1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá kết quả bước đầu hóa trị vinorelbine kết hợp trastuzumab trên bệnh nhân ung thư vú di căn có HER2 dương tính tại Bệnh viện Quân Y 103

8 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 378,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày đánh giá đáp ứng, thời gian sống thêm bệnh không tiến triển và tác dụng không mong muốn của phác đồ hóa trị vinorelbine kết hợp với trastuzumab trên bệnh nhân ung thư vú tái phát di căn có HER2 dương tính.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU HÓA TRỊ VINORELBINE KẾT HỢP TRASTUZUMAB TRÊN BỆNH NHÂN UNG THƯ VÚ

DI CĂN CÓ HER2 DƯƠNG TÍNH TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103

VŨ THỊ TRANG1; NGHIÊM THỊ MINH CHÂU2

Địa chỉ liên hệ: Vũ Thị Trang

Email: vutrang4486@gmail.com

Ngày nhận bài: 05/10/2020 Ngày phản biện: 03/11/2020 Ngày chấp nhận đăng: 05/11/2020

1 ThS Khoa Hóa trị - Trung tâm Ung Bướu - Bệnh viện Quân Y 103

2 PGS.TS.BS Trưởng Bộ môn Ung thư - Trưởng Khoa Hóa trị,

Trung tâm Ung Bướu Bệnh viện Quân Y 103

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo GLOBOCAN 2018, trên toàn thế giới có

khoảng 2.088.849 ca mới mắc, và 626.679 ca tử

vong vì UTV (chiếm 11,6% tổng số bệnh nhân bị ung

thư (UT) xếp thứ 2 ở cả hai giới sau ung thư phổi và

đứng thứ 5 trong số các nguyên nhân tử vong do UT

sau phổi, đại trực tràng, dạ dày và gan)[1]

Tại Việt Nam, theo số liệu thống kê năm 2018

có 15.229 phụ nữ mới mắc ung thư vú (UTV) Trong

đó có 6.103 người tử vong do UTV[1]

Ung thư vú tái phát di căn thì tiên lượng sống

thêm cũng như đáp ứng điều trị được xem xét dựa

trên nhiều tiêu chí như thể trạng bệnh, tình trạng mô

bệnh học… Với đối tượng bệnh nhân này thì mục

đích điều trị không phải là triệt căn mà chính là điều

trị giảm nhẹ, kéo dài thời gian sống và nâng cao chất

lượng cuộc sống Vì vậy việc lập kế hoạch điều trị

cho bệnh nhân phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, sử dụng đơn hóa chất hay đa hóa chất cũng là câu hỏi được đưa ra Trastuzumab phối hợp với taxan được coi là phác đồ chuẩn trong việc sử dụng đa hóa chất

có thuốc đích với đối tượng ung thư vú tái phát

di căn (UTV TPDC có HER2 dương tính) Nghiên cứu HERNATA so sánh giữa 2 phác đồ phối hợp trastuzumab với docetaxel và trastuzumab với vinorelbine cho thấy thời gian đến khi bệnh tiến triển

và thời gian sống thêm toàn bộ không có sự khác biệt ở 2 nhóm Trong khi đó tỷ lệ bệnh nhân bị gián đoạn do độc tính ở 2 nhóm lần lượt là 20,1%

và 6,5% với p < 0,001 Các độc tính: hạ bạch cầu độ

3, 4; sốt hạ bạch cầu; nhiễm trùng; bệnh thần kinh; rối loạn móng và phù nề gặp nhiều hơn ở nhóm phối hợp với docetaxel Như vậy có thể xem xét phối hợp vinorelbine với trastuzumab là một lựa chọn điều trị tốt cho UTV TPDC có HER2 dương tính[5]

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá đáp ứng, thời gian sống thêm bệnh không tiến triển và tác dụng không mong

muốn của phác đồ hóa trị vinorelbine kết hợp với trastuzumab trên bệnh nhân ung thư vú tái phát di căn có HER2 dương tính

Đối tượng và phương pháp: 38 bệnh nhân UTV TPDC hoặc giai đoạn IV ngay tại thời điểm chẩn

đoán có HER2 dương tính được hóa trị vinorelbine kết hợp với trastuzumab tại bệnh viện Quân Y 103 từ năm 2011 đến năm 2019

Kết quả: Có 258 đợt truyền vinorelbine kết hợp với trastuzumab, tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn là 21,1%;

đáp ứng một phần là 42,1%, lợi ích lâm sàng đạt được là 68,4% Thời gian sống thêm bệnh không tiến triển trung bình của phác đồ là 8,4 ± 5 tháng Các độc tính hay gặp là hạ bạch cầu, chủ yếu là ở độ I, II, III 54,7% Các độc tính ngoài hệ tạo huyết thường nhẹ ít ảnh hưởng đến tiến trình điều trị

Trang 2

Phác đồ phối hợp vinorelbine với trastuzumab

đã được đưa vào trong điều trị UTV TPDC có HER2

dương tính nhưng chưa có nhiều nghiên cứu về kết

quả cũng như độc tính của phác đồ này Vì vậy

chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá kết

quả bước đầu hóa trị vinorelbine kết hợp

trastuzumab trên bệnh nhân ung thư vú di căn

có HER2 dương tính tại bệnh viện Quân Y 103”

với các mục tiêu sau:

Đánh giá đáp ứng, thời gian sống thêm bệnh

không tiến triển và tác dụng không mong muốn của

phác đồ hóa trị vinorelbine kết hợp với trastuzumab

trên bệnh nhân ung thư vú tái phát di căn có HER2

dương tính

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

38 bệnh nhân UTV TPDC hoặc giai đoạn IV

ngay tại thời điểm chẩn đoán có HER2 dương tính

được hóa trị vinorelbine kết hợp với trastuzumab tại

bệnh viện Quân Y 103 từ năm 2011 đến năm 2019

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu mô tả hồi cứu

Các bước tiến hành

Bước 1: Chọn bệnh nhân theo tiêu chuẩn lựa

chọn và loại trừ

Bước 2: Đánh giá bilan trước điều trị

Bước 3: Tiến hành điều trị

Bước 4: Nhận xét đặc điểm đối tượng nghiên

cứu, đánh giá kết quả điều trị

Tiến hành điều trị

+ Chu kỳ 3 tuần: Trong chu kỳ đầu tiên

trastuzumab liều tải 8mg/kg truyền trong 90 phút ngày 1, sau đó vinorelbine liều 30mg/m2 da ngày 2, ngày 8 truyền nhanh trong 10 phút Các chu kỳ tiếp sau trastuzumab liều duy trì 6mg/kg truyền trong 90 phút, sau đó vinorelbine 30mg/m2 da ngày 1, ngày 8 Tiếp tục điều trị đến khi bệnh tiến triển hoặc độc tính không thể dung nạp được

+ Vinorelbine - trastuzumab hàng tuần, chu kỳ

28 ngày (cứ 4 tuần được tính là 1 chu kỳ):

Trastuzumab được điều trị trước hóa chất với liều 4mg/kg liều tải truyền trong vòng 90 phút sau đó duy trì liều nạp 2mg/kg truyền trong thời 30 phút (nếu liều tải bệnh nhân dung nạp tốt), truyền tĩnh mạch hàng tuần Vinorelbine liều 30mg/m2 da, truyền tĩnh

mạch nhanh trong 10 phút hàng tuần

Đánh giá kết quả điều trị

Thời điểm đánh giá: sau mỗi 3 đợt điều trị Phương pháp đánh giá: qua thu thập các thông tin lâm sàng (để đánh giá khả năng dung nạp thuốc), các xét nghiệm cân lâm sàng trước mỗi đợt điều trị,

so sánh các tổn thương có thể đo được ở các đợt trước và sau, từ đó đánh giá đáp ứng theo RECIST

Đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu này chỉ nhằm mục đích nâng cao chất lượng điều trị, chất lượng cuộc sống cho BN, không nhằm mục đích nào khác

Các thông tin về bệnh nhân được giữ kín Được thông qua hội đồng đạo đức của bệnh viện Quân Y 103 và Học viện Quân Y

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu

Biểu đồ 1 Đặc điểm về tuổi bệnh nhân

Nhận xét: Trong 38 bệnh nhân nghiên cứu nhóm tuổi hay gặp nhất là từ 40 - 60 tuổi chiếm tỷ lệ 60,5%

Trang 3

Biểu đồ 2 Xếp loại giai đoạn bệnh ban đầu

Nhận xét: Bệnh nhân phát hiện bệnh chủ yếu ở giai đoạn 2 và 3 với tỷ lệ lần lượt là: 50% và 31,6%

Có 5,3% bệnh nhân ngay từ khi mới phát hiện bệnh đã ở giai đoạn 4

Đánh giá kết quả điều trị

Biểu đồ 3 Kết quả điều trị chung

Nhận xét: Tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn, một phần, bệnh ổn định và bệnh tiến triển lần lượt là: 21,1%; 42,2%; 5,2% và 31,5%

Bảng 1 Liên quan giữa tỷ lệ đáp ứng điều trị với thụ thể nội tiết (TTNT) và HER2

TTNT và HER2 Đáp ứng Không đáp ứng Tổng

n(%) n(%)

TTNT

ER(+) và/hoặc PR(+) 10 (63,7%) 6 (36,3%) 16 (100%)

ER(-) và PR(-) 14 (62,7%) 8 (37,5%) 22 (100%)

Tổng 24 (63,2%) 14 (36,8%) 38 (100%)

p = 0,941 Tình trạng HER2

HER2 (++)/ FISH (+) 5 (71,5%) 2 (28,5%) 7 (100%)

HER2 (+++) 19 (61,3%) 12 (38,7%) 31 (100%)

Tổng 24 (63,2%) 14 (36,8%) 38 (100%)

Trang 4

p = 0,871

Nhận xét: Khi điều trị phác đồ nghiên cứu thì tỷ lệ có đáp ứng cao hơn ở đối tượng có HER2 (+++) và ER/PR (+), tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p = 0,941 và p = 0,871

Bảng 2 Liên quan giữa tỷ lệ đáp ứng với số lượng vị trí di căn

Số vị trí di căn Đáp ứng Không đáp ứng Tổng

n (%) n (%)

1 vị trí 9 (75%) 3 (25%) 12 (100%)

≥2 vị trí 15 (57,7%) 11 (42,3%) 26 (100%)

Tổng 24 (63,2%) 14 (36,8%) 38 (100%)

p = 0,049

Nhận xét: Có sự liên quan giữa số vị trí di căn với tỷ lệ đáp ứng, số vị trí di căn càng nhiều thì tỷ lệ đáp ứng càng thấp, sự khác biệt trên có ý nghĩa thống kê với p = 0,049

Bảng 3 Thời gian sống thêm bệnh không tiến triển

Thời gian Số bệnh nhân Tỷ lệ (%)

Nhận xét: Bảng trên cho thấy thời gian sống

thêm bệnh không tiến triển dưới 12 tháng và trên 12

tháng có tỷ lệ lần lượt là: 81,6% và 18,4%

Bảng 4 Thời gian sống bệnh không tiến triển

liên quan với giai đoạn bệnh ban đầu

Giai đoạn X ± SD (tháng) P

I 10 ± 5,7

0,045

II 9,8 ± 5,6

III 7,5 ± 4,6

IV 5,5 ± 2,1

Nhận xét: Bảng trên cho thấy có sự liên quan

giữa thời gian sống thêm bệnh không tiến triển với

giai đoạn bệnh ban đầu, sự liên quan này có ý nghĩa

thống kê với p = 0,045

Bảng 5 Thời gian sống bệnh không tiến triển

liên quan với tình trạng hạch nách

Tình trạng hạch nách X ± SD (tháng) P

Chưa di căn (N0) 9,4 ± 5,8

0,039

Di căn 1 - 3 hạch (N1) 9,0 ± 5,0

Di căn 4 - 9 hạch (N2) 7,0 ± 4,3

Di căn 10 hạch (N3) 6,6 ± 3,2

Nhận xét: Tình trạng hạch nách phát hiện tại thời điểm chẩn đoán liên quan có ý nghĩa thống kê với thời gian sống bệnh không tiến triển, với p = 0,039

Bảng 6 Liên quan giữa thời gian sống thêm bệnh

không tiến triển với số cơ quan tái phát di căn

Số cơ quan tái phát di căn X ± SD (tháng) P

1 cơ quan 10,0 ± 5,6

0,028

2 cơ quan 7,7 ± 4,6 Nhận xét: Bảng trên cho thấy số cơ quan di căn

có liên quan tới thời gian sống thêm bệnh không tiến triển, với p = 0,028

Bảng 7 Độc tính trên hệ tạo huyết

Độc tính trên hệ tạo huyết (n, %) Hạ bạch cầu Thiếu máu Giảm tiểu cầu

Độ 1 93 (36,3) 155 (60,1) 23 (8,9)

Độ 2 24 (9,3) 29 (11,2) 6 (2,3)

Độ 3 21 (8,1) 0 (0) 3 (1,2)

Độ 4 3 (1.2) 0 (0) 0 (0) Nhận xét: Độc tính của phác đồ nghiên cứu trên

hệ tạo huyết chủ yếu gặp ở độ I và độ II Trong đó giảm bạch cầu độ I, độ II chiếm tỷ lệ lần lượt

là 36,3% và 9,3% Ở độ IV có 1,2% giảm bạch cầu, không có trường hợp nào bị thiếu máu và giảm tiểu cầu

Trang 5

Bảng 8 Độc tính ngoài hệ tạo huyết

Độc tính ngoài hệ tạo huyết (n,%) Tim Gan Thận Tiêu chảy Nôn/ buồn nôn Rụng tóc

Độ 1 33 (12,8) 44 (17,1) 0 (0) 69 (26,7) 57 (22,1) 45 (17,4)

Độ 2 0 (0) 54 (20,9) 0 (0) 15 (5,8) 24 (9,3) 9 (3,5)

Độ 3 4 (1,6) 6 (2,3) 0 (0) 0 (0) 0 (0) 0 (0)

Độ 4 1 (0.4) 0 (0) 0 (0) 0 (0) 0 (0) 0 (0) Nhận xét: Bảng trên cho thấy các độc tính ngoài hệ tạo huyết bao gồm: trên tim, gan, thận, tiêu chảy, nôn buồn nôn, rụng tóc Tuy nhiên các độc tính trên chủ yếu gặp ở độ 1 và độ 2 nên không làm ảnh hưởng đến tiến trình điều trị Cá biệt trên 38 bệnh nhân nghiên cứu có 1 bệnh nhân xuất hiện độc tính trên tim ở độ 4 phải ngưng điều trị

BÀN LUẬN

Đối với ung thư vú, tuổi bệnh nhân tại thời điểm

chẩn đoán ban đầu là một yếu tố liên quan chặt chẽ

đến tiên lượng bệnh và tỷ lệ mắc bệnh Theo

Hernate và cộng sự, phụ nữ từ 40 - 49 tuổi khả năng

sống sót là tốt nhất[3]

Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhóm tuổi mắc

ung thư vú tại thời điểm chẩn đoán hay gặp nhất là

từ 40-60 tuổi, chiếm tỷ lệ 60,5% trong đó từ 40 - 49

tuổi (28,9%), từ 50 - 59 tuổi (31,6%), tuổi trung bình

là 52,3 ± 8,8 tuổi, tuổi thấp nhất là 33, tuổi cao nhất

là 74

Lê Thị Yến và cộng sự (2017) nghiên cứu 33

bệnh nhân ung thư vú TPDC cho thấy nhóm tuổi hay

gặp nhất là 50 - 59 tuổi, chiếm 41,1%, tuổi thấp nhất

là 32 và cao nhất là 73, độ tuổi trung là 54,1 ± 9,5

tuổi[6]

Trong các vị trí di căn thì xương, phổi, não

chiếm tỷ lệ cao nhất lần lượt là 39,5%; 50%; 55,3%

Trong đối tượng nghiên cứu của chúng tôi loại bỏ

những bệnh nhân chỉ di căn xương đơn thuần vì khó

đánh giá đáp ứng và những bệnh nhân di căn não

đơn thuần có triệu chứng

Tình trạng TTNT và mức độ bộc lộ HER2 là

những yếu tố tiên lượng độc lập quan trọng, đồng

thời cũng là yếu tố dự báo đáp ứng với các phương

pháp điều trị Một tác giả năm 2011 cho biết việc

đánh giá tình trạng TTNT trước điều trị giúp cho việc

phân nhóm bệnh nhân và đưa ra quyết định điều trị

phù hợp trên mỗi bệnh nhân cụ thể Tỷ lệ ER (+) và/

hoặc PR (+) hướng dẫn điều trị nội tiết Tình trạng

bộc lộ quá mức HER2 cũng được phát hiện khoảng

20 - 25% các trường hợp UTV, sự bộc lộ quá mức

này phản ánh tiên lượng xấu và giúp quyết định

hướng điều trị nhắm trúng đích

Đánh giá kết quả điều trị

Khi tiến hành nghiên cứu 38 bệnh nhân UTV TPDC có sử dụng phác đồ vinorelbine kết hợp với trastuzumab, chúng tôi nhận thấy có tổng cộng 258 đợt truyền trastuzumab kết hợp vinorelbine (dao động từ 3 - 9 chu kỳ) số đợt truyền trung bình là 6,8 cho mỗi bệnh nhân Số đợt truyền trastuzumab là

332 (dao động từ 3 - 18 chu kỳ), số đợt truyền trung bình là 8,7 cho mỗi bệnh nhân

Biểu đồ 3 cho thấy trong số 38 bệnh nhân nghiên cứu có đáp ứng hoàn toàn chiếm 21,1%, đáp ứng 1 phần chiếm 42,1%; có 2 bệnh nhân bệnh ổn định (5,2%) Như vậy tỷ lệ đáp ứng toàn bộ là 63,2%

và lợi ích lâm sàng đạt được là 68,4%

Tỷ lệ đáp có liên quan đến rất nhiều yếu tố Theo bảng 1 cho thấy: tỷ lệ đáp ứng của nhóm có ER(+) và/ hoặc PR (+) cao hơn so với nhóm ER (-)

và PR (-), sự khác biệt này không có ý nghĩa thống

kê với p = 0,941 > 0,05 Bảng 2 cho thấy mối liên quan giữa tỷ lệ đáp ứng với số cơ quan TPDC, nhận thấy tỷ lệ đáp ứng với các tổn thương di căn đích đơn độc (1 vị trí) cao hơn các tổn thương phối hợp ở nhiều vị trí, với tỷ lệ tương ứng là 75% và 57,7%,

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Một số nghiên cứu cũng cho kết quả tương tự như:

Lê Thanh Đức (2013) cho kết quả di căn 1 vị trí có thời gian sống bệnh không tiến triển dài hơn di căn ở nhiều vị trí[7] De Maio và cộng sự cũng cho thấy di căn ở mô mềm cho tỷ lệ đáp ứng cao hơn di căn ở nội tại[2]

Theo bảng 3 thấy thời gian sống thêm bệnh không tiến triển < 12 tháng chiếm tỷ lệ cao hơn (81,6%) so với 12 tháng (18,4%) Thời gian sống thêm bệnh không tiến triển trung bình là 8,4 ± 5

tháng Kết quả của chúng tôi cũng phù hợp với các nghiên cứu như: nghiên cứu của De Maio trên 50

Trang 6

bệnh nhân UTV TPDC có HER2 dương tính điều trị

phác đồ vinorelbine phối hợp trastuzumab mỗi 3

tuần, thời gian sống thêm bệnh không tiến triển là

9,6 tháng[2] A Chan và cộng sự 2006 nghiên cứu

trên 69 bệnh nhân thì PFS là 9,9 tháng cao hơn

nghiên cứu của chúng tôi[4] Điều này có thể được lý

giải là do trong nghiên cứu này vinorelbine kết hợp

với trastuzumab trong điều trị bước 1 UTV TPDC

ở tất cả 69 bệnh nhân Như vậy một lần nữa khẳng

định sự kết hợp 2 thuốc nghiên cứu mang lại

hiệu quả điều trị cho UTV TPDC ở tất cả các bước

điều trị

Thời gian sống thêm bệnh không tiến triển

(PFS) liên quan đến rất nhiều yếu tố Trong nghiên

cứu của chúng tôi đã tìm thấy mối liên quan có ý

nghĩa thông kê (với p < 0,05) giữa PFS với giai đoạn

bệnh, tình trạng hạch nách và số cơ quan di căn

Bảng 4, 5, 6 đã cho thấy rằng: giai đoạn bệnh tại

thời điểm chẩn đoán càng cao, càng nhiều hạch

nách di căn và càng di căn ở nhiều cơ quan thì thời

gian sống thêm bệnh không tiến triển càng ngắn

Ở giai đoạn TPDC thì mục đích điều trị không

phải là triệt căn, khỏi bệnh mà là kéo dài thời gian

sống và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh

nhân bằng cách giảm nhẹ các triệu chứng do bệnh

gây ra Xác định được mục tiêu đó nên phương

pháp điều trị đưa ra ở giai đoạn này thường là điều

trị toàn thân, điều trị đích với mục đích giảm nhẹ,

phẫu thuật hay tia xạ ít được dùng (tùy thuộc vào

tình trạng bệnh nhân) Tuy nhiên hóa chất hay điều

trị đích là phương pháp điều trị toàn thân nên ngoài

tác dụng làm chết, gây độc cho tế bào ung thư nó

còn gây ra độc tính với tế bào lành Đó là cơ sở của

việc giải thích tại sao khi dùng chúng gây ra những

tác dụng không mong muốn Như vậy bệnh nhân

không chỉ chịu sự mệt mỏi do căn bệnh ở giai đoạn

muộn gây ra mà còn chịu cả những tác dụng phụ do

thuốc điều trị Do vậy trong quá trình điều trị cần phải

theo dõi sát để có thái độ xử trí kịp thời, chính xác

Bảng 7 cho thấy tỷ lệ hạ bạch cầu chủ yếu gặp

ở độ I, độ II chiếm tỷ lệ 45,4% số đợt truyền hóa

chất, hạ độ III, độ IV là 9,3% số đợt truyền, trong đó

có 3 lần truyền bị hạ bạch cầu độ IV chiếm tỷ lệ

1,2% Như vậy bạch cầu có xu hướng nhạy cảm

hơn với hóa chất Theo Lê Thị Yến và cộng sự

(2017) với hơn 300 lần truyền cho thấy tỷ lệ hạ bạch

cầu chủ yếu gặp ở độ II và độ III chiếm tỷ lệ 50%[6]

Nghiên cứu của Chan và cộng sự năm 2006 trên 69

bệnh nhân cũng cho thấy tỷ lệ bệnh nhân hạ bạch

cầu trung tính độ III, IV là 84%; tỷ lệ số lần truyền bị

giảm bạch cầu trung tính độ III, IV là 18%[4]

Tỷ lệ giảm huyết sắc tố chỉ gặp ở độ I, độ II (với

tỷ lệ 60,1% số lần truyền ở độ I và 11,2% số lầ

truyền ở độ II), (theo bảng 7) Trong khi đó tỷ lệ giảm

tiểu cầu có 3 lần truyền có giảm ở độ III, chiếm 1,2%

và gặp ở độ I, II chiếm tỷ lệ không cao 11,2% số lần truyền hóa chất

Các độc tính ngoài hệ tạo huyết nếu ở mức độ nặng nề cũng gây ảnh hưởng khá lớn đến kết quả của điều trị, tuy nhiên trong nghiên cứu của chúng tôi các độc tính ngoài hệ tạo huyết thường không nặng nề và chủ yếu gặp ở độ I, độ II

Theo bảng 8 tỷ lệ bệnh nhân xuất hiện độc tính trên tim độ I là 12,8% số lần truyền, độ III là 1,6% số lần truyền, độ IV có 1 bệnh nhân chiếm 2,6% số bệnh nhân và 0,4% số lần truyền Bệnh nhân này đã phải ngưng điều trị vĩnh viễn Lê Thị Yến đã ghi nhận độc tính trên tim gặp ở 3 lần truyền chiếm tỷ lệ 1%[6] Chan và cộng sự năm 2006 nghiên cứu 69 bệnh nhân ghi nhận độc tính trên tim LVEF % trung bình trong các lần truyền là 63,8%, giá trị thấp nhất có 1 bệnh nhân < 38%, với suy tim có triệu chứng 4 tháng sau khi bắt đầu nghiên cứu[4]

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 38 bệnh nhân ung thư vú tái phát, di căn có yếu tố phát triển biểu mô dương tính được điều trị tại tại bệnh viện Quân Y 103 bằng hóa trị vinorelbine phối hợp với trastuzumab từ năm

2011 đến năm 2019, chúng tôi nhận thấy đa phần các bệnh nhân ở độ tuổi 40 - 60, hay gặp ở giai đoạn II tại thời điểm chẩn đoán Đây là phác đồ mang lại hiệu quả đáp ứng tốt (ORR đạt 63,2%, lợi ích lâm sàng 68,4%), thời gian sống thêm bệnh không tiến triển cũng khá dài (8,4 ± 5 tháng) trong khi độc tính ở mức có thể chấp nhận được

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 GLOBOCAN Cancer Fact Sheets: Breast

iarc.fr/old/FactSheets/cancers/breast-new.asp>, accessed: 30/05/2018

2 De Maio E., Pacilio C., Gravina A et al (2007) Vinorelbine plus 3-weekly trastuzumab in metastatic breast cancer: a single-centre phase

2 trial BMC Cancer, 7, 50

3 Hernate A., trastuzumab and vinorelbine as first-line therapy for HER2-overexpressing metastase breast cancer: multicenter phase II trial with clinical out comes, analysis of serum tumor markers as predictive factors and cardiac surveillance algorithm Br J cancer 2006; 95, 788-793

4 Chan A, et al Vinorelbine plus trastuzumab combination as first-line therapy for HER2-positive metastatic breast cancer patients: an international phase II trial Br J cancer 2006

Trang 7

5 Michael Andersson, et al Phase III randomized

study comparing docetaxel plus trastuzumab

with vinorelbine plus trastuzumab as first-line

therapy of metastatic or locally advanced Human

Epidermal Growth Factor Receptor 2-positive

breast cancer: the HERNATA study Journal of

clinical oncology 2011

6 Lê Thị Yến và cộng sự, 2017 Đánh giá kết quả

điều trị bước đầu của phác đồ

trastuzumab-vinorelbine trên bệnh nhân ung thư vú tái phát,

di căn có HER2 dương tính tại bệnh viện K Tạp

chí ung thư học Việt Nam, số 1-2017, trang

279-284

7 Lê Thanh Đức và cộng sự (2013) Đánh giá hiệu quả của phác đồ đơn hóa chất vinorelbine trong điều trị ung thư vú tái phát di căn Tạp chí ung thư học Việt Nam, số 3-2013

8 Bùi Diệu và cộng sự (2011) Tình hình mắc ung thư ở phụ nữ Hà Nội giai đoạn 2005-2008 Tạp chí Ung thư học Việt Nam, số 3-2011, trang 39–

46

Trang 8

ABSTRACT

Evaluation of initial results of chemotherapy vinorelbine plus trastuzumab combination in

HER2-positive metastatic breast cancer patients at Military 103 Hospital Objectives: Evaluation of response, duration of non-progressive disease and undesirable effects of

vinorelbine chemotherapy regimen in combination with trastuzumab in patients with recurrent metastatic breast cancer

Subjects and methods: 38 patients with PDT or stage IV at the time of diagnosis of HER2-positive

chemotherapy vinorelbine in combination with trastuzumab at Military Hospital 103 from 2011 to 2019

Results: There were 258 vinorelbine infusions combined with trastuzumab, the complete response rate

was 21.1%; partial response is 42.1%, clinical benefit is 68.4% The median duration of non-progression of the regimen was 8.4 5 months The common toxicity is leukopenia, mainly in grade I, II, III 54.7% Toxicity to the hematopoietic system is usually mild with little effect on the course of treatment

Key word: HER2, vinorelbine combination trastuzumab, metastatic breast cancer

Ngày đăng: 04/08/2021, 14:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w