Mối quan hệ giữa tôn giáo và kinh tế là một nội dung cơ bản trong quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về tôn giáo. Đó là: tôn giáo có nguồn gốc từ kinh tế, do đời sống sản xuất vật chất sinh ra, sự tồn tại hay biến đổi của tôn giáo do đời sống kinh tế xã hội quyết định. Tôn giáo là một cơ chế che giấu các mối quan hệ của đời sống xã hội hiện thực, khi chế độ sản xuất thay đổi, khoa học phát triển, đời sống vật chất, trình độ nhận thức của con người nâng cao sẽ làm cho tôn giáo suy giảm và cuối cùng sẽ mất đi, nhưng đó là một quá trình lâu dài và phức tạp. Mặt khác, với tư cách là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, tôn giáo cũng có sự tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng, trong đó có đời sống kinh tế. Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo trong hơn 30 năm qua đã làm chuyển biến sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội trong đó có đời sống tôn giáo, tín ngưỡng. Những biến đổi của đời sống tôn giáo ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) trên các phương diện: biến đổi về diện mạo và cấu trúc tôn giáo; biến đổi niềm tin tôn giáo và hệ lụy của nó; biến đổi về phương thức truyền giáo và sống đạo, góp phần nâng cao nhận thức về đời sống tôn giáo ở nước ta hiện nay. Với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về những vấn đề đó, chúng em quyết định chọn đề tài “Sự biến đổi của sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng trong kinh tế thị trường”
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH _
NHÓM 6
ĐỀ TÀI
SỰ BIẾN ĐỔI CỦA SINH HOẠT TÔN GIÁO TÍN NGƯỠNG
TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
TP.HỒ CHÍ MINH, THÁNG 5 NĂM 2020
Trang 2Lời cảm ơn
Đầu tiên, chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Khoa Quản TrịKinh Doanh của Trường Đại học Công nghiệp thực phẩm thành phố HồChí Minh đã đưa môn học Nguyên lý của chủ nghĩa Mác vào chương trìnhgiảng dạy Đặc biệt, chúng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên
bộ môn - Cô Nguyễn Thu Huyền Trang đã dạy dỗ, truyền đạt những kiếnthức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập vừa qua Trongthời gian tham gia lớp Nguyên lý của chủ nghĩa Mác của cô, chúng em đã
có thêm cho mình nhiều kiến thức bổ ích, tinh thần học tập hiệu quả,nghiêm túc Đây chắc chắn sẽ là những kiến thức quý báu, là hành trang đểchúng em có thể vững bước sau này
Bộ môn Nguyên lý của chủ nghĩa Mác là môn học thú vị, vô cùng bổ ích
và có tính thực tế cao Đảm bảo cung cấp đủ kiến thức, gắn liền với nhucầu thực tiễn của sinh viên Tuy nhiên, do vốn kiến thức còn nhiều hạn chế
và khả năng tiếp thu thực tế còn nhiều bỡ ngỡ Mặc dù chúng em đã cốgắng hết sức nhưng chắc chắn bài tiểu luận khó có thể tránh khỏi nhữngthiếu sót và nhiều chỗ còn chưa chính xác, kính mong cô xem xét và góp ý
để bài tiểu luận của chúng em được hoàn thiện hơn
“Chúng em xin chân thành cảm ơn!”
Trang 3MỤC LỤC
TrangY
LỜI CẢM ƠN 3
YMỞ Đ NỘI DUNG 5
Chương 1 Tìm hiểu về tôn giáo 6
1. Định nghĩa về tôn giáo 6
2 Nguồn lực của tôn giáo trong thế giới kinh tế 7
Chương 2 Sự phát triển tôn giáo trong xã hội 8
1 Những đóng góp của tôn giáo đến kinh tế 11
2 Phát triển kinh tế từ nơi ý thức của người dân 16
Chương 3 Những vấn đề xung đột giữa tôn giáo và thị trường kinh tế 19
1 Những ảnh hưởng do chính bản thân tôn giáo gây ra 19
2 Những ảnh hưởng xấu do tôn giáo bị lợi dụng bởi các thế lực khác20 KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Webtham khảo
TS Bùi Thanh Hà (08/01/2019) phó trưởng ban tôn giáo chính phủ
-PGS, TS Nguyễn Hồng Dương (2015), Nguồn lực tôn giáo, tín ngưỡng -nhận thức luận, Tạp chí Công tác tôn giáo, Số 10(110), tr 9-10
http://muatuongphat.com/news/tho/nhan-nhin-nhuong-131.html
https://www.conggiao.org/cai-toi-bay-moi/
https://www.conggiao.org/10-dieu-ran/
http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/240/0/1316/Tim_hieu_co_ban_ve_Islam_Hoi_giao_
Trang 4luu-y/
có đời sống kinh tế
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo trong hơn 30 nămqua đã làm chuyển biến sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội trong đó có đờisống tôn giáo, tín ngưỡng Những biến đổi của đời sống tôn giáo ở Việt Namtrong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN4.0) trên các phương diện: biến đổi về diện mạo và cấu trúc tôn giáo; biến đổiniềm tin tôn giáo và hệ lụy của nó; biến đổi về phương thức truyền giáo và sống
đạo, góp phần nâng cao nhận thức về đời sống tôn giáo ở nước ta hiện nay.
Với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về những vấn đề đó, chúng em quyết định
chọn đề tài “Sự biến đổi của sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng trong kinh tế thị
trường”
Trang 5NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TÌM HIỂU VỀ TÔN GIÁO
1 Định nghĩa về tôn giáo
Trước tiên, để tìm hiểu sự biến đổi của sinh hoạt tôn giáo trong kinh tế thị
trường như thế nào, thì ta phải hiểu Tôn giáo là gì? Tôn giáo là một hệ thống,
văn hoá để giải thích ,định nghĩa những tín ngưỡng trả lời về đặc tính conngười, sự đạo đức, sự chết và thần thánh, Đấng tạo ra thế giới, những hiệntượng siêu nhiên hướng con người đến sự tốt đẹp nơi cuộc sống Tôn giáo trongtiếng Anh là religion được xuất phát từ tiếng Latinh religio mang nghĩa "tôntrọng điều linh thiêng, tôn kính thần linh" hay "bổn phận, sự gắn kết giữa conngười với thần linh" ,xét trên một cách thức nào đó, đó là một phương cách đểgiúp con người sống và tồn tại với sức mạnh siêu nhiên từ đó làm lợi ích chovạn vật và con người Đôi khi từ "tôn giáo" cũng có thể được dùng để chỉ đếnnhững "tổ chức tôn giáo" ,một tổ chức gồm nhiều cá nhân ủng hộ việc thờphụng
Trang 6Ảnh minh họa 1.1
Sự hình thành tôn giáo bắt nguồn từ một trình độ nhận thức cao của conngười, là sản phẩm của tư duy trừu tượng trong đời sống xã hội ổn định Tôngiáo bắt đầu ra đời với sự thiêng liêng hóa các nguồn lợi của con người trongsản xuất và cuộc sống Theo thời gian, nội dung của tôn giáo mang tính phổquát, không gắn chặt với một quốc gia cụ thể, các vị thần cụ thể, nghi thức cụthể nên sự bành trướng của nó diễn ra theo một cách thuận lợi
Niềm tin và thực tiễn tôn giáo vô cùng đa dạng và có rất nhiều tôn giáotrên thế giới ngày nay, có những tôn giáo chỉ hạn chế trong một vùng địa lý nhỏnhưng có những tôn giáo có thể gọi là tôn giáo thế giới với nhiều triệu tín đồ ởkhắp nơi trên thế giới
Thế giới có khoảng 87 phần trăm dân số thế giới đang gắn bó với một tôn giáonào đó, chỉ có khoảng 13 phần trăm là không tôn giáo Có khoảng 10.000 tôngiáo khác nhau trên toàn thế giới, nhưng khoảng 84 phần trăm dân số thế giớitheo một trong năm nhóm tôn giáo lớn nhất, đó là Kitô giáo, Hồi giáo, Ấn Độgiáo, Phật giáo hoặc các dạng tôn giáo dân gian
2 Nguồn lực của tôn giáo trong thế giới kinh tế
Trang 7Xét trong vấn đề này chúng ta có thể thấy có rất nhiều yếu tố tác độngxung quanh như môi trường, văn hoá, tín ngưỡng, đức tin… nhưng tóm gọn lạichúng ta chia làm hai nhóm chính là: nguồn lực vật chất và nguồn lực tinh thần Trước tiên chúng ta nói về nguồn lực vật chất đây là nguồn lực mang tính chấthữu hình chúng ta thấy được qua nơi cuộc sống mỗi người bao gồm những yếu
tố môi trường tác động, qua những hành vi, qua cách sống Những người có tôngiáo lớn họ luôn gắn bó với nhau rất đoàn kết, họ có những hoạt động từ thiệnnâng cao tinh thần “lá lành đùm lá rách” che chở tạo nên một cộng đồng đầy ấptình thương và tốt đẹp điều này giúp nâng cao được mức sống của nhiều người,
họ có thêm được động lực cuộc sống mang đến một bầu không khí tích cực,trong lành ở cộng đồng Mang tôn giáo trên người, họ được hướng cho mìnhmột tinh thần sự thiện tức là họ sống với một đức tin “làm lành lánh dữ” khôngdám làm những điều ác bất chính, tích cực tham gia vào các hoạt động sẻ chianâng cao đời sống mà Đảng ta vẫn hằng ngày hướng dẫn từng người dân chúng
ta giúp cho thị trường kinh kế càng phát triển
Qua mặt tinh thần, tư tưởng “ dân là gốc”, “khoan thư sức dân, “Quốc tháidân an”, “chăm lo người nghèo khó”, “lượng hình”, xá tội của Nho giáo, Phậtgiáo được Đảng ta vận dụng vào trong đường lối, chính sách; có lối sống thiệncăn, tu tâm, dưỡng tính khuyên con người tích đức hành thiện, biết sợ phạm tội;lối sống vì tha nhân của tôn giáo; có lễ hội truyền thống nhằm nhắc nhớ những
tư tưởng cho mỗi người tôn giáo về sự thiện nhớ về những đạo lý mà làm ngườiphải có, một nguồn lực trong việc giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cónguồn lực của sức mạnh đoàn kết, những cộng đoàn tôn giáo vẫn thường ngàygiảng dạy các lí thuyết, những đạo lí làm người, sự thiện để mỗi giáo dân biếtcách sống đúng với giáo lí của họ là sự chính thiện, là sự trong sạch nơi cuộcsống, là đời sống tốt đẹp, một cuộc sống không có những cái xấu chỉ con ngườihạnh phúc với nhau
Trang 8CHƯƠNG 2: SỰ PHÁT TRIỂN TÔN GIÁO TRONG XÃ HỘI
Nói đến “tôn giáo”, người ta thường nghĩ đến các hoạt động từ thiện,nhưng thực tế trong các tôn giáo, khái niệm kinh tế tôn giáo đã xuất hiện từ lâu,
nó đã trở thành một thành phần kinh tế trong quốc gia, thậm chí trong các quan
hệ kinh tế thế giới Chương này muốn đề cập đến một vài khía cạnh cơ bảntrong câu chuyện kinh tế của tôn giáo, đó là các tôn giáo đóng góp gì vào việctăng trưởng kinh tế cũng như tôn giáo có ý nghĩa gì trong việc phòng, chống
tham nhũng, kẻ thù của sự tăng trưởng kinh tế bền vững.
1 Sự đóng góp của tôn giao đến kinh tế.
Tôn giáo với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, một thực thể xã hộiluôn tác động đến xã hội trên cả hai phương diện: tích cực và tiêu cực Trongbối cảnh ấy, "hòa bình chung sống", chủ động nhận diện nguồn lực tôn giáo đểphát huy và phục vụ sự nghiệp xây dựng, phát triển kinh tế đất nước đã trởthành quan điểm ứng xử với tôn giáo của nhiều quốc gia thuộc các thể chế chínhtrị khác nhau
a) Tiếp cận trên phương diện văn hóa
Khi viết về ý nghĩa của văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện ở trangcuối của tập thơ “Nhật ký trong tù” như sau: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đíchcủa cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạođức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ cho sinhhoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sángtạo và phát minh đó tức là văn hóa” Người đã tiếp cận tôn giáo như là một thành
tố của văn hóa
Nhìn vào tôn giáo nội sinh, trường hợp đạo Cao Đài lại cho thấy khả năngtích hợp các văn hóa, tín ngưỡng khác nhau của một tôn giáo Từ Chúa Giê-su,đến Đức Phật Thích ca mâu ni, cả thánh nhân và hiền nhân, cả nhà khoa học đếnnhà chính trị học, từ phương Đông qua phương Tây… đều được người sáng lậpđạo Cao Đài sùng bái, tôn vinh ngang hàng nhau.
Trang 9Như vậy, không phải tôn giáo nào cũng đi ngược lại văn hóa truyền thốngcủa dân tộc, cũng không có tôn giáo nào là hoàn toàn cản trở, phủ nhận văn hóadân tộc, ngược lại đều ít nhiều tham gia làm giàu, làm mới, lưu giữ và nuôidưỡng những nét đẹp của văn hóa dân tộc Đây chính là nguồn lực của tôn giáotrên phương diện văn hóa Những nét đẹp của bản sắc văn hóa dân tộc sẽ sớmmuộn khẳng định chỗ đứng của nó trong lòng các tôn giáo dù là tôn giáo ngoạinhập hay nội sinh.
b) Tiếp cận trên phương diện kinh tế
Nghị quyết TW 5 (khóa VIII) khẳng định: Văn hóa vừa là nền tảng tinhthần của xã hội, vừa là mục tiêu, động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội.Tôn giáo với tư cách là một thành tố của văn hóa, tôn giáo tất yếu có ảnh hưởngnhất định đến sự phát triển của kinh tế Sự ảnh hưởng là thúc đẩy hay kìm hãmkinh tế còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó tự do tôn giáo được tổ chứcPew Porum (Hoa Kỳ) chỉ ra là yếu tố có tính quyết định đến ảnh hưởng của tôngiáo lên kinh tế Cụ thể, Pew Porum chỉ ra:
Tự do tôn giáo giúp giảm bớt tham nhũng bởi các giá trị đạo đức tôn giáođược phát huy Tình trạng tham nhũng là một trong những yếu tố tác động mạnh
và tiêu cực đến sự phát triển kinh tế bền vững Luân lý và đạo đức tôn giáo đềukhuyến thiện và cỗ vũ lối sống trung thực, lìa xa sự lợi dụng vì mục đích cánhân, ích kỷ, dưới bất kỳ hình thức nào Do đó tự do tôn giáo tạo điều kiệnthuận lợi để những người kinh doanh có thể đưa những giá trị tôn giáo và giáo
lý đạo đức vào trong ứng xử và hoạt động kinh doanh của họ, làm cho họ trởthành những đối tác tin cậy và trách nhiệm hơn, các hợp đồng kinh tế sẽ đượcminh bạch hơn
Tự do tôn giáo góp phần tích cực vào việc kiến tạo hòa bình bằng cáchgiảm căng thẳng, xung đột bạo lực liên quan đến tôn giáo và điều đó là quantrọng đối với doanh nghiệp Nơi có sự ổn định sẽ có nhiều cơ hội để đầu tư vàtiến hành các hoạt động kinh doanh bình thường và có thể dự báo được, đặc biệt
là trong các thị trường mới nổi và thị trường mới
Không những thế, nếu biết cách vận dụng tài năng, năng khiếu của mỗi tín
đồ vào trong việc thể hiện nền văn hóa của tôn giáo đó thì việc vừa nâng cao giátrị văn hóa vừa tạo ra nguồn thu nhập đáng kể cho người dân Chẳng hạn như
Trang 10việc điêu khắc nên những bức tượng phật bằng những nguyên vật liệu khácnhau như: gỗ, nhôm, vàng, kim loại, … những hành động này mang lại việc làmcho rất nhiều người dân yêu thích điêu khắc, nghệ thuật.
Hầu hết các hoạt động tôn giáo ở các mức độ khác nhau đều mang ý nghĩakinh tế Các hoạt động tôn giáo, từ việc đi lại để tham gia các sinh hoạt liênquan tôn giáo, hoạt động truyền thông tôn giáo và tổ chức các sự kiện tôn giáo,đến việc xây dựng các cơ sở tôn giáo, đều phát sinh giao dịch mang tính cung
- cầu Chính vì vậy, hoạt động tôn giáo được tự do sẽ làm gia tăng các giao dịchkinh tế, kích cầu, tạo thêm việc làm, do đó trực tiếp thúc đẩy phát triển kinh
tế ở địa phương hay quốc gia
Khi tự do tôn giáo được tôn trọng, đạo đức tôn giáo sẽ được phát huy vàocuộc sống nói chung, hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng, góp phần ngănngừa việc sử dụng hóa chất gây hại cho sức khỏe con người hay môi trườngsống và hạn chế tình trạng khai thác kiệt quệ nguồn tài nguyên thiên nhiên,cũng như giảm thiểu chất thải có hại cho môi sinh
Du lịch tâm linh là một ví dụ điển hình cho việc tôn giáo thúc đẩy kinh tế,tạo việc làm và thu nhập (chùa Bái Đính, khu du lịch Đại Nam, lễ hội ChùaHương, ) Và theo Giáo sư, cựu Viện trưởng Viện xã hội học Việt Nam BùiĐình Thanh trong tham luận "Một vài suy nghĩ về phương pháp luận nghiêncứu xã hội học tôn giáo" cho rằng: không chỉ đơn giản là hiện tượng mê tín màcòn có mối liên hệ với kinh tế Cũng trong tham luận này, Giáo sư dẫn kết quảnghiên cứu của tác giả J Naisbitts và P.Aburdens về thành công trong phát triểnkinh tế - xã hội của một số quốc gia, vùng lãnh thổ được cho là có liên quan đếntôn giáo như sau: "Thành công của Hồng Kông là sự biết kết hợp Khổng giáovới lề lối kinh doanh của Mỹ; thành công của Thái Lan là do biết thuên theo conđường trung dung của đạo Phật, L.Vandermesch, nguyên Giáo đốc trường ViễnĐông Bắc Cổ trong tác phẩm "Thế giới hán hóa" cũng nhấn mạnh nhân tố hánhóa trong sự cất cánh của bốn con rồng ở Đông Á và Đông Nam Á (Hàn Quốc,Đài Loan, Hồng Kông, Singapo)"
Rõ ràng, tôn giáo (một thành tố của văn hóa) có khả năng trực tiếp và giántiếp tác động đến sự phát triển của kinh tế Văn hóa kinh doanh phản ánh vănhóa tôn giáo
c) Tiếp cận dưới góc độ quan hệ của tổ chức tôn giáo
Trang 11Tôn giáo ở Việt Nam phần lớn có nguồn gốc từ nước ngoài Công giáo từPháp vào, hiện quan hệ trực tiếp với Vatican và với các quốc gia có Công giáo.Tin lành từ Mỹ đến, hiện quan hệ đa phương với tất cả các châu lục, quốc gia,vùng lãnh thổ có đạo Tin lành Phật giáo từ Trung Quốc, Ấn Độ sang, hiện làmột kênh gắn kết ba nước Đông Dương, lớn hơn là các quốc gia thuộc tiểu vùngsông Mêkông, Phật giáo Việt Nam đã có mặt ở nhiều quốc gia trên thế giới Hồigiáo ở Việt Nam tuy nhỏ nhưng vẫn là một phần của Hồi giáo thế giới, vẫn cókhả năng đưa sản phẩm Việt Nam ra thế giới thông qua thương hiệu Halah củaHồi giáo,
I.
Những đóng góp của tôn giáo trong phát triển kinh tế:
1 Tôn giáo và sự ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế
Những năm gần đây, các nhà nghiên cứu kinh tế và tôn giáo thường đặt racâu hỏi, cộng đồng các tôn giáo có khả năng tác động tích cực hay cản trở sựtăng trưởng kinh tế? Nếu như, năm 2004 Robert Barro mới đưa ra nhận địnhrằng, tương tác giữa tôn giáo và một loạt các yếu tố chính trị xã hội tuy có khácnhau nhưng chắc chắn “tôn giáo ngày càng có vai trò quan trọng với thực hànhkinh tế thông qua các tác động của đức tin đến những đặc điểm hoạt động kinh
tế, như: đạo đức làm việc, tính trung thực,… và những điều này có thể tạo nênkhuynh hướng khuyến khích năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế”, thìnhững nghiên cứu vĩ mô mới đây của Trung tâm nghiên cứu Pew (Mỹ) và Quỹ
Tự do Tôn giáo và Kinh doanh của B Grim, đã có câu trả lời, khẳng định rằnggiữa đức tin tôn giáo và tăng trưởng kinh tế (Reliogious Faith and EconomicGrowth) có mối quan hệ đặc biệt Nghiên cứu trên cho thấy, những biến chuyểncủa Trung Quốc và Ấn Độ thuộc số nước “tôn giáo gốc” hoặc “thức tỉnh tôngiáo” Theo một nghiên cứu đã công bố năm 2015, cùng với sự “hồi sinh” củatôn giáo thế giới nói chung (số người gắn kết với một tôn giáo được ước tínhtăng tới 2,3 tỷ người, nghĩa là từ 5,8 tỷ năm 2010 lên 8,1 tỷ năm 2050), người tađặt câu hỏi, sự tăng của dân số tôn giáo có liên quan gì với nền kinh tế của thế
Trang 12giới hiện nay? nhưng đến năm 2050, chỉ một trong năm nền kinh tế hàng đầuđược dự đoán có dân số Ki tô giáo chiếm đa số đó là Hoa Kỳ Các nước thuộcloại "siêu kinh tế" khác vào năm 2050 được thấy bao gồm: một nước với đa số
Ấn Độ giáo (Ấn Độ), một nước đa số Hồi giáo (Indonesia) và hai nước với cácmức độ đa dạng tôn giáo cực kỳ cao (Trung Quốc và Nhật Bản)
Không chỉ nghiên cứu vĩ mô, có nhiều thí dụ cụ thể trong mỗi quốc giamỗi tôn giáo, cũng cho thấy, tôn giáo ngày nay quả thực có ảnh hưởng khôngnhỏ đến sự tăng trưởng kinh tế Một nghiên cứu mới khác của Trung tâmHamkiKhalfaoui (2015) thuộc Đại học Tunis El Manar (Tunisia), thông quaviệc nghiên cứu thực nghiệm dữ liệu tôn giáo và kinh tế của 20 nước Hồi giáo(1990- 2014) đã chỉ ra rằng, phần lớn các nước Hồi giáo không khuyến khíchtăng trưởng kinh tế, nhưng ông rút ra một số nhận định cụ thể và khá giá trị, đólà:
Các nước Hồi giáo nếu có tỷ lệ cư dân là người Hồi giáo càng cao thì mứcphát triển kinh tế càng thấp;
Điều kiện xã hội luôn là quan trọng Tác động tiêu cực của Hồi giáo lêntăng trưởng kinh tế sẽ càng tăng nếu các nước Hồi giáo ấy chịu tác động mạnhcủa nạn mù chữ, thất nghiệp…
Thực ra ý tưởng về nền kinh tế tôn giáo đã xuất hiện từ những thập kỷ 40
-50 của thế kỷ XX với ít nhất là nhà Kinh tế học Anh, gốc Đức Schumachertrong tác phẩm: Small and Beautiful, A Study of Economics, As If PeopleMattered (Blond and Briggs, London, 1977) Xuất phát từ luận điểm: “Tiến bộkinh tế chỉ có thể có được khi bản năng tham lam của con người được kích thích
và đó là điều phần lớn các tôn giáo đều muốn chống lại” Mặt khác, kinh tế chỉ
để ý đến giá trên thị trường (Market Value) chứ không chú ý đến giá thực Giảiquyết mâu thuẫn này ông đã đề xuất khái niệm “Kinh tế Phật giáo” (BuddhistEconmics) để giải quyết xung đột ấy, bởi theo ông “Phật giáo không khuyến