1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu chỉ định điều trị ung thư trực tràng bằng phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An

6 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 218,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ung thư trực tràng (UTTT) là một bệnh lý ác tính thường gặp của đường tiêu hóa, điều trị UTTT là điều trị đa mô thức bao gồm phẫu thuật, hóa xạ trị và điều trị giảm nhẹ, trong đó phẫu thuật đóng vai trò quyết định. Mục tiêu: Bài viết trình bày nghiên cứu chỉ định điều trị ung thư trực tràng bằng phẫu thuật nội soi tại bệnh viện Ung Bướu Nghệ An.

Trang 1

NGHIÊN CỨU CHỈ ĐỊNH ĐIỀU TRỊ UNG THƯ TRỰC TRÀNG BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN

NGUYỄN QUANG TRUNG1, NGUYỄN ĐÌNH HIẾU2

Địa chỉ liên hệ: Nguyễn Đình Hiếu

Email: bshieu27021986@gmail.com Ngày nhận bài: 05/10/2020 Ngày phản biện: 03/11/2020

Ngày chấp nhận đăng: 05/11/2020

1

PGS.TS Giám đốc Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An

2 ThS.BS Trưởng Khoa Ngoại - Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nguyên tắc điều trị UTTT là sự phối hợp của

phẫu thuật, hóa trị, xạ trị và miễn dịch trị liệu, nhưng

trong đó, phẫu thuật đóng vai trò quyết định Ngày

nay, phẫu thuật nội soi điều trị UTTT đã đạt được

nhiều tiến bộ vượt bậc Các NC gần đây cho thấy,

phẫu thuật nội soi đem lại nhiều lợi ích cho BN như:

Bảo tồn tối đa được các cấu trúc giải phẫu vùng tiểu

khung, sớm phục hồi chức năng ruột, giảm mất máu,

ít đau sau mổ và thời gian nằm viện khi so sánh với

phẫu thuật mở Kết quả về mặt ung thư, thời gian

sống thêm sau mổ, chất lượng cuộc sống sau mổ

cũng cho kết quả tốt, đặc biệt với những khối u có

chỉ định hóa xạ trị trước mổ

Việc quyết định phẫu thuật UTTT, ngoài dựa

vào giai đoạn bệnh còn dựa vào vị trí khối u Với

những tiến bộ về đánh giá giai đoạn UTTT và tiến bộ

về phẫu thuật như khâu nối máy, chỉ định điều trị UTTT thấp ngày càng được mở rộng Phẫu thuật nội soi điều trị UTTT bao gồm cắt đoạn trực tràng, bảo tồn cơ thắt, cắt toàn bộ mạc treo trực tràng đồng thời bảo tồn thần kinh tự động vùng chậu, khâu miệng nối trực tràng ở thấp Theo y văn, xu hướng trên thế giới hiện nay là lựa chọn hóa xạ trị tiền phẫu đối với các khối u vị trí 2/3 dưới trực tràng nhằm bảo tồn tối đa cơ thắt hậu môn, cải thiện chất lượng cuộc sống sau mổ, đồng thời cũng đạt được kết quả tốt

về tỷ lệ sống thêm[1],[2] Tại bệnh viện của chúng tôi,

hệ thống xạ trị UTTT chính thức được đưa vào sử dụng thường quy từ tháng 5/2019, góp phần hoàn chỉnh các phương pháp điều trị UTTT Chính vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm nghiên cứu chỉ định điều trị UTTT bằng phẫu thuật nội soi tại bệnh viện Ung Bướu Nghệ An

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Ung thư trực tràng (UTTT) là một bệnh lý ác tính thường gặp của đường tiêu hóa, điều trị

UTTT là điều trị đa mô thức bao gồm phẫu thuật, hóa xạ trị và điều trị giảm nhẹ, trong đó phẫu thuật đóng vai trò quyết định

Mục tiêu: Nghiên cứu (NC) chỉ định điều trị UTTT bằng phẫu thuật nội soi tại bệnh viện Ung Bướu

Nghệ An

Thiết kế nghiên cứu: Thiết kế (NC) mô tả cắt ngang các trường hợp UTTT được phẫu thuật nội soi

tại khoa Ngoại - Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An từ tháng 5/2019 đến tháng 8/2020

Kết quả: Có 38 bệnh nhân UTTT được phẫu thuật nội soi, trong đó có 20 nam và 18 nữ Tuổi trung

bình của nhóm NC là 50,4 ± 11,8 Khối u ở giai đoạn T1 là 15,7%, T2 là 47,4%, T3 là 28,9% và T4 là 9,0% Có 28,9% bệnh nhân (BN) được phẫu thuật cắt trước, 47,4% BN cắt trước thấp và 23,7% BN cắt cụt Tỷ lệ chuyển mở là 0% Thời gian phẫu thuật trung bình cho từng phương pháp tương ứng là: Cắt trước 130,6 ± 32,4 phút, cắt trước thấp 145,3 ± 26,3 phút và cắt cụt 160,5 ± 30,8 phút Tai biến trong mổ

và biến chứng sớm sau mổ là 6/38 BN (chiếm 15,7%), không có tử vong trong phẫu thuật Thời gian nằm viện trung bình là 7,4 ± 3,6 ngày

Kết luận: Phẫu thuật nội soi là một kỹ thuật an toàn và hiệu quả trong điều trị UTTT

Từ khóa: Ung thư trực tràng, phẫu thuật nội soi

Trang 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang

Cỡ mẫu: Bao gồm tất cả bệnh nhân thỏa mãn

tiêu chuẩn lựa chọn

Tiêu chuẩn lựa chọn

Bệnh nhân được chẩn đoán xác định UTTT:

chẩn đoán qua nội soi trực tràng và xác định qua kết

quả giải phẫu bệnh

Chẩn đoán giai đoạn UTTT 2/3 dưới: giai đoạn

T0,T1,T2 Đối với các khối u giai đoạn III, IV hoặc

T3, T4 sẽ được hóa xạ trị tiền phẫu

Được phẫu thuật điều trị UTTT bằng phương

pháp nội soi

Tiêu chuẩn loại trừ

UTTT tái phát

UTTT có biến chứng: Xuất huyết, tắc ruột, được

phẫu thuật nội soi điều trị triệu chứng

Nguyên tắc phẫu thuật

Phẫu thuật cắt trước áp dụng cho khối u trực

tràng ở 1/3 trên, miệng nối trực tràng nằm trên

ngách trực tràng - bàng quang

Phẫu thuật cắt trước thấp áp dụng cho khối u

trực tràng 1/3 giữa và dưới, miệng nối trực tràng

dưới ngách trực tràng - bàng quang

Cắt cụt áp dụng cho các khối u trực tràng 1/3

dưới trở xuống và đã xâm lấn cơ thắt hoặc cách rìa

hậu môn ≤ 4cm

Phương pháp phẫu thuật

Bệnh nhân được gây mê nội khí quản

Đặt 04 trocar: 1 trocar ở rốn, 2 trocar ở 2 hố chậu và 1 trocar trên xương mu

Phẫu tích và nạo vét hạch dọc bó mạch mạc treo tràng dưới, thắt bó mạch sát gốc

Di động, giải phóng đại tràng góc lách, đại tràng xuống, đại tràng sigma và trực tràng Sau đó mở nhỏ

ở đường trắng giữa trên xương mu, đưa đại tràng ra ngoài, cắt đoạn trực tràng có u

Miệng nối đại - trực tràng được nối máy hoặc tay Đối với kỹ thuật cắt trước thấp thì thực hiện kỹ thuật cắt toàn bộ mạc treo trực tràng

Đối với kỹ thuật nối đại tràng với ống hậu môn bảo tồn cơ thắt hậu môn (phẫu thuật pull- through): Chỉ định cho trường hợp u trực tràng thấp, cách rìa hậu môn 5 - 6cm, giai đoạn T1 - 3, và chưa có bằng chứng xâm lấn cơ thắt hậu môn

Đối với cắt cụt trực tràng, thì khối u được cắt và lấy qua đường hậu môn và làm hậu môn nhân tạo vĩnh viễn ở hố chậu trái

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

Tuổi trung bình của BN: 50,4 ± 11,8 (tuổi), cao nhất 83 tuổi, thấp nhất 21 tuổi, nhóm tuổi hay gặp nhất 50 - 70 tuổi, chiếm tỷ lệ 83,2% Tỷ lệ nam/nữ là 1,1/1

Thời gian mắc bệnh trung bình là 4,5 ± 2,6 tháng, lý do chính khiến người bệnh vào viện là đại tiện phân nhầy máu (86,7%), rối loạn đại tiện (77,5%)

Đặc điểm khối u trực tràng qua nội soi

Bảng 1 Đặc điểm khối u qua nội soi đại trực tràng

Vị trí U

1/3 giữa (cách RHM từ 6 - 10cm) 19 50,0

KT u so với lòng TT

Đại thể khối U

Trang 3

Trong NC, các bệnh UTTT 2/3 dưới thuộc giai đoạn III, IV hoặc giai đoạn T3, T4 theo CLVT hoặc MRI đều được hóa xạ trị tiền phẫu Có 20/38 (52,6%) BN được hóa xạ trị tiền phẫu

Một số kết quả phẫu thuật

Bảng 2 Các phương pháp phẫu thuật

Cắt đoạn đại trực tràng (cắt trước và cắt trước thấp) 21 55,3 Cắt trực tràng bảo tồn cơ thắt, nối đại tràng - OHM 8 21,0 Cắt cụt trực tràng (Phẫu thuật Miles nội soi) 9 23,7

Tỷ lệ bảo tồn cơ thắt chung đạt 76,3%

Bảng 3 Thời gian phẫu thuật

Cắt đoạn đại trực tràng (cắt trước và cắt trước thấp) 141,6 ± 31,8 Cắt trực tràng bảo tồn cơ thắt, nối đại tràng - OHM 174,6 ± 40,1 Cắt cụt trực tràng (Phẫu thuật Miles nội soi) 160,5 ± 30,8

Bảng 4 Tai biến và biến chứng của phẫu thuật

Tổn thương tạng (niệu đạo, bàng quang, âm đạo) 0 0

Thời gian nằm viện trung bình: 8,4 ± 3,6 (ngày), ngắn nhất 6 ngày, dài nhất 16 ngày Không có bệnh nhân

tử vong sau mổ

Bảng 5 Kết quả giải phẫu bệnh sau mổ

Độ biệt hóa

Giai đoạn

Trang 4

BÀN LUẬN

Đặc điểm tuổi, giới

Trong 38 BN, số BN nam 20, chiến 52,6%, số

BN nữ 18 chiếm 47,4% Tỷ lệ nam/nữ là 1,1, tỷ lệ

này cũng tương tự một số tác giả khác trong và

ngoài nước[2] Trong NC của chúng tôi, BN tuổi cao

nhất là 83, thấp nhất là 21, tuổi trung bình của cả

nhóm nghiên cứu là 50,4 (tuổi), độ tuổi hay gặp nhất

là từ 50 đến 70, chiếm 83,2%

Theo tác giả Marusch F., trong nghiên cứu tác

động của các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến kết

quả sớm sau điều trị phẫu thuật UTTT ở 19.080

trong đó có 2938 BN >80 tuổi Kết quả nghiên cứu

cho thấy, không có sự khác biệt về tai biến và biến

chứng sớm sau phẫu thuật, tỷ lệ tử vong sau phẫu

thuật ở nhóm < 80 tuổi là 2,6% so với 8,0% ở nhóm

>80 tuổi, NC cũng cho thấy sự gia tăng tỷ lệ tử vong

sau phẫu thuật liên quan chủ yếu đến các bệnh lý

lão khoa, đặc biệt là viêm phổi và các biến chứng tim

mạch Tác giả cho rằng tuổi không phải là yếu tố cho

chống chỉ định phẫu thuật điều trị UTTT, kết quả

ngắn hạn và chất lượng cuộc sống là quan trọng đối

với các BN cao tuổi[3]

Đặc điểm chẩn đoán hình ảnh khối u

Soi trực tràng cho đến nay vẫn là phương pháp

quan trọng để chẩn đoán UTTT Phương pháp này

có ưu điểm là rẻ tiền, kỹ thuật đơn giản, nhưng lại

cho biết chính xác u về hình dạng, kích thước và vị

trí u cách rìa hậu môn để quyết định phương pháp

điều trị Qua nội soi, thực hiện bấm sinh thiết để

chẩn đoán giải phẫu bệnh 100% BN trong NC của

chúng tôi đều được soi trực tràng, sinh thiết và xác

định được vị trí tổn thương Qua hình ảnh nội soi,

chúng tôi nhận thấy u thể sùi gặp nhiều nhất chiếm

55,3%, nhiễm cứng 23,6% và thể loét 21,1%, u ở 1/3

giữa chiếm đa số với 19 BN (50%)

Tất cả BN đều được thăm trực tràng và chụp

CT scanner hoặc MRI để đánh giá mức độ xâm lấm

cũng như di căn của khối u Qua đó, chúng tôi đánh

giá được có 11 BN chiếm 28,9% u trực tràng xâm

lấn hết lớp cơ tới thanh mạc hoặc tổ chức xung

quanh trực tràng (giai đoạn T3), có 18BN chiếm

47,4% ở giai đoạn T2, 6BN (15,7%) ở T1, 3BN

(7,9%) ở T4 và không có BN nào có khối u ở giai

đoạn T0

Vai trò hóa xạ trị tiền phẫu

Xạ trị được chỉ định trong các trường hợp ung

thư trực tràng giữa và thấp, khi tổn thương chiếm

trên 1/2 chu vi hoặc dính và xâm lấn tổ chức xung

quanh Xạ trị tiền phẫu chỉ định cho các trường hợp

mức độ di động, tạo thuận lợi cho phẫu thuật và làm tăng tỷ lệ bảo tồn cơ thắt hậu môn[4] Theo dõi lâu dài của Tổ chức điều trị ung thư châu Âu (EORTC) thấy rằng xạ trị tiền phẫu làm giảm tỷ lệ tái phát tại chỗ một cách có ý nghĩa Hóa chất bổ trợ được chỉ định cho các ung thư trực tràng giai đoạn II (có các yếu tố nguy cơ), giai đoạn III, và hóa trị triệu chứng cho giai đoạn IV Phác đồ hóa trị chuẩn là phác đồ phối hợp có nền tảng 5-Fluorouracil (5-FU) đã làm tăng một cách có ý nghĩa tỷ lệ sống thêm 5-năm Các phác đồ đa hóa trị thường được áp dụng trong điều trị bổ trợ ung thư trực tràng bao gồm: 5-FU+Leucovorin, FOLFIRI (Irinotecan, Leucovorin, 5-FU), FOLFOX (Oxaliplatin, Leucovorin, 5-FU), 5-FU+Levamisol Một trong những hướng nghiên cứu mới hiện nay là hóa trị phối hợp với kháng thể đơn dòng, hóa trị phối hợp với xạ trị[5] Tại cơ sở của chúng tôi, đối với các UTTT vị trí 2/3 dưới thuộc giai đoạn III, IV hoặc giai đoạn T3 - T4 đều được hóa xạ trị tiền phẫu, qua theo dõi đánh giá bước đầu, đa số các bệnh nhân cho đáp ứng tốt, đặc biệt có 20/38

BN (52,6%) sau hóa xạ trị tiền phẫu đều giảm giai đoạn của khối u, nâng cao tỉ lệ phẫu thuật triệt căn khối u, giúp bảo tồn cơ thắt hậu môn được tối đa[3],[5]

Kết quả phẫu thuật nội soi điều trị UTTT

Đối với UTTT, do đặc điểm giải phẫu trực tràng nằm trong chậu hông bé, phẫu trường sâu và hẹp nên khó thao tác khi phẫu thuật mở Trong phẫu thuật nội soi, nhờ camera nội soi khuếch đại hình ảnh lên 4 - 6 lần, nguồn sáng tốt nên phẫu thuật viên

có thể quan sát rõ ràng, phẫu thuật chính xác ở mọi

vị trí sâu trong tiểu khung Các cấu trúc giải phẫu được nhận định rõ ràng hơn tạo điều kiện thực hiện các kỹ thuật cắt toàn bộ mạc treo trực tràng, bảo tồn thần kinh tự động vùng chậu, thực hiện miệng nối trực tràng ở thấp Ngày nay, loại trừ những trường hợp có chống chỉ định của gây mê, bơm hơi ổ bụng, thì hẫu hết các BN UTTT có chỉ định phẫu thuật triệt căn đều có thể thực hiện được bằng phẫu thuật nội soi và cho kết quả tốt[4],[6]

Trong NC này, chúng tôi có 21 BN (55,3%) thực hiện phẫu thuật cắt trước và cắt trước thấp, những

BN này đều có khối u cách rìa hậu môn trên 6cm và khối u chỉ ở giai đoạn T1 và T2 Có 8 BN (21%) thực hiện miệng nối đại tràng với ống hậu môn, bảo tồn

cơ thắt hậu môn cho người bệnh, có 1 số BN khối u lúc vào viện xâm lấn cơ thắt nhưng được hóa xạ trị tiền phẫu giúp nâng cao tỉ lệ bảo tồn cơ thắt, với các

BN này chúng tôi cũng không làm hậu môn nhân tạo bảo vệ, hậu phẫu đều cho kết quả tốt, có 2BN (5,3%) có biểu hiện xì rò miệng nối khi làm miệng nối cắt trước thấp được phát hiện vào ngày thứ 7 sau

Trang 5

dưỡng tĩnh mạch, sau 10 ngày miệng nối liền hoàn

toàn Trong NC của Nguyễn Hoàng Bắc và cộng sự

có 53 trường hợp cắt trước thấp nội soi và nối máy,

tác giả có 6 trường hợp (11,3%) bị bục xì miệng nối,

trong 53 trường hợp này, có một số trường hợp

được mở thông hỗng tràng nếu xét thấy nguy cơ bục

miệng nối[7] Như vậy, trong cắt trực tràng trước

thấp, để bảo vệ miệng nối trực tràng - ống hậu môn,

mở thông hỗng tràng nên được thực hiện

Chỉ định phẫu thuật bảo tồn cơ thắt: Theo các

tài liệu kinh điển việc chỉ định phẫu thuật cắt trực

tràng và bảo tồn cơ thắt đã được các tác giả thống

nhất từ lâu, trong NC này chúng tôi phân tích làm rõ

hơn chỉ định phẫu thuật nội soi cắt trực tràng bảo tồn

cơ thắt trên nhóm đối tượng NC và cập nhật những

quan điểm mới của 1 số tác giả khác Vấn đề chỉ

định phẫu thuật bảo tồn cơ thắt phụ thuộc vào

những yếu tố: mô học khối u, kích thước, vị trí, giai

đoạn khối u, sự thành thạo của phẫu thuật viên, và

hiệu quả bước đầu của các phương pháp điều trị

ban đầu mang lại Sự lựa chọn kỹ các yếu tố trên là

chìa khóa kết quả điều trị mà người bệnh được

hưởng lợi

Thời gian trung bình cho từng phương pháp

phẫu thuật trong NC của chúng tôi là cắt trước và

cắt trước thấp: 141,6 ± 31,8 phút, cắt trực tràng bảo

tồn cơ thắt, nối đại tràng - OHM: 174,6 ± 40,1 (phút),

cắt cụt trực tràng (phẫu thuật Miles nội soi):

160,5 ± 30,8 (phút), thời gian phẫu thuật trung bình

chung của cả NC: 156,4 ± 36,2 (phút) Thời gian

trung bình của phương pháp cắt cụt trực tràng trong

NC của Phạm Văn Bình và cộng sự là: 160 phút[9]

Trong phẫu thuật điều trị ung thư trực tràng thì phẫu

thuật cắt trước thực hiện thường thuận lợi nhất, mất

ít thời gian hơn so với cắt cụt và cắt trước thấp Cắt

trước thấp cần phải lấy mạc treo trực tràng và bảo

tồn cơ thắt hậu môn nên kỹ thuật khó hơn, cần nhiều

thời gian hơn Chúng tôi có 3 BN nhiễm trùng vết

mổ, 1 BN chảy máu trong mổ do tổn thương đám rối

tĩnh mạch trước xương cùng được đốt cầm máu

bằng bipolar Một số tác giả có BN bị bí đái sau mổ

nhưng không rõ ở nam hay nữ và độ tuổi như thế

nào Trong NC của chúng tôi, 3BN bí đái sau mổ đều

là BN nam nhiều tuổi, có kèm theo phì đại ít nhiều

tiền liệt tuyến Không có trường hợp nào tử vong

trong NC của chúng tôi

Thời gian nằm viện trung bình của cả nhóm

nghiên cứu là 8,4 ngày

KẾT LUẬN

Điều trị UTTT là sự kết hợp của nhiều phương

pháp, trong đó phẫu thuật nội soi là phẫu thuật có

vai trò chủ đạo, phẫu thuật nội soi cắt toàn bộ mạc treo trực tràng, bảo tồn cơ thắt hậu môn, cho kết quả tốt về mặt ung thư học đối với khối u cách rìa hậu môn ≥6cm, các yếu tố giai đoạn bệnh, kích thước khối u với rìa hậu môn liên quan chặt chẽ tới chỉ định điều trị UTTT

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Park IJ, Kim JC (2010) “Adequate length of the distal resection margin in rectal cancer: from the oncological point of view” J Gastrointest Surg Aug, 14 (8):1331 - 7

2 Võ Quốc Hưng (2004), Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học và đánh giá kết quả đáp ứng xạ trị trước mổ của UTTT tại Bệnh viện K, Luận văn thạc sỹ y học, Trường Đại học

Y Hà Nội

3 Marusch F,: Koch A, Schmidt U (2002)”Impact of age on outcome after colorectal cancer surgery

in the elderly - a developing country perspective.” Dis Colon Rectum May, 17 (3):

177 - 84

4 Jean-Pierre Gerard, Yousri Rostom, Jocelyn Gal,

et al (2012), “Can we increase the chance of sphincter saving surgery in rectal cancer with neoadjuvant treatments: Lessons from a systematic review of recent randomizes trial”, Critical reviews in Oncology/Hematology, Elsevier, (81), pp 21 - 28

5 Nguyễn Bá Đức (2000), “Ung thư đại tràng-trực tràng”, Hóa chất điều trị bệnh ung thư, NXB Y học, tr 87 - 95

6 Park IJ, Kim JC (2010) “Adequate length of the distal resection margin in rectal cancer: from the oncological point of view”J Gastrointest Surg Aug, 14 (8) :1331 - 7

7 Nguyễn Hoàng Bắc, Nguyễn Hữu Thịnh và Nguyễn Quốc Thái Tai biến và biến chứng phẫu thuật nội soi cắt nối máy điều trị ung thư trực tràng Y học Thành phố Hồ Chí Minh 2010;

14, phụ bản của Số1:119 - 23

8 Phạm Văn Bình* Nguyễn Văn Hiếu*, Nguyễn Văn Xuyên**, Hoàng Mạnh Thắng*, Nguyễn Hoàng Minh*, Trịnh Lê Huy* Kết quả bước đầu phẫu thuật nội soi cắt cụt trực tràng đường bụng tầng sinh môn điều trị ung thư trực tràng thấp tại bệnh viện K Tạp chí Y Học thực hành 2010; 5:

37 - 43

Trang 6

SUMMARY

Review results of laparoscopy surgery for rectal cancer at Nghe An Oncology Hospital

Background: Rectal cancer is a common disease The quantity of rectal cancer patients is increasing

Surgical treatment is the main treatment

Objects: To evaluate the value of technics of laparoscopic assisted colorectal excision for cololorectal

cancers

Methods: Cross - sectional study on rectal cancer patients who underwent laparoscopic surgery from

5/2019 - 8/2020 at Nghe An Oncology Hospital

Results: Total 38 patients, 20 males and 18 female Mean age 50,4 ± 11,8 T1 rate 15,7%, T2 rate 47,4%,

T3 rate 28,9% and T4 rate 9% Laparoscopic anterior resection for 28,9% patients, laparoscopic low anterior resection for 47,4% patients and Miles procedure for 23,7% patients Conversional rate 0% Mean operating time was 90,6 ± 32,4 minutes for laparoscopic anterior resection, 115,3 ± 26,3 minutes for laparoscopic low anterior resection and 120,5 ± 30,8 minutes for Miles procedure, had complications during surgery and early postoperative complications was 4/38 patients (representing 10.5%) Death rate 0% Mean hospital stay 8,4 ± 3,6

Conclusion: Laparoscopy surgery is effectively and safety on rectal cancer

Keywords: Rectal cancer, laparoscopic

Ngày đăng: 04/08/2021, 14:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w