Bài viết mô tả một số đặc điểm mô hình bệnh tật cộng đồng dân cư xã biên giới Mo Rai, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp điều tra cắt ngang và hồi cứu số liệu thứ cấp.
Trang 1Một số đặc điểm mô hình bệnh tật dân cư
xã biên giới Mo Rai, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum
Nguyễn Văn Chuyên 1 , Nguyễn Bá Tùng 2 , Hoàng Xuân Cường 1 , Nguyễn Xuân Kiên 3
1 Học viện Quân y
2 Bộ Tư lệnh Công binh
3 Cục Quân y
TÓM TẮT:
Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả một số đặc điểm
mô hình bệnh tật cộng đồng dân cư xã biên giới
Mo Rai, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả
cắt ngang, kết hợp điều tra cắt ngang và hồi cứu số
liệu thứ cấp
Kết quả: Tỷ lệ hộ gia đình có ít nhất 1 người bị
bệnh trong tháng là 26,0%, cao nhất ở trẻ em dưới
10 tuổi (37,65%), 10 - 19 tuổi (16,86%) và nhóm
trên 60 tuổi (17,26%) Các bệnh cấp tính chủ yếu là
hội chứng cảm cúm 3 (27,59%), viêm phổi - viêm
phế quản (17,24%) và tiêu chảy (10,34%) Các
bệnh mạn tính có tỷ lệ cao là bệnh dạ dày (8,228%),
ngoài da (8,9%) và các bệnh xương khớp (5,48%)
Bệnh nhiễm trùng là bệnh phổ biến và chiếm tỷ lệ
cao được điều trị trong cơ sở y tế Các bệnh nhiễm
khuẩn trong chương trình TCMR giảm rõ rệt Các
bệnh không nhiễm khuẩn như khối u, bệnh cơ quan
tạo máu, bệnh nội tiết chuyển hoá ngày càng tăng
Kết luận: Mô hình bệnh của bệnh nhân điều trị
tại xã Mo Rai là mô hình bệnh của các nước đang
phát triển
Từ khóa: Xã biên giới Mo Rai, mô hình bệnh tật.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Toàn vùng biên giới Tây Nguyên có 28 xã và
12 huyện thuộc 4 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Kon Tum, có biên giới tiếp giáp với Lào và Campuchia Trong đó có 530 km đường biên Đây
là khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội và giao thông
đi lại khó khăn nhất của khu vực Tây Nguyên Công tác đảm bảo sức khỏe cho đồng bào khu vực biên giới Tây Nguyên vẫn chủ yếu phụ thuộc vào
y tế tuyến cơ sở
Xã Mo Rai là một xã biên giới thuộc tỉnh Kon Tum có diện tích lớn (585,5 km2), mật độ dân
số thưa (4.600 người), chủ yếu là người dân tộc thiểu số, cách xa trung tâm huyện (65km), có đường biên giới với Campuchia dài 33 km Điều kiện kinh tế khó khăn, khả năng tiếp cận dịch vụ
y tế gặp nhiều khó khăn Do vậy, để y tế cơ sở chủ động và nâng cao năng lực, ngành y tế cần nắm bắt rõ mô hình bệnh tật của cộng đồng Xuất phát
từ những vấn đề trên, nghiên cứu được tiến hành nhằm mục tiêu:
Mô tả một số đặc điểm mô hình bệnh tật cộng đồng dân cư xã biên giới Mo Rai, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum
Ngày nhận bài: 15/6/2020
Ngày phản biện: 3/8/2020
Ngày chấp nhận đăng: 7/8/2020
Trang 2ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
- Hộ gia đình:
+ Chủ HGĐ hoặc người nắm vững nhất các
thông tin về sử dụng DVYT của gia đình
+ Người bị ốm trong vòng 4 tuần hoặc là người
nắm rõ thông tin về tình hình sức khỏe của người ốm
- Hồ sơ bệnh án, sổ sách thống kê bệnh tật
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: xã biên giới Mo Rai,
huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum
Thời gian nghiên cứu: 6/2019-6/2020
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang: điều tra, mô tả một
số đặc điểm cơ cấu bệnh của cộng đồng xã Mo Rai,
huyện Sa Thầy, Kon Tum (2019)
Cỡ mẫu nghiên cứu
Cỡ mẫu điều tra đánh giá tình hình ốm của
người dân:
n = Z2
1-α/2× p(1 − p) × DE
d2
Trong đó: n là cỡ mẫu điều tra
Z(1-α/2): độ tin cậy 95% (Z(1-α/2) = 1,96)
p: tỷ lệ người ốm/bệnh trong vòng 4 tuần có
sử dụng dịch vụ y tế Theo kết quả nghiên cứu của
Nguyễn Thị Thắng (2017) [1],tỷ lệ người ốm/bệnh
trong vòng 4 tuần có tỷ lệ sử dụng dịch vụ là 26,5%
(p=0,265) Chọn p=0,265
q = 1- p
d: Sai số tuyệt đối do nghiên cứu lựa chọn, chọn
d = 0,05
DE: hệ số thiết kế
Như vậy, n = 299 người
Lấy hệ số thiết kế DE = 2; ta có n là 299 x 2 = 598
hộ gia đình Thực tế nghiên cứu đã tiến hành tại
600 hộ gia đình
Nội dung và chỉ số nghiên cứu
- Người bị ốm/bệnh:
Người bị ốm/bệnh thỏa mãn 2 điều kiện: + Bị bất cứ bệnh/triệu chứng bệnh nào trong 4 tuần kể từ thời điểm được phỏng vấn trở về trước + Bệnh/triệu chứng bệnh kéo dài ít nhất một ngày và ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường
- Bệnh hoặc chứng bệnh mạn tính:
Tất cả những bệnh hoặc triệu chứng bệnh kéo dài trên 3 tháng dù đã có hay chưa có chẩn đoán của CBYT đều được coi là bệnh hoặc chứng bệnh mãn tính Bảng phân loại (ICD - 10) phân nhóm bệnh hoặc chứng bệnh mãn tính như sau:
+ Nhóm bệnh hệ tuần hoàn
+ Nhóm bệnh hệ thần kinh
+ Nhóm bệnh cơ xương khớp
+ Nhóm bệnh hô hấp
+ Nhóm bệnh về mắt
+ Nhóm bệnh nội tiết chuyển hóa
- Bệnh cấp tính: Là căn bệnh xảy ra rất nhanh và chỉ trong thời gian ngắn Sau đó bệnh có thể tự khỏi hoặc tiến triển thành mãn tính hoặc biến chứng nguy hiểm
- Bảng phân loại bệnh theo ICD-X: Xác định cơ cấu bệnh theo 21 chương của ICD-X
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Cơ cấu bệnh ngoài cộng đồng dân cư xã biên giới
Mo Rai
Bảng 1 Tỷ lệ hộ gia đình có người mắc bệnh trong tháng
bản địa
Công nhân
Số hộ có người mắc
Tỷ lệ hộ có người
Trang 3Tỷ lệ hộ gia đình có ít nhất 1 người mắc bệnh trong tháng qua tại xã Mo Rai là 26,0% Tỷ lệ hộ gia đình
cư dân bản địa mắc bệnh lớn hơn hộ gia đình của công nhân công ty 78, sự khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)
Bảng 2 Số người mắc bệnh trong hộ gia đình trong tháng
Số người
mắc bệnh
Phân tích số người mắc bệnh trong hộ gia đình tháng qua cho thấy phần lớn là hộ gia đình có 1-2 người mắc, chiếm 92,31%; chỉ có 7,69% hộ gia đình trong tháng qua có từ 3 người mắc trở lên
Bảng 3 Tỷ lệ mắc bệnh trong tháng theo nhóm tuổi (n=255)
Phân tích tỷ lệ mắc bệnh trong tháng qua theo nhóm tuổi ở cả cộng đồng cho thấy tỷ lệ cao nhất ở nhóm trẻ em dưới 10 tuổi, chiếm 37,65% và ở nhóm 10 - 19 tuổi là 16,86% Ở nhóm người già trên 60 tuổi là 17,26%
Bảng 4 Phân bố số mắc bệnh trong vòng 4 tuần theo một số đặc điểm cá nhân (n=255)
Chỉ số nghiên cứu
Dân cư bản địa (n=189)
Công nhân công ty 78 (n=66)
Chung (n=255)
Trang 4Trình độ
văn hóa
Nghề
nghiệp
Tỷ lệ ốm của nữ giới cao hơn nam giới Tỷ lệ ốm của nữ chiếm 51,76%, của nam giới chiếm 48,24%
Số người ốm tập trung nhiều ở cộng đồng dân tộc Jrai (76,2%), Rơ Mâm (23,8%)
Không có sự khác nhau nhiều về tỷ lệ mắc bệnh giữa các nhóm có trình độ học vấn khác nhau Số lượng người ốm tập trung chủ yếu ở nhóm nghề làm ruộng
Bảng 5 Phân bố tỷ lệ người mắc bệnh mạn tính đã được điều trị (n=146)
Loại bệnh
điều trị
Trang 5Trong số các bệnh mạn tính đã được điều trị thì nhóm bệnh dạ dày, thận tiết niệu và ngoài da chiếm tỷ
lệ cao (8,22%; 8,22% và 8,9%) Tỷ lệ phải điều trị thấp hơn là nhóm bệnh xương khớp (5,48%) Các bệnh khác có tỷ lệ phải điều trị thấp hơn, ví dụ các bệnh tim mạch, bệnh gan mật (từ 0,68 đến 1,37%)
Bảng 6 Phân bố tỷ lệ người mắc bệnh bệnh cấp tính đã được điều trị (n=203)
Tỷ lệ mắc các bệnh cấp tính đã được điều trị là các nhóm bệnh hô hấp và tiêu hóa như hội chứng cảm cúm 27,59%; viêm phổi viêm phế quản 17,24% và tiêu chảy 10,34%; bệnh da và niêm mạc 7,39% Các bệnh khác chiếm tỷ lệ thấp hơn
Cơ cấu bệnh trong cơ sở y tế
Bảng 7 Phân loại bệnh theo chương bệnh ICD-10
Trang 6XI 63 518 604 545 485 2215
Số lượng bệnh nhân vào viện nhiều nhất là năm
2017 (5038 người), năm 2018 là 4618 bệnh nhân
Năm có số lượng bệnh nhân vào viện thấp nhất là
năm 2015 (313 người)
Chương bệnh chiếm số lượng lớn nhất là
chương X: Bệnh hệ hô hấp (5159 lượt bệnh
nhân) Các chương bệnh chiếm tỷ lệ khá lớn
tiếp theo là chương I, XI, XIX Các chương bệnh
chiếm lượng bệnh nhân rất ít là chương II, III, IV,
V, XVI và XVII
BÀN LUẬN
Một số đặc điểm cơ cấu bệnh ngoài cộng đồng
Tỷ lệ HGĐ tại xã Mo Rai có ít nhất 1 người mắc
bệnh trong tháng là 26,0% Các bệnh lây nhiễm
phổ biến chủ yếu là tiêu chảy và đường hô hấp Các
bệnh có tỷ lệ mắc cao là hội chứng cảm cúm, các
bệnh đường hô hấp như viêm phổi, viêm phế quản
và các bệnh đường tiêu hoá Tỷ lệ mắc các bệnh
cấp tính đã được điều trị là các nhóm bệnh hô hấp
và tiêu hóa như hội chứng cảm cúm 27,59%; viêm
phổi viêm phế quản 17,24% và tiêu chảy 10,34%;
bệnh da và niêm mạc 7,39% Trong số các bệnh
mạn tính đã được điều trị thì nhóm bệnh dạ dày,
thận tiết niệu và ngoài da chiếm tỷ lệ cao (8,22%;
8,22% và 8,9%)
Nghiên cứu của Võ Văn Tỵ và cộng sự (2012) tại Bệnh viện Thống Nhất cho thấy mô hình bệnh có đặc trưng là: Bệnh hệ tuần hoàn (23,9%); bệnh hệ
hô hấp chiếm 14,6%; bệnh hệ tiêu hóa chiếm 14,4% Các bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh trùng chiếm 9,4% [2] Theo nghiên cứu của Dye C (2014) gánh nặng bệnh hiện chuyển dịch sang các BKLN [3] Một công bố của Tang S và cộng sự cũng khẳng định gánh nặng bệnh không truyền nhiễm của Trung Quốc là một thách thức lớn nhất [4], bệnh không truyền nhiễm cũng là gánh nặng ở Nhật Bản [5] và
Ấn Độ [6] và Malaysia [7] Đã có các chương trình
và biện pháp phòng ngừa các BKLN như: kiểm soát thuốc lá, chính sách dinh dưỡng, cải thiện hoạt động thể chất, giảm sử dụng rượu có hại, tăng cường
hệ thống y tế [8]
Như vậy, gánh nặng bệnh chuyển dịch mạnh sang bệnh không truyền nhiễm, nhưng bệnh truyền nhiễm tiếp tục là một vấn đề cần quan tâm và là một thách thức đối với hệ thống y tế trong những năm tiếp theo
Đặc điểm cơ cấu bệnh trong cơ sở y tế
Để đánh giá mô hình bệnh tật trong cơ ở y tế
có phản ánh quy luật mô hình bệnh tật ngoài cộng đồng không? Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình phổ biến bệnh tật ở bệnh xá và trạm y tế xã có quy
Trang 7luật phân bố có nhiều điểm chung, phản ánh mô
hình bệnh tật tại cộng đồng Kết quả biểu đồ 1 cho
thấy chương bệnh chiếm số lượng bệnh nhân lớn
nhất là chương X: Bệnh hệ hô hấp (5159 lượt bệnh
nhân) Các chương bệnh chiếm tỷ lệ khá lớn tiếp
theo là chương I, XI, XIX Các chương bệnh chiếm
lượng bệnh nhân rất ít là chương II, III, IV, V, XVI
và XVII Cụ thể:
- Nhóm bệnh hô hấp (Nhóm X) chiếm hàng
thứ nhất
- Nhóm bệnh nhiễm khuẩn (Nhóm I) chiếm
hàng thứ 2
- Nhóm bệnh tiêu hoá (Nhóm XI) chiếm hàng
thứ 3
- Nhóm chấn thương ngộ độc (Nhóm XIX)
chiếm hàng thứ 4
- Yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe và tiếp xúc dịch
vụ y tế (Nhóm XXI) chiếm hàng thứ 5
Các kết quả nghiên cứu mô hình bệnh tật trong
cơ sở y tế tương ứng với kết quả nghiên cứu tại cộng
đồng Cấu trúc mô hình bệnh tật về cơ bản vẫn là
mô hình bệnh tật của các nước đang phát triển Các
bệnh nhiễm trùng bắt đầu giảm nhưng vẫn cao Bắt
đầu có một sự chuyển dịch mới trong cấu trúc bệnh
tật là nhóm bệnh chấn thương, ngộ độc, dị bệnh
máu và cơ quan tạo máu, bệnh khối u, bệnh tâm thần đã xuất hiện và thay thế cho nhóm bệnh dinh dưỡng và nhiễm khuẩn
KẾT LUẬN
Đặc điểm cơ cấu bệnh tại cộng đồng: Tỷ lệ hộ gia đình xã biên giới Mo Rai có ít nhất 1 người bị bệnh trong tháng là 26,0% Tỷ lệ bị bệnh cao nhất
ở nhóm trẻ em dưới 10 tuổi (37,65%), ở nhóm 10
- 19 tuổi (16,86%) và nhóm trên 60 tuổi (17,26%) Các bệnh cấp tính hay mắc chủ yếu tại xã biên giới
Mo Rai cần phải điều trị là hội chứng cảm cúm 3=27,59%), viêm phổi - viêm phế quản (17,24%)
và tiêu chảy (10,34%) Các bệnh mạn tính phải điều trị tại cộng đồng có tỷ lệ cao nhất là bệnh dạ dày (8,228%), bệnh ngoài da (8,9%) và các bệnh xương khớp (5,48%)
Mô hình bệnh tật bệnh nhân điều trị nội trú: Mô hình bệnh của bệnh nhân điều trị tại xã Mo Rai là
mô hình bệnh của các nước đang phát triển Bệnh nhiễm trùng là bệnh phổ biến và chiếm tỷ lệ cao Các bệnh nhiễm khuẩn trong chương trình TCMR giảm rõ rệt Các bệnh không nhiễm khuẩn như khối
u, bệnh cơ quan tạo máu, bệnh nội tiết chuyển hoá ngày càng tăng
ABSTRACT
Some characteristic of disease pattern in community of Mo Rai commune, Sa Thay district, Kontum province
Objectives: Describe some characteristics of a disease pattern in community of Mo Rai border commune,
Sa Thay district, Kon Tum province
Methodology: A cross-sectional descriptive study combining cross sectional investigations and
retrospective secondary analysis
Results: The percentage of households in Mo Rai commune with at least 1 sick person per month was
26,0% The highest incidence is found in children under 10 years old (37.65%), in the group of 10 - 19 years old (16.86%) and over 60 year-old group(17.26%) The main acute illness in Mo Rai commune requiring treatment is flu syndrome (27,59%), pneumonia - bronchitis (17,24%) and diarrhea (10,34%) The highest percentage of chronic diseases requiring treatment in the community is gastric disease (8,228%), skin
Trang 8disorders (8,9%) and osteoarthritis (5,48%) Infectious diseases are common and account for a high percentage of those treated in health care system Infectious diseases in the expanded program on immunization markedly decreased Non-infectious diseases such as tumors, those related to hematopoietic organs and metabolic endocrine disorders are increasing
Conclusion: Disease pattern of patients treated in Mo Rai commune is that of developing countries Keywords: Mo Rai commune, disease pattern.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Thị Thắng (2017), “Thực trạng và yếu tố ảnh hưởng tới sự khác biệt trong sử dụng dịch vụ khám
chữa bệnh ở một số tỉnh thuộc các vùng kinh tế xã hội Việt Nam năm 2015”, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương.
2 Võ Văn Tỵ, Võ Thị Xuân Đài (2012) Khảo sát mô hình bệnh và tử vong tại Bệnh viện Thống Nhất năm
2010, Y học thành phố Hồ Chí Minh 16(1): 11-17.
3 Dye C (2014) After 2015: infectious diseases in a new era of health and development, Philosophical
Transactions of the Royal Society B: Biological Sciences, 369(1645): 20130426
4 Tang S., Ehiri J., Long Q (2013) China’s biggest, most neglected health challenge: non-communicable
diseases, 2(1): p 7.
5 Wu F et al (2017) Non-communicable diseases control in China and Japan, Globalization and health
13(1): 91
6 Upadhyay R.P (2012) An overview of the burden of non-communicable diseases in India, Iranian
journal of public health, 41(3): 1.
7 Mustapha F.I., Omar Z., Mihat O., et al (2014) Addressing non-communicable diseases in Malaysia:
an integrative process of systems and community, BMC Public Health, 14(2): p S4.
8 Mendis S (2010) The policy agenda for prevention and control of non-communicable diseases, British
medical bulletin, 96(1): 23-43.