1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rủi ro trong thanh toán xuất khẩu đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Khảo sát các doanh nghiệp tại Kiên Giang.

110 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Rủi Ro Trong Thanh Toán Xuất Khẩu Đối Với Các Doanh Nghiệp Việt Nam. Khảo Sát Các Doanh Nghiệp Tại Kiên Giang
Tác giả Võ Văn Thanh
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Quỳnh Nga
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rủi ro trong thanh toán xuất khẩu đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Khảo sát các doanh nghiệp tại Kiên Giang.Rủi ro trong thanh toán xuất khẩu đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Khảo sát các doanh nghiệp tại Kiên Giang.Rủi ro trong thanh toán xuất khẩu đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Khảo sát các doanh nghiệp tại Kiên Giang.Rủi ro trong thanh toán xuất khẩu đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Khảo sát các doanh nghiệp tại Kiên Giang.Rủi ro trong thanh toán xuất khẩu đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Khảo sát các doanh nghiệp tại Kiên Giang.

Trang 1

DOANH NGHIỆP VIỆT NAM KHẢO SÁT CÁC DOANH NGHIỆP

TẠI KIÊN GIANG

Ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH

Họ và tên học viên: VÕ VĂN THANH

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Đề tài RỦI RO TRONG THANH TOÁN XUẤT KHẨU ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM KHẢO SÁT CÁC DOANH NGHIỆP

TẠI KIÊN GIANG

Ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH

Mã số: 8340101

Họ và tên học viên: VÕ VĂN THANH

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ QUỲNH NGA

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính tác giả

và được sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Quỳnh Nga Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa được công

bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu trong các bảng phục

vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo

Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc

Nếu có phát hiện bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn của mình

Thành phố Hồ Chí Minh, Ngày 21 tháng 09 năm 2020

Người ký (Ký và ghi họ tên)

Võ Văn Thanh

Trang 4

Mặc dù đã cố gắng thực hiện đề tài nhưng do phạm vi đề tài mang tính bao quát rộng lớn liên quan với nhiều lĩnh vực và bản thân tác giả vẫn còn hạn chế về kiến thức chuyên môn, những thông tin thực tế từ doanh nghiệp nên chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết và sai sót Rất mong nhận được sự thông cảm và ý kiến đóng góp từ Quý Thầy Cô để

đề tài này được hoàn thiện hơn

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ 7

1.1 TỔNG QUAN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ 7

1.1.1 Sơ lược về thanh toán quốc tế 7

1.1.2 Khái niệm và nội dung chủ yếu của thanh toán quốc tế 8

1.1.3 Đặc điểm của thanh toán quốc tế 9

1.1.4 Ý nghĩa của hoạt động thanh toán quốc tế 9

1.2 CÁC PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN PHỔ BIẾN HIỆN NAY 10

1.2.1 Phương thức thanh toán chuyển tiền 11

1.2.2 Phương thức thanh toán nhờ thu 12

1.2.3 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (L/C) 13

1.3 RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ 22

1.3.1 Rủi ro trong phương thức chuyển tiền và phương thức nhờ thu 22

1.3.3 Rủi ro theo phương thức L/C 25

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ 32

2.1 THỰC TRẠNG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM VÀ KIÊN GIANG 32

2.1.1 Thực trạng thanh toán quốc tế tại Việt Nam 32

2.1.2 Thực trạng thanh toán quốc tế tại Kiên Giang 37

2.2 CÁC RỦI RO PHỔ BIẾN TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI 43

Trang 6

2.2.1 Các rủi ro phổ biến trong TTQT theo phương thức chuyển tiền 43

2.2.2 Các rủi ro phổ biến trong TTQT theo phương thức nhờ thu 44

2.2.3 Các rủi ro phổ biến trong TTQT theo phương thức L/C 45

2.3 KHẢO SÁT CÁC RỦI RO TRONG TTQT TẠI KIÊN GIANG 50

2.4 ĐÁNH GIÁ CÁC RỦI RO 60

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ HẠN CHẾ RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ 63

3.1 TRIỂN VỌNG VÀ THÁCH THỨC TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ 63

3.1.1 Những triển vọng trong hoạt động thanh toán quốc tế 63

3.1.2 Thách thức trong hoạt động thanh toán quốc tế 64

3.2 CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ HẠN CHẾ RỦI RO TTQT TRONG XUẤT KHẨU68 3.2.1 Các giải pháp hạn chế rủi ro theo các nhóm nguyên nhân phát sinh rủi ro trong TTQT 68

3.2.2 Giải pháp ngăn ngừa rủi ro qui trình theo phương thức L/C 77

3.3 KIẾN NGHỊ 79

3.3.1 Kiến nghị đối với doanh nghiệp xuất khẩu: 79

3.3.2 Kiến nghị đối với các NHTM: 79

3.3.3 Kiến nghị đối với hệ thống giáo dục 80

3.3.4 Kiến nghị đối với chính phủ: 81

KẾT LUẬN 84

PHỤ LỤC 84

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN Hiệp hội các Quốc gia

Đông Nam Á

Association of Southeast Asian Nations

FTA Hiệp định thương mại tự do Free Trade Agreement

WTO Tổ chức kinh tế thế giới World Trade Organization

M/T Chuyển tiền bằng thư Mail Transfer

T/T Chuyển tiền bằng điện Telegraphic Transfer

Purchase

Commerce

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Practice For Documentary Credit

Banking Practice for the Examination of Documents Under Documentary Credits

Trang 10

4 Hình 1.4 Hình biểu diễn qui trình thanh toán L/C tại NHPH 18

5 Hình 1.5 Hình biểu diễn qui trình thanh toán L/C tại

Trang 12

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN

Hoạt động thanh toán quốc tế giữ vai trò hỗ trợ và thúc đẩy hoạt động kinh doanh xuất - nhập khẩu cho nền kinh tế, có thể thấy sự ra đời của thương mại và đầu tư quốc tế đã làm phát sinh ra nhu cầu thanh toán nhưng chính khâu thanh toán có thông suốt, an toàn và chính xác hay không lại quyết định đến sự tồn tại và phát triển của thương mại và đầu tư quốc tế Chính vì vậy, các bên liên quan trong hoạt động thương mại và thanh toán quốc tế cần nghiên cứu thật chi tiết và chính xác về quy trình nghiệp vụ; thông lệ và tập quán quốc tế; luật pháp địa phương, cũng như quốc tế

Kết quả nghiên cứu cho thấy, có ba (03) phương thức thanh toán quốc

tế phổ biến được các ngân hàng thương mại sử dụng trong thanh toán quốc tế

đó là phương thức chuyển tiền, phương thức nhờ thu và phương thức tín dụng chứng từ Trong đó, phương thức chuyển tiền được dùng khi giữa các bên có độ tin cậy cao, đối với các khách hàng có quan hệ thân thiết, tin cậy lẫn nhau; phương thức nhờ thu được dùng nếu độ tin cậy vừa, phương thức thanh toán này cũng hoàn toàn dựa vào sự tín nhiệm lẫn nhau giữa nhà xuất khẩu và nhập khẩu, dù an toàn hơn chuyển tiền nhưng rủi ro cho bên xuất khẩu vẫn còn rất lớn; chính vì vậy, khi mức độ tin cậy giữa nhà xuất khẩu và nhập khẩu chưa cao và chưa ổn định thì nên sử dụng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là an toàn và hiệu quả nhất cho mỗi bên Mỗi phương thức thanh toán đều có ưu và nhược điểm, thể hiện mâu thuẫn quyền lợi giữa các chủ thể tham gia vào thương mại quốc tế Ngoài ra, những vấn đề về văn hóa

- xã hội, tập quán kinh doanh, ngôn ngữ và đồng tiền thanh toán ở địa phương; khu vực, nên kỹ thuật và nghiệp vụ thanh toán quốc tế đã trở thành vấn đề khó khăn hơn cho các doanh nghiệp trong nước có hoạt động xuất nhập khẩu Bài viết đi vào phân tích và đánh giá thực tiễn của rủi ro trong thanh toán quốc tế tại Việt Nam và thế giới, từ đó có thể đưa ra những giải pháp cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nước giúp hoàn thiện

Trang 13

cơ sở lý thuyết trong nghiệp vụ thanh toán quốc tế, nâng cao nghiệp vụ trong quy trình thanh toán, bên cạnh việc đút kết kinh nghiệm từ các thực trạng phát sinh mà có phương pháp phù hợp kịp thời trong việc phản ứng lại với rủi ro tiềm ẩn trong thanh toán quốc tế

Trang 14

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, kinh tế thế giới ngày càng được quốc tế hóa rộng rãi, Việt Nam là một trong những nền kinh tế đang trên đà phát triển, hội nhập toàn cầu, kết nối ngoại thương với các quốc gia bên ngoài Trong bối cảnh này, buộc chúng ta phải phát triển kinh tế thị trường, mở cửa, hợp tác và hội nhập; trong đó hoạt động thương mại quốc tế và đầu tư mở rộng với qui mô

và những khoản đầu tư lớn từ thị trường đầu tư nước ngoài sẽ là cầu nối giữa kinh tế nội địa với các thành phần kinh tế bên ngoài lãnh thổ Bên cạnh sự phát triển của các hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế thì các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế như: Thanh toán quốc tế, tài trợ ngoại thương

và kinh doanh ngoại hối ngày càng trở nên quan trọng, cấp thiết hơn bao giờ hết

Hoạt động thanh toán quốc tế giữ vai trò hỗ trợ và thúc đẩy hoạt động kinh doanh xuất - nhập khẩu cho nền kinh tế, có thể thấy sự ra đời của thương mại và đầu tư quốc tế đã làm phát sinh ra nhu cầu thanh toán quốc

tế, nhưng chính khâu thanh toán quốc tế có thông suốt, an toàn và chính xác hay không lại quyết định đến sự tồn tại và phát triển của thương mại và đầu tư quốc tế

Vì các nhân tố bên ngoài không chịu sự quản lý, giám sát của luật pháp địa phương và những chính sách của riêng một quốc gia nào, mà hoạt động thương mại và thanh toán quốc tế trở nên phức tạp, đầy rủi ro hơn so với hoạt động thanh toán nội địa Bên cạnh đó có những vấn đề về văn hóa

- xã hội, tập quán kinh doanh, ngôn ngữ và đồng tiền thanh toán ở địa phương, khu vực nên kỹ thuật - nghiệp vụ thanh toán quốc tế đã trở thành vấn đề khó khăn hơn cho các doanh nghiệp trong nước có hoạt động xuất khẩu Vì thế mà các doanh nghiệp Việt Nam phải tự trang bị cho chính

Trang 15

mình về kỹ thuật - nghiệp vụ trong thanh toán quốc tế một cách thành thạo,

kỹ năng giao tiếp quốc tế tốt, am hiểu luật pháp quốc tế, các thông lệ và tập quán quốc tế, luật pháp các địa phương có quan hệ ngoại thương là nhiệm

vụ cần thiết của các doanh nghiệp muốn vươn xa ra thị trường quốc tế

Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động thanh toán quốc tế, cũng như mong muốn được tìm hiểu thêm về những rủi ro đã và đang diễn

ra trong quá trình áp dụng các nghiệp vụ trong thanh toán quốc tế vào thực

tế và cách phản ứng lại với rủi ro của doanh nghiệp hiện nay Song song

đó, tác giả đề xuất một số giải pháp cho doanh nghiệp và kiến nghị với cơ quan ban ngành có liên quan nhằm hoàn thiện tính hiệu quả cho hoạt động

thanh toán quốc tế, tác giả đã lựa chọn đề tài “Rủi ro trong thanh toán xuất khẩu đối với các doanh nghiệp Việt Nam Khảo sát các doanh nghiệp tại Kiên Giang”

2 Mục đích nghiên cứu đề tài

Nhằm tìm hiểu về thực trạng trong thanh toán quốc tế (TTQT) ở trong và ngoài nước, để đưa ra những giải pháp và kiến nghị hữu ích cho doanh nghiệp xuất khẩu và các cơ quan ban ngành có liên quan đến hoạt động ngoại thương tại Việt Nam, từ đó làm giảm thiểu hậu quả cửa các rủi

ro đã và đang phát sinh trong TTQT

Đề tài nghiên cứu có ba (03) nhiệm vụ chính sau đây:

 Khái quát cơ sở lý thuyết về thanh toan quốc tế và rủi ro TTQT trong xuất khẩu

 Tìm hiểu về thực trạng TTQT và rủi ro TTQT trong xuất khẩu tại Việt Nam Trên cơ sở khảo sát các rủi ro thường gặp tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

 Trên cơ sở phân tích cơ hội và thách thức của hoạt động ngoại thương Việt Nam kết hợp với thực trạng rủi ro phát sinh trong thanh

Trang 16

toán quốc tế, tác giả nêu ra những giải pháp nhằm ngăn ngừa rủi ro trong TTQT

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các rủi ro trong hoạt động TTQT và những giải pháp để phòng ngừa, hạn chế rủi ro trong hoạt động TTQT của

các doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Để luận văn nghiên cứu có giá trị thực tiễn thì không gian nghiên cứu tập trung vào thực trạng TTQT trong xuất khẩu của Việt Nam thông qua các phương thức TTQT phổ biến nhất thường được dùng trong hoạt động thanh toán xuất khẩu

Thời gian nghiên cứu thực trạng: giai đoạn năm 2015 đến năm

2019

Thời gian nghiên cứu đối với phần giải pháp: giai đoạn năm 2020-2025

3.3 Tính mới của đề tài

Mặc dù công tác nghiên cứu về các rủi ro trong thanh toán quốc tế không còn là chủ đề mới lạ, nhưng mỗi công trình nghiên cứu của các tác giả khác nhau đều dựa trên cơ sở lý thuyết khác nhau và sự hiểu biết, kinh nghiệm về thực trạng rủi ro phát sinh tại các doanh nghiệp và hệ thống các NHTM cũng khá đa dạng Nên trên hệ thống lý luận riêng góp phần làm nên tính phong phú của đề tài, đồng thời đề tài đi sâu vào nghiên cứu thực tiễn, kết hợp với nguồn dữ liệu được tổng hợp từ các nghiên cứu có giá trị của những nhà khoa học uy tín về thực trạng, nguyên nhân và những tổn hại của rủi ro trong thanh toán quốc tế gây ra Không dừng lại ở tính lý

Trang 17

thuyết, qua kết quả khảo sát và phỏng vấn từ các chuyên gia giúp tác giả nhìn nhận được các rủi ro phát sinh và đánh giá mức độ ảnh hưởng cho các rủi ro, từ đó giúp tác giả hệ thống lại lượng kiến thức về thanh toán quốc tế, các nghiệp vụ liên quan giúp ích cho quá trình công tác tại nơi làm việc và công việc học tập của chính tác giả thêm thuận lợi

4 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu thu thập số liệu, so sánh, đối chiếu và tổng hợp các dữ liệu thứ cấp Ngoài ra, tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn chuyên gia là nhân viên thuộc bộ phận thanh toán quốc tế của doanh nghiệp xuất khẩu tại Kiên Giang và cán bộ của ngân hàng thương mại thuộc phòng thanh toán quốc tế

và kinh doanh ngoại hối, để thu thập các thông tin sơ cấp làm cơ sở đề xuất

và đưa ra các nhận xét, nhận định, và giải pháp trong bài nghiên cứu

Thông tin trong bài viết được chia làm 2 loại: dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp

 Dữ liệu thứ cấp: Nguồn dữ liệu được tổng hợp từ các nguồn thông tin khác nhau, tập trung bao gồm: các công trình nghiên cứu khoa học, các bài báo, các bài bình luận, những hội thảo thương mại quốc tế, các buổi tọa đàm về môi trường kinh doanh và những rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế tại Việt Nam và thế giới; các tài liệu, giáo trình có đề cập đến vấn đề nghiên cứu rủi ro thanh toán trong xuất nhập khẩu Bên cạnh đó, còn thu thập những nguồn thông tin từ các website của các các tổ chức, hiệp hội trong nước và quốc tế

 Dữ liệu sơ cấp: Tác giả thực hiện khảo sát chuyên sâu bằng bảng câu hỏi và phỏng vấn trực tiếp các cán bộ và chuyên gia cấp quản lý

có kinh nghiệm hoạt động lâu năm trong lĩnh vực thanh toán quốc tế của các doanh nghiệp xuất khẩu Thông tin được tổng hợp, phân tích và so sánh

Trang 18

đối chiếu với các tài liệu tác giả thu thập được để đưa ra các ý kiến đánh giá trong bài

5 Kết cấu của khóa luận

Khóa luận được chia làm 3 phần chính:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết về thanh toán quốc tế

Chương 2: Thực trạng về thanh toán quốc tế và rủi ro trong thanh

toán quốc tế

Chương 3: Các giải pháp để hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc

tế

6 Tổng quan về đề tài nghiên cứu

Quan hệ quốc tế giữa các nước bao gồm nhiều lĩnh vực như: kinh

tế, chính trị, ngoại giao, văn hóa, khoa học kỹ thuật…, mà trong đó hoạt động ngoại thương chiếm vai trò chủ đạo và là cơ sở cho các quan hệ quốc

tế khác tồn tại và phát triển Quá trình tiến hành các hoạt động quốc tế dẫn đến nhu cầu chi trả, thanh toán giữa các chủ thể ở các nước khác nhau, từ

đó hình thành và phát triển hoạt động thanh toán quốc tế, trong đó ngân hàng là cầu nối trung gian giữa các bên Mục đích chính của hoạt động thanh toán quốc tế là để hỗ trợ và phục vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu giữa các nước diễn ra một cách trôi chảy và hiệu quả

Thời gian gần đây, tại Việt Nam thường xuyên phát sinh những vụ lừa đảo trong thương mại và TTQT tại thị trường các nước Châu phi, Trung Đông đã khiến cho các doanh nghiệp Việt Nam bị thiệt hại nặng nề cả về

uy tín và tài chính vì không thu hồi được nguồn vốn để thanh toán các khoản nợ đến hạn tại ngân hàng

Trang 19

Bài nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp các thông tin, dữ liệu thực tế Việc khảo sát và phỏng vấn trực tiếp các chuyên gia để phát hiện ra yếu tố rủi ro trong thanh toán, nhằm đưa ra giải pháp kịp thời, hữu hiệu và thiết thực, giúp bảo đảm an toàn nguồn vốn kinh doanh Nghiên cứu chỉ ra nhiệm vụ của các bên liên quan phải tập trung nghiên cứu và học hỏi, đào tạo kỹ năng nghiệp vụ thuần thục, nhằm giúp nhà xuất khẩu lựa chọn phương thức thanh toán phù hợp khi các bên không cần phải gặp măt nhau mà vẫn ký kết được hợp đồng mua bán, vẫn tiến hành giao nhận hàng hóa, nhận tiền và trả tiền một cách an toàn và hiệu quả

Trang 20

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ 1.1 TỔNG QUAN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ

1.1.1 Sơ lược về thanh toán quốc tế

Hoạt động thanh toán quốc tế (TTQT) bắt nguồn từ hoạt động ngoại thương, mỗi một quốc gia và vùng lãnh thổ sẽ có những loại hàng hóa có ưu thế về năng suất lao động cũng như những hạn chế về chi phí sản xuất, chất lượng sản phẩm và giá trị thương hiệu của doanh nghiệp Chính điều đó đã xuất hiện nên sự dịch chuyển hàng hóa giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ, tạo ra các hoạt động xuất nhập khẩu giữa nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ hay còn gọi là hoạt động ngoại thương

Từ những quan điểm trên, ta có cơ sở để phân biệt sự khác nhau cơ bản giữa hoạt động thương mại (TM) nội địa và ngoại thương như sau:

Bảng 1.1 Sự khác nhau giữa TM nội địa và ngoại thương

địa

Hoạt động ngoại thương

1 Các bên liên

quan

Người mua và người bán

ở cùng một nước hoặc cùng quốc tịch như nhau, không bao gồm Khu chế xuất

Người mua và người bán ở hai nước hoặc hai quốc tịch khác nhau

Trang 21

4 Dịch chuyển

hàng hóa

Hàng hóa mua bán được dịch chuyển giữa các nơi trong cùng một quốc gia, vùng lãnh thổ

Hàng hóa mua bán thường được dịch chuyển qua biên giới hải quan giữa các nước,

đi từ nước nhà xuất khẩu đến nước nhà nhập khẩu

cơ sở nền tảng bậc nhất khiến cho hoạt động xuất nhập khẩu tồn tại và phát

triển

1.1.2 Khái niệm và nội dung chủ yếu của thanh toán quốc tế

“Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan” (Nguyễn Văn Tiến, 2017, tr.13)

Trang 22

1.1.3 Đặc điểm của thanh toán quốc tế

- Thanh toán quốc tế chịu sự điều chỉnh của luật pháp và các tập quán quốc tế

- Hoạt động thanh toán quốc tế được thực hiện phần lớn thông qua

1.1.4 Ý nghĩa của hoạt động thanh toán quốc tế

a Ý nghĩa đối với doanh nghiệp xuất khẩu

Trong ngoại thương, giữa doanh nghiệp xuất khẩu và doanh nghiệp nhập khẩu ở hai nước khác nhau không thể giao nhận hàng và thanh toán trực tiếp cho nhau mà bắt buộc phải qua hệ thống Ngân hàng thương mại (NHTM) làm trung gian thanh toán Thông qua việc phát hành chứng

từ vận tải bằng dịch vụ thanh toán của NHTM mà doanh nghiệp xuất khẩu

và doanh nghiệp nhập khẩu có thể kiểm soát hàng hóa và tiền của mình cho đến khi doanh nghiệp nhập khẩu nhận được hàng và doanh nghiệp xuất khẩu nhận được tiền

Trang 23

Như vậy, đối với nhà xuất khẩu chỉ có thể kiểm soát hàng hóa của mình thông qua việc kiểm soát chứng từ vận tải và nhà nhập khẩu chỉ có thể kiểm soát tiền của mình thông qua việc định đoạt chứng từ vận tải bằng dịch vụ thanh toán của NHTM

b Vai trò của thanh toán quốc tế đối với nền kinh tế

+ Là công cụ dung để bôi trơn và đẩy mạnh sự phát triển của ngoại thương

+ Bôi trơn và thúc đẩy đầu tư từ nước ngoài

+ Thúc đẩy, mở rộng các hoạt động như du lịch, hợp tác quốc tế + Tăng cường thu hút khối kiều hối và các nguồn lực tài chính khác + Thúc đẩy thị trường tài chính quốc gia hội nhập quốc tế

1.2 CÁC PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN PHỔ BIẾN HIỆN NAY

Việc lựa chọn PTTT phụ thuộc vào các yếu tố như: mối quan hệ giữa nhà xuất nhập khẩu, khả năng khách hàng đáp ứng quy định do NHTM đề ra trong thủ tục thanh toán, phí giao dịch do ngân hàng quy định, đặc thù của thị trường bạn hàng, đặc điểm của hàng hóa

Dựa vào thông tin từ các báo cáo kết quả kinh doanh hàng năm của một số NHTM Việt Nam như: NHTM Cổ Phần Ngoại Thương Việt Nam, NHTM Cổ Phần Công Thương Việt Nam, NHTM Cổ Phần Đầu Tư Và Phát Triển Việt Nam, NHTM Cổ Phần Kỹ Thương Việt Nam, NHTM Cổ Phần Sài Gòn Thương Tín, đây là những ngân hàng nắm giữ thị phần TTQT lớn trong hệ thống các NHTM tại Việt Nam, kết hợp với các báo cáo doanh thu từ thu phí dịch vụ của hoạt động thanh toán quốc tế của một

số NHTM giai đoạn 2015-2019 và các công trình nghiên cứu về TTQT của các nhà khoa học cho thấy rằng, thực tế các NHTM Việt Nam chủ yếu

Trang 24

cung cấp dịch vụ thanh toán theo ba (03) PTTT là phương thức chuyển

tiền, phương thức nhờ thu và thanh toán bằng phương thức L/C

1.2.1 Phương thức thanh toán chuyển tiền

a Khái niệm

Là PTTT đơn giản nhất, trong đó người chuyển tiền yêu cầu ngân

hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho người hưởng lợi theo

một địa chỉ nhất định và một khoản thời gian nhất định

Căn cứ vào hình thức, thì chuyển tiền có hai (02) loại đó là chuyển

tiền bằng thư (M/T) và chuyển tiền bằng điện (T/T)

Căn cứ vào thời điểm giao hàng ta có hai loại thanh toán chuyển

tiền, đó là chuyển tiền trước khi giao hàng và chuyển tiền sau khi giao

hàng Theo phương thức này, NHTM chỉ đóng vay trò trung gian thanh

toán theo sự ủy thác của nhà nhập khẩu để hưởng phí dịch vụ mà không bị

ràng buộc bất cứ trách nhiệm gì đối với người chuyển tiền và người thụ

hưởng

b Quy trình nghiệp vụ của phương thức chuyển tiền

Hình 1.1 Quy trình nghiệp vụ thanh toán theo phương thức chuyển tiền

NH trả tiền

NH chuyển tiền

Trang 25

1.2.2 Phương thức thanh toán nhờ thu

a Khái niệm về nhờ thu

Là PTTT theo đó, nhà xuất khẩu sau khi giao hàng sẽ ủy thác cho

Ngân hàng nhờ thu (NHNT) xuất trình bộ chứng từ thông qua Ngân hàng

thu hộ (NHTH) cho nhà nhập khẩu để được thanh toán, chấp nhận hối

phiếu hay chấp nhận các điều kiện và điều khoản khác

i Nhờ thu phiếu trơn:

Nhờ thu phiếu trơn chỉ bao gồm chứng từ tài chính, còn các chứng

từ thương mại được gửi trực tiếp cho nhà nhập khẩu không thông qua ngân

hàng

Hình 1.2 Quy trình thanh toán theo phương thức nhờ thu phiếu trơn

(4) (7)

(3) (8) (6) (5)

(1)

(2)

(Nguồn: Cẩm nang thanh toán quốc tế & tài trợ ngoại thương)

ii Phương thức thanh toán nhờ thu kèm chứng từ:

Khác với nhờ thu phiếu trơn, chứng từ được gửi đi trong trường

hợp này có thể chỉ chứng từ thương mại hoặc cả chứng từ thương mại và

chứng từ tài chính Như vậy, NHTH chỉ trao bộ chứng từ cho Người trả

tiền khi họ đã thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán, cam kết thanh toán hoặc

các điều kiện khác quy định trong Lệnh nhờ thu

Trang 26

Hình 1.3 Quy trình thanh toán theo phương thức nhờ thu kèm chứng từ

(4) (8)

(3) (9) (7) (6) (5)

(1)

(2)

(Nguồn: Cẩm nang thanh toán quốc tế & tài trợ ngoại thương)

b Văn bản pháp lý điều chỉnh trong nhờ thu

URC 522 - quy tắc thống nhất về nhờ thu được phát hành lần đầu

bởi ICC vào năm 1956; sau đó, được tái bản vào các năm 1967, 1978 và

sau cùng là 1995 viết tắc là URC 522 URC là văn bản pháp lý tùy ý, khi có

dẫn chiếu vào Đơn yêu cầu nhờ thu hoặc lệnh nhờ thu câu: “This

Collection is subject to the Uniform Rules for Collection, 1995 Revision

ICC pub No 522”, thì URC 522 trở thành văn bản quy phạm pháp luật có

tính bắt buộc thực hiện đối với tất cả các bên liên quan

1.2.3 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (L/C)

Trong ba (03) PTTT được sử dụng phổ biến nhất hiện nay là

chuyển tiền, nhờ thu và L/C, thì L/C là PTTT có độ an toàn cao nhất đối

với nhà xuất khẩu, lợi ích và trách nhiệm của đôi bên được dung hòa Tuy

nhiên, qua thời gian áp dụng cho thấy rằng đây là PTTT phức tạp nhất, có

tỷ lệ bộ chứng từ (BCT) bị từ chối thanh toán khi xuất trình lần đầu rất cao,

nhà xuất khẩu mất nhiều thời gian, công sức và chi phí để lập và hoàn

chỉnh BCT phù hợp theo đúng những điều kiện và điều khoản quy định

trong L/C, nếu nhà xuất khẩu không thể hoàn chỉnh và xuất trình bộ chứng

từ phù hợp thì việc thanh toán sẽ bị chậm lại, thậm chí không được thanh

toán Chính vì điều đó, mà phương thức này nên được nghiên cứu chuyên

Người trả tiền Người ủy thác

Trang 27

sâu hơn để các doanh nghiệp (DN) xuất nhập khẩu (XNK) và các NHTM hạn chế được những rủi ro trong nghiệp vụ thanh toán quốc tế

1.2.3.1 Khái niệm và nội dung chủ yếu của L/C

a Khái niệm về tín dụng chứng từ

Theo Điều 2, của UCP 600 (Uniform Customs And Practice For Documentary Credit) thì thư tín dụng hay tín dụng chứng từ được định nghĩa như sau: “Tín dụng chứng từ là một thỏa thuận bất kỳ, cho dù được gọi tên hoặc mô tả như thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn và không hủy ngang của NHPH về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp” Hay,

“Thư tín dụng hay tín dụng thư do một ngân hàng phát hành (NHPH) thể hiện một cam kết chắc chắn là sẽ thanh toán không hủy ngang cho người thụ hưởng, nếu người thụ hưởng xuất trình được bộ chứng từ phù hợp với quy định của thư tín dụng và trong thời hạn thanh toán của thư tín dụng” (Nguyễn Văn Tiến, 2017, Tr.293)

b Nội dung chủ yếu của L/C

Một L/C được NHPH đồng ý phát hành có những nội cơ bản sau: + Số hiệu

+ Địa điểm phát hành L/C

+ Ngày phát hành L/C

+ Tên, địa chỉ, số điện thoại liên hệ của các bên liên quan

+ Số tiền, loại tiền, số lượng, đơn giá

+ Thời hạn hiệu lực của L/C

+ Địa điểm xuất trình L/C

+ Thời hạn trả tiền của L/C (L/C tenor)

+ Thời hạn giao hàng (Shipment Poriod)

Trang 28

+ Những nội dung liên quan đến hàng hóa

+ Những nội dung về vận tải

+ Bộ chứng từ mà người thụ hưởng phải xuất trình

1.2.3.2 Đặc điểm của L/C

L/C là hợp đồng kinh tế độc lập chỉ của hai bên là NHPH và nhà xuất khẩu, do đó nhà nhập khẩu không có tiếng nói chính thức nào được thể hiện trong L/C, mà mọi yêu cầu hay chỉ thị của nhà nhập khẩu đã được NHPH làm đại diện thông qua các điều khoản trong đơn yêu cầu mở L/C của nhà nhập khẩu, như vậy trong phương thức L/C các ngân hàng tham gia chủ động và tích cực hơn nhiều so với các PTTT khác

1.2.3.3 Phân loại L/C

a Các loại L/C phổ biến

- L/C có thể hủy ngang: là L/C mà người mở có quyền đề nghị

NHPH sửa đổi, bổ sung, hoặc hủy bỏ bất cứ lúc nào mà không cần có sự chấp thuận và thông báo trước của người thụ hưởng

- L/C không thể hủy ngang: là L/C mà sau khi đã mở thì NHPH

không được sửa đổi, bổ sung hay hủy bỏ trong thời hạn hiệu lực của L/C nếu không có sự chấp thuận của người thụ hưởng

- L/C không hủy ngang, có xác nhận: là L/C không thể hủy bỏ,

theo loại L/C này thì bắt buộc sẽ có NHXN, mà trách nhiệm thanh toán cho Người thụ hưởng của NHXN giống như là NHPH

b Các loại L/C đặc biệt

- L/C tuần hoàn: là L/C không thể hủy ngang, mà sau khi sử

dụng hết giá trị của nó hoặc hết thời hạn hiệu lực thì nó lại tự động có giá

Trang 29

trị như cũ và tiếp tục được sử dụng một cách tuần hoàn trong một khoản thời hạn nhất định cho đến khi tổng giá trị hợp đồng được thực hiện

- L/C với điều khoản đỏ: là L/C mà NHPH cho phép NHTB

ứng trước cho người thụ hưởng để mua hàng hóa, nguyên liệu phục vụ sản xuất hàng hóa theo L/C đã mở

- L/C dự phòng: theo Phòng thương mại quốc tế ICC, thì L/C

dự phòng là loại tín dụng chứng từ hoặc một thỏa thuận tương tự, dù được gọi hoặc miêu tả như thế nào, theo đó NHPH cam kết với người hưởng lợi

sẽ trả một khoản tiền mà người yêu cầu mở L/C đã vay hoặc ứng trước; Thanh toán khoản nợ của người yêu cầu mở, bồi hoàn những thiệt hại do Người yêu cầu mở L/C không thực hiện được nghĩa vụ của mình

- L/C chuyển nhượng: là loại L/C mà theo đó người hưởng lợi

thứ nhất có thể yêu cầu ngân hàng chuyển nhượng được ủy quyền thực hiện việc trả tiền, cam kết trả tiền sau, chấp nhận hoặc chiết khấu, hoặc trong trường hợp L/C được chiết khấu tự do, ngân hàng được ủy quyền trong L/C với vai trò là ngân hàng chuyển nhượng sẽ phân bổ toàn bộ hay một phần L/C cho một hay nhiều người thụ hưởng khác, được gọi là người thụ hưởng thứ hai

1.2.3.4 Các bên tham gia thanh toán theo phương thức L/C

- Người yêu cầu mở L/C: Là Bên là L/C được phát hành theo

yêu cầu của họ, người yêu cầu là nhà nhập khẩu hay nhà nhập khẩu sẽ có trách nhiệm pháp lý về việc NHPH trả tiền cho người thụ hưởng L/C Người yêu cầu mở L/C là nhà nhập khẩu

- Người thụ hưởng L/C: Là bên được hưởng số tiền thanh toán

hay sở hữu hối phiếu đã chấp nhận thanh toán theo L/C Trong những hoàn cảnh cụ thể, mà người thụ hưởng L/C có thể là nhà xuất khẩu, người ký

Trang 30

phát hối phiếu, người thắng thầu và nếu trường hợp là L/C chuyển nhượng thì người đã được chuyển nhượng được gọi là người thụ hưởng thứ hai

- NHPH: Là ngân hàng thực hiện phát hành L/C theo đơn yêu

cầu của người yêu cầu, hay nói đúng hơn là ngân hàng cam kết chắc chắn

và không hủy ngang về việc thanh toán cho người thụ hưởng khi xuất trình phù hợp NHPH thường được thỏa thuận giữa nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu hoặc nếu không có quy định trong hợp đồng ngoại thương thì nhà nhập khẩu có quyền tự chọn NHPH cho mình

- NHTB: Là ngân hàng được NHPH ủy quyền thông báo L/C

cho người thụ hưởng Thông thường NHTB là ngân hàng đại lý hoặc chi nhánh của NHPH tại nước nhà xuất khẩu, trong trường hợp NHTB không

có quan hệ khách hàng với người thụ hưởng, thì NHTB sẽ chuyển thông báo L/C đến với một ngân hàng có quan hệ khách hàng với người thụ thưởng, ngân hàng này được gọi là ngân hàng thông báo thứ hai

- NHXN: Là ngân hàng bổ sung sự xác nhận của mình vào L/C

theo yêu cầu hoặc theo sự ủy quyền của NHPH Tính chất của loại L/C có NHXN là do NHPH không có sự tín nhiệm từ người thụ hưởng, nên cần phải có một sự xác nhận thứ hai từ một ngân hàng đáng tin cậy hơn đối với người thụ hưởng

- NHĐCĐ: là một ngân hàng kiểm tra việc xuất trình để quyết

định xem trên bề mặt của chứng từ có tạo thành một xuất trình phù hợp hay không, việc thanh toán hay chiết khấu sau khi xác nhận xuất trình phù hợp còn tùy thuộc vào nội dung mà NHPH chỉ định cho NHĐCĐ được thực hiện

Trang 31

1.2.3.5 Qui trình thực hiện nghiệp vụ của phương thức L/C

a L/C có giá trị thanh toán tại NHPH

Hình 1.4 Hình biểu diễn qui trình thanh toán L/C tại NHPH

(4) (7) (6)

(3) (7) (6’) (1) (5)

Trang 32

b L/C có giá trị thanh toán tại NHĐCĐ

Hình 1.5 Hình biểu diễn qui trình thanh toán L/C tại NHĐCĐ

(Nguồn: Cẩm nan thanh toán quốc tế & tài trợ ngoại thương)

1.2.3.6 Các văn bản pháp lý điều chỉnh trong L/C

a Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ UCP

(The Uniform Customs and Practice for Documentary Credits):

UCP là văn bản pháp lý cơ sở để ràng buộc các bên tham gia thanh

toán bằng phương thức L/C do ICC (International Chamber of Commerce)

phát hành, được công bố lần đầu vào năm 1933 UCP đã được chấp nhận

Nhà xuất khẩu

NHPH

Nhà nhập khẩu

Trang 33

và áp dụng rộng rãi trên thế giới, trở thành cơ sở cho thanh toán bằng L/C trong thanh toán quốc tế UCP đã qua 6 lần sửa đổi, bổ sung vào các năm

1951, 1962, 1974, 1983, 1993 (UCP 500) và 2006 là UCP 600 do ICC ban hành ngày 25/10/2006 và có hiệu lực từ ngày 01/07/2007 được xem là văn bản hoàn hảo nhất về việc điều chỉnh các mối quan hệ, trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên liên quan, bên cạnh đó văn bản này còn quy định cách thức lập và kiểm tra chứng từ xuất trình theo thư tín dụng

b Bản phụ trương UCP về việc xuất trình chứng từ điện tử (eUCP):

eUCP là văn bản điều chỉnh việc xuất trình chứng từ điện tử trong thanh toán thư tín dụng điện tử do ICC (International Chamber of Commerce) phát hành eUCP chỉ bổ sung những khái niệm mới để phù hợp hơn với môi trường kinh doanh được ứng dụng công nghệ điện tử cũng như giải quyết hầu hết các vấn đề cơ bản liên quan đến xuất trình chứng từ điện

tử eUCP cũng như các văn bản được điều chỉnh khác của UCP mà không

hề thay thế UCP, việc ứng dụng công nghệ điện tử trong kinh doanh rất phổ biến và có khả năng thay thế cho các công cụ truyền thống Việc áp dụng eUCP chỉ có hiệu lực khi trong L/C cho phép xuất trình chứng từ điện

tử

c Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế (International Standard Banking Practice for the Examination of Documents Under Documentary Credits - ISBP)

ISBP là văn bản hướng dẫn kiểm tra chứng từ xuất trình theo nội dung L/C có áp dụng UCP ISBP bản 645 ra đời năm 2002 đã cụ thể hóa những quy định của UCP 500, thể hiện sự nhất quán với UCP cũng như các quan điểm và các quyết định của Ủy ban ngân hàng của ICC Văn bản này

là sự bổ sung mang tính thực tiễn cho UCP, nó không sửa đổi UCP, mà chỉ

Trang 34

giải thích chi tiết và rõ ràng hơn cách áp dụng các quy tắc của UCP trong giao dịch hàng ngày Sự ra đời của ISBP giúp các bên tránh việc tự suy diễn, giảm thiểu tối đa việc xảy ra tranh chấp do cách hiểu khác nhau về UCP ISBP 681 là bản mới nhất được ICC phát hành năm 2007, trong đó

có những sửa đổi, bổ sung nhằm tương thích với các điều khoản của UCP

525 quy định những vấn đề liên quan đến các giao dịch hoàn trả giữa các ngân hàng, bao hàm nhiều khía cạnh của việc xử lí hoàn trả hơn so với Điều 19 của UCP 500 và giải quyết những vấn đề riêng mà UCP không đề cập đến URR 725 do ICC phát hành có hiệu lực áp dụng từ ngày 1/10/2008, trong đó có những thay đổi về văn phong để phù hợp hơn với UCP600

Trang 35

1.3 RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ

Rủi ro trong hoạt động TTQT là những tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện TTQT liên quan đến thương mại quốc tế, nguyên nhân phát sinh từ quan hệ lợi ích giữa các bên tham gia TTQT là nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu, ngân hàng phục vụ, các tổ chức, cá nhân và các tác nhân trung gian,… hoặc những nhân tố khách quan khác gây nên như thiên tai, chiến tranh, chính trị quốc gia Rủi ro trong hoạt động TTQT phức tạp hơn thanh toán nội địa do khoảng cách về địa lý, những khác biệt về văn hóa, luật pháp, ngôn ngữ…

Trong những trường hợp bất khả kháng hay do yếu tố chủ quan dẫn đến rủi ro phát sinh cho các bên như: rủi ro do yếu tố thương mại, rủi

ro chính trị quốc gia, rủi ro từ pháp lý của nước nhà xuất nhập khẩu, rủi ro

tỉ giá, rủi ro đạo đức và rủi ro do qui trình nghiệp vụ gây ra Sau đây là những rủi ro phổ biến trong từng phương thức thanh toán được dùng phổ biến trong thanh toán quốc tế tại Việt Nam

1.3.1 Rủi ro trong phương thức chuyển tiền và phương thức nhờ thu

Do trong phương thức chuyển tiền và phương thức nhờ thu được

áp dụng khi các bên đã có mối quan hệ mật thiết hoặc thị trường nhập khẩu

là các nước tiên tiến, có uy tín cao thì mức độ xảy ra rủi ro từ những nguyên nhân do yếu tố thương mại, chính trị quốc gia, pháp lý của nước nhà nhập khẩu, thay đổi tỉ giá và do qui trình nghiệp vụ gây ra sẽ thấp hơn

so với phương thức tín dụng chứng từ hay L/C, do thường áp dụng cho những bạn hàng mới hoặc bạn hàng không thường xuyên thì các nguyên nhân từ yếu tố thương mại, chính trị quốc gia, pháp lý của nước nhà nhập khẩu, thay đổi tỉ giá và do qui trình nghiệp vụ sẽ được trình bày rõ hơn trong phần trình bày về rủi ro thanh toán trong phương thức L/C

Trang 36

- Rủi ro đạo đức từ nhà nhập khẩu:

Chính vì đặc mối quan hệ và uy tín của các bên lên hàng đầu mà yếu tố đạo đức được xem là nguyên nhân chính dẫn đến rủi ro cho các bên trong thanh toán quốc tế bằng phương thức chuyển tiền và phương thức

nhờ thu

+ Trường hợp nhà xuất khẩu thực hiện giao hàng trước và nhận thanh toán sau khi nhận hàng thì khả năng rủi ro xảy ra rất cao, vì nhà nhập khẩu có thể bị phá sản hoặc gặp khó khăn tài chính mà không thể nhận hàng và thanh toán hoặc đã nhận hàng nhưng không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho nhà xuất khẩu

+ Hoặc nhà nhập khẩu cố tình gây bất lợi cho nhà xuất khẩu khi dựa vào sự sai lệnh về thời gian giao hàng, những thiếu sót nhỏ trong chứng từ hoặc sai lệch về số lượng, chất lượng hàng hóa mà không tiến hành nhận hàng và thanh toán nhằm mục đích buộc nhà xuất khẩu phải giảm giá bán

+ Khi có sự biến động về giá bán, nhà nhập khẩu muốn giảm thiệt hại do giá thị trường giảm mà không muốn nhận hàng và thanh toán làm cho nhà xuất khẩu trở nên bị động, có thể mất thêm chi phí vận chuyển hàng về nước, bán hàng hóa với giá rẻ hơn hoặc tìm đối tác khác để bán thậm chí phải hủy bỏ hàng

- Rủi ro đạo đức từ tội phạm công nghệ

Khi thông tin của doanh nghiệp bị đánh cấp từ phía các nhóm tội phạm lừa đảo công nghệ, các đối tượng thực hiện đánh cấp dữ liệu quan trọng của doanh nghiệp kể cả quyền truy cập địa chỉ email chuyên dùng liên lạc trao đổi thông tin, dữ liệu bảo mật quan trọng qua lại với đối tác nước ngoài Trong trường hợp này, các đối tượng lừa đảo giả dạng là thành viên của nhà xuất khẩu để liên lạc với nhà nhập khẩu nhằm thay đổi một hay nhiều thông tin quan trọng như số tài khoản ngân hàng của doanh

Trang 37

nghiệp, hay theo dõi việc trao đổi thông tin của doanh nghiệp với nhiều đối tác nhầm mục đích trục lợi bất chính

+ Trong phương thức nhờ thu thì nhờ thu kèm chứng từ được các bên sử dụng phổ biến hơn nhờ thu phiếu trơn trong giao dịch ngoại thương,

do tính rủi ro trong thanh toán nhờ thu phiếu trơn là rất lớn gây bất lợi cho nhà xuất khẩu trong trường hợp nhà nhập khẩu không chấp nhận hối phiếu khi chưa chắc chắn rằng hàng hoá đã đạt yêu cầu, hay không có gì đảm bảo

là người nhập khẩu sẽ có khả năng thanh toán khi hối phiếu đến hạn Việc nhà xuất khẩu có nhận được tiền hay không hoàn toàn tuỳ thuộc vào thiện chí của nhà nhập khẩu

+ Nhà xuất khẩu chỉ có thể thông qua ngân hàng để khống chế quyền định đoạt hàng hoá chứ chưa khống chế được việc trả tiền của nhà nhập khẩu Điều này dẫn đến có trường hợp nhà xuất khẩu đã giao hàng và gửi bộ chứng từ tới ngân hàng nhờ thu nhưng nhà nhập khẩu không nhận hàng và trả tiền Trong trường hợp này nhà xuất khẩu tuy không mất hàng nhưng cũng phải tốn một khoản chi phí nhất định trong việc vận chuyển, lưu kho, lưu bãi hàng hoá thậm chí có trường hợp phải bán giảm giá hoặc huỷ bỏ toàn bộ hàng hoá

+ Rủi ro từ tính chân thật hay tính hợp lệ của chữ ký chấp nhận thanh toán từ người đại diện hợp pháp Trong trường hợp này có thể do nhà nhập khẩu cố tình giả mạo chữ ký chấp nhận thanh toán hay người ký chấp nhận thanh toán không đủ thẩm quyến hoặc chưa được ủy quyền một cách hợp lệ với mục đích nhận được hàng, nên việc nhận được tiền thanh toán của nhà nhập khẩu sau khi đã nhận hàng là hết sức khó khăn, lúc này tùy vào thiện chí của nhà nhập khẩu hoặc sẽ không nhận được thanh toán khi nhà nhập khẩu cố tình giả mạo chữ ký chấp nhận thanh toán để lừa gạt nhà xuất khẩu

Trang 38

+ Trong trường hợp nhà xuất khẩu đã gửi hàng hóa đi nhưng chưa chuyển giao bộ chứng từ cho ngân hàng nhờ thu mà nhà nhập khẩu đơn phương hủy hợp đồng dù cho hàng hóa đã đã gửi đi đúng như thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, thì việc khởi kiện nhà nhập khẩu cũng sẽ tốn nhiều thời gian và chi phí đi lại cho vụ thưa kiện Mặc khác, luật pháp áp dụng trong trường hợp này là luật của nước nhà nhập khẩu

Trong hai phương thức này, mỗi bên đều không muốn mình ở thế

bị động Tuy nhiên, trong thực tế thông thường thì bên mua hầu như không chấp nhận chuyển tiền thanh toán trước khi nhận được hàng dù cho các bên

có mối quan hệ thân thiết với nhau từ trước, ngoại trừ đó là những mặt hàng độc quyền sản xuất, hàng hóa có giá trị cao hay vị thế thương mại của phía bên bán quá lớn nên việc chuyển tiền trước để giữ chổ hay giữ hàng là điều bắt buộc, đối với các doanh nghiệp xuất khẩu mà vị thế thương mại thấp luôn phải chấp nhận việc nhận hàng trước khi thanh toán, chính vì ở thế chủ động mà bên mua có thể ràng buộc bên bán phải giao hàng đúng hạn, hàng hóa đúng chất lượng, số lượng như đã thỏa thuận trong hợp đồng hoặc sẵng sàng hủy hợp đồng không nhận hàng khi giá hàng hóa trên thị trường suy giảm

1.3.3 Rủi ro theo phương thức L/C

Ngày nay, do tính phổ biến và lợi ích của các bên được dung hòa

mà các doanh nghiệp xuất khẩu và doanh nghiệp nhập khẩu thường sử dụng phương thức L/C cho những giao dịch mua bán mới phát sinh hay giữa các bên có mối quan hệ chưa thật sự thân thiết Chính vì giữa các bên tham gia chưa thật sự hiểu nhau hoặc thị trường còn mới mẻ nên mức độ rủi ro do các yếu tố khách quan sẽ cao hơn Sau đây là một số rủi ro khách quan mà các bên tham gia có thể gặp phải trong thanh toán quốc tế kể cả trong phương thức chuyển tiền, phương thức nhờ thu và phương thức L/C:

Trang 39

1.3.3.1 Rủi ro thương mại

- Rủi ro từ phía nhà nhập khẩu:

+ Khi nhà nhập khẩu gặp khó khăn về mặt tài chính, dẫn đến mất khả năng thanh toán khi L/C trả chậm đến hạn thanh toán, họ sẽ đề nghị xin gia hạn trả nợ Nhà xuất khẩu sẽ phải chấp nhận hoặc làm thủ tục khởi kiện nếu nhà nhập khẩu chưa thể cải thiện tình hình tài chính, tạm thời nhà xuất khẩu chưa thể nhận được tiền thanh toán như đã thỏa thuận

+ Trong trường hợp nhà nhập tuyên bố không còn khả năng chi trả

và buộc phải giải thể theo quy định của pháp luật Thì nhà xuất khẩu chỉ nhận được tiền sau khi nhà nhập khẩu ưu tiên thanh toán các khoản nợ theo quy định của pháp luật như các khoản tiền lương cho công nhân, nợ thuế nhà nước, các khoản nợ các tổ chức xã hội… vì vậy sẽ có rất ít cơ hội thu hồi các khoản mà nhà nhập khẩu đã nợ

- Rủi ro từ phía NHPH:

NHPH cam kết thanh toán khi nhận được xuất trình phù hợp, nhưng rủi ro phát sinh khi NHPH bị phá sản hoặc mất khả năng thanh toán Rủi ro này ảnh hưởng trực tiếp đến cả nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu, vì nhà xuất khẩu không thể nhận được tiền và nhà nhập khẩu không nhận được hàng cho dù đã ký quỹ 100% giá trị L/C

1.3.3.2 Rủi ro chính trị, quốc gia

Là những rủi ro liên quan đến sự thay đổi về chính trị, kinh tế, về chính sách quản lý ngoại hối - ngoại thương của một quốc gia do những nguyên nhân khách quan gây nên:

+ Xảy ra chiến tranh, đảo chính, biểu tình ở các nước

+ Xảy ra khủng hoảng chính trị, khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng tài chính – tiền tệ gây ra những khó khăn trong thanh toán

Trang 40

Trong trường hợp này, đây là loại rủi ro bất khả kháng, cả nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu đều không mong muốn xảy ra và khi rủi ro phát sinh làm cho hai bên đều phải chịu tổn thất

1.3.3.3 Rủi ro tỷ giá

Rủi ro tỷ giá cũng có thể coi như rủi ro suy đoán và tác động của

nó đối với các khoản phải thu và chi

Tỷ giá biến động sẽ phá vỡ kế hoạch tính toán của nhà xuất nhập khẩu, chẳng hạn khi giá cả đồng tiền trong nước so với đồng ngoại tệ tăng (tỷ giá hối đoái giảm) sẽ bất lợi cho nhà xuất khẩu vì tiền bán hàng thu về bằng ngoại tệ sẽ được ít đồng nội tệ hơn do vậy mua được ít yếu tố đầu vào hơn làm cho kinh doanh xuất khẩu có thể bị thua lỗ Biến động tỷ giá hối đoái giảm còn ảnh hưởng khi nhà xuất khẩu nhận tài trợ xuất khẩu từ ngân hàng bằng nội tệ để phục vụ sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu

1.3.3.4 Rủi ro pháp lý

Rủi ro về pháp lý xảy ra trong trường hợp có tranh chấp hay khiếu kiện giữa các bên có tham gia thanh toán Khi đó vấn đề đặt ra là tòa án nước nào sẽ đứng ra thụ lý và xử vụ án trên cơ sở pháp lý nước nào Mặc

dù trong hợp đồng mua bán đã đề cập đến vấn đề này, tuy nhiên vẫn còn rất nhiều khó khăn bởi vì không bên nào có thể thông thạo luật pháp của bên đối tác Chính vì môi trường pháp lý và luật pháp của các bên khác nhau nên rủi ro pháp lý là không thể tránh khỏi

1.3.3.5 Rủi ro đạo đức

- Rủi ro đạo đức từ nhà nhập khẩu:

+ Khi hàng hóa trên thị trường sụt giảm hoặc phát hiện mua hớ, thì nhà nhập khẩu cố tình không chấp nhận bộ chứng từ, hoặc trì hoãn không thanh toán đẩy ngân hàng và nhà xuất khẩu vào tình thế khó khăn

Ngày đăng: 04/08/2021, 14:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS Trần Nguyễn Hợp Châu, 23/05/2018, Lựa chọn phương thức thanh toán quốc tế phù hợp - một số khuyến nghị đối với doanh nghiệp, Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng, truy cập ngày 25/05/2020 Khác
2. GS.TS. Nguyễn Văn Tiến, 2017, Cẩm nang thanh toán quốc tế và tài trợ ngoại thương, NXB Lao động Khác
3. Ngô Thị Ngọc Huyền, 2003, Rủi ro trong kinh doanh, NXB Thống kê Khác
4. Phạm Thanh Liêm, 2012, Giáo trình hoạt động thương mại quốc tế, NXB Thống kê Khác
5. GS. Ðinh Xuân Trình (2007). Bộ tập quán quốc tế về L/C của ICC- NXB Ðại học Kinh tế Quốc dân Khác
6. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam (VCCI) – Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) (2010) – Các Phán quyết Trọng tài Quốc tế chọn lọc. NXB Tư pháp Khác
7. PGS.TS. Nguyễn Thị Quy – Ðài Truyền hình VTV2 (2012). Các tranh chấp thường xảy ra trong TTQT bằng L/C và cách giải quyết Khác
8. Vũ Xuân Thúy, 2015, Luận văn thạc sĩ phân tích tình hình kinh doanh dịch thanh toán quốc tế tại ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh Đà Nẵng, trường Đại học Đà Nẵng 9. Cục xuc tiến thương mại Việt Nam_Viettrade, 2011, Quản trịrủi ro trong hoạt động xuất khẩu tại Việt Nam Khác
10. Chính phủ, 2011, Quyết định số 2471/QĐ-TTg về chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kì 2011-2020, định hướng đến năm 2030 Khác
11. Chính phủ, 2011, Nghị định số 75/2011/NĐ-CP về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước Khác
12. Chính phủ, 2013, Nghị định số 133/2013/NĐ-CP về sửa đổi bổ sung Nghị định số 54/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 05 năm 2013 về bổ sung nghị định số 75/2011/ NĐ-CP ngày 30 tháng 8 năm 2011 của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước Khác
13. Chính phủ, 2011, Thông tư số 201/2011/TT-BTC về việc quy định lãi suất cho vay tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu của Nhà nước và mức chênh lệch lãi suất được tính hỗ trợ sau đầu tư Khác
14. Trung tâm Thương mại Quốc tế UNCTAD/WTO (ITC) và Cục Xúc tiến Thương mại Việt Nam (VIETRADE), 08/2015, Đánh giá tiền năng xuất khẩu của Việt Nam, Dự án VIE/61/94 Hỗ trợ Xúc tiến Thương mại và Phát triển Xuất khẩu tại nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

DANH MỤC BẢNG BIỂU - Rủi ro trong thanh toán xuất khẩu đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Khảo sát các doanh nghiệp tại Kiên Giang.
DANH MỤC BẢNG BIỂU (Trang 11)
Bảng 1.1 Sự khác nhau giữa TM nội địa và ngoại thương. - Rủi ro trong thanh toán xuất khẩu đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Khảo sát các doanh nghiệp tại Kiên Giang.
Bảng 1.1 Sự khác nhau giữa TM nội địa và ngoại thương (Trang 20)
Căn cứ vào hình thức, thì chuyển tiền có hai (02) loại đó là chuyển tiền bằng thư (M/T) và chuyển tiền bằng điện (T/T) - Rủi ro trong thanh toán xuất khẩu đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Khảo sát các doanh nghiệp tại Kiên Giang.
n cứ vào hình thức, thì chuyển tiền có hai (02) loại đó là chuyển tiền bằng thư (M/T) và chuyển tiền bằng điện (T/T) (Trang 24)
Hình 1.2 Quy trình thanh toán theo phương thức nhờ thu phiếu trơn. - Rủi ro trong thanh toán xuất khẩu đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Khảo sát các doanh nghiệp tại Kiên Giang.
Hình 1.2 Quy trình thanh toán theo phương thức nhờ thu phiếu trơn (Trang 25)
Hình 1.3 Quy trình thanh toán theo phương thức nhờ thu kèm chứng từ. - Rủi ro trong thanh toán xuất khẩu đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Khảo sát các doanh nghiệp tại Kiên Giang.
Hình 1.3 Quy trình thanh toán theo phương thức nhờ thu kèm chứng từ (Trang 26)
Hình 1.4 Hình biểu diễn qui trình thanh toán L/C tại NHPH - Rủi ro trong thanh toán xuất khẩu đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Khảo sát các doanh nghiệp tại Kiên Giang.
Hình 1.4 Hình biểu diễn qui trình thanh toán L/C tại NHPH (Trang 31)
Hình 1.5 Hình biểu diễn qui trình thanh toán L/C tại NHĐCĐ - Rủi ro trong thanh toán xuất khẩu đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Khảo sát các doanh nghiệp tại Kiên Giang.
Hình 1.5 Hình biểu diễn qui trình thanh toán L/C tại NHĐCĐ (Trang 32)
Hình 2.1 Tỷ trọng các PTTT trong XK tại một số NHTM Việt Nam - Rủi ro trong thanh toán xuất khẩu đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Khảo sát các doanh nghiệp tại Kiên Giang.
Hình 2.1 Tỷ trọng các PTTT trong XK tại một số NHTM Việt Nam (Trang 46)
Hình 2.2 Tỷ trọng các PTTT trong NK tại một số NHTM Việt Nam - Rủi ro trong thanh toán xuất khẩu đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Khảo sát các doanh nghiệp tại Kiên Giang.
Hình 2.2 Tỷ trọng các PTTT trong NK tại một số NHTM Việt Nam (Trang 47)
Bảng 2.2 Các mặt hàng XK chính của Kiên Giang 2017-2019 - Rủi ro trong thanh toán xuất khẩu đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Khảo sát các doanh nghiệp tại Kiên Giang.
Bảng 2.2 Các mặt hàng XK chính của Kiên Giang 2017-2019 (Trang 51)
Hình 2.3 Tỷ lệ các PTTT theo giá trị thanh toán XK của DN được khảo sát - Rủi ro trong thanh toán xuất khẩu đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Khảo sát các doanh nghiệp tại Kiên Giang.
Hình 2.3 Tỷ lệ các PTTT theo giá trị thanh toán XK của DN được khảo sát (Trang 53)
Bảng 2.3 Tỷ lệ các PTTT theo giá trị thanh toán của các DN - Rủi ro trong thanh toán xuất khẩu đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Khảo sát các doanh nghiệp tại Kiên Giang.
Bảng 2.3 Tỷ lệ các PTTT theo giá trị thanh toán của các DN (Trang 53)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w