1.Đặt vấn đề Rừng là một trong những tài nguyên thiên nhiên mang lại nhiều lợi ích cho con người. Các vai trò chính của rừng như: cung cấp nguyên nhiên liệu cho công nghiệp, nguồn lương thực, thực phẩm, dược liệu, vv…. Rừng còn có chức năng phòng hộ, lưu trữ các nguồn gen động thực vật quí hiếm, nơi có thể đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người thông qua các hoạt động du lịch, thể hiện những tín ngưỡng, phong tục tập quán mang đậm bản sắc riêng của từng dân tộc. Đặc biệt rừng được mệnh danh là lá phổi xanh của trái đất. Diện tích rừng ngày càng bị giảm sút đã gây nên nhiều hệ lụy cho đời sống người dân. Nó không chỉ thể hiện ở sự thu hẹp về diện tích, mà còn thể hiện ở sự suy giảm về trử lượng và cạn kiệt các giống loài có giá trị. Mất rừng đã trở thành nguyên nhân chủ yếu của sự thoái hóa đất đai, cạn kiệt nguồn nước và mức độ trầm trọng của các thiên tai. Đe dọa sự tồn tại lâu dài của của các vùng trên đất nước, đặc biệt nghiêm trọng là các vùng đầu nguồn, các vùng cửa sông, ven biển, các vùng cát nội đồng. Tỉnh Thừa Thiên Huế nằm ở duyên hải miền trung Việt Nam bao gồm phần đất liền và phần lãnh hải thuộc thềm lục địa biển Đông. Phần đất liền Thừa Thiên Huế có tọa độ địa lý như sau:
Trang 1ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất kỹ thuật lâm sinh đối với các hệ sinh thái rừng trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế”
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Đặng Thái Dương Sinh viên thực hiện: Lê Quang Thảo
Lớp: Cao học lâm học khóa 22A
Huế, tháng 6 năm 2017
Trang 2MỞ ĐẦU
1.Đặt vấn đề
Rừng là một trong những tài nguyên thiên nhiên mang lại nhiều lợi ích cho con người Các vai trò chính của rừng như: cung cấp nguyên nhiên liệu cho công nghiệp, nguồn lương thực, thực phẩm, dược liệu, vv… Rừng còn có chức năng phòng hộ, lưu trữ các nguồn gen động thực vật quí hiếm, nơi có thể đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người thông qua các hoạt động du lịch, thể hiện những tín ngưỡng, phong tục tập quán mang đậm bản sắc riêng của từng dân tộc Đặc biệt rừng được mệnh danh là lá phổi xanh của trái đất
Diện tích rừng ngày càng bị giảm sút đã gây nên nhiều hệ lụy cho đời sống người dân Nó không chỉ thể hiện ở sự thu hẹp về diện tích, mà còn thể hiện ở sự suy giảm về trử lượng và cạn kiệt các giống loài có giá trị Mất rừng đã trở thành nguyên nhân chủ yếu của sự thoái hóa đất đai, cạn kiệt nguồn nước và mức độ trầm trọng của các thiên tai Đe dọa sự tồn tại lâu dài của của các vùng trên đất nước, đặc biệt nghiêm trọng là các vùng đầu nguồn, các vùng cửa sông, ven biển, các vùng cát nội đồng
Tỉnh Thừa Thiên Huế nằm ở duyên hải miền trung Việt Nam bao gồm phần đất liền và phần lãnh hải thuộc thềm lục địa biển Đông Phần đất liền Thừa Thiên Huế có tọa độ địa lý như sau:
- Điểm cực Bắc: 16044'30'' vĩ Bắc và 107023'48'' kinh Đông tại thôn Giáp Tây, xã Điền Hương, huyện Phong Điền
- Điểm cực Nam: 15059'30'' vĩ Bắc và 107041'52'' kinh Đông ở đỉnh núi cực nam, xã Thượng Nhật, huyện Nam Đông
- Điểm cực Tây: 16022'45'' vĩ Bắc và 107000'56'' kinh Đông tại bản Paré, xã Hồng Thủy, huyện A Lưới
- Điểm cực Đông: 16013'18'' vĩ Bắc và 108012'57'' kinh Đông tại bờ phía Đông đảo Sơn Chà, thị trấn Lăng Cô, huyện Phú Lộc
Thừa Thiên Huế có chung ranh giới đất liền với tỉnh Quảng Trị, Quảng Nam, thành phố Đà Nẵng, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (có 81 km biên giới với Lào) và giáp biển Đông Phía Bắc, từ Đông sang Tây, Thừa Thiên Huế trên đường biên dài 111,671 km tiếp giáp với các huyện Hải Lăng, Đakrông và Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị Từ mặt Nam, tỉnh có biên giới chung với huyện Hiên, tỉnh Quảng Nam dài 56,66km, với huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
Trang 3dài 55,82 km Ở phía Tây, ranh giới tỉnh (cũng là biên giới quốc gia) kéo dài từ điểm phía Bắc (ranh giới tỉnh Thừa Thiên Huế với tỉnh Quảng Trị và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào) đến điểm phía Nam (ranh giới tỉnh Thừa Thiên Huế với tỉnh Quảng Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào) dài 87,97km Phía Đông, tiếp giáp với biển Đông theo đường bờ biển dài 120km
Phần đất liền, Thừa Thiên Huế có diện tích 503.320,5 ha (theo niên giám thống kê năm 2013), kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, nơi dài nhất 120
km (dọc bờ biển), nơi ngắn nhất 44 km (phần phía Tây); mở rộng chiều ngang theo hướng Đông Bắc - Tây Nam với nơi rộng nhất dọc tuyến cắt từ xã Quảng Công (Quảng Điền), phường Tứ Hạ (thị xã Hương Trà) đến xã Sơn Thủy - Ba
Lé (A Lưới) 65km và nơi hẹp nhất là khối đất cực Nam chỉ khoảng 2-3km Thừa Thiên Huế nằm trên trục giao thông quan trọng xuyên Bắc-Nam, trục hành lang Đông - Tây nối Thái Lan - Lào - Việt Nam theo đường 9 Thừa Thiên Huế ở vào vị trí trung độ của cả nước, nằm giữa thành phố Hà Nội và thành phố
Hồ Chí Minh là hai trung tâm lớn của hai vùng kinh tế phát triển nhất nước ta Thừa Thiên Huế cách Hà Nội 660 km, cách thành phố Hồ Chí Minh 1.080 km Với điều kiện tự nhiên như vậy, rừng trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế nằm trên các vùng sinh thái chủ đạo như vùng đồi núi, vùng trung du và vùng cát ven biển Ở đây có khu hệ thực vật phong phú, có thành phần nguồn gen đa dạng và có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ nguồn nước cho các dòng sông chính cung cấp nước thủy lợi, thủy điện, và nước sinh hoạt cho người dân trong địa bàn toàn tỉnh
Để có cái nhìn tổng quan về hiện trạng các hệ sinh thái rừng trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế và đề xuất một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh góp phần
nâng cao chất lượng rừng nên tôi chọn đề tài “Đánh giá hiện trạng và đề xuất
kỹ thuật lâm sinh đối với các hệ sinh thái rừng trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế”.
2 Mục đích/mục tiêu của đề tài
- Đánh giá được hiện trạng các hệ sinh thái rừng trên địa bàn tỉnh thừa Thiên Huế
- Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm xây dựng các hệ sinh thái rừng bền vững
Trang 4CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1 Cơ sở lý luận của các vấn đề nghiên cứu.
2 Cơ sở thực tiễn của các vấn đề nghiên cứu.
Trang 5CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Các mô hình trồng rừng trên các hệ sinh thái rừng, gồm:
- Hệ sinh thái rừng gập mặn
- Hệ sinh thái rừng vùng cát
- Hệ sinh thái rừng vùng đồi
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
- Về thời gian: Tháng 6 năm 2017
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Phân tích đặc điểm sinh thái rừng trồng vùng ngập mặn
2.2.1.1 Phân tích đặc điểm sinh thái của vùng ngập mặn
2.2.1.2 Đánh giá sinh trưởng của một số mô hình rừng ngập mặn
2.2.1.3 Đề xuất mô hình trồng rừng ngập mặn
2.2.2 Phân tích đặc điểm sinh thái rừng trồng vùng cát ven biển
2.2.2.1 Phân tích đặc điểm sinh thái của vùng cát ven biển
2.2.2.2 Đánh giá sinh trưởng của một số mô hình rừng vùng cát ven biển 2.2.2.3 Đề xuất mô hình trồng rừng vùng cát ven biển
2.2.3 Phân tích đặc điểm sinh thái rừng trồng vùng đồi
2.2.3.1 Phân tích đặc điểm sinh thái của vùng đồi
2.2.3.2 Đánh giá sinh trưởng của một số mô hình rừng vùng đồi
2.2.3.3 Đề xuất mô hình trồng rừng vùng đồi
2.3 Phương pháp nghiên cứu (Ứng với mỗi nội dung có các phương pháp
để đạt được kết quả mong đợi)
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Trong quá trình thực hiện, chuyên đề đã kế thừa các số liệu, tài liệu sau:
Trang 6- Số liệu, tài liệu, công trình nghiên cứu, các báo cáo đánh giá về kết quả thực hiện các hoạt động trồng rừng
- Các tài liệu, hướng dẫn kỹ thuật, có liên quan tới kỹ thuật trồng rừng
- Các số liệu, báo cáo đánh giá về tình hình sinh trưởng của các loài cây đã được sử dụng trong trồng rừng
- Các tài liệu, công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài cây đã đưa vào trồng rừng
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
- Điều tra, đánh giá hiện trạng rừng tại thực địa,xác định các chỉ tiêu:
+ Xác định tên loài (tên phổ thông và địa phương), đo đếm, đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng về đường kính (D1.3), chiều cao (Hvn, Hdc), đường kính tán (Dt),
+ Tiến hành đo đếm các chỉ tiêu về mật độ, cách bố trí số cây trong hàng,
cự ly, phương thức trồng,
- Đo đếm các chỉ tiêu: Đường kính D1.3, chiều cao vút ngọn, đường kính tán, phẩm chất cây, số thân, tỷ lệ sống…
* Điều tra đất: đánh giá bằng mắt thường
3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Xử dụng các phầm mềm chuyên dụng Microsoft để xử lý số liệu
Trang 7CHƯƠNG 3 DỰ KIẾN KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
2.2.1 Phân tích đặc điểm sinh thái rừng trồng vùng ngập mặn
2.2.1.1 Phân tích đặc điểm sinh thái của vùng ngập mặn
* Đất đai
Trên lãnh thổ Thừa Thiên Huế, tiếp nối sau đồng bằng duyên hải, lần lượt gặp đầm phá, sau đó là dãy cồn đụn cát chắn bờ và cuối cùng là biển ven bờ Đầm phá, cồn cát chắn bờ và biển ven bờ tuy khác nhau về hình thái và vị trí phân bố, nhưng lại có quan hệ tương hỗ, quyết định lẫn nhau trong suốt quá trình hình thành toàn bộ hệ thống lãnh thổ này Do vậy, có thể xem lãnh thổ bao gồm đầm phá, cồn đụn cát chắn bờ và biển ven bờ thuộc cùng một địa hệ và được gọi là đới ven bờ Địa hình khu vực đầm phá và biển ven bờ Tam Giang – Cầu Hai – An Cư bao gồm đầm phá, dãy cồn đụn cát chắn bờ và biển ven bờ đã tạo dựng được đáng vẻ hấp dẫn như hiện nay Diện tích cồn đụn cát chắn bờ và đầm phá chiếm gần 9% diện tích của tỉnh
Bờ và đáy phá Tam Giang chủ yếu được cấu tạo từ trầm tích Holocen Trong đó, trầm tích hiện đại gồm bùn bột – sét chiếm tới 3/4 diện tích trung tâm phá, sau đó gặp bùn sét ở cửa sông Ô Lâu, ít hơn có cát thô, cát trung và cát nhỏ phân bố gần khu vực cửa Thuận An Một khối lượng không nhỏ trầm tích đáy hiện đại tham gia cấu tạo bãi bồi ven đầm phá, bãi bồi dạng đảo, dạng delta ở cửa sông Ô Lâu, cửa sông Hương
Khác với phá Tam Giang, đầm Thủy Tú, tham gia cấu tạo bờ và đáy đầm Cầu Hai có cả trầm tích mềm rời Đệ tứ lẫn đá granit phức hệ Hải Vân Trong đó phần trên cùng của trầm tích đáy hiện đại phổ biến nhất (chiếm 2/3 diện tích) có bùn sét – bột xám đen, xám xanh phân bố ở trung tâm, tiếp đến gặp cát nhỏ, cát trung và cát thô cấu tạo bãi bồi ven bờ Tây Nam, bãi bồi delta ở cửa sông Đại Giang, sông Truồi, sông Cầu Hai, bãi bồi delta triều lên gần cửa Vinh Hiền Đầm Cầu Hai liên thông với biển Đông qua cửa Tư Hiền, có khi là cửa Vinh Hiền Dãy cồn đụn cát đoạn bờ Vinh Hiền – Tư Hiền có bề rộng khoảng 100-300m, độ cao 1-1,5m, lại luôn luôn biến động như một bãi ngang
2.2.1.2 Đánh giá sinh trưởng của một số mô hình rừng ngập mặn
Qua quá trình khảo sát tại Rú Chá (làng Thuận Hòa, xã Hương Phong, thị
xã Hương Trà, Thừa Thiên-Huế) là khu rừng ngập mặn nguyên sinh duy nhất còn lại trên phá Tam Giang Kết quả như sau:
Trang 8Rú Chá có diện tích khoảng 5 ha, được ví như một bình phong án ngữ che chắn cho đất liền trước biển Thuận An Ngoài ra, Rú Chá còn là nơi cư ngụ của nhiều loài tôm các đặc trưng vùng đầm phá
Loài cây chá chiếm tỷ lệ lớn (hơn 70%) Cây chá mọc tự nhiên Có nhiều cây tuổi thọ hàng chục năm, có trái như quả tiêu và không ăn được
Loài cây thứ 2 chiếm tỷ lệ lớn (khoảng 20-30%) ở đây nữa là cây Quao nước
Với sự hỗ trợ từ các dự án lâm nghiệp và môi trường, trên khu vực này cũng đã trồng nhiều mô hình rừng gập mặn như: dừa nước, đước, …
2.2.1.3 Đề xuất mô hình trồng rừng ngập mặn
Để duy trì hệ sinh thái rừng gập mặn này cần tiếp tục duy trì biện pháp bảo
vệ như hiện tại Có chính sách đầu tư để mở rộng diện tích rừng gập mặn: sử dụng các loài hiện đã thủ nghiệm trồng thành công như dừa nước, đước, … Việc xây dựng chòi canh trong khu vực Rú Chá đã phá vỡ cân bằng hệ sinh thái trong khu vực Nguyên nhân: Chòi canh lữa cao hơn tầng cây Chá và Quao nước, màu sắc nổi bật và hằng ngày có người lên xuống khiến các loài chim, cò không dám tới gần sinh sống
Hiện nay, hàng ngày có rất nhiều người đến khu Rú Chá như một điểm nghỉ dưỡng, vui chơi Ban quản lý cần có biện pháp giám sát, tuyên truyền để mọi người không có những hành động tiêu cực đến sự cân bằng sinh thái của Rú Chá như săn bắt chim, cá,… thả rác bừa bải, bẻ cây,…
2.2.2 Phân tích đặc điểm sinh thái rừng trồng vùng cát ven biển
2.2.2.1 Phân tích đặc điểm sinh thái của vùng cát ven biển
* Địa hình, địa thế
Địa hình bằng phẳng
* Đất đai
Trảng cát phân bố luân phiên với trằm bàu theo hướng Tây Bắc – Đông Nam ở Phong Điền, Quảng Điền là dấu tích của những dãy đê cát ngầm và máng trũng cổ được hình thành vào thời đoạn biển tiến Holocen cực đại vào đồng bằng trước đây Trảng cát nội đồng cổ nhất của Thừa Thiên Huế là vùng gò rộng, tương đối bằng phẳng dạng thềm biển cổ, cao tới 15-10m và được cấu tạo
từ cát vàng nghệ hệ tầng Phú Xuân
2.2.2.2 Đánh giá sinh trưởng của một số mô hình rừng vùng cát ven biển
Trang 9Rừng phòng hộ vùng cát là lá chắn cho vùng nội đồng Vùng cát ven biển, đầm phá ở Thừa Thiên - Huế Trong đó, hiện tượng sạt lở bờ biển và cát bay, cát nhảy, hoang mạc hóa là những mối đe dọa thường xuyên, làm cho vùng đất nơi đây vốn đã khốn khó, lại càng khốn khó hơn Hiện tượng nhiễm mặn, sa mạc hóa gia tăng hạn hán, ngập úng do lún sụt địa tầng diễn ra ngày càng nhiều trên diện rộng Nhận thức được tầm quan trọng của 'lá chắn' rừng phòng hộ, các huyện ven biển tỉnh Thừa Thiên - Huế đã hình thành tuyến rừng phòng hộ ven biển chạy dài từ Phú Lộc đến Quảng Điền, chủ yếu là rừng cây phi lao và nhóm các loại thực vật hoang dại như: xương rồng, tràm, chổi, mua, sim, chạc chìu, dứa dại Các loài cây trồng này được trồng, chăm sóc tốt sẽ tạo một thảm thực vật phòng hộ cho vùng đất, góp phần chống sa mạc hóa, tạo cảnh quan sinh thái cho môi trường sống và sản xuất, góp phần đa dạng hóa thành phần loài cho thảm thực vật vùng cát phòng hộ ven biển
Dự án trồng rừng phòng hộ ven biển, vùng cát, một trong những hợp phần quan trọng của Chương trình trồng mới năm triệu ha rừng được triển khai tại 28
xã thuộc năm huyện Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang, Phú Lộc Qua 10 năm thực hiện, dự án đã mang lại hiệu quả nhất định về kinh tế, xã hội
và môi trường, trong đó hiệu quả về môi trường sinh thái được nâng lên rõ rệt
Hệ thống đồi cát ở các vùng Ngũ Điền và các vùng bán di động trước đây vốn hoang hóa giờ đã được phủ xanh, tạo điều kiện về cảnh quan để phát triển du lịch ven biển và kinh tế trang trại trên cát Ngoài diện tích rừng phòng hộ do xã quản lý, tính đến nay, có khoảng 134 ha rừng keo lưỡi liềm được giao cho gần
150 hộ gia đình trồng và quản lý Cùng với diện tích rừng trồng thuộc Dự án 661
và gần 280 ha rừng trồng phân tán trong dân, rừng từ các dự án khác, toàn xã đã phủ kín được 28% trong kế hoạch 45% diện tích đất tự nhiên Không chỉ hưởng lợi trực tiếp từ rừng, nhiều hộ dân ở các xã đã thành lập trang trại, gia trại sản xuất nông nghiệp có hiệu quả Nhờ có rừng giữ ẩm, làm mát cho đất, nhiều hộ dân còn tăng gia trồng thêm nhiều giống cây ăn quả và các loại hoa màu khác Thực hiện dự án trồng rừng 661, các địa phương trong vùng đã trồng và chăm sóc được gần 4.600 ha rừng, trong đó vùng cát ven biển gần 1.900 ha và vùng cát nội đồng gần 2.740 ha; trồng bảo vệ đê cát ven biển và ven phá 5.210 m; quản lý bảo vệ hơn 5.600 lượt/ha rừng và một số cơ sở hạ tầng khác về tuyên truyền bảo vệ rừng Qua đó, nâng độ che phủ rừng của vùng dự án tăng lên 30% Các địa phương còn trồng hơn 5.200 m cây dọc các tuyến đê ven phá và ven biển để nâng cao giá trị phòng hộ Chất lượng rừng trồng ngày càng được nâng lên, cơ cấu cây trồng ngày một đa dạng hơn, vừa có tác dụng phòng hộ, vừa tăng thu nhập cho hộ dân Diện tích đất trống, đồi núi trọc cơ bản được trồng rừng
Trang 10phủ xanh, rừng phòng hộ ven biển, hình thành các đai rừng bảo vệ đê, phòng hộ khu dân cư ven biển trước bão lũ và tình trạng nước biển dâng
Tuy nhiên, ở một số nơi, do chưa coi trọng rừng phòng hộ ven biển, người dân chặt phá rừng dương, kể cả nạn đào bới gốc dương làm cây kiểng tạo nên những vùng trống ven biển Mấy năm gần đây, dải cát ven biển và đầm phá đang
là khu vực hấp dẫn các nhà đầu tư lập các dự án du lịch, công nghiệp, khu dân dụng, nghỉ dưỡng Sự chuyển đổi mục đích sử dụng đất làm cho đất lâm nghiệp
bị thu hẹp Sản phẩm từ cây lâm sản keo lưỡi liềm trên thị trường không được
ưa chuộng, giá thành hạ so các loài cây khác, trồng rừng với chức năng phòng
hộ là chính nên chủ yếu là giải quyết chất đốt, cải tạo môi trường sinh thái Hiện đang quản lý, bảo vệ 12 nghìn ha rừng vùng cát ven biển hiện có; đồng thời ưu tiên trồng mới 1.150 ha rừng vùng cát ven biển và đầm phá, với các loại cây trồng như phi lao, keo chịu hạn, keo lưỡi liềm và cây ngập nước
2.2.2.3 Đề xuất mô hình trồng rừng vùng cát ven biển
Qua khảo sát thực tế tại địa phương cho thấy mo hình trồng rừng phòng hộ vùng cát bằng loài cây Keo lưỡi liềm đã đưa lại thành công rõ nét Cây sinh trưởng, phát triển tốt vừa đáp ứng được chức năng phòng hộ vừa đưa lại hiệu quả kinh tế cho người dân trồng rừng
Để đa dạng hóa tập đoàn loài cây phòng hộ phù hợp theo tôi nên có nhiều nghiên cứu về một số loài cây bản địa để đưa vào trồng rừng phòng hộ vùng cát thì sẽ nâng cao hiệu quả về phòng hộ và đa dạng sinh học hơn
2.2.3 Phân tích đặc điểm sinh thái rừng trồng vùng đồi
2.2.3.1 Phân tích đặc điểm sinh thái của vùng đồi
* Đặc điểm địa hình địa thế
Địa hình núi chiếm khoảng 1/4 diện tích, từ biên giới Việt - Lào và kéo dài đến thành phố Đà Nẵng
Địa hình trung du chiếm khoảng 1/2 diện tích, độ cao phần lớn dưới 500 m,
có đặc điểm chủ yếu là đỉnh rộng, sườn thoải và phần lớn là đồi bát úp, với chiều rộng vài trăm mét
*Đất đai
Dựa trên kết quả điều tra lập địa tại hiện trường kết hợp với việc kế thừa và
sử dụng bản đồ lập địa cấp II đã được xây dựng, đất đai trong các vùng như sau:
- Lãnh thổ núi trung bình là nơi phân bố đá cứng macma hoặc đá trầm tích biến chất cổ bị nhiều hệ thống đứt gãy kiến tạo chia cắt thành khối tảng và bị chuyển động nâng tân kiến tạo mạnh hơn các khu vực khác