1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc điểm lâm sàng và điều trị phẫu thuật bệnh nhân ung thư dạ dày tại Bệnh viện Ung Bướu Tp. HCM

7 20 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 247,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày phân tích các thay đổi về đặc điểm lâm sàng và điều trị phẫu thuật của các bệnh nhân ung thư (UT) dạ dày tại bệnh viện Ung Bướu TP. HCM trong 15 năm qua (2004 - 2019).

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT

BỆNH NHÂN UNG THƯ DẠ DÀY TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU TP HCM

PHẠM HÙNG CƯỜNG1, NGUYỄN TUẤN HƯNG2

Địa chỉ liên hệ: Phạm Hùng Cường

Email: phcuongvn@yahoo.com Ngày nhận bài Ngày phản biện : 01/10/2020 : 03/11/2020

Ngày chấp nhận đăng : 05/11/2020

1 PGS.TS.BSCKII Trưởng Khoa Ngoại ngực, bụng - Bệnh viện Ung Bướu TP HCM,

Phó Trưởng Bộ môn Ung thư - ĐHYD TP HCM

2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo Globocan năm 2018, ung thư (UT) dạ dày

loại carcinôm tuyến là UT thường gặp hàng thứ ba

tại Việt Nam với 17.527 ca mới[10] Theo kết quả ghi

nhận UT quần thể tại TPHCM năm 2016, UT dạ dày

là UT thường gặp đứng hàng thứ tư ở nam và thứ

chín ở nữ với xuất độ chuẩn theo tuổi lần lượt là

10,0 và 3,5/100.000 dân[15]

Tần xuất mắc bệnh UT dạ dày có xu hướng

giảm dần trong vài thập niên qua, đặc biệt là các

bệnh nhân trẻ với bướu nguyên phát ở vùng hang vị

tại Nhật[4] Một nghiên cứu tại Hoa Kỳ lại ghi nhận

gia tăng đáng kể của UT dạ dày ở người trẻ với các

bướu vùng thân vị trong giai đoạn 1999 - 2007[16]

Điều trị UT dạ dày cần phải phối hợp đa mô thức, trong đó phẫu thuật giữ vai trò quan trọng giúp điều trị khỏi UT dạ dày[5,17]

Ghi nhận trong một nghiên cứu thực hiện tại bệnh viện Ung Bướu TP.HCM 01/2000 - 12/2004[7]: tuổi mắc bệnh thường gặp là 50 - 69 với bướu nguyên phát thường gặp ở 1/3 dưới dạ dày và tỉ lệ cắt được dạ dày chỉ là 47% Mười lăm năm đã trôi qua (2004 - 2019), đặc điểm lâm sàng và điều trị phẫu thuật bệnh nhân UT dạ dày tại bệnh viện Ung Bướu TPHCM có gì thay đổi?

Chúng tôi thực hiện công trình này nhằm

mục tiêu: Phân tích các thay đổi về đặc điểm lâm sàng và điều trị phẫu thuật bệnh nhân UT dạ dày tại

TÓM TẮT

Mục đích: Phân tích các thay đổi về đặc điểm lâm sàng và điều trị phẫu thuật của các bệnh nhân ung

thư (UT) dạ dày tại bệnh viện Ung Bướu TP HCM trong 15 năm qua (2004 - 2019)

Bệnh nhân và phương pháp: Hồi cứu các trường hợp UT dạ dày loại carcinôm tuyến được điều trị

tại Khoa Ngoại 2, bệnh viện Ung Bướu TP HCM trong năm 2019 So sánh với các bệnh nhân UT dạ dày được điều trị phẫu thuật tại bệnh viện Ung Bướu TPHCM 01/2000 - 12/2004 (nhóm 2004)

Kết quả: So với nhóm 2004, không có sự khác biệt về giới tính, vị trí bướu nguyên phát và grad

mô học của các bệnh nhân (p >0,05); tuy nhiên, tỉ lệ mổ cắt dạ dày cao hơn đáng kể (83% so với 47%,

p < 0,001)

Có 98% bệnh nhân UT dạ dày giai đoạn I - III và 39,5% bệnh nhân UT dạ dày giai đoạn IV được mổ cắt dạ dày, cao hơn đáng kể so với 68% và 12% của các bệnh nhân nhóm 2004 (p <0,001)

Kết luận: Trong 15 năm qua (2004 - 2019), tại bệnh viện Ung Bướu TP HCM:

- Không ghi nhận sự gia tăng của nhóm tuổi trẻ < 40, cũng như sự gia tăng tần xuất của UT dạ dày 1/3 trên

- Tỉ lệ mổ cắt dạ dày cao hơn hẳn ở mọi giai đoạn bệnh của UT dạ dày, từ giai đoạn I đến giai đoạn IV

Trang 2

bệnh viện Ung Bướu TPHCM trong 15 năm qua

(2004 - 2019)

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Các bệnh nhân UT dạ dày loại carcinôm tuyến

điều trị phẫu thuật tại Khoa Ngoại 2, Bệnh viện Ung

Bướu TPHCM trong năm 2019

Phương pháp nghiên cứu

Hồi cứu, mô tả cắt ngang

Theo dõi bệnh nhân dựa vào hồ sơ bệnh án

Các biến số chính

Giai đoạn bệnh: Được xác định theo hệ thống

xếp giai đoạn pTNM của AJCC phiên bản 8, năm

2017[2]

Grad mô học của bướu: Grad 3 bao gồm các

loại giải phẫu bệnh như carcinôm tuyến grad 3,

carcinôm tế bào nhẫn (gần đây có tên gọi khác là

carcinôm kém kết dính: Poorly cohesive carcinoma),

carcinôm tiết nhày, carcinôm hỗn hợp

Các loại phẫu thuật cắt dạ dày:

- Cắt phần xa dạ dày (distal gastrectomy)

- Cắt phần gần dạ dày (proximal gastrectomy)

- Cắt toàn phần dạ dày (total gastrectomy)

Số liệu được ghi nhận vào bảng thu thập số liệu Nhập và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0 for Windows và Minitab 16

So sánh số liệu từng cặp giữa các bệnh nhân trong nghiên cứu này và các bệnh nhân UT dạ dày được điều trị phẫu thuật tại Bệnh viện Ung Bướu TPHCM năm 2000 - 2004[7]

Giá trị p < 0,05 được chọn là có ý nghĩa thống

kê, với độ tin cậy 95%

Mối tương quan giữa hai biến số định lượng

được kiểm định bằng phép kiểm t

Mối tương quan giữa hai biến số định tính được kiểm định bằng phép kiểm Chi bình phương (2) Bàn luận và so sánh với y văn

KẾT QUẢ

Các đặc điểm của các bệnh nhân trong nghiên cứu này và các bệnh nhân UT dạ dày được điều trị tại bệnh viện Ung Bướu TPHCM 2000 - 2004 (nhóm 2004) được trình bày trong bảng 1:

Bảng 1 Các đặc điểm dịch tễ học và lâm sàng

(nhỏ nhất 33, lớn nhất 83 tuổi) (nhỏ nhất 20, lớn nhất 86 tuổi) Tuổi trung bình 57  13 0,171

Trang 3

I 23 (15%) 41 (11%)

+ Không có sự khác biệt về giới tính, vị trí bướu nguyên phát, grad mô học của các bệnh nhân giữa hai nhóm nghiên cứu (p >0,05)

+ Các bệnh nhân trong nghiên cứu này có các bệnh nhân trẻ <40 tuổi ít hơn (4% so với 11%, p = 0,015)

và giai đoạn bệnh sớm hơn (15% giai đoạn I so với 11%, p = 0,044) Đặc biệt, tỉ lệ mổ cắt dạ dày trong nhóm nghiên cứu này cao hơn đáng kể (84% so với 47%, p < 0,001)

Chi tiết giai đoạn bệnh của các bệnh nhân UT dạ dày được mổ cắt dạ dày được trình bày trong bảng 2

Bảng 2 Giai đoạn bệnh và phẫu thuật cắt dạ dày

Có sự khác biệt đáng kể về giai đoạn bệnh và phẫu thuật cắt dạ dày (p < 0,001)

Tỉ lệ mổ cắt dạ dày các bệnh nhân UT dạ dày giai đoạn I - III là 98% cao hơn đáng kể so với 68% của nhóm 2004 (p < 0,001)

Có 39,5% các bệnh nhân UT dạ dày giai đoạn IV được mổ cắt dạ dày, cao hơn đáng kể so với 12% của các bệnh nhân nhóm 2004 (p < 0,001)

BÀN LUẬN

Đặc điểm lâm sàng các bệnh nhân UT dạ dày

Về tuổi và giới

UT dạ dày thường gặp ở tuổi 60 - 80, nam

thường mắc bệnh nhiều hơn nữ 2 lần[16] Theo một

nghiên cứu mới công bố năm 2019 của Bergquist[3],

các bệnh nhân UT dạ dày tuổi trẻ ≤ 40 chiếm tỉ lệ

3,5%

Tại Hoa Kỳ[4], tần xuất UT dạ dày có xu hướng

giảm ở người 40 tuổi trở lên nhưng lại tăng ở người

dưới 40 tuổi

Trong nghiên cứu này (theo Bảng 1):

+ Tuổi trung bình của bệnh nhân là 59, hơi thấp hơn so với tuổi thường gặp tại các nước Âu Mỹ (p < 0,001); nhưng nhóm tuổi trẻ < 40 là 4%, không khác so với y văn

+ Tỉ lệ nam/nữ là 2,5 (109/44), không khác với y văn (p = 0,232)

So với nhóm 2004, bệnh nhân trong nghiên cứu này không có sự gia tăng của nhóm tuổi trẻ < 40, thậm chí còn giảm đi (4% so với 11%, p = 0,015)

Về vị trí bướu nguyên phát

Sự khác biệt về vị trí bướu nguyên phát ở các bệnh nhân UT dạ dày ở châu Á và các nước Âu - Mỹ

đã được ghi nhận từ lâu Đa số UT dạ dày ở châu Á

Trang 4

nằm ở phần xa của dạ dày (hang - môn vị), trong khi

đó tại các nước Âu - Mỹ lại ở phần gần của dạ dày

(tâm - đáy vị)[8]

Nhiều nghiên cứu cho thấy có sự gia tăng tỉ lệ

của các UT tâm vị và giảm các UT hang - môn vị

trong vài thập niên qua[1]

Theo Honda[11], tại Nhật, tỉ lệ bướu nguyên phát

ở vùng hang - môn vị giảm rõ (từ > 70% xuống còn

30%), trong khi tỉ lệ bướu thân vị lại gia tăng

Tại Hoa Kỳ, bướu nguyên phát ở 1/3 trên dạ dày

thường gặp hơn ở 1/3 dưới dạ dày; trong khi nhóm

dân gốc châu Á tại Hoa Kỳ lại có bướu nguyên phát

ở hang-môn vị cao hơn

Tại Hàn Quốc[8], tỉ lệ UT hang - môn vị giảm từ

58% trong năm 1999 xuống còn 50,6% trong năm

2014

Trong nghiên cứu này (theo Bảng 1), đa số

bệnh nhân có bướu nguyên phát ở 1/3 dưới dạ dày

(75%), tương tự với các bệnh nhân UT dạ dày tại

các nước châu Á

So với nhóm 2004, không ghi nhận có sự gia

tăng tần xuất của UT dạ dày 1/3 trên như y văn đã

nêu

Về grad mô học của bướu

Tỉ lệ bệnh nhân UT dạ dày có grad mô học là

grad 3 trong một nghiên cứu trên 3.818 bệnh nhân

tại Nhật là 46%[12], trong một nghiên cứu trên 78.625

bệnh nhân tại Hoa Kỳ là 43%[11]

Trong nghiên cứu này (theo Bảng 1), grad mô

học của bướu là grad 3 chiếm tỉ lệ 59%, không khác

so với nhóm 2004, nhưng cao hơn đáng kể so với

các nghiên cứu trên (lần lượt, p = 0,01 và p < 0,001)

Về giai đoạn bệnh

Ở hầu hết các quốc gia, bệnh nhân UT dạ dày

thường nhập viện ở giai đoạn tiến xa (giai đoạn

III - IV), trừ các quốc gia có chương trình tầm soát

UT dạ dày như Nhật, Hàn Quốc[5]

Trong nghiên cứu này (theo Bảng 1), đa số

bệnh nhân ở giai đoạn tiến xa (61% giai đoạn III -

IV), hơi ít hơn so với nhóm 2004, nhưng không khác

so với y văn

Phẫu thuật cắt dạ dày các bệnh nhân UT dạ dày

theo các giai đoạn bệnh

Phẫu thuật giữ vai trò quan trọng giúp điều trị

khỏi UT dạ dày Phẫu trị nên bao gồm cắt dạ dày với

diện cắt thích hợp và nạo hạch hợp lý Tuy nhiên,

các bệnh nhân UT dạ dày giai đoạn từ IB trở lên

thường hay tái phát sau mổ, nên hóa trị có thể kết

hợp xạ trị (hoặc không) cần phải dùng thêm trước hoặc sau mổ các bệnh nhân giai đoạn IB - III[5] Theo các hướng dẫn điều trị[17], cắt dạ dày kết hợp nạo hạch là điều trị lựa chọn cho bệnh nhân UT

dạ dày giai đoạn I - III

Trong nghiên cứu này (theo Bảng 2), 100% các bệnh nhân giai đoạn I - II và 96,4% các bệnh nhân giai đoạn III được mổ cắt dạ dày và nạo hạch, tương

tự với y văn

Tỉ lệ mổ cắt dạ dày các bệnh nhân UT dạ dày giai đoạn I - III cao hơn đáng kể so với nhóm 2004 (98% so với 68%, p < 0,001)

Khi UT dạ dày đã di căn xa (giai đoạn IV), hóa trị nên được dùng trước tiên, phẫu thuật chỉ nên giới hạn trong việc điều trị triệu chứng các khối u gây tắc nghẽn hoặc chảy máu Phẫu thuật không triệt để không giúp bệnh nhân sống còn lâu hơn mà có thể còn làm giảm chất lượng sống của bệnh nhân[5] Theo Isobe[12], khảo sát 3.818 bệnh nhân UT dạ dày từ 1997 - 2006 tại Nhật với 3.563 ca mổ cắt dạ dày, số ca mổ cắt dạ dày không triệt để chiếm 20% Cắt dạ dày được xem là không triệt để khi diện cắt còn tế bào UT hoặc khi bướu đã di căn xa (M1) Trước năm 2016, y văn vẫn còn tranh cãi về chỉ định cắt dạ dày trên bệnh nhân UT dạ dày giai đoạn IV Mahar[14] xem xét lại 59 nghiên cứu, trong đó đa

số là hồi cứu Kết quả cho thấy chỉ 1/5 trường hợp chỉ định mổ do có triệu chứng (hẹp môn vị, xuất huyết tiêu hóa nặng hoặc thủng dạ dày), tỉ lệ biến chứng và tử vong khá cao, trung vị thời gian sống

còn kém (5 - 24 tháng) Kết luận rút ra là: Sống còn không cải thiện rõ khi cắt dạ dày không triệt để

Sun[18] thực hiện phân tích hậu kiểm 14 nghiên cứu với 3.003 bệnh nhân (T4 hoặc N3 hoặc M1), tất

cả là hồi cứu Kết luận rút ra là: Cắt dạ dày không triệt để giúp cải thiện sống còn các bn UT dạ dày tiến xa, ngay cả khi đã di căn xa (giai đoạn IV), đặc biệt là di căn gan

Lasithiotakis[13] thực hiện phân tích hậu kiểm 19 nghiên cứu với 2.911 bệnh nhân (M1), trong đó 18 là hồi cứu Tỉ lệ biến chứng và tử vong sau mổ lần lượt

là 27% và 14% Kết luận rút ra là: Cắt dạ dày các bệnh nhân UT dạ dày giai đoạn IV giúp cải thiện sống còn và chất lượng sống Tuy nhiên, cần phải xác định thêm bằng những nghiên cứu đối chứng ngẫu nhiên

Năm 2016 đã công bố kết quả của một nghiên cứu đối chứng ngẫu nhiên là thử nghiệm REGATTA[9] Thử nghiệm này được thực hiện tại ba quốc gia châu Á là Hàn Quốc, Nhật và Singapore từ

Trang 5

2/2008 đến 9/2013 trên 175 bệnh nhân UT dạ dày

giai đoạn IV với di căn ở một vị trí (gan hoặc hạch

cạnh động mạch chủ bụng hoặc phúc mạc) Kết quả

ghi nhận: trung vị sống còn toàn bộ của các bệnh

nhân hóa trị đơn thuần là 16,6 tháng cao hơn 14,3

tháng của các bệnh nhân được cắt dạ dày và hóa trị

Kết luận rút ra là: Không nên cắt dạ dày và hóa trị

các bệnh nhân UT dạ dày giai đoạn IV, ngay cả khi

chỉ di căn một vị trí Hóa trị đơn thuần vẫn là điều trị

chuẩn những bệnh nhân này

Sau thử nghiệm REGATTA, tưởng rằng mọi

tranh cãi về cắt dạ dày ở bệnh nhân UT dạ dày giai

đoạn IV đã chấm dứt Nhưng mới đây, năm 2019,

Choi tại Hàn Quốc đã trở lại đề tài này với một công

trình hồi cứu trên 689 bệnh nhân UT dạ dày có di

căn xa[6] 131 bệnh nhân (89 di căn xa ngay từ đầu

và 42 tái phát di căn) được phẫu thuật với: 75 cắt dạ

dày, 42 cắt bướu di căn và 14 cắt dạ dày và cắt

bướu di căn Kết quả ghi nhận: trung vị thời gian

sống còn toàn bộ của các bệnh nhân được phẫu

thuật cao hơn hẳn so với các bệnh nhân chỉ hóa trị

(18 tháng so với 9 tháng, p < 0,0001), các bệnh

nhân có thể cắt bỏ hoàn toàn bướu về đại thể có

trung vị thời gian sống còn toàn bộ còn tốt hơn nữa

(30 tháng so với 15 tháng, p = 0,002) Kết luận rút ra

là: Nên cân nhắc phẫu thuật các bệnh nhân UT dạ

dày có di căn xa trước khi hóa trị, đặc biệt khi có thể

cắt bỏ hoàn toàn bướu về đại thể

Trong nghiên cứu này (theo Bảng 2), tỉ lệ cắt dạ

dày ở các bệnh nhân UT dạ dày giai đoạn IV là

39,5%, cao hơn đáng kể so với 12% của các bệnh

nhân nhóm 2004 (p < 0,001)

Tất cả các bệnh nhân giai đoạn IV được cắt dạ

dày đều là cắt dạ dày triệu chứng Các bệnh nhân

được chỉ định mổ khi đã có các triệu chứng đe doạ

hoặc rõ hẹp môn vị (bướu tiền môn vị lớn không thể

đưa ống soi qua môn vị vào tá tràng, hoặc có đọng

thức ăn trong dạ dày khi soi, hoặc ói muộn sau ăn),

hoặc xuất huyết tiêu hóa nặng phải truyền máu

thường xuyên Cắt dạ dày là phương pháp điều trị

triệu chứng nhanh và hiệu quả nhất

Do nghiên cứu này không có thời gian theo dõi

kết quả lâu dài, nên chúng tôi xem xét kết quả sống

còn toàn bộ của các bệnh nhân UT dạ dày giai đoạn

IV được cắt dạ dày của nhóm 2004

Trong nhóm 2004 có 135 bệnh nhân UT dạ dày

giai đoạn IV, trong đó 16 bệnh nhân được mổ cắt dạ

dày (12%) Trong thời gian theo dõi, có 28 ca tử

vong với 26 ca không mổ cắt dạ dày (22%) và 2 ca

có mổ cắt dạ dày (12%)[7]

Biểu đồ 1 Đường biểu diễn thời gian sống còn toàn

bộ theo yếu tố mổ cắt dạ dày ở các bệnh nhân UT

dạ dày giai đoạn IV [7]

Từ Biểu đồ 1 và các số liệu đã nêu, có thể thấy các bệnh nhân UT dạ dày giai đoạn IV nếu cắt dạ dày được sẽ có trung bình thời gian sống còn toàn

bộ tốt hơn (38 tháng so với 16 tháng), dù chưa đạt ngưỡng có ý nghĩa thống kê (p >0,05)

KẾT LUẬN

Trong 15 năm qua (2004 - 2019), tại bệnh viện Ung Bướu TP HCM:

- Không ghi nhận sự gia tăng của nhóm tuổi trẻ

< 40, cũng như sự gia tăng tần xuất của UT dạ dày 1/3 trên

- Tỉ lệ mổ cắt dạ dày cao hơn hẳn ở mọi giai đoạn bệnh của UT dạ dày, từ giai đoạn I đến giai đoạn IV

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Abdi-Rad A et al (2006) “Trend in incidence of gastric adenocarcinoma by tumor location from 1969–2004: a study in one referral center in Iran” Diagn Pathol; 1: 5

2 Ajani J.A et al (2017) “Stomach” In: Amin M.B (Editor-in-Chief) AJCC Cancer Staging Manual Springer, 8th edition, pp 203 - 220

3 Bergquist J.R et al (2019) “Early-onset gastric cancer is a distinct disease with worrisome trends and oncogenic features” Surgery; 166(4):

547 - 555

Trang 6

4 Carmago M.C et al (2011) “Divergent trends for

gastric cancer incidence by anatomical subsite in

US adults” Gut; 60(12): 1644 - 1649

5 Chan E.E., George T.J (2014) “Gastric

Cancers” In: Abraham J., Gulley J.L., Allegra

C.J (Editors) The Bethesda Handbook of

Clinical Oncology Lippincott Williams & Wilkins,

4th edition, pp 89 - 108

6 Choi Y.W et al (2019) “The role of surgical

resection before palliative chemotherapy in

advanced gastric cancer” Sci Rep; 9: 4136

7 Diệp Bảo Tuấn (2005) “Ung thư dạ dày: chẩn

đoán và điều trị” Đại học Y Dược Thành phố Hồ

Chí Minh, Luận án Bác sĩ Chuyên khoa cấp II

8 Eom B.W et al (2018) “Trends in Gastric

Cancer Incidence According to the

Clinicopathological Characteristics in Korea,

1999 - 2014” Cancer Res Treat; 50(4):

1343 - 1350

9 Fujitani K et al (2016) “Gastrectomy plus

chemotherapy versus chemotherapy alone for

advanced gastric cancer with a single

non-curable factor (REGATTA): a phase 3,

randomized controlled trial” Lancet Oncol; 17

(3): 309 - 318

(https://gco.iarc.fr/today/data/factsheets/populati

ons/704-viet-nam-fact-sheets.pdf)

11 Honda M et al (2017) “Long-term Trends in

Primary Sites of Gastric Adenocarcinoma in

Japan and the United States” J Cancer; 8(11): 1935-1942

12 Isobe T et al (2013) “Characteristics and prognosis of gastric cancer in young patients” Oncol Rep; 30: 43 - 49

13 Lasithiotakis K et al (2014) “Gastrectomy for stage IV gastric cancer: a systematic review ang meta-analysis” AntiCancer Res; 34: 2079 -

2086

14 Mahar A.L et al (2012) “A systematic review of surgery for non-curative gastric cancer” Gastric Cancer; 15 (Suppl 1):S125 - S137

15 Phạm Xuân Dũng, Đặng Huy Quốc Thịnh, Bùi Đức Tùng, Quách Thanh Khánh và cs (2019)

"Kết quả ghi nhận ung thư quần thể thành phố

Hồ Chí Minh 2016" Tạp chí Ung thư học Việt Nam; số 5, tr.23- 29

16 Sitarz R et al (2018) “Gastric cancer: epidemiology, prevention, classification and treatment” Cancer Manag Res; 10: 239-248

17 Smyth E.C et al (2016) “Gastric Cancer: ESMO Clinical Practice Guidelines for Diagnosis, Treatment and Follow-up” Ann Oncol; 27 (Suppl 5): v38-v49

18 Sun J et al (2013) “Clinical significance of palliative gastrectomy on the survival of patients with incurable advanced gastric cancer: a systematic review and meta-analysis” BMC Cancer; 13: 577

Trang 7

SUMMARY

Clinicopathological features of and surgical treatment on patients

with gastric cancer at HCMC Oncology Hospital Purpose: To analyse changes in clinicopathological features of and surgical treatment on patients with

gastric cancer (GC) at HCMC Oncology Hospital in the last 15 years (2004 - 2019)

Patients and methods: Medical records of patients with gastric carcinoma operated on 2019 at Surgery

Department No 2, HCMC Oncology Hospital were studied retrospectively Data will be compared to that of cases with gastric carcinoma also operated on at HCMC Oncology Hospital from January, 2000 through December, 2004 (2004 group)

Results: Compared with 2004 group, there was no difference in terms of gender, tumor location in stomach

and tumor grade (p > 0.05); especially, the rate of gastrectomy for patients with GC significantly increased (83% vs 47%, p < 0.001)

Gastrectomy procedures were performed for 98% stage I-III and 39.5% stage IV GC patients, the rate of them was significant higher than 68% and 12%, respectively in 2004 group (p < 0.001)

Conclusion: There was no increasing in prevalence of GC among younger adults (aged less than 40

years) as well as of GC with tumors located in the upper third of stomach at HCMC Oncology Hospital in the last 15 years (2004 - 2019) The proportion of gastrectomy for patients with GC significantly increased in all of stages, from localized to metastatic stage

Keywords: Clinicopathological features, gastric cancer, gastrectomy

Ngày đăng: 04/08/2021, 14:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w