1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cách biệt giữa nam và nữ trong thị trường lao động nhật bản

23 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 320,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, khi nhắc đến tên đảo quốc xinh đẹp này,người ta còn nghĩ đến một bức tranh trị an yên bình, một xã hội văn minh hiện đại, mộtcộng đồng có tinh thần tập thể cao,… Riêng đối với

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

1856190043CÁCH BIỆT GIỮA NAM VÀ NỮ TRONG THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG NHẬT BẢN HIỆN NAY

Trang 2

Thủ Đức, ngày 5 tháng 3 năm 2021

Trang 3

MỤC LỤC

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Nhật Bản vốn được ca ngợi như một điển hình của sự trỗi dậy thần kỳ hay một “kỳtích” trên bản đồ kinh tế thế giới Ngoài ra, khi nhắc đến tên đảo quốc xinh đẹp này,người ta còn nghĩ đến một bức tranh trị an yên bình, một xã hội văn minh hiện đại, mộtcộng đồng có tinh thần tập thể cao,… Riêng đối với những người có ý định ra nước ngoàisinh sống và làm việc, đây còn là một “miền đất hứa”, không chỉ bởi bối cảnh chính trị -

xã hội ổn định mà còn vì hàng loạt chính sách thân thiện của chính phủ Nhật Bản Trongđợt ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 vừa qua, Chính phủ Nhật Bản đã ban hành và áp dụngmột số chính sách như trợ cấp nghỉ việc, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp sinh hoạt hoặcchuyển đối tư cách lưu trú khi thực tập sinh bị nghỉ việc tạm thời, mất việc làm hoặckhông thể về nước trong thời gian này Cụ thể có thể kể đến:

• Ngày 17/04/2020, Tổng Cục quản lý xuất nhập cảnh Nhật Bản đã công bố cácgiải pháp hỗ trợ người lao động chuyển đổi tư cách lưu trú thành “hoạt độngđặc định” có thời hạn tối đa 1 năm và được phép làm việc trong 14 lĩnh vựcngành nghề hiện Nhật Bản đang cho phép tiếp nhận lao động kỹ năng đặc định

• Ngày 03/4/2020, Tổng Cục quản lý xuất nhập cảnh Nhật Bản đã cho phép laođộng/ thực tập sinh nước ngoài đã hết thời hạn lưu trú nhưng không thể vềnước do hạn chế số lượng chuyến bay từ Nhật Bản được phép chuyển đối tưcách lưu trú thành: 1) “khách du lịch ngắn hạn” có thời gian lưu trú tối đa 90ngày và không được làm việc hoặc; 2) tư cách lưu trú “hoạt động đặc định” cóthời gian lưu trú tối đa 90 ngày và được phép làm việc

Thực tế cho thấy lao động Việt Nam cũng đang bị thu hút bởi “mảnh đất màu mỡ”này Ông Tống Hải Nam, Cục trưởng Cục Quản lý Lao động ngoài nước cho biết, theothống kê năm 2019, tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài đạt 152,530 laođộng, trong đó thị trường Nhật Bản chiếm số lượng đông đảo nhất – 82,703 người, đángchú ý là có đến 54.700 lao động nữ - tức chiếm khoảng 66.14% Con số này, theo dự báo

sẽ vẫn còn tăng do nhu cầu từ phía Nhật Bản cũng như do mục tiêu tập trung vào các thịtrường phát triển cao của nước ta Chưa kể nếu xét riêng sinh viên năm Ba khoa NhậtBản học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM thì ngoài số lượng nữgiới áp đảo, cũng dễ dàng nhận thấy được khi đứng trước các cơ hội việc làm trong tươnglai, sự kỳ vọng vào thị trường lao động Nhật Bản của các bạn là cực kỳ cao

Trang 5

Tuy nhiên, “mảnh đất” có “màu mỡ” cỡ nào cũng không tránh khỏi ít nhiều “thấtbát” Và đối với Nhật Bản, một trong “thất bát” lớn nhất- hay những vấn đề đáng báođộng trong thị trường lao động hiện thời chính là CÁCH BIỆT (HAY BẤT BÌNHĐẲNG) GIỮA NAM VÀ NỮ về các vấn đề như tiền lương, cơ hội việc làm hay vai trò

quản lý Đơn cử như theo báo cáo về bất bình đẳng giới toàn cầu của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) năm 2020 về các chỉ số chênh lệch giới tính “Economic Participation and

Opportunity”, “Educational Attainment”, “Health and Survival” và “PoliticalEmpowerment” (tương ứng với bốn lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế - phúc lợi xã hội vàchính trị) thì Nhật Bản chỉ đứng ở vị trí 121/153 quốc gia và vùng lãnh thổ Vấn đề nàycàng đặc biệt nghiêm trọng khi Nhật Bản - như đã trình bày ở phần trên - đang là mộttrong những cường quốc hàng đầu về kinh tế, hơn nữa vẫn còn “rộng cửa” chào đónnguồn lao động ồ ạt từ các nước bạn, trong đó, như trường hợp của Việt Nam thì lượnglao động nữ vẫn không ngừng tăng lên

Chính vì thực tế đã nêu, cùng với chuyện rất nhiều bạn trẻ vẫn còn lúng túng vớicác nguồn thông tin không rõ ràng có thể dẫn đến quyết định đáng tiếc thì việc có nhậnthức đầy đủ, đúng đắn và kịp thời về vấn đề này lại càng trở nên vô cùng cần thiết Đócũng chính là lý do nhóm quyết định thực hiện đề tài “CÁCH BIỆT NAM – NỮ TRONGTHỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG NHẬT BẢN HIỆN NAY” Trong đó, tiểu luận sẽ tập trungvào việc giới thiệu một số định nghĩa liên quan; khai thác, phân tích các dữ kiện sẵn có

về sự chênh lệch nam – nữ trong vấn đề tiền lương, cơ hội việc làm và vai trò quản lý đểcung cấp cái nhìn tổng quan về thực trạng, nguyên nhân, một số chính sách đã đượcchính phủ Nhật đưa ra và đánh giá mức độ hiệu quả của chúng; từ đó chúng ta sẽ có cơ sởphán đoán những chiều hướng có thể xảy ra cũng như những đề xuất trong tương lai củacác tổ chức và chuyên gia dành cho đảo quốc xinh đẹp này

I Khái quát định nghĩa và thực trạng cách biệt giữa nam và nữ trong thị trường lao động Nhật Bản hiện nay

1. Một vài định nghĩa liên quan

• Theo chương 10 “Sex & Gender” trong giáo liệu “Cultural Anthropology”(Lumen Learning):

Trang 6

Bất bình đẳng giới là sự nhận thức, đối xử một cách thiếu công bằng đối vớinhững cá nhân dựa trên giới tính của họ Bất bình đẳng giới phát sinh do những định kiến

về vai trò giới trong xã hội

• Theo quyển “Encyclopedia of Business Ethics and Society” (Robert W Kolb):

Có thể định nghĩa sự bất bình đẳng giới chính là việc thừa nhận sự khác biệt về cơhội giữa nam và nữ mà chỉ dựa trên nhận thức về những khác biệt chỉ xét mỗi về mặt giớitính Phân biệt giới tính là sự đối xử làm tổn hại đến lợi ích của người khác dựa trên giớitính của họ Người ta thường cho rằng chỉ có phụ nữ là đối tượng của bất bình đẳng giới

và phân biệt giới tính, tuy nhiên bất kì ai cũng có thể trở thành nạn nhân của các vấn đềtrên

Vị trí của phụ nữ trong thị trường lao động bị ảnh hưởng nặng nề bởi các bất lợi vềkinh tế - xã hội xuất phát từ phân biệt đối xử trên cơ sở giới Phụ nữ thường ít được tiếpcận đến các nguồn lực sản xuất, giáo dục, phát triển kỹ năng và cơ hội việc làm hơn sovới nam giới Sở dĩ xảy ra tình trạng này là do xã hội gán cho người phụ nữ địa vị thấphơn và đặt gánh nặng làm công việc nhà không lương lên vai người phụ nữ, nhưng vẫnmong muốn họ tham gia sản xuất nông nghiệp tự cung tự cấp và nền kinh tế thị trường

2 Thực trạng cách biệt giữa nam và nữ trong thị trường lao động nhật bản hiện nay

2.1. Cơ hội việc làm

Khoảng cách giới trong việc làm ngày càng trở thành một vấn đề nghiêm trọng,với Nhật Bản là quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất trong Tổ chức Hợp tác vàPhát triển Kinh tế (OECD)

Theo số liệu của OECD năm 2017, trong khi phụ nữ nắm giữ 45,4% bằng cử nhâncủa Nhật Bản, họ chỉ chiếm 18,2% lực lượng lao động và chỉ 2,1% người sử dụng laođộng là phụ nữ

Có một số lý thuyết giải thích sự tham gia lực lượng lao động thấp của phụ nữ.Một điểm cho thấy tầm quan trọng của gia đình trong xã hội Nhật Bản Sự nhấn mạnhvào mô hình nam - trụ cột gia đình vẫn tồn tại vì các chính sách thuế của chính phủ và lợi

Trang 7

ích của công ty không có lợi cho phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ có gia đình Có một chínhsách của chính phủ đảm bảo chăm sóc sức khỏe và lương hưu cho vợ/ chồng kiếm được íthơn 1,3 triệu yên, tương đương khoảng 11.500 đô la, do đó không khuyến khích các cặp

vợ chồng đi làm Các công ty Nhật Bản có nhiều lợi ích cho nam giới vì họ phải chu cấpcho gia đình ở quê nhà Tiền lương và phúc lợi của công việc cũng bị ảnh hưởng nhiềubởi nhiệm kỳ và thâm niên, khiến phụ nữ có gia đình khó thăng tiến trong công việcthường xuyên Hơn nữa, các hộ gia đình ba thế hệ, bao gồm ông bà, cha mẹ và con cái,vẫn rất phổ biến ở Nhật Bản Trong số này, tiền lương và phúc lợi của người chồng phảichu cấp cho cả gia đình trong khi người vợ ở nhà và chăm sóc người già và trẻ em

Theo số liệu của OECD năm 2017, trung bình phụ nữ dành 5,5 giờ làm việc nhàkhông công mỗi ngày, trong khi nam giới chỉ dành một giờ Nam giới làm rất ít việc nhà

ở Nhật Bản và đây là một phần của sự phân công lao động theo giới tính Việc ưu tiênthâm niên của người Nhật làm tổn hại đến những phụ nữ muốn có con trước, vì nhữnglần thăng chức sẽ được trao sau này trong cuộc đời Số lượng phụ nữ ở các vị trí cấp caohơn (quản lý, giám đốc điều hành và chính trị gia, ) khá thấp Phụ nữ chỉ chiếm 3,4% sốghế trong ban giám đốc các công ty Nhật Bản

Nếu một người phụ nữ đi xin việc, chắc chắn họ sẽ bị xoay giữa hàng loạt các câuhỏi mà bộ phận nhân sự hỏi thẳng không một chút ngại ngần Cụ thể, nếu bạn là sinh viênmới ra trường: “Bạn có dự định kết hôn chưa? Khi nào? Kết hôn xong có nghỉ việckhông?” Còn nếu bạn đã kết hôn (mục này phải ghi rõ trong đơn xin việc): “Bạn có em

bé chưa?”, “Chưa có à, vậy khi nào dự định có em bé?”, “Có em bé xong có nghỉ việckhông?” Nếu bạn đã có một bé: “Bạn có dự định có thêm em bé nữa không?”, “Bạn cóchắc là bạn làm được 2 – 3 năm ở đây rồi mới nghỉ sinh chứ?”

Điều này cũng hoàn toàn có thể hiểu được Vì đứng trên phương diện doanhnghiệp, để đảm bảo doanh nghiệp được vận hành một cách ổn định, hiệu quả, bạn cần sự

ổn định về mặt nhân sự trước tiên Thế nhưng trong bối cảnh xã hội Nhật Bản, khi màhiện trạng phụ nữ sẽ nghỉ việc sau khi kết hôn hoặc sau khi có em bé đã trở thành mộtđiều gần như là đương nhiên, thì việc để phụ nữ đảm nhiệm các vị trí chủ chốt trong công

ty cũng trở nên phi hiện thực Bởi các vị trí lãnh đạo chủ chốt, từ các cấp trưởng phòng,

kế toán trưởng, đến giám đốc tài chính, giám đốc vận hành, tổng giám đốc, đều đòi hỏithời gian và sự chuyên tâm vô cùng lớn Đây là điều mà một bà mẹ có con nhỏ sẽ rất khó

để đạt được nếu muốn chu toàn cả việc chăm sóc con cái lẫn việc ở công ty

Trang 8

Một vấn đề nữa là 3,5 triệu phụ nữ Nhật Bản đã được đi làm tại các công ty từnăm 2012 khi Thủ tướng Shinzo Abe nhậm chức nhưng 2/3 trong số đó là làm công việcbán thời gian Số lượng nữ giới làm việc bán thời gian tăng lên rất nhiều trong vòng 15năm.

Một trong những mục tiêu của Thủ tướng Shinzo Abe là cổ vũ phụ nữ tiếp tục trởlại làm việc sau khi sinh con Nhưng theo nghiên cứu của chính phủ Nhật Bản, gần 40%phụ nữ phải chuyển sang làm việc bán thời gian hoặc thậm chí là nghỉ việc sau kì nghỉthai sản

Vào khoảng tháng 08 năm 2018, các trang báo Nhật rúng động với tin lãnh đạotrường đại học Y khoa Tokyo và một số trường khác đã bí mật sửa điểm để giữ mứctuyển sinh của phái yếu là 30% tổng số thí sinh trúng tuyển Theo kết quả điều tra chobiết thì vụ việc đã bắt đầu từ năm 2006 cho đến khi bị phát hiện vào năm 2018 Điều này

đã làm mất đi cơ hội được cống hiến cho xã hội của phái yếu

Biểu đồ 1: Tỷ lệ lao động part- time của nam- nữ ở Nhật Bản qua các năm theo Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF)

Trang 9

Biểu đồ 2: Tỷ lệ lao động không lương của Nam- Nữ ở Nhật Bản qua các năm theo Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF)

Dựa vào biểu đồ 1, chúng ta có thể thấy lao động nữ tham gia vào công việc time (công việc bán thời gian) chiếm 36,7%, xấp xỉ 3,2 lần so với lao động nam Và ởbiểu đồ 2, thời gian mà phụ nữ bỏ ra cho những công việc không công (như việc nhà) gấp4,8 lần so đàn ông Ta có thể thấy sự chênh lệch đến vài lần trong lao động vào công việcpart-time và lao động không lương giữa nam và nữ ở Nhật Bản

part-2.2. Chế độ tiền lương

Theo OECD năm 2017, phụ nữ nước này chỉ kiếm được 73% thu nhập so với đànông

Theo dữ liệu của chính phủ Nhật Bản, chi phí sinh hoạt của 1 hộ gia đình gồm 2người ở Nhật Bản rơi vào khoảng 2.605 đô la (hơn 60,3 triệu đồng)/ tháng Có khoảng15,7% hộ gia đình nước này sống dưới chuẩn trung bình khi chỉ tiêu có khoảng 937 đô la(hơn 21,7 triệu đồng) mỗi tháng Trong khi, chỉ có hơn 40% phụ nữ làm việc bán thờigian kiếm được tối đa 1 triệu yên (hơn 210 triệu đồng)/ năm

Lợi ích, bảo đảm công việc và cơ hội thăng tiến, vốn là những đặc trưng dành chocông việc bán thời gian ở Nhật Bản và sự thiếu hụt những yếu tố đó làm ảnh hưởng đếntình hình tài chính của nữ giới Đối với người độc thân, gánh nặng này tăng thêm rấtnhiều lần vì họ không có chồng bên cạnh để cùng chia sẻ chi phí

Trang 10

Nhật Bản có khoảng cách lương theo giới là 25,7% vào năm 2017 và có khoảngcách lương cao thứ ba trong OECD

Sự phân biệt trên thị trường lao động có liên quan đến chênh lệch tiền lương theogiới Sau Thế chiến thứ hai, nhà nước cố tình đưa ra quyết định phân chia lao động theogiới tính Kết quả cho thấy nơi làm việc đa số là nữ có mức lương thấp hơn 5,1% so vớinơi làm việc dành cho nam Tỷ lệ này chỉ chiếm lao động toàn thời gian và không tínhđến lao động nữ bán thời gian cũng có thể đang nuôi con nhỏ

II Nguyên nhân dẫn đến sự cách biệt giữa nam và nữ trong thị trường lao động Nhật Bản hiện nay

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 - 1945), phát xít Nhật bại trận, đất nước bịtàn phá nặng nề trên mọi mặt Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội trong nước trở nên bất

ổn và mất kiểm soát, chính vì vậy mà Nhật Bản phải bắt tay xây dựng lại đất nước từđống tro tàn đổ nát Tuy nhiên chỉ sau 20 năm, Nhật Bản đã làm cho thế giới kinh ngạcbởi sự phát triển một cách vượt bậc, điều mà sau này thế giới phải gọi là “phát triển thầnkì” Để có được phép màu đó, không thể phủ nhận vai trò của người phụ nữ Nhật Bảnđương thời khi phải mang trên vai gánh nặng của gia đình và xã hội Những người nữvốn bị giới hạn trong phạm vi gia đình, gia tộc trước chiến tranh đã dũng cảm bước ra xãhội, cùng nam giới san sẻ những gánh nặng của đất nước

Bên cạnh những hậu quả nặng nề, bi thảm, Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc làmột cú hích lớn tạo tiền đề cho sự thay đổi sâu rộng trên mọi phương diện của đất nướcNhật Bản, trong đó, sự thay đổi về kinh tế, chính trị đặc biệt là xã hội với những luồng tưtưởng mới về giải phóng phụ nữ chính là điều kiện tiên quyết để thay đổi vị trí và vai tròcủa người phụ nữ Nhật Bản Luật Dân sự năm 1947 được ban hành, người phụ nữ đã cónhiều quyền hạn ngang hàng với nam giới về mọi mặt trong đời sống, nhưng nhữngquyền đó cũng chỉ mới được công nhận về mặt lý thuyết, còn thực tế cho thấy, ngay cảkhi Nhật Bản đã trở thành một quốc gia tân tiến thì người phụ nữ - trong mọi lĩnh vực -vẫn ở thế thấp hơn nam giới, mặc dù như đã trình bày ở trên thì có thể thấy vai trò của họ

là không hề nhỏ Mặt khác, đối chiếu với các số liệu thực tế ở phần I, đây thực sự là vấn

đề nóng bỏng, cần được xem xét một cách nghiêm túc tại Nhật Bản hiện nay

Trước tiên, hãy nhìn nhận lại xem từ những nguyên nhân nào khiến cho cách biệtgiữa nam và nữ vẫn tiếp tục diễn ra, bất chấp một số nỗ lực của Chính phủ?

Trang 11

1. Những định kiến xã hội bắt nguồn từ lịch sư

Không thể phủ nhận Nhật Bản đã từng có những giai đoạn tạo cho phụ nữ nhiều

điều kiện thuận lợi Trong tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Ngoại ngữ 26 (2010) 1-7, tác giả Ngô Minh Thủy đã viết “So với những thời đại lịch sử khác, thời Heian đã tạo được rất nhiều điều kiện thuận lợi cho phụ nữ Ở thời kỳ này, phụ nữ được sống tự do như nam giới, được giáo dục một cách kỹ lưỡng và tuỳ theo năng lực của mình, họ có thể được chọn để đảm đương những trọng trách trong triều đình Chính vì lẽ

đó, những em bé gái ra đời được chào đón cực kỳ vui sướng, bởi vì so với các em bé trai

- những đứa trẻ sau này chỉ có thể có được địa vị cao nhất như là bố chúng - thì các em

bé gái có thể là người sẽ mang lại vinh hạnh cho gia đình, nâng cao địa vị của gia đình nếu như sau này chúng được vào cung để đảm đương những trọng trách khác nhau.”

Tuy nhiên, khi chính quyền nằm trong tay các tướng quân thời kỳ Kamakura (1192 1333) và Muromachi (1336 - 1573), với đặc trưng địa vị của nam giới trở nên cao hơn.Trong đó, những tư tưởng của đạo Khổng đã nhấn mạnh một cấu trúc xã hội có thứ bậc,tôn ti, mà chính nó đã tạo ra sự phục tùng của người cấp bậc thấp đối với người có cấpbậc cao hơn và ưu thế của đàn ông sẽ trội hơn phụ nữ và trẻ nhỏ Dù vậy, một số ít phụ

-nữ ở tầng lớp thượng lưu vẫn có học vấn cao, thậm chí còn có những quyền quan trọngnhư quyền thừa kế tài sản, cho đến khi họ bị tước quyền này trong thời kì chuyển sangkinh tế phong kiến theo hướng phục vụ chiến tranh, bắt đầu từ thế kỉ XII Mấy trăm nămtương đối hòa bình trong thời Edo (1600 - 1868) dường như càng củng cố cơ cấu giatrưởng và đẩy người phụ nữ vào vai trò phụ thuộc Lại nói quan niệm Nho gia còn đóngkhung người phụ nữ theo quy chuẩn “tam tòng - tứ đức”, bó hẹp họ trong phạm vi giađình và không được phép can dự nhiều vào các công việc ngoài xã hội Những quy chuẩn

hà khắc ấy lại được duy trì xuyên suốt quá trình tiếp nhận nền chính trị và pháp luậtTrung Hoa, khiến cho tư tưởng “trọng nam khinh nữ” dần ăn sâu vào tiềm thức ngườiNhật và cứ thế tiếp diễn cho đến hiện tại

Trong xã hội hiện đại, khi nền kinh tế thực sự “cất cánh”, đàn ông Nhật Bản vẫngiữ vai trò trụ cột hay cụ thể hơn là lao động chính trong gia đình Nhìn vào bức tranhtoàn cảnh của Nhật Bản thì không khó để bắt gặp hình ảnh các “gia đình hạt nhân” cùngmột khuôn mẫu - chồng làm việc cật lực bên ngoài thì tất nhiên vợ phải ở nhà nội trợ vàchăm sóc con cái Vì vậy, các quy chuẩn phong kiến áp đặt lên vai người phụ nữ vẫn khó

bị xóa bỏ mà chỉ chuyển sang một hình thức khác hơn mà thôi Có thể kể đến như sau:

Ngày đăng: 04/08/2021, 12:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w