Bài viết trình bày nghiên cứu này nhằm mục tiêu xác định tỉ lệ điều trị thành công, tỉ lệ cường giáp tồn tại sau điều trị phóng xạ và như tỉ lệ cần tái điều trị sau liều điều trị đầu tiên cũng như phân tích mô tả những đặc điểm của các bệnh nhân đã điều trị thành công.
Trang 1HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ CƯỜNG GIÁP BẰNG IOD PHÓNG XẠ TẠI KHOA Y HỌC HẠT NHÂN BỆNH VIỆN UNG BƯỚU
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2019
LÊ BÁ PHƯỚC1, NGUYỄN HUỲNH KHÁNH AN1, VÕ KHẮC NAM2
Địa chỉ liên hệ: Lê Bá Phước
Email: khanhlinh20181509@gmail.com Ngày nhận bài: 08/10/2020 Ngày phản biện: 03/11/2020
Ngày chấp nhận đăng: 05/11/2020
1 Bác sĩ điều trị khoa Y Học Hạt Nhân, Bệnh viện Ung Bướu TP HCM
2 ThS.BS Trưởng khoa Y Học Hạt Nhân, Bệnh viện Ung Bướu TP HCM
GIỚI THIỆU
Nhiễm độc giáp là bệnh cảnh thường gặp ở nữ
giới, gây các biến chứng nghiêm trọng Có nhiều
nguyên nhân gây ra nhiễm độc giáp, nhưng phần
lớn đến từ hai nguyên nhân chính là bệnh lý
Basedow do cơ chế tự miễn và bệnh đơn nhân/ đa
nhân giáp hóa độc Gây ra bệnh cảnh cường giáp
với việc tăng tiết hormon giáp vào tuần hoàn khiến
bệnh nhân có những triệu chứng như hồi hộp, đánh
trống ngực, run đầu chi, lồi mắt ảnh hưởng đến
chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Những mô
thức điều trị cường giáp bào gồm thuốc kháng giáp, phẫu thuật và Iod phóng xạ
Theo ATA 2016, mục tiêu khi điều trị Iod phóng
xạ là đưa bệnh nhân đạt được suy giáp trong bệnh cảnh Basedow hoặc giảm tình trạng cường giáp trong bệnh cảnh nhân giáp độc Khi bệnh nhân đạt suy suy giáp sau điều trị phóng xạ, chỉ cần cho bệnh nhân sử dụng hormon giáp tổng hợp nhằm đạt được trạng thái bình giáp cho bệnh nhân
Liều điều trị I131 ngày nay có thể là liều cố định
từ 10 - 15mCi hoặc dùng liều tính toán dựa vào khối
TÓM TẮT
Giới thiệu: cường giáp là bệnh gây ra những ảnh hưởng sức khoẻ và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân với nhiều biến chứng nặng nề Phương pháp điều trị chính bao gồm thuốc kháng giáp, phẫu thuật và Iod phóng xạ Iod phóng xạ là một phương pháp có tiềm năng hiệu quả cao, đã được ứng dụng điều trị cường giáp
Mục tiêu: nghiên cứu này nhằm mục tiêu xác định tỉ lệ điều trị thành công, tỉ lệ cường giáp tồn tại sau
điều trị phóng xạ và như tỉ lệ cần tái điều trị sau liều điều trị đầu tiên cũng như phân tích mô tả những đặc điểm của các bệnh nhân đã điều trị thành công
Đối tượng và phương pháp: Tất cả những bệnh nhân cường giáp đang điều trị tại khoa Y học hạt
nhân, đã được điều trị Iod phóng xạ và theo dõi ít nhất 3 tháng sau khi điều trị nhằm đánh giá hiệu quả Xử
lý số liệu với phần mềm SPSS 25.0 và MS excel
Kết quả: Nghiên cứu này thu nhận tổng cộng 89 bệnh nhân đạt đủ tiêu chuẩn với 73 bệnh nhân nữ
(82%) và 16 bệnh nhân nam (18%) Trong đó, có 69 bệnh nhân (77,53%) được chẩn đoán là basedow và
20 bệnh nhân (22,47%) được chẩn đoán là nhân giáp độc Liều I131 trung bình được sử dụng cho lần điều trị đầu tiên là 9,13mCi (± 3,778) Tỉ lệ thành công sau lần điều trị I131 lần đầu là 30,3% Số bệnh nhân phải điều trị Iod phóng xạ lần 2, lần 3 và lần 4 lần lượt là 30, 5 và 5 bệnh nhân Tỉ lệ điều trị thành công trong năm 2019 đạt 59,55% Tỉ lệ thành công sẽ tiếp tục gia tăng khi bệnh nhân được điều trị các đợt tiếp theo Trong nhóm bệnh nhân điều trị thành công, liều I131 trung bình là 13,83mCi và có số đợt điều trị trung bình là 1,64 lần
Kết luận: Cần có sự thay đổi trong chiến lược điều trị, hướng đến điều trị liều I131 cao hơn hiện tại để
tăng tỉ lệ thành công và rút ngắn thời gian điều trị đảm bảo chất lượng cuộc sống của bệnh nhân tốt hơn
Từ khoá: Nhiễm độc giáp, Iod phóng xạ, TP Hồ Chí Minh
Trang 2lượng tuyến giáp và độ tập trung I131 giờ thứ 12
hoặc thứ 24
Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm đánh
giá hiệu quả điều trị nhiễm độc giáp với Iod phóng xạ
theo công thức tình hoạt độ, đồng thời hồi cứu lại
hiệu quả đạt được đối với bệnh lý nhiễm độc giáp
trong năm 2019 để có những chiến lược điều trị hiệu
quả hơn trong tương lai
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán cường giáp
và điều trị bằng Iod phóng xạ trong năm 2019 tại
khoa Y học hạt nhân bệnh viện Ung Bướu thành phố
Hồ Chí Minh và được theo dõi sau đó đủ 3 tháng
Tiêu chuẩn loại trừ
Những bệnh nhân đươc loại khỏi nghiên cứu
gồm những bệnh nhân nào được chẩn đoán cường
giáp hoặc đa nhân giáp hóa độc đã hoàn tất điều trị
trước năm 2019, bệnh nhân chưa đủ thời gian
theo dõi sau điều trị, hoặc các bệnh nhân nhiễm độc giáp do viêm giáp, do thuốc, do ung thư tuyến giáp
di căn
Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế mô tả cắt ngang
Quy trình nghiên cứu
Bệnh nhân được chẩn đoán nhiễm độc giáp tất
cả đều đã điều trị đầu tay với thuốc kháng giáp tổng hợp hoặc kết hợp phẫu thuật giảm thể tích tuyến giáp nhưng thất bại sau thời gian theo dõi nên được nhập khoa Y Học Hạt Nhân xét chỉ định điều trị với Iod phóng xạ Sau khi thực hiện các cận lâm sàng với siêu âm đo thể tích tuyến giáp và xạ hình giáp đo
độ tập trung với I131, bệnh nhân được hội chẩn với
sự tham gia của nhiều bác sĩ có kinh nghiệm điều trị nhằm xác định hoạt độ phóng xạ điều trị cho bệnh nhân
Áp dụng công thức sau để tính hoạt độ sau:
Trong đó, trong lượng tuyến giáp được dựa vào
siêu âm đo thể tích tuyến giáp hoặc dựa vào khám
lâm sàng bởi chuyên gia Theo ATA, mục tiêu liều
hấp thu vào mô giáp từ 15 - 20Gy mới đạt được hiệu
quả điều trị, qua đó, mỗi gam tuyến giáp cần hấp thu
từ 0,15 - 0,2mCi Tại đơn vị của chúng tôi, áp dụng
hệ số là 0,16
Trước khi điều trị, bệnh nhân được dặn dò ăn
chế độ ăn ít Iod trong khoảng 10 - 14 ngày, đồng
thời ngưng thuốc kháng giáp tổng hợp Với
methiamazole, bệnh nhân được dặn ngưng thuốc từ
5 - 7 ngày, còn PTU, bệnh nhân được dặn ngưng 2
tuần Trước khi điều trị, bệnh nhân đều đã được xét
nghiệm beta hCG nhằm phát hiện bệnh nhân mang
thai
Sau khi điều trị, bệnh nhân được tái khám và
đánh giá lại chức năng tuyến giáp mỗi 1 - 2 tháng
Nếu thất bại với đợt trước, bệnh nhân sẽ được chờ
từ 4 - 6 tháng để có thể tiếp tục điều trị lại I131 đợt
tiếp theo Trong thời gian đó, bệnh nhân được sử
dụng thuốc kháng giáp nhằm giảm triệu chứng
nhiễm độc giáp Qua theo dõi, nếu bệnh nhân đang
không dùng kháng giáp mà đạt suy giáp hoặc bình
giáp trên chức năng tuyến giáp duy trì trong 02
tháng thì đánh giá bệnh nhân đã điều trị thành công
Các trường hợp hợp còn lại được xem là thất bại cần điều trị tiếp
Phương pháp thu thập số liệu
Lọc danh sách bệnh nhân qua hệ thống eHospital của bệnh viện Ung Bướu Sau đó tiến hành tìm hồ sơ và thu thập thông tin theo bẳng thu thập thông tin
Phương pháp phân tích số liệu
Xử lý số liệu qua phần mềm SPSS 25.0 và MS Excel
KẾT QUẢ Tổng quan
Qua khảo sát 139 hồ sơ bệnh án nhiễm độc giáp đang thuộc quản lý của khoa Y Học Hạt Nhân trong năm 2019, có 89 hồ sơ đạt đủ tiêu chí đề ra khi
là bệnh nhân được điều trị Iod phóng xạ vào năm
2019 và được theo dõi ít nhất 3 tháng sau khi điều trị Iod phóng xạ Dân số nghiên cứu có độ tuổi trung bình 41,08 ± 13,604 năm, có 73 bệnh nhân nữ và 16 bệnh nhân nam, tỉ số nữ/nam là 5,85:1 Như vậy, số lượng bệnh nhân nữ chiếm 82% tổng số bệnh nhân Trong đó, có 69 bệnh nhân chiếm 77,5% bệnh nhân được chẩn đoán là Basedow và có 20 bệnh nhân
Trang 3chiếm 22,5% bệnh nhân được chẩn đoán nhân giáp
độc Phần lớn bệnh nhân, hơn 95%, đã được điều trị
với kháng giáp trước đó, chỉ có 4 bệnh nhân là đã
từng phẫu thuật giảm thể tích tuyến giáp đồng thời
điều trị thuốc kháng giáp Với nhiều bệnh nhân có
thời gian mắc bệnh lâu, từ lúc được chẩn đoán, thất
bại với các phương pháp và được chuyển sang sử
dụng Iod phóng xạ khoảng 5,23 năm, với thời gian
lâu nhất là 20 năm
Trong tổng số 89 bệnh nhân, khi được tính toán
hoạt độ I131 điều trị, áp dụng trong lượng tuyến giáp
bằng kinh nghiệm của nhiều bác sĩ lâm sàng, có
nhiều nhiều kinh nghiệm trong điều trị cường giáp
thông qua hình thức hội chẩn Trong đó, trọng lượng
trung bình của các bệnh nhân này là 37,6 ± 15,74
gam Và có 60 bệnh nhân được khảo sát thêm bằng
cách tham khảo định lượng thể tích tuyến giáp qua
siêu âm, với thể tích trung bình là 31,04 ± 28,8ml
Độ tập trung Iod 131, trong 89 bệnh nhân này, đạt
được 0,80357 ± 0,132 Trong toàn bộ 89 bệnh nhân,
có 49 bệnh nhân chỉ điều trị 01 lần, 30 bệnh nhân
điều trị 02 lần, 5 bệnh nhân điều trị 03 lần, 5 bệnh
nhân điều trị 04 lần, chiếm lần lượt là 55,1%, 33,7%,
5,6% và 5,6% (bảng 1)
Bảng 1 Đặc điểm của các bệnh nhân nhiễm độc
giáp được điều trị I131 năm 2019
Đặc điểm Dữ liệu (%)
năm
Giới
Chẩn đoán
Điều trị trước đó
Kháng giáp và phẫu thuật 4(4,5%)
Thời gian nhiễm độc giáp đến I131 5,253 ± 4,546 năm
Thể tích tuyến giáp trên siêu âm 31,04 ± 28,804 ml
Trọng lượng tuyến giáp trên lâm
Số đợt điều trị
Trong năm 2019, 89 bệnh nhân nhiễm độc giáp điều trị I131, có 53 bệnh nhân khỏi bệnh chiếm tỉ lệ 59,55%, 36 bệnh nhân đã thất bại bước đầu với I131, đang trong thời gian chờ điều trị I131 đợt tiếp theo Trong số các bệnh nhân thành công sau điều trị, có 24 bệnh nhân đã được đưa về bình giáp và
29 bệnh nhân đã trở thành suy giáp cần bù hormon giáp
Bảng 2 Kết cục điều trị nhiễm độc giáp với I131
trong năm 2019
Kết cục Số bệnh nhân (%)
Thất bại đang chờ điều trị tiếp 36 (40,45%)
Phân tích dưới nhóm
Điều trị I131 lần 01
Sau khi điều trị I131 lần 01, trong 89 bệnh nhân thì chỉ có 27 bệnh nhân (chiếm 30,33%) đã điều trị thành công, với 10 bệnh nhân suy giáp (chiếm 37,03%), 17 bệnh nhân đạt bình giáp (62,97%) Với hoạt độ I131 trung bình là 9,13 (± 3,778) mCi
Bảng 3 Kết cục sau khi điều trị I131 lần 01
Đặc điểm Dữ liệu (%)
Số bệnh nhân đã điều trị I131 lần 01 89 bệnh nhân
Tỉ lệ thành công sau I131 lần 01 27 (30,33%)
Liều trung bình thành công sau đợt 01 8,63mCi Thất bại sau I131 lần 01 62 (69,67%) Trong 89 bệnh nhân đã điều trị I131, có 49 bệnh nhân chỉ trải qua 1 đợt điều trị và 27 bệnh nhân (30,33%) đã thành công đạt được mục tiêu khỏi bệnh là suy giáp hoặc bình giáp; còn 22 bệnh nhân vẫn đang trong thời gian chờ đủ thời gian để tiếp tục điều trị đợt 2
Như vậy, sau đợt điều trị đầu tiên, 62 bệnh nhân (69,67%) đã thất bại, cần điều trị tiếp tục những đợt kế tiếp Trong đó, 40 bệnh nhân được điều trị tiếp với các liều phóng xạ tiếp theo
Điều trị I131 đợt 02
Trong các bệnh nhân đã được tiếp tục điều trị,
có 30 bệnh nhân đã trải qua điều trị I131 lần 2, và có
Trang 421 bệnh nhân (70%) đã thành công, với liều I131
trung bình lần 2 này là 7,80 mCi( 3,18) và tổng 02
đợt có hoạt độ trung bình là 16,43mCi Trong đó,
sau điều trị, có 6 bệnh nhân (28,57%) bình giáp 15
bệnh nhân suy giáp (71,42%), 9 bệnh nhân thất bại
đang chờ điều trị đợt 3 Với các bệnh nhân đã điều
trị thành công, liều I131 trung bình là 17,28mCi
Bảng 4 Kết quả sau khi điều trị I131 đợt 2
Tổng số bệnh nhân điều trị I131 lần 2 30
Thành công sau I131 lần 2 21 (70%)
Tổng liều trung bình thành công đợt 2 17,28mCi
Điều trị I131 lần 03 và lần 04
Trong điều trị lần 3, 5 bệnh nhân đã được uống
I131 với liều trung bình 7,7 (1,947) mCi và có 02
bệnh nhân đã thành công, thất bại 03 bệnh nhân
đang chờ điều trị đợt 04 Thêm vào đó, trong số 05
bệnh nhân đã điều trị I131 04 lần, có 03 bệnh nhân
đã thành công không còn nhiễm độc giáp (bảng 6)
Bảng 5 Kết quả sau điều trị I131 đợt 3
Tổng số bệnh nhân điều trị I131 lần 3 5
Tổng liều trung bình sau 03 đợt 23,40mCi
Tổng số bệnh nhân điều trị I131 lần 4 5
Tổng liều trung bình sau 04 đợt 43,20mCi
Thành công sau điều trị I131
Với các bệnh nhân đã điều trị thành công, khi
khảo sát, trọng lượng tuyến giáo trung bình là
45,84g và độ tập trung trung bình là 0,792 Ngoài ra,
số lần điều trị trung bình của các bệnh nhân này là
1,64 đợt
Bảng 6 Đặc điểm của các bệnh nhân đã điều trị
thành công
Trọng lượng giáp trung bình trên lâm sàng 45,84 g
BÀN LUẬN
Nhiều hướng dẫn điều trị và các chuyên gia đều cho rằng khi điều trị nhiễm độc giáp với Iod phóng xạ cần cân bằng giữa hoạt độ điều trị và an toàn bức xạ đảm bảo sao cho vẫn đủ để đạt được mục tiêu là diệt bớt tế bào biểu mô giáp giúp cải thiện các triệu chứng, đưa về bình giáp hoặc suy giáp nhưng vẫn đảm bảo giảm thấp các nguy cơ về nhiễm phóng xạ không cần thiết cho cả bệnh nhân và thân nhân Hoạt độ trên mỗi gam tuyến giáp được nhiều hướng dẫn điều trị uy tín nhu Hiệp hội tuyến giáp Hoa Kì đề
ra từ 0,15 - 0,2mCi và nhận thấy tại khoảng liều này tính toán đạt được hoạt độ đạt được hiệu quả mong muốn
Nhiều nghiên cứu với hoạt độ I131 được tính toán cho thấy hiệu quả cao Chẳng hạn như kết quả hổi cứu trên 316 bệnh nhân Basedow tại Đại học Michigan, Mỹ cho thấy tỉ lệ thành công sau 01 đợt điều trị đạt 93% Tuy nhiên, khi khai thác các dữ liệu khác, tại nghiên cứu này, liều I131 trung bình là
trung bình của đợt điều trị đầu tiên là 9,13 ± 3,778mCi, chỉ bằng một nửa hoạt độ được sử dụng trong nghiên cứu trên
Trong dân số nghiên cứu thu nhận được, với tỉ
số nữ:nam là 4,56:1, độ tuổi trung bình là 41,06 năm
và có hơn 2/3 bệnh nhân được chẩn đoán Basedow, trong khi chưa đến 1/3 bệnh nhân còn lại được chẩn đoán nhiễm độc giáp do nhân giáp hóa độc Sự khác nhau về chẩn đoán dẫn đến những mục tiêu điều trị khác nhau, có thể làm thay đổi kết quả điều trị, tuy nhiên, những sự khác biệt này là không đáng kể bởi chúng tôi áp dụng chung hệ số trên mỗi gam tuyến giáp Ngoài ra, trọng lượng tuyến giáp được sử dụng trong công thức có trị số trung bình là 37,64 ± 15,743 g, trọng lượng này chỉ đạt khoảng 75% so với nghiên cứu là 50,2 ± 18,1g Sự khác biệt này đến từ sự khác biệt về chủng tộc cũng như thể trạng của người Việt Nam so với người Âu Mỹ và ngoài ra bởi đây là trọng lượng tuyến giáp được ước tính bởi thăm khám lâm sàng của các chuyên gia nên có thể dẫn đến sự sai lệch do chủ quan và quan điểm của
Trang 5cá nhân Thêm vào đó, một sự khác biệt đáng kể
khác là độ tập trung, khi so sánh các nghiên cứu
khác, nghiên cứu này có độ tập trung 0,80357 ±
0,132, cao hơn 40% khi so với độ tập trung của
nghiên cứu trên là 0,57 ± 0,17 Sự khác nhau này là
một trong những yếu tố dẫn đến sự khác biệt rõ ràng
về hoạt độ I131 điều trị, cũng như hiệu quả đạt được
sau 01 lần điều trị
Nghiên cứu chúng tôi ghi nhận được tỉ lệ thành
công trong năm 2019 với 53 bệnh nhân chiếm
59,55%, trong đó, tỉ số giữa bình giáp và suy giáp là
1:0.89, ưu thế dẫn đến suy giáp Điều này hợp lý với
mục tiêu khi điều trị là đưa bệnh nhân về suy giáp
sau đó bù thêm hormon giáp ngoại sinh cho bệnh
nhân, để dễ dàng hơn trong cân bằng chất lượng
sống và rút ngắn thời gian điều trị cho bệnh nhân
Mặc dù chưa đến 60% bệnh nhân được điều trị
thành công trong năm 2019, 36 bệnh nhân thất bại
sẽ được tiếp tục theo dõi và điều trị I131 ở thời điểm
thích hợp Khi tích luỹ theo thời gian, tỉ lệ thành công
sẽ tăng dần lên cho đến khi đạt được mục tiêu
Khi đi sâu hơn về từng nhóm bệnh nhân, sau
01 đợt điều trị, 62 bệnh nhân đã thất bại cần được
điều trị tiếp tục và với 30 bệnh nhân điều trị 02 đợt,
cho thấy 70% bệnh nhân đã điều trị thành công, chỉ
có 30% bệnh nhân - 9 bệnh nhân đã thất bại sau đợt
02 cần chờ để điều trị đợt 03 Như vậy khi liều tích
luỹ gia tăng sẽ tương ứng gia tăng tỉ lệ thành công
Tương tự như vậy, với 10 bệnh nhân đã được điều
trị 03 hoặc 04 đợt, đạt 50% bệnh nhân thành công,
chỉ còn 5 bệnh nhân cần được theo dõi sát và tiếp
tục điều trị Thêm vào đó, những trường hợp đáp
ứng kém với điều trị thường rơi vào các bệnh cảnh
lâu năm, thể tích tuyến giáp to và thuộc chẩn đoán
nhân giáp độc Những yếu tố này ảnh hưởng đến
hiệu quả đạt được trên những bệnh nhân đã điều trị
3 - 4 đợt như trên Liều tích lũy ở những bệnh nhân
này ngày càng cao đòi hỏi phải điều trị dứt điểm cho
bệnh nhân nhằm đưa họ về chất lượng cuộc sống
tốt hơn Thêm vào đó, khi tham vấn điều trị cho
những bệnh nhân này, chúng tôi cũng đưa ra lựa
chọn phẫu thuật nhằm giúp bệnh nhân đạt được
thành công điều trị nhanh hơn Tuy nhiên, các bệnh
nhân thất bại này vẫn còn đang trong thời gian theo
dõi kể từ đợt điều trị cuối cùng Cần đánh giá nhiều
khía cạnh hơn nữa nhằm đưa ra phương án tối ưu
Ngoài ra, khi phân tích sâu hơn về nhóm bệnh
nhân đã đạt được thành công trong điều trị, trong số
53 bệnh nhân, chúng tôi nhận thấy nhóm bệnh nhân
này có trọng lượng tuyến giáp đạt 45,84g, cao hơn
trung bình của dân số nghiên cứu 37,64 ± 15,743g
và tổng liều điều trị trung bình là 13,83mCi cao hơn
đáng kể so với liều trung bình sau 01 đợt điều trị là
9,13 ± 3,778mCi Với số lần điều trị trung bình là
1,64 đợt cho thấy phần lớn các bệnh nhân cần nhiều hơn 01 đợt để đạt được thành công trong điều trị Qua đó, nếu mong muốn đạt tỉ lệ thành công trong điều trị cao hơn, ta có thể thực hiện theo hai hướng Hướng thứ nhất, ta tăng liều điều trị cho bệnh nhân từ ban đầu có thể vẫn đảm bảo hiệu quả
mà rút ngắn thời gian điều trị cho bệnh nhân, làm cho bệnh nhân có nhanh nhất có thể trở về bình giáp hoặc suy giáp Tuy nhiên theo hướng này có thể làm bệnh nhân gia tăng khả năng phơi nhiễm một lúc liều lượng phóng xạ lớn, có thể đưa đến các tác dụng phụ không mong muốn, mặc dù tỉ lệ này rất thấp và trong giới hạn cho phép Hướng thứ hai, ta dùng liều thấp như hiện tại và cho bệnh nhân điều trị nhiều đợt cho đến khi bệnh nhân đạt đến hiệu quả điều trị mong muốn
Tuy nhiên, khi phân tích sâu hơn, nếu ta chọn theo hướng thứ hai, bệnh nhân phải trải qua nhiều đợt điều trị liều thấp dẫn đến thời gian điều trị khá lâu bởi khoảng cách giữa 2 đợt từ 3 - 6 tháng theo khuyến cáo, ảnh hưởng đến các yếu tố xã hội của bệnh nhân như công việc, thu nhập Ngoài ra, bệnh nhân sẽ phải chịu những đợt tái phát, cơ thể bị ảnh hưởng bởi tình trạng nhiễm độc giáp tái lại, làm cho bệnh nhân tăng nguy cơ gặp các biến chứng tim mạch, cơ xương, mắt ảnh hưởng trực tiếp đến hệ quả là chất lượng cuộc sống kém Đồng thời, phần lớn các bệnh nhân cường giáp là nữ đang trong độ tuổi sanh đẻ, việc kéo dài thời gian điều trị phóng xạ
có thể ảnh hưởng đến kế hoạch mang của bệnh nhân Thêm vào đó, việc điều trị nhiều lần với liều thấp sẽ làm bệnh nhân phơi nhiễm nhiều lần phóng
xạ, dẫn đến liều tích luỹ của bệnh nhân sẽ gia tăng,
và làm cho bệnh nhân nản lòng và mong muốn tìm đến phương pháp điều trị nhanh hơn là phẫu thuật hoặc bệnh nhân bỏ trị Tóm lại, hướng thứ nhất tăng liều điều trị cho lần đầu tiên điều trị của bệnh nhân là hợp lý và đảm bảo cho hiệu quả điều trị của bệnh nhân tốt hơn
KẾT LUẬN
Điều trị nhiễm độc giáp với I131 là một phương pháp tiếp cận điều trị đầu tay, đạt được thành công khả quan Tuy nhiên, hiệu quả sau lần điều trị đầu tiên còn khá thấp, cần nhiều đợt để nâng tỉ lệ thành công lên cao hơn Cần có sự thay đổi trong chiến lược điều trị bệnh cảnh bằng việc tăng liều điều trị đầu tiên hướng đến chất lượng cuộc sống tốt hơn và rút ngắn thời gian điều trị của bệnh nhân
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Douglas S Ross, Henry B Burch, David S Cooper, M Carol Greenlee, Peter Laurberg, Ana Luiza Maia, Scott A Rivkees, Mary Samuels,
Trang 6Julie Ann Sosa,
Marius N Stan, and Martin A Walter, 2016
American Thyroid Association Guidelines for
Diagnosis and Management of Hyperthyroidism
and Other Causes of Thyrotoxicosis
2 Mai Trọng Khoa, Asia and Oceania Federation of
Nuclear Medicine and Biology, Beijing (China);
246 p; 2004; p 124; 8 Asia Oceania Congress
of nuclear medicine and biology; Beijing (China);
9-13 Oct 2004
3 Ka Kit Wong, Barry L Shulkin, Milton D Gross
and Anca M Avram, Efficacy of radioactive
iodine treatment of graves’ hyperthyroidism
using a single calculated I131 dose
4 Vishnu Sundaresh, Juan P Brito, Prabin Thapa, Rebecca S Bahn, and Marius N Stan, Comparative Effectiveness of Treatment Choices for Grave’s Hyperthyroidism: historical Cohort Study, THYROID, Volume 27, Number 4, 2017
5 Y Khalid, DM Barton, V Baskar, H Kumar P Jones, T E T West, and H N Buch, Efficacy of Fixed High Dose Radioiodine Therapy for Hyperthyroidism – a 14 - year Experience: A focus on Influence of Pre-treatment Factors on Outcomes, British Journal of Medical Practitioners, September 2011, Volume 4, Number 3
Trang 7ABSTRACT
The efficiency of the hyperthyroidism treatment with radioactive iodine at
Ho Chi Minh City Oncology Hospital in 2019 Introduction: Hyperthyroidism is a disease that affects the health and quality of life of the patient with
many serious complications The main treatments include anti-thyroid drugs, surgery, and radioactive iodine Radioactive iodine I131 has been potential in the treatment of hyperthyroidism
Objectives: This study aims to determine the rate of treatment success, the rate of hyperthyroidism that
persists after radiotherapy, and the rate of need for re-treatment after the first dose and described the features
of patients who had successful treatment
Subjects and methods: All hyperthyroid patients being treated in the Nuclear Medicine department, have
been on radioactive iodine treatment and monitored for at least 3 months after treatment to evaluate effectiveness Data processing with SPSS 25.0 software and MS excel
Results: This study enrolled a total of 89 eligible patients with 73 female patients (82%) and 16 male
patients (18%) Of these, 69 patients (77.53%) were diagnosed as Basedow and 20 patients (22.47%) were diagnosed with thyroid toxic adenoma The mean dose of I131 used for the first treatment was 9.13mCi (± 3,778) The success rate after the first I131 treatment was 30.3% The numbers of patients receiving second, third, and fourth radioactive iodine treatment were 30, 5, and 5 respectively The rate of successful treatment in
2019 reached 59.55% The success rate continued to increase as the patient receives further treatment In the group of patients treated successfully, the mean dose of I131 was 13.83mCi and the average number of treatments was 1.64 times
Conclusion: There is a need for a change in the treatment strategy, targeting higher current doses of I131
to increase success rates and shorten treatment duration to ensure a better quality of life for patients
Keywords: Thyrotoxicosis, radioactive iodine, Ho Chi Minh City