1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá hiệu quả và tính an toàn của phác đồ hóa trị docetaxel, cisplatin và S-1 (DC - S) trong điều trị ung thư dạ dày giai đoạn tiến xa di căn

7 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 242,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ung thư dạ dày giai đoạn tiến xa và di căn có tỷ lệ tử vong cao. Chúng tôi đã ứng dụng phác đồ docetaxel, cisplatin và S-1 trong điều trị bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn tiến xa di căn chưa từng hóa trị tại khoa Hóa trị ung thư bệnh viện Đại học Y Dược TP. HCM.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀ TÍNH AN TOÀN CỦA PHÁC ĐỒ HÓA TRỊ DOCETAXEL, CISPLATIN VÀ S-1 (DC - S) TRONG ĐIỀU TRỊ

UNG THƯ DẠ DÀY GIAI ĐOẠN TIẾN XA DI CĂN

LÂM PHƯƠNG NAM1, TRẦN THỊ NGỌC MAI1, LÂM QUỐC TRUNG1,

NGUYỄN THỊ DIỆU THÚY1, TRẦN VĨNH THỌ1

Địa chỉ liên hệ: Lâm Phương Nam

Email: nam.lp@umc.edu.vn

Ngày nhận bài: 05/10/2020 Ngày phản biện: 03/11/2020 Ngày chấp nhận đăng: 05/11/2020

1 Khoa Hóa trị ung thư - Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM

GIỚI THIỆU

Ung thư dạ dày vẫn là vấn đề sức khỏe toàn

cầu trong nhiều năm qua Theo thống kê mới nhất từ

Globocan 2018, ung thư dạ dày đứng hàng thứ 5

sau ung thư phổi, vú, đại trực tràng và tiền liệt tuyến,

tuy nhiên, đây lại là nguyên nhân gây tử vong do ung

thư đứng hàng thứ 3 Đặc biệt, ung thư dạ dày vẫn

có tần suất cao tại các nước Đông Á[1] Ung thư dạ

dày ở giai đoạn tiến xa, di căn là bệnh lý không thể

điều trị khỏi Mục tiêu điều trị lúc này là giảm nhẹ

triệu chứng và kéo dài sống còn Điều trị toàn thân là

phương pháp điều trị hiệu quả nhất Môt số hóa chất

đã được dùng trong điều trị ung thư dạ dày, bao

gồm fluoropyrimidine, platinum (cisplatin, oxaliplatin),

taxane, và irinotecan Mặc dù đã có rất nhiều thử

nghiệm lâm sàng được tiến hành, hiện tại không có phác đồ nào được xem là tiêu chuẩn trong điều trị bước 1 ung thư dạ dày giai đoạn tiến xa, di căn có thụ thể HER2 âm tính[2]

Fluoropyrimidine là một biểu tượng của thuốc trị ung thư, và trong số đó, 5-FU đã trở thành loại được

sử dụng phổ biến nhất Các nghiên cứu tiền lâm sàng về hóa dược đã đưa đến S-1, là sự kết hợp của tegafur và 2 loại chất điều hòa 5-FU là gimeracil (CDHP), và oteracil (oxonate), với tỷ lệ phân tử 1:0,4:1, giúp tăng hoạt tính kháng bướu và giảm độc tính đường tiêu hóa của 5-FU[3]

Trong các nghiên cứu tại Nhật Bản, S-1 giúp cải thiện tỷ lệ đáp ứng lên tới 48%, và còn cho thấy là một điều trị phù hợp cho bệnh nhân ngoại trú vì có ít

TÓM TẮT

Tổng quan: Ung thư dạ dày giai đoạn tiến xa và di căn có tỷ lệ tử vong cao Chúng tôi đã ứng dụng

phác đồ docetaxel, cisplatin và S-1 trong điều trị bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn tiến xa di căn chưa từng hóa trị tại khoa Hóa trị ung thư bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM

Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu trên 38 bệnh nhân ung thư dạ dày thỏa các tiêu chí: Ung thư dạ

dày mới chẩn đoán, chưa từng điều trị trước đó; Có giải phẫu bệnh là carcinom tuyến; Giai đoạn tiến xa hoặc di căn không thể phẫu thuật; Đã hóa trị với phác đồ DC-S (docetaxel - cisplatin + S-1) ít nhất 1 chu kỳ; Có thể trạng tốt (ECOG 0-2)

Kết quả: Tỷ lệ đáp ứng: Không có trường hợp nào đạt đáp ứng hoàn toàn 34,21% bệnh nhân có đáp

ứng một phần, 50% trường hợp bệnh ổn định, và có 15,79% trường hợp bệnh tiến triển Tỷ lệ sống còn không bệnh tiến triển 1 năm là 25,06% (KTC 95%: 10,86 - 42,21%), trung vị PFS là 7,7 tháng (dao động

2 - 13,57 tháng) Phân tích đơn biến cho thấy nhóm có đáp ứng hóa trị sẽ có sống còn tốt hơn so với nhóm bệnh tiến triển Về độc tính của hóa trị: tỷ lệ giảm bạch cầu hạt là 73,68%, 23,68% trường hợp bị giảm bạch cầu hạt độ 3 - 4 Tỷ lệ tăng men gan (AST/ALT) là 23,68% 10,52% trường hợp có tăng creatinine máu độ 1 - 2 Các biến cố bất lợi khác được ghi nhận trong nghiên cứu gồm chán ăn, viêm miệng, buồn nôn/ nôn và tiêu chảy, đều ở mức độ 1 - 2

Kết luận: DC-S là phác đồ hóa trị đem lại tỷ lệ đáp ứng cao và dung nạp được đối với bệnh nhân ung

thư dạ dày giai đoạn tiến xa và/hoặc di căn

Trang 2

tác dụng phụ Sau nghiên cứu đơn trị, các nghiên

cứu bắt đầu tăng cường hiệu quả của S-1 bằng kết

hợp với các thuốc hóa trị khác với cơ chế hoạt động

khác Nghiên cứu pha I/II cho thấy việc kết hợp S-1

với cisplatin cho tỷ lệ đáp ứng lên tới 74% và OS đạt

383 ngày, với độc tính chấp nhận được[6] Và sau

đó, nghiên cứu pha III so sánh giữa phác đồ phối

hợp với đơn trị (nghiên cứu SPIRITS), cho thấy phối

hợp S-1 và cisplatin cải thiện tỷ lệ đáp ứng (54% so

với 31%), kéo dài PFS (6 tháng so với 4 tháng) và

OS (13 tháng so với 11 tháng) so với S-1 đơn thuần

trong ung thư dạ dày giai đoạn tiến triển, và đây trở

thành phác đồ điều trị tiêu chuẩn tại Nhật Bản[5]

Tuy nhiên, kinh nghiệm sử dụng S-1 ở các nước

khác ngoài Nhật Bản còn khá hạn chế Một nghiên

cứu pha III cũng được tiến hành để xác định hiệu

quả thì cho thấy phác đồ S-1 và cisplatin không khác

biệt với phác đồ 5-FU kết hợp cisplatin về tỷ lệ đáp

ứng, PFS, và OS (nghiên cứu FLAGS)[6]

Việc phối hợp thêm Docetaxel vào phác đồ S-1

và cisplatin (phác đồ DC-S) đã đem lại nhiều kết quả

đáng mong đợi Các nghiên cứu pha I và pha II đã

cho kết quả tỷ lệ đáp ứng với phác đồ DC-S từ

76,9 - 87,1% Tiếp theo đó, nghiên cứu hồi cứu của

Kinoshita (2015) thực hiện trên 57 bệnh nhân ung

thư dạ dày giai đoạn IV điều trị với phác đồ DCS

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đáp ứng một phần

đạt 73,7%, 14% bệnh ổn định, chỉ có 5,3% bệnh tiến

triển Hơn nữa, có 34 trường hợp (59,6%) được

thực hiện phẫu thuật đảo ngược sau hóa trị, với gần

80% đạt diện cắt R0 Nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ sống

còn toàn bộ 1 năm và 2 năm đạt lần lượt là 70,6%,

và 49,6%[8] Tại bệnh viện Đại học Y Dược

TP HCM, chúng tôi đã áp dụng phác đồ DC-S trong

hóa trị ung thư dạ dày giai đoạn tiến xa - di căn từ

vài năm nay Nghiên cứu được tiến hành với các

mục tiêu: đánh giá tỷ lệ đáp ứng, và tỷ lệ sống còn

không bệnh tiến triển 1 năm

ĐỐI TƯỢNG & PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu hồi cứu trên 38

bệnh nhân ung thư dạ dày điều trị tại khoa Hóa trị ung

thư - Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM từ

01/01/2018 đến hết 31/12/2018, thỏa các tiêu chí sau:

- Ung thư dạ dày mới chẩn đoán, chưa từng

điều trị trước đó

- Có giải phẫu bệnh là carcinom tuyến

- Giai đoạn tiến xa hoặc di căn không thể phẫu

thuật:

+ Bướu lớn, xâm lấn các tạng lân cận

+ Di căn gan, phúc mạc, hoặc các tạng trong

+ Di căn hạch cạnh động mạch chủ bụng nhóm 16a2 và 16b1 ≥1cm trên CT-scan bụng

- Có thể được phẫu thuật không triệt để (nối vị - tràng, mở nuôi ăn, nội soi ổ bụng) trước hóa trị, hoặc không

- Đã hóa trị với phác đồ docetaxel - cisplatin + S-1 ít nhất 1 chu kỳ

- Có thể trạng tốt (ECOG 0-2)

- Có chức năng tủy xương trong giới hạn cho phép để hóa trị: bạch cầu hạt >2G/L, tiểu cầu

>100G/L

- Có chức năng gan - thận trong giới hạn cho phép để hóa trị: AST, ALT < 1,5 lần giới hạn bình thường cao, ure, creatinine trong giới hạn bình thường

Những bệnh nhân có những tiêu chí sau sẽ bị loại khỏi nghiên cứu:

- Đã từng hóa trị - xạ trị trước đó vì bệnh lý ung thư khác

- Ung thư dạ dày đã điều trị tái phát/ tiến triển

Phác đồ dùng trong nghiên cứu

Trong nghiên cứu sử dụng phác đồ DC-S, trong đó:

- Docetaxel 35mg/m2 truyền tĩnh mạch ngày 1

và ngày 15, chu kỳ 28 ngày

- Cisplatin 35mg/m2 truyền tĩnh mạch ngày 1 và ngày 15, chu kỳ 28 ngày

- S-1 80mg/m2/ngày, chia 2 lần uống mỗi ngày, trong 14 ngày, chu kỳ 28 ngày

Đánh giá đáp ứng theo tiêu chuẩn RECIST 1.1 Độc tính của hóa trị sẽ được đánh giá theo tiêu chuẩn CT-CAE 4.0

Các phép kiểm được sử dụng gồm Chi bình phương đối với biến định tính, phép kiểm t-student với biến định lượng Biến sống còn được ước tính theo phương pháp Kaplan-Meier, và phân tích đơn biến bằng phép kiểm Log-rank, phân tích đa biến bằng hồi qui Cox, với giá trị p < 0,05 được xem là có

ý nghĩa thống kê

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Chúng tôi ghi nhận có 38 trường hợp thỏa tiêu chí nghiên cứu Giới nam chiếm phần lớn trong nghiên cứu, với 24 trường hợp, chiếm 63,16%

Độ tuổi trung bình trong nghiên cứu là 51,68 ± 12,53 tuổi, với trung vị tuổi là 54 tuổi Giai đoạn T trong nghiên cứu được đánh giá theo phân loại TNM của

Trang 3

55,56% là bướu T4a, xâm lấn đến thanh mạc dạ

dày, và 44,44% bướu T4b Trong 38 trường hợp

được nghiên cứu, thì có 4 trường hợp không ghi

nhận di căn xa trước mổ (chiếm 10,53%), còn lại 34

trường hợp di căn xa (chiếm 89,47%) Vị trí di căn

thường được ghi nhận nhất là di căn phúc mạc, di

căn hạch cạnh động mạch chủ bụng và gan

Có 37 trường hợp ghi nhận được vị trí bướu

trước điều trị, trong đó có 3 trường hợp bướu ở tâm

vị (chiếm 8,11%), 9 trường hợp bướu ở thân vị

(24,32%), bướu ở hang môn vị chiếm phần lớn với

20 trường hợp (54,05%), và 5 trường hợp bướu

dạng lan tỏa chiếm toàn bộ dạ dày (litinis plastica)

(13,51%) Các đặc điểm của dân số nghiên cứu trên

đây cũng khá phù hợp với các nghiên cứu trước đây

trên thế giới về ung thư dạ dày giai đoạn tiến xa

Trong 38 trường hợp, chúng tôi ghi nhận có 19

trường hợp được phẫu thuật trước, chiếm 50%

Trong các phẫu thuật trước hóa trị này, thì chỉ có 5

trường hợp là được cắt bán phần hoặc toàn phần

dạ dày làm sạch kèm nạo hạch D2, chiếm 26,32%

Lý do của các phẫu thuật làm sạch này phần lớn vì

biến chứng của ung thư dạ dày (thủng, xuất huyết

tiêu hóa, hoặc hẹp môn vị nặng) Còn lại là phần lớn

là phẫu thuật nối tắt (nối vị tràng) hoặc phẫu thuật

mở dạ dày / hỗng tràng ra da nuôi ăn, hoặc chỉ nội

soi ổ bụng thám sát kèm sinh thiết

Tỷ lệ đáp ứng

Dựa trên tiêu chuẩn đánh giá đáp ứng của

RECIST và theo đánh giá của bác sĩ chẩn đoán hình

ảnh kết hợp với bác sĩ điều trị, chúng tôi ghi nhận

không có trường hợp nào đạt đáp ứng hoàn toàn, có

13 trường hợp đạt đáp ứng một phần (34,21%),

19 trường hợp bệnh ổn định (50%) và 6 trường hợp

bệnh tiến triển (15,79%)

Tại Việt Nam, nghiên cứu của tác giả Đinh Thị

Hải Duyên công bố năm 2017 với phác đồ TCX

(paclitaxel-carboplatin-capecitabine) trên 30 trường

hợp ung thư dạ dày giai đoạn tiến xa-di căn, thì tỷ lệ

đáp ứng hoàn toàn là 3,3%, 40% đáp ứng một phần,

và 46,7% bệnh ổn định[9] Tỷ lệ này cũng khá tương

đồng với chúng tôi, trên cùng một cỡ mẫu tương đối

nhỏ Ngoài ra, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn

Hùng với phác đồ docetaxel-cisplatin, không có sự

kết hợp của S-1, cho thấy tỷ lệ bệnh tiến triển lên tới

29,1%, điều này có thể gợi ý tính hiệu quả khi kết

hợp thêm S-1 trong điều trị Tác giả ghi nhận yếu tố

có liên quan đến đáp ứng điều trị là liều điều trị đạt

100%[10]

Nghiên cứu của Kinoshita trên 57 trường hợp ung thư dạ dày giai đoạn tiến xa - di căn, điều trị với phác đồ DC-S giống với chúng tôi, cũng có kết quả tốt hơn nghiên cứu của chúng tôi: không có trường hợp nào đáp ứng hoàn toàn, đáp ứng một phần chiếm 73,7%, bệnh ổn định chiếm 14% Chỉ có 3 trường hợp bệnh tiến triển, chiếm 5,3%[8]

Nghiên cứu hồi cứu của Ohnuma trên 111 trường hợp ung thư dạ dày tiến xa - di căn hóa trị với phác đồ DC-S, cho kết quả tốt hơn so với chúng tôi rất nhiều, với tỷ lệ đáp ứng toàn bộ (ORR) là 83,3% ở nhóm không di căn phúc mạc và 82,4% ở nhóm di căn phúc mạc nhẹ, 80% ở nhóm di căn phúc mạc nhiều[11] Một nghiên cứu khác tại Nhật Bản với 259 bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn

di căn, được hóa trị với nhiều phác đồ khác nhau, gồm S1, docetaxel-S1, cisplatin-capecitabine, irinotecan-S1, cisplatin-paclitaxel, nghiên cứu này cho thấy phần lớn bệnh nhân đạt đáp ứng ở mức bệnh ổn định (49,8%), với tỷ lệ đáp ứng toàn bộ là 36,3% và tỷ lệ kiểm soát bệnh là 86,1%[12] Kết quả này tương tự như trong nghiên cứu của chúng tôi Gợi ý rằng phác đồ DC-S tại dân

số Việt Nam trên đối tượng ung thư dạ dày giai đoạn trễ cũng đạt đáp ứng tương tự như các phác đồ hóa trị khác

Trong nghiên cứu, chúng tôi cũng ghi nhận những trường hợp đạt đáp ứng một phần có thể chuyển phẫu thuật đảo ngược (conversion surgery): 6/38 trường hợp có thể phẫu thuật cắt dạ dày (bán phần/ toàn phần) kèm nạo hạch D2, và đạt diện cắt R0 sau phẫu thuật, chiếm 15,79% Những trường hợp này đều được làm rửa dịch ổ bụng làm tế bào học để xác định tình trạng di căn phúc mạc, và đều

có kết quả âm tính Phẫu thuật đảo ngược được định nghĩa là phẫu thuật nhắm tới đạt diện cắt R0 cho những trường hợp trước đó không thể phẫu thuật sau khi đã đạt đáp ứng tố với hóa trị[12] Phẫu thuật đảo ngược với diện cắt R0 giúp cải thiện sống còn, trong đó hóa trị trước là phương pháp có nhiều tiềm năng nhất Nghiên cứu của Mieno và Yamaguchi cho thấy phẫu thuật đạt R0 có tỷ lệ sống còn cao hơn đáng kể so với nhóm còn bướu R1/R2,

và những trường hợp có phẫu thuật đảo ngược cũng tốt hơn những trường hợp không thể phẫu thuật[13],[12] Nghiên cứu của Yamguchi trên 259 bệnh nhân ung thư dạ dày di căn, được hóa trị nhiều phác

đồ khác nhau, thì ghi nhận tỷ lệ phẫu thuật đảo ngược cũng ở mức 32,4%, cao hơn so với nghiên cứu của chúng tôi[12]

Trang 4

Tỷ lệ sống còn không bệnh tiến triển 1 năm

Biểu đồ 1 Biểu đồ Kaplan-Meier về sống còn không bệnh tiến triển

Qua 38 trường hợp nghiên cứu, với thời gian theo dõi trung vị là 9,2 tháng, có 26/38 biến cố PFS xảy ra (chiếm 68,42%) Chúng tôi ghi nhận trung vị thời gian sống còn không bệnh tiến triển là 7,7 tháng, trung bình 7,59 ± 3,25 tháng (2 - 13,57 tháng) Tỷ lệ sống còn không bệnh tiến triển 1 năm là 25,06% (khoảng tin cậy 95%: 10,86 - 42,21%)

Phân tích sống còn bằng phép kiểm Log-rank, chúng tôi ghi nhận yếu tố lớn tuổi và có đáp ứng với điều trị thì có liên quan với sống còn không bệnh tiến triển tốt hơn Phân tích này cũng thực hiện với nhiều yếu tố khác tuy nhiên không phát hiện sự khác biệt có ý nghĩa trong các phân nhóm Điều này có thể thấy, việc phẫu thuật cắt dạ dày làm sạch trước hóa trị đối với những trường hợp đã tiến xa hoặc di căn có thể không đem lại lợi ích

gì về mặt sống còn Phẫu thuật đảo ngược sau hóa trị giúp cải thiện tiên lượng sống còn, tuy nhiên không đạt

ý nghĩa thống kê, điều này có thể do phân phối không đều trong các phân nhóm và do cỡ mẫu nhỏ

Bảng 1 Phân tích dưới nhóm về PFS 1 năm

Giai đoạn N: N1/N2/N3 33, 33/11, 76/43, 08 0,586

Di căn phúc mạc: có/không 37, 88/15, 63 0,109

Di căn hạch dọc động mạch chủ bụng: có/ không 19, 23/33, 33 0,55

Cắt dạ dày trước hóa trị: có/ không 20, 0/45, 71 0,159

Đáp ứng hóa trị: PR/ SD/ PD 27, 69/31, 58/0 0,00

Phẫu thuật đảo ngược sau hóa trị: có/ không 55, 56/18, 75 0,0519

So sánh với các nghiên cứu tại Nhật, thì có

nghiên cứu hồi cứu của Ohnuma trên 111 trường

hợp được điều trị với phác đồ DCS trong ung thư dạ

dày tiến xa, di căn, trong thời gian theo dõi dài hơn

chúng tôi (23,7 tháng), thì ghi nhận thời gian trung vị

PFS là 7,6 tháng và tỷ lệ PFS-1 năm là 33,9%,

tương tự với chúng tôi Và tác giả cũng phân tích

hưởng đến PFS không và cũng không thấy khác biệt

có ý nghĩa giữa các nhóm Tác giả chỉ ghi nhận một yếu tố tiên lượng độc lập với PFS là thể trạng tốt (PS=0)[11]

Độc tính của phác đồ DC-S

Có 28/38 trường hợp bị giảm bạch cầu hạt tất

Trang 5

23,68% Chúng tôi ghi nhận có 1 trường hợp bị

sốt giảm bạch cầu hạt độ 4 cần nhập viện nội trú để

điều trị

Phần lớn các trường hợp bị thiếu máu độ 1 và

độ 2 (chiếm 86,84%), chỉ có 2 trường hợp ở độ 3 trở

lên (chiếm 5,26%)

Giảm tiểu cầu ít gặp với phác đồ DC-S với

26,32% trường hợp bị giảm tiểu cầu độ 1, không gặp

trường hợp nào giảm nặng độ 3 - 4

Kết quả này của chúng tôi cũng thống nhất với

kết quả của nghiên cứu của tác giả Kinoshita tại

Nhật, với phác đồ DC-S giống với chúng tôi (giống

về liều lượng và thời gian sử dụng) Tác giả cho thấy

tỷ lệ giảm bạch cầu hạt độ 3 - 4 là 31,6%, tỷ lệ thiếu

máu độ 3-4 là 7%, còn tỷ lệ giảm tiểu cầu độ 3 - 4 là

1,8%[8]

Nghiên cứu hồi cứu của Ohnuma cũng sử dụng

phác đồ DC-S thì cho thấy độc tính giảm bạch cầu

hạt độ 3 - 4 lên tới 73%, và 85,1% bị giảm bạch cầu

hạt mọi mức độ Tỷ lệ sốt giảm bạch cầu hạt độ 3 - 4

là 14,9% Thiếu máu thì gặp với tỷ lệ thấp hơn là

28,4%, và giảm tiểu cầu chỉ gặp ở 21,6% Sự khác

biệt có thể do khác biệt về liều dùng của docetaxel

và cisplatin trong nghiên cứu này so với chúng tôi[11]

Trong 38 trường hợp, chỉ có 9 trường hợp tăng

men gan AST/ALT, trong đó phần lớn là tăng độ 1

(chiếm 15,79%), 1 trường hợp tăng độ 4, cần hoãn

điều trị (tương ứng 2,63%)

Có 3 trường hợp bị tăng creatinine máu độ 1,

và 1 trường hợp tăng độ 2, tương ứng là 7,89% và

2,63%

Các biến cố bất lợi trên đường tiêu hóa được

ghi nhận trong nghiên cứu gồm có chán ăn, viêm

miệng, buồn nôn, nôn ói, tiêu chảy, đều ghi nhận ở

tần suất thấp, và chủ yếu ở độ 1 Trong đó cao nhất

là độc tính chán ăn và nôn ói, chiếm tương ứng

21,05% và 18,42%

Nghiên cứu hồi cứu của Ohnuma và Sato với

phác đồ DC-S cũng cho kết quả khá tương đồng với

chúng tôi, là phần lớn bệnh nhân bị chán ăn và buồn

nôn, tuy nhiên tần suất ghi nhận được cao hơn

nhiều so với chúng tôi[11]

KẾT LUẬN

Phác đồ DC-S đem lại hiệu quả trong điều trị

ung thư dạ dày giai đoạn tiến xa, di căn, và với độc

tính chấp nhận được, có thể xử trí được Tuy nhiên,

cần thêm nhiều nghiên cứu tiến cứu với cỡ mẫu lớn

để khẳng định thêm về hiệu quả của phác đồ này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bray F, Ferlay J, Soerjomataram I, Siegel RL, Torre LA, Jemal A (2018), “Global cancer statistics 2018: GLOBOCAN estimates of incidence and mortality worldwide for 36 cancers

in 185 countries”, CA Cancer J Clin, 68(6):

394-424

2 Avital I, Nissan A, Golan T, Lawrence YR, Stojadinovic A (2019), “Chapter 53: Cancer of the Stomach” In: DeVita VT, Lawrence TS, Rosenberg SA, DeVita, Hellman, and Rosenberg’s cancer: principles & practice of oncology, 11th edition, Wolters Kluwer

3 Krasniqi E, Pellicori S, Formica V (2015)

“Emerging role of S-1 in gastric cancer”, Indian J Med Paediatr Oncol; 36(4): 219-228

4 Mahlberg R, Lorenzen S, Thuss-Patience P, Heinemann V, Pfeiffer P, Möhler M (2017), “New Perspectives in the Treatment of Advanced Gastric Cancer: S-1 as a Novel Oral 5-FU Therapy in Combination with Cisplatin”,

Chemotherapy, 62: 62-70

5 Koizumi W, Narahara H, Hara T, Takagane A, Akiya T, Takagi M, et al (2008) “S-1 plus cisplatin versus S-1 alone for first-line treatment

of advanced gastric cancer (SPIRITS trial): A

phase III trial”, Lancet Oncol; 9:215-21

6 Krasniqi E, Pellicori S, Formica V (2015)

“Emerging role of S-1 in gastric cancer”, Indian J Med Paediatr Oncol; 36(4): 219-228

7 Mahlberg R, Lorenzen S, Thuss-Patience P, Heinemann V, Pfeiffer P, Möhler M (2017), “New Perspectives in the Treatment of Advanced Gastric Cancer: S-1 as a Novel Oral 5-FU Therapy in Combination with Cisplatin”, Chemotherapy, 62: 62-70

8 Kinoshita J, Fushida S, Tsukada T, Oyama K, Okamoto K, Makino I, Nakamura K, Miyashita T, Tajima H, Takamura H, Ninomiya I, Ohta T (2015), “Efficacy of conversion gastrectomy following docetaxel, cisplatin, and S-1 therapy in potentially resectable stage IV gastric cancer”, EJSO; 41: 1354-1360

9 Đinh Thị Hải Duyên, Nguyễn Trọng Hiếu, Trần Đăng Khoa (2017), “Đánh giá kết quả điều trị phác đồ TCX trên bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn tiến xa và di căn tại bệnh viện Ung bướu

Hà Nội”, Tạp chí Ung thư học Việt Nam, 4: 207-217

Trang 6

10 Nguyễn Văn Hùng, Vũ Hồng Thăng, Lê Văn

Thành, Vũ Văn Thế (2016), “Đáp ứng phác đồ

hóa chất Docetaxel – Cisplatin trong ung thư dạ

dày giai đoạn muộn”, Tạp chí Ung thư học Việt

Nam, 3: 412 - 419

11 Ohnuma H, Sato Y, Hirakawa M, et al (2018),

“Docetaxel, cisplatin and S-1 (DCS) combination

chemotherapy for gastric cancer patients with

peritoneal metastasis: a retrospective study”,

Cancer Chemotherapy and Pharmacology,

https://doi.org/10.1007/s00280-018-3523-x

12 Yamaguchi K, Yoshida K, Tanahashi T, Takahashi T, Matsuhashi N, Tanaka Y, Tanabe

K, Ohdan H (2018), “The long-term survival of stage IV gastric cancer patients with conversion

therapy”, Gastric Cancer, 21:315-323

13 Mieno H, Yamashita K, Hosoda K, et al (2017),

“Conversion surgery after combination chemotherapy of docetaxel, cisplatin and S-1 (DCS) for far-advanced gastric cancer”, Surg Today, DOI 10.1007/s00595-017-1512-z

Trang 7

ABSTRACT

Background: The advanced and metastatic stage of gastric cancer still have high mortality rate We

applied the DC-S regimen (docetaxel, cisplatin and S - 1) in treatment for newly diagnosed advanced and metastatic gastric cancer in Chemotherapy Department of University Medical Center at Ho Chi Minh city

Method: We did a retrospective study in 38 gastric cancer patients with these criteria: newly diagnosed

gastric cancer, adenocarcinoma of the gastric, avanced stage or metastatic stage, treated with chemotherapy with DC-S regimen at least 1 cycle, with good performance status (ECOG 0 - 2)

Results: The response rate: there was no case of complete response 34.21% of cases had partial

response, stable disease in 50% and disease progression in 15.79% 1 - year progression free survival was 25.06% (95% CI: 10.86 - 42.21%), median PFS was 7.7 months (range from 2-13.57 months) Univariate analysis revealed that response with chemotherapy correlated with better survival Chemotherapy toxicities: the neutropenia rate was 73.68%, with 23.68% of cases were grad 3 - 4 neutropenia Rate of elevated transaminase (AST/ALT) was 23.68% Increased creatinine grad 1 - 2 in 10.52% of cases Other adverse events were anorexia, stomatitis, nausea/vomit and diarrhea, all was in grad 1 - 2

Conclusion: Chemotherapy with DC-S regimen had high response rate and well-tolerant in patients with

advanced stage and/or metastatic gastric cancer

Keywords: Gastric cancer, DC-S, S1, advanced stage, metastatic

Ngày đăng: 04/08/2021, 14:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w