1.1.1 Công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa Công nghiệp hóa là một quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện hoạt động sản xuấtkinh doanh dịch vụ và quản lí xã hội từ lao động thủ công sang
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
KHOA CƠ KHÍ
BỘ MÔN KỸ THUẬT HỆ THỐNG CÔNG NGHIỆP
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGUỒN
NHÂN LỰC NGÀNH KỸ THUẬT HỆ THỐNG CÔNG NGHIỆP
CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH HIỆN NAY
Lớp: CK18HT01 GVHD: TS Đào Thị Bích Hồng Nhóm: 13
Lê Thị Thúy Quyên
Lê Thị Tú Quyên Nguyễn Thu Phương Phạm Thị Quỳnh Trương Thị Như Quỳnh
Học kỳ 202 (2020-2021)
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
KHOA CƠ KHÍ
BỘ MÔN KỸ THUẬT HỆ THỐNG CÔNG NGHIỆP
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH KỸ THUẬT HỆ THỐNG CÔNG NGHIỆP CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH HIỆN NAY
Lớp: CK18HT01 GVHD: TS Đào Thị Bích Hồng Nhóm: 13
Lê Thị Thúy Quyên
Lê Thị Tú Quyên Nguyễn Thu Phương Phạm Thị Quỳnh Trương Thị Như Quỳnh
Học kỳ 201 (2020-2021)
Trang 3MỤC LỤC
DANH SÁCH HÌNH ẢNH iii
DANH SÁCH BẢNG BIỂU iv
LỜI CẢM ƠN v
CHƯƠNG 1 QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY 1
1.1 Quan điểm 1 1
1.1.1 Công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa 2
1.1.2 Công nhiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức 3
1.1.3 CNH gắn với bảo vệ tài nguyên môi trường 4
1.2 Quan điểm 2 6
1.3 Quan điểm 3 7
1.4 Quan điểm 4 10
1.5 Quan điểm 5 11
1.5.1 Phát triển kinh tế hài hòa với phát triển văn hóa, gắn với tiến bộ và công bằng xã hội là yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 12
1.5.2 Phát triển kinh tế hài hòa với phát triển văn hóa, gắn với tiến bộ và công bằng xã hội gắn với phát triển bền vững: 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 4DANH SÁCH HÌNH ẢNH
No table of figures entries found.
Trang 5DANH SÁCH BẢNG BIỂU
No table of figures entries found.
Trang 6Tp HCM, ngày 23 tháng 3 năm 2021
Sinh viên thực hiện
Nhóm 13
Trang 7CHƯƠNG 1 QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG VỀ CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ HỘI NHẬP QUỐC
TẾ ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY
- Công nghệ sản xuất công nghiệp đã có bước thay đổi về trình độ theo hướnghiện đại Tỷ trọng công nghiệp chế tạo, chế biến trong giá trị sản xuất côngnghiệp tăng, tỷ trọng công nghiệp khai thác giảm dần, cơ cấu xuất khẩu chuyểndịch phù hợp với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn có chuyển biến; nông nghiệp pháttriển toàn diện hơn theo hướng khai thác những lợi thế của nền nông nghiệpnhiệt đới; ứng dụng khoa học - công nghệ và mức độ cơ giới hóa được nânglên; xây dựng nông thôn mới có nhiều tiến bộ
- Cơ cấu lao động có sự chuyển dịch tích cực, quá trình đô thị hóa diễn ra khánhanh
- Cơ cấu kinh tế theo ngành dần chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng ngànhnông - lâm - ngư nghiệp, tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ, xâydựng
Tuy nhiên, quá trình CNH, HĐH đất nước trong những năm qua còn nhiều hạn chế,kết quả chưa tương xứng với tiềm năng, chưa đạt mục tiêu đã hoạch định Cụ thể là:
- Thực hiện CNH, HĐH còn chậm, chưa gắn với phát triển kinh tế tri thức Quyhoạch phát triển các ngành công nghiệp nền tảng và công nghiệp hỗ trợ chưa cóđịnh hướng chiến lược rõ ràng, hiệu quả thấp Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế
- xã hội còn nhiều hạn chế, yếu kém, lạc hậu và thiếu tính kết nối Phát triển đôthị thiếu đồng bộ, chất lượng thấp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn gắn vớixây dựng nông thôn mới còn chậm
Trang 8- Chất lượng nguồn nhân lực thấp, chuyển dịch cơ cấu lao động chưa tương ứngvới chuyển dịch cơ cấu sản xuất Vì thế, nhiều chỉ tiêu, tiêu chí trong mục tiêuphấn đấu để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theohướng hiện đại không đạt được Trên thực tế, 10/15 tiêu chí của nước ta chỉ đạtmức tương đối thấp.
- Những hạn chế, yếu kém nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, songnguyên nhân chủ yếu là do: “
Thể chế hóa và tổ chức thực hiện còn chậm, thiếu hệ thống và đồng bộ.Chưa có đột phá về thể chế để huy động, phân bổ và sử dụng có hiệuquả nguồn lực phát triển theo cơ chế thị trường Chưa xác định rõ nhữngngành, lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm cần ưu tiên trong chính sách côngnghiệp quốc gia cho từng giai đoạn; thiếu gắn kết chặt chẽ, đồng bộ giữaCNH, HĐH với đô thị hóa, giữa phát triển nông nghiệp và kinh tế nôngthôn với xây dựng nông thôn mới
Chưa chuẩn bị thật tốt các điều kiện cần thiết và tận dụng thời cơ để hộinhập quốc tế có hiệu quả; có lúc, có việc chưa gắn chặt với đẩy mạnhCNH, HĐH, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ
1.1.1 Công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa
Công nghiệp hóa là một quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện hoạt động sản xuấtkinh doanh dịch vụ và quản lí xã hội từ lao động thủ công sang sử dung phổ biến sứclao động dựa trên sự phát triển của công nghiệp cơ khí
Hiện đại hóa là quá trình ứng dụng và trang bị những thành tựu khoa học và côngnghệ tiên tiến, hiện đại vào quá trình sản xuất , kinh doanh, dịch vụ và quản lí kinh tế
Trang 9xu thế hội nhập và tác động của quá trình toàn cầu hóa đã tạo ra nhiều cơ hội cũngnhư thách thức đối với đất nước Trong bối cảnh đó, nước ta cần phải và có thể tiếnhành công nghiệp hóa theo kiểu rút ngắn thời gian khi biết lựa chọn con đường pháttriển kết hợp công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
1.1.2 Công nhiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức
Để thực hiện mục tiêu Công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ở mỗi thời kỳ phải đạt đượcnhững mục tiêu cụ thể Đại hội X xác định mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức để sớmđưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 đưa nước
ta cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại
Vậy kinh tế tri thức là gì? Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đƣa ra địnhnghĩa : Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng trithức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng caochất lượng cuộc sống Trong nền kinh tế tri thức, những ngành kinh tế có tác động tolớn tới sự phát triển là những ngành dựa nhiều vào tri thức, dựa vào các thành tựu mớicủa khoa học, công nghệ Đó là những ngành kinh tế mới dựa trên công nghệ cao nhưcông nghệ thông tin, công nghệ sinh học và cả những ngành kinh tế truyền thống nhưnông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ được ứng dụng khoa học, công nghệ cao
Vậy tại sao nước ta phải tiến hành ông nghiệp hóa hắn liền với phát triển kinh tế trithức:
- Thứ nhất, nước ta cần sớm thoát khỏi tình trạng lạc hậu, rút ngắn khoảng cáchvới các nước trên thế giới Trong quá trình CNH – HĐH, nước ta có thuận lợi
cơ bản là nước đi sau, có thể học hỏi được kinh nghiệm thành công của nhữngnước đi trước và có cơ hội rút ngắn thời gian thực hiện quá trình này
- Thứ hai, tiến hành CNH – HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức là giải phápbắt buộc để tạo cơ sở vật chất – kỹ thuật của CNXH hiện thực
- Thứ ba, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế trithức bắt nguồn từ yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế sâu hơn, đầy đủ hơn
Trang 10- Thứ tư, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế trithức do tác động nhiều mặt của quá trình này đối với đời sống kinh tế, chínhtrị, xã hội.
Chính vì thế, Đại hội XII xác định: “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện mô hình côngnghiệp hóa, hiện đạihóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướngXHCN và hội nhập quốc tế gắn với phát triển kinh tế tri thức, lấy khoa học, côngnghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu”(3) Như vậy,Đại hội XII đã cụ thể hóa Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020
đã đề ra tại Đại hội XI
Ở đây, việc nhận thức quá trình phát triển đất nước không chỉ đơn thuần là tiến hànhCNH, mà phải là CNH đi đôi với HĐH, phải đẩy mạnh việc gắn kết chặt chẽ CNH,HĐH với phát triển kinh tế tri thức Phạm vi tiến hành không chỉ là các ngành kinh tếquốc dân như quan niệm trước đổi mới, mà nó bao gồm tất cả các lĩnh vực của đờisống kinh tế, chính trị và xã hội, tức là CNH, HĐH đất nước trong điều kiện thế giớiđang chuyển mạnh sang phát triển kinh tế tri thức Sự gắn kết này được xác định làcấp thiết đối với nước ta không chỉ để vượt qua “nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế sovới nhiều nước trong khu vực và trên thế giới” nhằm sớm trở thành nền kinh tế hiệnđại, mà còn tạo điều kiện vật chất, kỹ thuật và năng lực quản lý, đáp ứng yêu cầu xâydựng chủ nghĩa xã hội hiện thực, hội nhập quốc tế sâu hơn, đầy đủ hơn Đẩy mạnhCNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức là phương thức xây dựng một nướccông nghiệp trong điều kiện mới của cách mạng khoa học, công nghệ và xu hướngtoàn cầu hóa kinh tế đang gia tăng mạnh mẽ Như vậy, chủ trương của Đại hội XIIcũng chính là sự cụ thể hóa việc thực hiện định hướng Chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội giai đoạn 2011-2020 đã đề ra tại Đại hội XI
1.1.3 CNH gắn với bảo vệ tài nguyên môi trường
Qúa trình CNH – HĐH đặt ra nhiều vấn đề cấp thiết với môi trường:
- Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, hiện nước ta có gần 4000 cơ
sở sản xuất, hơn 1500 làng nghề gây ô nhiễm, hơn 200 khu công nghiệp cầnđược kiểm soát về khả năng gây ô nhiễm Thực tế là, ô nhiễm nguồn nước,không khí đang lan rọng không chí ở các KCN, kh đô thị,mà cả ở những vùng
Trang 11nông thôn; đa dạng sinh học tiếp tục bị suy giảm, biến đổi khi hậu và nước biểndâng gây ra triều cường và những hậu quả khôn lường, thành quả phát triển củanhiều địa phương trong nhiều năm chỉ sau một đợt thiên tai có thể bị xóa sạch.
- Chỉ tiêu GDP tăng gấp 2,2 lần trong 10 năm (2010-2020) với mức tăng trưởngcông nghiệp hằn năm 13% sẽ làm trầm trọng hơn tình trạng ô nhiễm ở cácKCN và vùng đô thị; việc CNH – HĐH các ngành công nghiệp nặng gây ranhững ảnh hưởng không thể bỏ qua với môi trường
- Đẩy mạnh tiến trình CNH – HDH nông nghiệp nông thôn là động lực lớn pháttriển các lành nghề Tuy nhiên do sản xuất tự phát, sử dụng công nghệ lạc hậunên phần lớn các làng nghê gây ô nhiễm môi trường
- CNH – HĐH sẽ kéo theo đô thị hóa Dân số đô thị năm 1996 là 19%, năm 2010đạt 30% và dự kiến tăng lên 45% vào 2020 Đây thực sự là sức ép lớn về môitrường trong quản lí đô thị Riêng Hà Nội, mỗi năm thải vào môi trường nướckhoảng 3600 tấn chất hữu cơ, 320 tấn dầu mỡ, hàng chục kim loại nặng…Trước tình hình đó, ngày 15-11-2004, Bộ Chính trị có Nghị quyết 41 – NQ/TW ‘’Vềbảo vệ môi trường trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước’’ đãkhẳng định bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một nội dung cơ bản của pháttriển bền vũng trong thời kì đẩy mạnh CNH – HĐH Năm 2005, Quốc hội đã thôngqua Luật bảo vệ môi trường Tại Đại hoojic Đảng lần thứ XI, nội dung bảo vệ môitrường được nâng lên một tầm cao mới, gắn chặt với quá trình công nghiệp hóa – hiệnđại hóa: ‘’ Đưa nội udng ảo vệ môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch pháttriển ngành, lĩnh vực, vùng và các chương trình dự án đầu tư’’ Một điểm mới so vớiĐại hoojic X là đưa thêm nội dung ‘’ chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện vớimôi trường; từng bước pahst triển năng lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu dùng sạch’’.Đảng đã đưa ra một số biện pháp bảo vệ, sử dụng hiệu quả tài nguyên quốc gia, cảithiện môi trường tự nhiên:
– Tăng cường quản lý tài nguyên quốc gia Quan tâm đầu tư vào lĩnh vực môi trường,khắc phục tình trạng xưống cấp môi trường Ngăn chặn các hành vi hủy hoại và gây ônhiễm môi trường; thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải xử lý ô nhiễm hoặcchi trả cho việc xử lý ô nhiễm
Trang 12– Từng bước hiện đại hóa công tác nghiên cứu, dự báo khí tượng – thủy văn, chủ độngphòng chống thiên tai, tìm kiếm, cứu nạn.
– Xử lý tốt mối quan hệ giữa tăng dân số, phát triển kinh tế và đô thị hóa với bảo vệmôi trường, bảo đảm phát triển bền vững
– Mở rộng hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên thiên nhiên,chú trọng lĩnh vực quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên nước
1.2 Quan điểm 2
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Khác với công nghiệp hóa ở thời kỳ trước đổi mới, được tiến hành trong nền kinh tế
kế hoạch hóa tập trung, lực lượng làm công nghiệp hóa chỉ có Nhà nước, theo kếhoạch của Nhà nước thông qua các chỉ tiêu pháp lệnh Thời kỳ đổi mới, công nghiệphóa, hiện đại hóa được tiến hành trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa, nhiều thành phần Do đó, công nghiệp hóa, hiện đại hóa không phải chỉ là việccủa Nhà nước mà là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế Công nghiệphoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân trong bối cảnh toàncầu hoá kinh tế, chúng taphải xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ Nền kinh tế độc lập, tự chủ, trước hết là độclập, tự chủ về đường lối, chủ trương, chínhsách phát triển kinh tế - xã hội, không lệthuộc vào những điều kiện kinh tế -chính trị do người khác áp đặt, đồng thời có tiềmlực kinh tế đủ mạnh; có mứctích luỹ ngày càng cao từ nội bộ nền kinh tế…có năng lựcnội sinh về khoa họcvà công nghệ; bảo đảm an ninh lương thực, an toàn năng lượng,tài chính, môitrường
Ở thời kỳ trước đổi mới, phương thức phân bổ nguồn lực để công nghiệp hóa đượcthực hiện bằng cơ chế kế hoạch hóa tập trung của nhà nước, còn thời kỳ đổi mới đượcthực hiện chủ yếu bằng cơ chế thị trường Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với pháttriển kinh tế thị trường không những khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực trong nềnkinh tế, mà còn sử dụng chúng có hiệu quả để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước Bởi vì, khi đầu tư vào lĩnh vực nào, ở đâu, quy mô thế nào,
Trang 13công nghệ gì đều đòi hỏi phải tính toán, cân nhắc kỹ càng, hạn chế đầu tư tràn lan, saimục đích, kém hiệu quả và lãng phí thất thoát.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế ở nước ta hiện nay diễn ra trong bối cảnhtoàn cầu hóa kinh tế, tất yếu phải hội nhập và mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế Hộinhập kinh tế quốc tế, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại nhằm thu hút nguồn vốn đầu
tư nước ngoài, thu hút công nghệ hiện đại, học hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến củathế giới… sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển Hội nhập kinh tế quốc tếcòn nhằm khai thác thị trường thế giới để tiêu thụ các sản phẩm mà nước ta có nhiềulợi thế, có sức cạnh tranh cao Nói cách khác, đó là việc kết hợp sức mạnh dân tộc vớisức mạnh thời đại để phát triển kinh tế nói chung và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nóiriêng đƣợc nhanh hơn, hiệu quả hơn
độ tăng trưởng kinh tế là hai mặt của một vấn đề, có quan hệ qua lại và thống nhất vớinhau
Trong các nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội bền vững thì nguồn lực con người( nguồn nhân lực ) đóng vai trò quyết định Nguồn nhân lực, đó chính là toàn bộnhững người lao động đang có khả năng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xãhội và các thế hệ những người lao động tiếp tục tham gia vào quá trình ấy Phát triểnnguồn lực con người là các hoạt động nhằm tạo ra nguồn nhân lực với số lượng vàchất lượng đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thởi
Trang 14bảo đảm sự phát triển của mỗi cá nhân Phát triển nguồn nhân lực là một bộ phận hợpthành quan trọng yếu trong chiến lược phát triển con người.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng khẳng định: chiến lược con người phảinằm ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đẩymạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Mọi chủ trương, chính sách nhằm phát huy nhân
tố con người đều xuất phát từ quan điểm cho rằng nhân dân là người sáng tạo ra lịch
sử, là chủ nhân thực sự của xã hội, là chủ thể của mọi hành động kinh tế, văn hoá xãhội và mục tiêu của toàn bộ sự nghiệp cách mạng là phục vụ nhân dân
Thực tiễn cho thấy, việc giải quyết vấn đề phát triển con người Việt Nam những nămqua được đánh giá có nhiều chuyển biến tích cực và đạt kết quả quan trọng Quá trìnhcách mạng Việt Nam chứng tỏ rằng trong những thời điểm lịch sử hiểm nghèo, nhữngtình thế hết sức khó khăn, con người Việt Nam đều rất sáng tạo, năng động và luôntìm ra những lối thoát, những đường hướng đi lên làm kinh ngạc cả bạn bè quốc tế.Lịch sử cũng chứng minh: thời kỳ nào cách mạng biết phát huy mạnh mẽ nhân tố conngười, tạo mọi điều kiện cho hoạt động sáng tạo của con người thì con người ViệtNam luôn biết "chuyển bại thành thắng", chuyển từ tình thế khó khăn thành lợi thếtrong đó con người là động lực trung tâm Do đó, Báo cáo tổng kết một số vấn đề lýluận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986 - 2006), Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tụckhẳng định: “Con người là vốn quý nhất, phát triển con người với tư cách vừa là độnglực, vừa là mục tiêu của cách mạng, của sự nghiệp đổi mới đất nước; gắn vấn đề nhân
tố con người với tinh thần nhân văn nhằm tạo điều kiện cho con người phát triển toàndiện, sống trong một xã hội công bằng và nhân ái, với những quan hệ xã hội lànhmạnh Con người và sự phát triển con người được đặt vào vị trí trung tâm của chiếnlược kinh tế - xã hội, mở rộng cơ hội, nâng cao điều kiện cho con người phát triển”
Kế thừa quan điểm về phát huy nhân tố con người từ các đại hội trước, trong Chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2015, Đảng ta xác định: tăng trưởng kinh tếnhanh và bền vững; nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; conngười là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển; tạochuyển biến mạnh về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát huy nhân tốcon người Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI nêu rõ mục tiêu tổng quát là: “Đến năm