khả năng
phát hiện ra bệnh ở thời điểm càng sớm sẽ giúp các
gia đình có tiền sử mắc bệnh loạn dưỡng não chất
trắng xây dựng những phương án sinh con cũng
như chữa trị triệu chứng bệnh một cách chủ động
và an toàn Vì vậy, trong nghiên cứu này, chúng tôi
xây dựng quy trình chẩn đoán sớm đột biến gây
bệnh ở giai đoạn tiền làm tổ nhằm giúp đỡ những
gia đình có tiền sử mắc bệnh nhưng mong muốn
sinh con khỏe mạnh Bằng việc kết hợp sử dụng các
phương pháp giải trình tự, đặc biệt là giải trình tự
theo nguyên lí Sanger với việc thực hiện các phản
ứng PCR đơn cặp mồi, chúng tôi đã có thể xây dựng
được quy trình phát hiện đột biến trên gen ABCD1
liên quan đến bệnh Sau đó, chúng tôi ứng dụng quy trình này cho các mẫu tế bào phôi sinh thiết của gia đình có tiền sử mắc bệnh nhằm sàng lọc các phôi không mang alen gây bệnh loạn dưỡng não chất trắng Kết quả của nghiên cứu cho thấy đã có thể phát hiện được alen đột biến ở 5/8 phôi (62,5%) và
3 phôi còn lại (37,5%) không mang alen đột biến nên 3 phôi này tiếp tục được sử dụng trong các bước sàng lọc tiền làm tổ tiếp theo trong quá trình thụ tinh nhân tạo
ĐẶT VẤN ĐỀ Loạn dưỡng não chất trắng thượng thận (X-linked adrenoleukodystrophy, X-ALD (MIM
#300100)), là bệnh di truyền liên kết nhiễm sắc thể X liên quan tới rối loạn quá trình β-oxi hóa tại
hóa cho protein xuyên màng của peroxisome gây ra dẫn tới sự tích tụ quá mức những chuỗi axit béo rất dài (VLCFA - very long-chain fatty acid; ≥ C22) ở trong huyết tương và mô, bao gồm phần chất trắng
Trang 2ở não, tủy sống và vỏ thượng thận [2, 4] Cho đến
thời điểm hiện tại, thế giới đã ghi nhận nhiều ca mắc
bệnh loạn dưỡng não chất trắng thượng thận xuất
hiện với tần suất tương tự giữa các quốc gia Với tỷ
lệ mắc bệnh là khoảng 1 trên 14,700 trẻ sơ sinh (cả
nam lẫn nữ), đây chính là hội chứng rối loạn liên
quan đến peroxisome phổ biến nhất từng gặp [9]
Tuy nhiên, tỷ lệ thực tế của căn bệnh này chưa được
ước tính chính xác bởi hầu hết các khảo sát liên quan
đến bệnh đều được thực hiện ở Mỹ hoặc các nước
châu Âu, rất ít khảo sát được thực hiện tại châu Phi
và châu Á, đặc biệt là vùng Trung Đông [1]
Loạn dưỡng não chất trắng thường được phân
loại thành ba kiểu bệnh chính: X-ALD não, bệnh
lý thượng thận – tủy – rễ thần kinh (AMN), kiểu
chỉ có bệnh Addison [3] Đây đều là những thể
bệnh với những triệu chứng có ảnh hưởng nặng nề
tới người mắc bệnh, đặc biệt là ở nam giới Một số
triệu chứng lâm sàng chung giữa ba thể bệnh này
bao gồm thoái hóa hệ thần kinh (vận động, thị
giác,…) và suy giảm tuyến thượng thận khiến cho
loạn dưỡng não chất trắng trở thành một căn bệnh
phát triển nhanh chóng, nghiêm trọng và chưa thể
xác định được một phác đồ điều trị dứt điểm thực
sự hiệu quả [2]
Hiện nay có nhiều phương pháp chẩn đoán
bệnh loạn dưỡng não chất trắng thượng thận, bao
gồm phương pháp chẩn đoán trước sinh và chẩn
đoán sau sinh Đối với phương pháp chẩn đoán
trước sinh, việc chọc dịch ối sau đó thực hiện một
số xét nghiệm di truyền có thể đưa ra chẩn đoán về
tình trạng mắc bệnh của thai nhi, tuy nhiên đây là
phương pháp xâm lấn gây ảnh hưởng tiêu cực đến
sức khỏe người mẹ đồng thời phát hiện bệnh ở giai
đoạn muộn [5, 6] Ngoài ra, một số phương pháp
chẩn đoán sau sinh bao gồm việc sàng lọc ở trẻ sơ
sinh sử dụng kĩ thuật quang phổ khối kế tiếp (MS/
MS) để đo nồng độ 26:0-lyso-PC hay các kĩ thuật
chẩn đoán lâm sàng và cận lâm sàng như chụp
ảnh MRI não, xét nghiệm sinh hóa và phân tích di truyền đều tồn tại một nhược điểm chung là đều phát hiện ra người bệnh ở giai đoạn khá muộn [10]
Do vậy, hướng nghiên cứu nhằm xây dựng một quy trình giúp chẩn đoán bệnh ở giai đoạn sớm, đặc biệt
ở giai đoạn tiền làm tổ, có thể giúp những gia đình
có tiền sử mắc bệnh loạn dưỡng não chất trắng có
cơ hội sinh con không mang gen gây bệnh và sinh ra thế hệ sau một cách chủ động và an toàn
Tất cả những bệnh nhân mắc chứng ALD đều mang đột biến trên gen ABCD1 [8] Đây là bệnh di
truyền do alen lặn trên nhiễm sắc thể X qui định và cho tới thời điểm này chỉ xác định được khoảng 5%
ca bệnh gây ra bởi các đột biến de novo Gen ABCD1
nằm ở gần cuối cánh dài của nhiễm sắc thế X: vị trí Xq2.8 và có độ dài 19.9 kb bao gồm 10 exon ABCD1
mã hóa cho một loại protein xuyên màng cấu tạo từ
745 amino axit được gọi là adrenoleukodystrophy protein, hay ALDP (protein ALD) Protein này nằm xuyên màng peroxisome thực hiện chức năng vận chuyển VLCFA-CoA từ tế bào chất qua màng vào bên trong bào quan để tham gia vào quá trình β-oxi
hưởng trực tiếp tới protein ALD khiến cho protein
bị thay đổi về mặt cấu trúc cũng như số lượng khiến cho nó không thể thực hiện chức năng vận chuyển
từ đó gây tích tụ các chuỗi axit béo rất dài trong tế bào chất Sự tích tụ này để lại ảnh hưởng tiêu cực tới
tế bào, đặc biệt là các tế bào hệ thần kinh [3] Chính
vì vậy, nghiên cứu tập trung vào phát hiện đột biến
não chất trắng Quy trình được xây dựng nhằm ứng dụng lên các mẫu phôi sinh thiết của những gia đình
có tiền sử mắc bệnh X-ALD
ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Mẫu máu của một cặp vợ chồng (vợ: N.T.T –
Trang 326 tuổi; chồng: V.Đ.H – 28 tuổi) có tiền sử gia
đình phía vợ có người mắc bệnh loạn dưỡng não
chất trắng Tám mẫu phôi thụ tinh nhân tạo của
cặp vợ chồng đó được nuôi cấy rồi sinh thiết,
trong đó 7 mẫu (TR1 – TR7) được sinh thiết vào
ngày 5, 1 mẫu (TR8) được sinh thiết vào ngày 6
Các mẫu được sinh thiết từ 3 đến 5 tế bào phôi
ngày 5 hoặc ngày 6, rửa phôi bằng dung dịch PBS
1X + 1% PVP, lấy tế bào phôi vào ống PCR 0,2 ml
Tổng toàn bộ dung dịch cả tế bào và dung dịch
môi trường là 4 µl
Các loại mẫu sử dụng trong nghiên cứu đều
được bảo quản ở nhiệt độ âm Toàn bộ cam kết liên
quan đến mẫu bệnh phẩm và mẫu tế bào phôi sinh
thiết cũng như hồ sơ, mô tả chi tiết về nghiên cứu đã
được xét duyệt và thông qua bởi Hội đồng đạo đức
trong nghiên cứu Y sinh học, Học viện Quân y
Vật liệu
Hóa chất và trang thiết bị: bộ kit tách chiết
G-spin™ Total DNA Extraction Kit (iNtRON
Biotechnology – Hàn Quốc); bộ kit REPLI-g®
Single Cell (QIAGEN – Đức); GoTaq Green
buffer) (Promega – Hoa Kỳ); Agarose, TBE 1X,
ethidium bromide, thang chuẩn ADN (100 bp –
1000 bp và 100 bp – 1500 bp) (Cleaver Scientific
– Anh); hệ thống trang thiết bị và máy móc đạt yêu
cầu về kỹ thuật và an toàn phòng thí nghiệm tại
Labo thuộc Bộ môn Sinh học và Di truyền y học,
Học viện Quân y
Phương pháp
Giải trình tự thế hệ mới nhằm khảo sát đột biến:
Mẫu bệnh phẩm của người có tiền sử gia đình mắc
bệnh loạn dưỡng não chất trắng (N.T.T.) sẽ được
gửi đi giải trình tự thế hệ mới nhằm khảo sát đột
biến trên gen ABCD1 Sau khi có kết quả, mẫu sẽ
được làm giải trình tự Sanger nhằm xác nhận lại đột
biến đã được xác định bằng phương pháp NGS Kết
quả giải trình tự thế hệ mới đã phát hiện được đột
biến dị hợp tử c.854G>C (p.Arg285Pro) trên exon
1 của gen ABCD1 Đồng thời, thực hiện quy trình
xác nhận lại đột biến bằng cách khảo sát đột biến
Genetic Analyzer và đều cho kết quả giống với giải trình tự thế hệ mới Đây là một đột biến lặn nên thể đồng hợp tử mang 2 alen đột biến sẽ gây bệnh loạn dưỡng não chất trắng Ngoài ra, theo thống kê trên
c.854G>C chỉ được ghi nhận 2 lần trong quá khứ nên đột biến được xác định ở bệnh nhân này có thể được coi là xuất hiện lần thứ 3 trong lịch sử nghiên cứu về bệnh [7]
Thiết kế cặp mồi cho phản ứng PCR: Dựa vào kết
quả giải trình tự của bệnh nhân N.T.T cùng với trình
tự gen ABCD1 được tham khảo trên ngân hàng trình
tự gen quốc tế GenBank, chúng tôi tiến hành thiết
kế cặp mồi đặc hiệu sử dụng công cụ NCBI Primer-BLAST và đặt tổng hợp cặp mồi tại hãng Integrated DNA Technologies (IDT), Hoa Kỳ Cặp mồi nhận được ở dạng bột đông khô, vì vậy khi sử dụng, mồi
sẽ được pha loãng bằng nước khử ion đến nồng độ hoạt động là 10 µM
Tách chiết ADN từ máu toàn phần: ADN
được tách chiết sử dụng bộ kit G-spinTM Total Extraction của iNtRON Biotechnology: 200 μl máu toàn phần được cho vào ống ly tâm 1,5 ml; thêm 200 μl BL Buffer, 20 μl Proteinase K, 5 μl RNase, trộn đều, ủ ở 56°C trong thời gian 15 phút; thêm 200 μl EtOH 100%, trộn đều; chuyển
800 μl dung dịch từ ống ly tâm 1,5 ml vào cột lọc,
ly tâm 13000 vòng/ phút trong 1 phút ở 25°C, đổ dịch; chuyển hết toàn bộ dung dịch còn lại trong ống vào cột lọc và lặp lại bước trước đó; thêm 700
μl Buffer WA vào cột lọc, ly tâm 13000 vòng/phút trong 1 phút ở 25°C, đổ dịch; thêm 700 μl Buffer
WB vào cột lọc, ly tâm 13000 vòng/phút trong 1 phút ở 25°C, đổ dịch; ly tâm 13000 vòng/phút trong 1 phút ở 25°C làm khô màng lọc, chuyển
Trang 4cột lọc sang một ống ly tâm 1,5 ml mới; thêm 85
μl nước khử ion đã được ủ ở 56°C vào cột lọc, ủ
ở nhiệt độ phòng tối thiểu 5 phút, ly tâm 13000
vòng/phút trong 1 phút ở 25°C, thu ADN ở ống ly
tâm 1,5 ml ADN được đo nồng độ và giá trị A260/
A280 để kiểm tra chất lượng bằng máy SpectraMax
QuickDrop
Khuếch đại toàn bộ hệ gen của mẫu tế bào phôi sinh
thiết: Pha dung dịch D2 với tỷ lệ 33 µl Buffer DLB : 3
µl DTT 1M; spin nhẹ các ống chứa tế bào phôi sinh
thiết và nhỏ lên thành mỗi mỗi ống 3 µl dung dịch
D2; ủ các ống chứa mẫu tại nhiệt độ 65ºC trong
vòng 10 phút; thêm vào mỗi ống 3 µl Stop Solution;
spin nhẹ các ống và ủ tại nhiệt độ 4ºC trong vòng ít
nhất là 3 phút; chuẩn bị hóa chất khuếch đại hệ gen
theo tỷ lệ thể tích (cho một mẫu) như sau: 9 µl H2O
sc, 29 µl REPLI-g Reaction Buffer, 2 µl REPLI-g sc
DNA Polymerase; thêm vào mỗi ống chứa mẫu tế
bào phôi 40 µl hóa chất khuếch đại hệ gen đã chuẩn
bị rồi spin nhẹ, ủ các ống chứa mẫu tại nhiệt độ
30ºC trong vòng 2 giờ; bất hoạt enzyme REPLI-g
sc DNA Polymerase bằng cách ủ mẫu tại nhiệt độ
65ºC trong vòng 3 phút; mẫu ADN sau khi khuếch
đại sẽ được pha loãng tới nồng độ hoạt động trong
khoảng 2 – 20 ng/µl và kiểm tra nồng độ bằng máy
SpectraMax QuickDrop
Tối ưu hóa phản ứng PCR: Dựa và nhiệt độ nóng
chảy Tm của cặp mồi đã thiết kế, nghiên cứu thiết lập
phản ứng PCR tối ưu nhiệt độ gắn mồi với dải nhiệt
độ dao động quanh giá trị Tm ± 5ºC với tổng thể tích
là 25 µl với 12,5 µl GoTaq Green Mastermix 2X, 7,5
µl nước khử ion, 0,5 µl mỗi mồi, 4,0 µl dịch ADN tách chiết Chu trình nhiệt cho phản ứng PCR đơn cặp mồi sẽ được thể hiện ở phần kết quả của quá trình tối ưu phản ứng
Phát hiện đột biến gen ABCD1 bằng phương pháp PCR và giải trình tự theo phương pháp Sanger: Sau khi
xác định được nhiệt độ gắn mồi thích hợp, phản ứng PCR sẽ được tiến hành với cặp mồi đã được thiết
kế nhằm khuếch đại đoạn gen mang đột biến Sản phẩm phản ứng PCR sau đó sẽ được điện di kiểm tra và tinh sạch nhằm gửi đi giải trình tự Sanger để khảo sát đột biến trên gen ABCD1 Quá trình này
đầu tiên sẽ được ứng dụng với mẫu ADN của người
mẹ (N.T.T.) đã được làm giải trình tự NGS để so sánh kết quả, sau đó mới được ứng dụng lên các mẫu tế bào phôi sinh thiết
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Trình tự cặp mồi cho phản ứng PCR
Chúng tôi thiết kế cặp mồi có độ dài là 18 base –
độ dài lí tưởng để sử dụng trong nghiên cứu Đồng thời chúng tôi áp dụng một số tiêu chí để thiết
kế cặp mồi mong muốn như sau: kích thước sản phẩm PCR < 500 bp, nhiệt độ nóng chảy (Tm) của mồi nằm trong khoảng từ 50º - 65ºC, tránh lặp lại nhiều lần trong trình tự mồi dễ gây bắt cặp nhầm Qua đánh giá các thông số, chúng tôi sàng lọc kết quả trên hệ thống và lựa chọn cặp mồi sao cho hợp
mong muốn là ABCD1F và ABCD1R chúng tôi thiết kế sẽ được thể hiện ở bảng 1
Bảng 1 Trình tự cặp mồi và kích thước sản phẩm PCR dự tính.
PCR (bp)
ABCD1F 5’ - GTG TTC CTC ACG GCC AAC - 3’ 56,6
199 bp
Trang 5Kết quả tách chiết ADN từ máu toàn phần và kết
quả khuếch đại toàn bộ hệ gen mẫu tế bào phôi
sinh thiết
Mẫu bệnh phẩm của người mẹ mang đột biến
(NTT-ABCD1) sau khi tách chiết ADN và đo OD
đạt nồng độ theo yêu cầu là 10,0 ng/µl với chỉ số
A260/A280 là 2,0 Mẫu ADN này hoàn toàn đạt
chất lượng để được sử dụng trong các bước tiếp theo
của quy trình Tám mẫu tế bào phôi sau khi được
sinh thiết được tiến hành khuếch đại toàn bộ hệ gen
và pha loãng với tỷ lệ thể tích 10 µl ADN : 200 µl
nước khử ion Kết quả nồng độ ADN các mẫu tế
bào phôi sinh thiết sau khi được khuếch đại và pha
loãng được thể hiện ở bảng 2 Dựa vào bảng kết quả,
các mẫu tế bào phôi sinh thiết đã được khuếch đại
hệ gen thành công và nồng độ ADN đã đạt ngưỡng
phù hợp để được sử dụng cho các bước tiếp theo
trong chu trình
Bảng 2 Kết quả nồng độ ADN sau khi khuếch đại toàn
bộ hệ gen các mẫu tế bào phôi sinh thiết.
mẫu
Nồng độ
Mã mẫu
Nồng độ (ng/µl)
Kết quả phản ứng PCR tối ưu nhiệt độ gắn mồi
Quá trình tối ưu phản ứng PCR sử dụng
mẫu ADN của người mang gen gây bệnh
(NTT-ABCD1) làm khuôn để khuếch đại đoạn gen
ABCD1 Dựa vào nhiệt độ nóng chảy của mồi
xuôi và mồi ngược tương ứng là 56,6ºC và 59ºC,
chúng tôi tiến hành hai phản ứng PCR độc lập với
dải gradient nhiệt độ gắn mồi lần lượt từ 51ºC
đến 58ºC và từ 59ºC đến 64ºC, sau đó sản phẩm PCR sẽ được điện di kiểm tra trên gel agarose 2% Kết quả điện di sản phẩm PCR của phản ứng tối
ưu nhiệt độ gắn mồi của cặp mồi ABCD1F và ABCD1R với dải gradient nhiệt độ từ 51ºC đến 64ºC được thể hiện ở hình 1
Hình 1 Hình ảnh điện di sản phẩm PCR của phản ứng tối ưu với gradient nhiệt độ gắn mồi từ 51ºC đến 64ºC M: Thang chuẩn marker (100 bp).
Phân tích kết quả điện di sản phẩm phản ứng PCR đơn cặp mồi trên gel agarose 2% (hình 1) cho thấy chỉ có băng sản phẩm với kích thước như tính toán xuất hiện tại nhiệt độ gắn mồi từ 59 đến 61ºC – kích thước khoảng 199 bp Kết quả điện di thu được tại nhiệt độ gắn mồi 59ºC cho băng sáng rõ nhất, không có sản phẩm phụ và chính vì vậy, nhiệt
độ 59ºC được lựa chọn làm nhiệt độ gắn mồi để tiến hành phản ứng PCR cho các bước tiếp theo
Kết quả phản ứng PCR và giải trình tự kiểm tra lại đột biến trên mẫu ADN của mẹ
Dựa vào nhiệt độ gắn mồi đã được xác định, tiến hành thực hiện phản ứng PCR trên đối tượng
là ADN của người mẹ mang alen đột biến (NTT-ABCD1) với chu trình nhiệt như sau: 95ºC trong
Trang 65 phút, 40 chu kỳ với 94ºC – 30s, 59ºC – 30s, 72ºC
– 30s, 72ºC trong 5 phút Sản phẩm PCR được
điện di trên gel agarose 2% trong 25 phút với cường
độ dòng điện trong khoảng 125V và nhuộm với
Ethidium bromide Kết quả điện di sản phẩm PCR
của phản ứng này được thể hiện ở hình 2 cùng với
kết quả giải trình tự theo phương pháp Sanger
Hình 2 Hình ảnh ứng dụng quy trình phát hiện đột
biến lên mẫu ADN NTT-ABCD1 (A): Hình ảnh điện
di sản phẩm phản ứng PCR, M: Thang chuẩn marker
(100 bp); (B): Kết quả giải trình tự Sanger đoạn gen
được khuếch đại bằng cặp mồi ABCD1F và ABCD1R
của mẫu NTT-ABCD1
Hình 3 Kết quả điện di sản phẩm sau phản ứng PCR với ADN của 8 mẫu tế bào phôi M: Thang chuẩn marker (100 bp); (+): ADN mẫu NTT-ABCD1; TR1 – TR8: sản phẩm ADN sau khuếch đại
Qua hình ảnh điện di, sản phẩm ADN được
khuếch đại có kích thước đúng như dự kiến và
không xuất hiện băng sản phẩm phụ Sau đó, sản
phẩm phản ứng PCR được tinh sạch và gửi đi giải
rình tự Sanger với cặp mồi thiết kế, và cho ra kết
quả trình tự đoạn mang đột biến giống hệt với kết quả giải trình tự bằng phương pháp NGS – nghĩa
là đều có thể phát hiện đột biến c.854G>C Từ đây chúng tôi kết luận đã xây dựng được quy trình phát hiện đột biến trên gen ABCD1 liên quan đến
bệnh loạn dưỡng não chất trắng và sẽ ứng dụng quy trình này lên tám mẫu tế bào phôi sinh thiết
đã có sẵn
Kết quả ứng dụng quy trình trên tế bào phôi sinh thiết
Phản ứng PCR với thành phần và chu trình nhiệt đã được sử dụng ở bước trước sẽ được áp dụng cho ADN của 8 mẫu tế bào phôi đã khuếch đại Sản phẩm phản ứng PCR được điện di trên gel agarose 2% và quan sát dưới ánh đèn tia UV như hình 3
Kết quả điện di sản phẩm ADN của 8 mẫu tế bào
cho thấy phản ứng PCR đã khuếch đại thành công đoạn gen mong muốn Băng sản phẩm hiện lên sáng
và rõ ràng tại vị trí tương ứng với kích thước thang chuẩn là khoảng 200 bp, chứng tỏ đoạn nhân lên
có kích thước là 199 bp phù hợp như tính toán ban đầu Từ đây, sản phẩm PCR sẽ được tinh sạch và giải trình tự Sanger nhằm khảo sát đột biến c.854G>C
ở những mẫu phôi sinh thiết Kết quả giải trình tự được đọc bằng phần mềm BioEdit và được thể hiện
ở bảng 1
Trang 7Bảng 1 Tổng hợp kết quả giải trình tự theo phương pháp Sanger cho ADN của 8 mẫu tế bào phôi TR1 – TR8.
Kết quả chẩn đoán
Bình thường, không mang gen gây bệnh
Bình thường, mang gen gây bệnh
Bình thường, mang gen gây bệnh
Trang 84 TR4
Bình thường, mang gen gây bệnh
Bình thường, không mang gen gây bệnh
Trang 97 TR7
Bình thường, không mang gen gây bệnh
Bình thường, mang gen gây bệnh
Kết quả giải trình tự theo phương pháp Sanger
cho thấy, trong tổng số 8 phôi sinh thiết sử dụng
trong nghiên cứu, có 3 phôi (37,5%) không mang
alen đột biến gây bệnh, 4 phôi (50%) mang alen
đột biến gây bệnh ở thể dị hợp và 1 phôi (12,5%)
mang alen gây bệnh ở thể bán dị hợp tử Điều
này đã chứng tỏ, những phôi mang alen gây bệnh
trong quá trình giảm phân hình thành giao tử đã
nhận được alen đột biến từ mẹ Những phôi này
sẽ được đánh giá là không phù hợp để sử dụng
cho quá trình chuyển phôi và những phôi không
mang alen đột biến sẽ tiếp tục được làm các xét nghiệm sàng lọc tiền làm tổ (PGS - Preimplanta-tion Genetic Screening) để đánh giá chất lượng phôi trước khi tiến hành thụ tinh nhân tạo Đối với mẫu ADN của các phôi TR1, TR5 và TR7 đều có kết quả bình thường và không có alen gây bệnh sẽ được thực hiện giải trình tự theo phương pháp giải trình tự thế hệ mới để sàng lọc các bất thường về nhiễm sắc thể Kết quả sàng lọc PGS cho 3 phôi không mắc bệnh loạn dưỡng não chất trắng được thể hiện ở hình 4
Trang 10Hình 4 Kết quả giải trình tự thế hệ mới của quá trình
sàng lọc tiền làm tổ bộ nhiễm sắc thể của 3 mẫu tế bào
phôi (A): Kết quả của mẫu TR1; (B): Kết quả của
mẫu TR5; (C): Kết quả của mẫu TR7
Với kết quả giải trình tự như trên, bằng việc sử
dụng các công cụ tin sinh cũng như thống kê sinh
học, có thể nhận thấy rằng cả hai phôi TR1 và TR7
đều có bất thường về bộ nhiễm sắc thể, cụ thể hơn
phôi TR1 có bất thường về cấu trúc nhiễm sắc thể
số 11, còn phôi TR7 có bất thường về số lượng ở
những nhiễm sắc thể 2, 4, 6, 8, 11, 11, 18, trong khi
ABSTRACT
Establishment of the procedure to detect ABCD1 gene mutations related to X-linked
Adrenoleukodystrophy
Adrenoleukodystrophy (X-ALD) is a rare sex-linked recessive disorder that disrupts adrenal gland function, the spinal nerves, and the white matter of the nervous system According to recent epidemiological statistics, this disease affects 1 in 15,000 people, however, the actual incidence rate is estimated to be much higher with the combined application of modern genetic techniques used for early diagnosis The earlier the diagnose of the disease, the safer and the more active for families with a history of X-ALD to develop plans for childbirths and treatments of disease's symptoms Therefore, in this study, we developed an early pre-implantation diagnosis process to help families with the background of having the disease but wish to have healthy children By combining the use of sequencing methods, especially Next-Generation Sequencing (NGS) and Sanger sequencing with other molecular techniques such as PCR, we were able to develop a procedure to detect mutations on the ABCD1 gene which is involved in the disease We then applied this
đó ở phôi TR5 không phát hiện bất cứ bất thường nào trên bộ 24 nhiễm sắc thể Vì vậy, chúng tôi đưa
ra kết luận phôi TR5 có chất lượng tốt, phù hợp để tiến hành chuyển phôi vào cơ thể người mẹ trong quá trình thụ tinh nhân tạo
KẾT LUẬN Xây dựng được quy trình phát hiện đột biến gen
ABCD1 liên quan đến bệnh loạn dưỡng não chất
trắng và đồng thời ứng dụng được quy trình phát hiện đột biến gen nhằm chọn được phôi thụ tinh nhân tạo không mang alen gây bệnh
Tuy nhiên cần mở rộng thí nghiệm nhằm ứng dụng quy trình cho các thành viên khác trong đại gia đình giúp chẩn đoán bệnh cho các phôi của các cặp vợ chồng khác bởi đột biến này có thể di truyền cho nhiều thành viên từ đó luôn tồn tại khả năng sinh con mắc bệnh loạn dưỡng não chất trắng mang đột biến c.854G>C Cần nghiên cứu mở rộng thí nghiệm nhằm ứng dụng quy trình cho các
cứu mở rộng thí nghiệm nhằm ứng dụng quy trình cho các đột biến liên quan đến các bệnh hiếm di truyền đơn gen khác