Đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay là vấn đề lý luận và thực tiễn rất cơ bản, trọng yếu chi phối các hoạt động tư tưởng, lý luận của chúng ta hiện nay. Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986), Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng ta tiếp tục khẳng định thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần, các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.Quá trình thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay có thể phát triển theo hai khả năng: đó là phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa và chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào nhân tố chủ quan của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Bên cạnh đó còn không ít người băn khoăn, nghi ngờ về khả năng đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta khi chúng ta thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần. Mặt khác, các thế lực thù địch và bọn phản động luôn tìm mọi cách chống phá chúng ta trên mặt trận tư tưởng với mục tiêu là xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng, xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta bằng các luận điệu như: kinh tế thị trường thì không thể đi cùng chủ nghĩa xã hội; kinh tế thị trường là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản; chế độ chúng ta là chế độ xã hội chủ nghĩa thì không cần phải định hướng xã hội chủ nghĩa… tất cả những quan điểm trên đều là những luận điệu sai trái, phản khoa học mà chúng ta cần phải đấu tranh, bác bỏ.
Trang 1KHOA …
TIỂU LUẬNChủ đề: CƠ SỞ TRIẾT HỌC VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐƯỜNG LỐI PHÁT TRIỂN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN Ở VIỆT NAM
TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY
Họ tên học viên:……….
Lớp:……….,
- 2021
Trang 22 Cơ sở triết học của đường lối phát triển kinh tế nhiều
thành phần ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay 52.1 Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về các thành phần kinh
tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội 52.2
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tính tất yếu và chủ trương pháttriển kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ
3 Cơ sở thực tiễn rút ra từ cải tổ, cải cách của các nước
Trang 3MỞ ĐẦU
Đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam từ năm 1986 đếnnay là vấn đề lý luận và thực tiễn rất cơ bản, trọng yếu chi phối các hoạt động tưtưởng, lý luận của chúng ta hiện nay Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI(1986), Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương phát triển nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa Đó là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vậnhành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hộichủ nghĩa Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,Đảng ta tiếp tục khẳng định thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thànhphần, các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thànhquan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Quá trình thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay cóthể phát triển theo hai khả năng: đó là phát triển đúng định hướng xã hội chủnghĩa và chệch hướng xã hội chủ nghĩa Điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào nhân
tố chủ quan của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta Bên cạnh đó còn không ítngười băn khoăn, nghi ngờ về khả năng đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta khichúng ta thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần Mặt khác, các thế lựcthù địch và bọn phản động luôn tìm mọi cách chống phá chúng ta trên mặt trận
tư tưởng với mục tiêu là xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng, xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ởnước ta bằng các luận điệu như: kinh tế thị trường thì không thể đi cùng chủnghĩa xã hội; kinh tế thị trường là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản; chế
độ chúng ta là chế độ xã hội chủ nghĩa thì không cần phải định hướng xã hội chủnghĩa… tất cả những quan điểm trên đều là những luận điệu sai trái, phản khoahọc mà chúng ta cần phải đấu tranh, bác bỏ Thực tiễn đường lối phát triển kinh
tế nhiều thành phần ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay là dựa trên cơ sở triết học
và cơ sở thực tiễn khoa học, không phải ý muốn chủ quan của Đảng ta Do đó,
nghiên cứu vấn đề “Cơ sở triết học và cơ sở thực tiễn của đường lối phát triển
kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay” làm đề tài tiểu
luận có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
Trang 4Trong nền kinh tế quá độ của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước
ta hiện nay do trình độ phát triển chưa cao, chưa đồng đều của lực lượng sản
xuất mà còn tồn tại khách quan cả chế độ sở hữu tư nhân (chế độ tư hữu) với
nhiều hình thức sở hữu như: hình thức sở hữu tư nhân của cá thể, của hộ giađình, của tiểu chủ, của nhà tư bản (sở hữu tư nhân tư bản), của tập đoàn tư
bản… và cả chế độ sở hữu xã hội (chế độ công hữu) với các hình thức sở hữu
như: sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể…, đồng thời còn có hìnhthức sở hữu hỗn hợp là hình thức sở hữu đan xen các hình thức sở hữu trongcùng một đơn vị kinh tế Đó là cơ sở tồn tại của nhiều thành phần kinh tế Nềnkinh tế quá độ trong thời kỳ quá độ ở nước ta được phân thành ba thành phần:kinh tế công, kinh tế tư nhân và kinh tế hỗn hợp:
Thành phần kinh tế công bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, giữ vị trí,
vai trò then chốt trong nền kinh tế Chủ thể của thành phần kinh tế này là Nhànước (được Nhân dân ủy quyền) Nhà nước thông qua Ủy ban quản lý vốn nhànước tại doanh nghiệp đầu tư vốn (cả vốn bằng hiện vật và vốn bằng tiền) chocác doanh nghiệp nhà nước thông qua hợp đồng tín dụng Ban Lãnh đạo doanhnghiệp nhà nước được giao quyền quản lý, sử dụng vốn một cách hiệu quả theo
cơ chế thị trường Các doanh nghiệp nhà nước tập trung phát triển trong nhữngngành và lĩnh vực then chốt, thiết yếu; những địa bàn quan trọng và quốc phòng,
an ninh; những lĩnh vực mà doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế kháckhông đầu tư Các doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo cơ chế thị trường, lấyhiệu quả kinh tế làm tiêu chí đánh giá chủ yếu, tự chủ, tự chịu trách nhiệm vàcạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác
Trang 5theo quy định của pháp luật Bảo đảm công khai, minh bạch và trách nhiệm giảitrình của doanh nghiệp nhà nước Nhà nước không can thiệp vào hoạt động củadoanh nghiệp nhà nước, mà Nhà nước thông qua những hợp đồng kinh tế để đặthàng cho doanh nghiệp nhà nước sản xuất những hàng hóa có vai trò quan trọngđến quốc kế dân sinh, kể cả những hàng quân sự, quốc phòng Nhà nước chỉđóng vai trò là “nhạc trưởng”, “bà đỡ”, quản lý vĩ mô nền kinh tế, chứ khôngcan thiệp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, kể cả doanhnghiệp nhà nước Doanh nghiệp nhà nước phải tự chịu trách nhiệm về kết quảsản xuất - kinh doanh của mình Cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao chất lượng,hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước trên nền tảng công nghệhiện đại, năng lực đổi mới sáng tạo, quản trị doanh nghiệp theo chuẩn mực tiêntiến của quốc tế, thực sự hoạt động theo cơ chế thị trường, nhằm huy động, phân
bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, bảo toàn, phát triển vốn nhànước tại doanh nghiệp
Thành phần kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế.
Chủ thể của thành phần kinh tế này là các chủ sở hữu tư nhân như: các hộ kinhdoanh cá thể, các hộ tiểu chủ, các chủ tư nhân, các nhà tư bản, các tập đoàn tưbản với các loại hình kinh doanh tương ứng như hộ sản xuất, kinh doanh cáthể (hộ nông dân, hộ tiểu - thủ công nghiệp, hộ kinh doanh dịch vụ ), chủ trangtrại, hộ tiểu chủ, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp tư nhân tư bản (tư bảntrong nước và tư bản ngoài nước), tập đoàn tư bản Ngày nay, phân công laođộng đã phát triển theo chi tiết sản phẩm, do đó doanh nghiệp không cần quy môlớn vẫn có thể áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại Đồng thời, với công nghệ
kỹ thuật số, mạng Internet, máy tính điện tử, robot, trí tuệ nhân tạo có thể kếtnối để tạo thành sự hợp tác ở quy mô lớn trong việc sản xuất sản phẩm, màkhông cần tập trung đông lao động vào một địa điểm
Thành phần kinh tế hỗn hợp (một phần trong đó là chủ nghĩa tư bản nhà
nước theo cách gọi của V.I.Lênin) bao gồm các công ty, các doanh nghiệp, cáchợp tác xã, các tổ chức kinh tế được hình thành trên cơ sở liên kết các chủ sởhữu khác nhau với nhau: giữa chủ thể kinh tế công và chủ thể kinh tế tư nhân
Trang 6trong nước; giữa chủ thể kinh tế công và chủ thể kinh tế tư nhân nước ngoài;giữa các chủ thể kinh tế tư nhân trong nước với nhau; giữa chủ thể kinh tế tưnhân trong nước và chủ thể kinh tế tư nhân nước ngoài để thúc đẩy phát triểnmọi hình thức liên kết sản xuất kinh doanh, cung cấp hàng hóa, dịch vụ theomạng sản xuất và chuỗi giá trị thị trường nhằm tiếp nhận, chuyển giao, tạo sựlan tỏa về công nghệ tiên tiến và quản trị hiện đại, nâng cao giá trị gia tăng và
mở rộng thị trường tiêu thụ Loại hình tổ chức sản xuất - kinh doanh thường làcông ty liên doanh, công ty hợp doanh, công ty cổ phần, công ty trách nhiệmhữu hạn có từ hai chủ sở hữu trở lên, các loại hình hợp tác xã Khuyến khíchhình thành các tập đoàn kinh tế đa sở hữu có đủ khả năng tham gia mạng sảnxuất và chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu Điểm chung của các loại hình tổ chứcsản xuất - kinh doanh này là đối tượng sở hữu gồm tài sản hữu hình và vô hìnhcủa các tổ chức sản xuất - kinh doanh được hình thành từ sự đóng góp của cácchủ sở hữu riêng theo nguyên tắc tự nguyện và cùng có lợi Mỗi chủ sở hữuđược hưởng lợi ích khi công ty, doanh nghiệp hỗn hợp này hoạt động có hiệuquả hoặc chịu trách nhiệm khi bị thua lỗ tương ứng với tỷ lệ tài sản đóng góp.Ngoài tài sản đóng góp từ các chủ sở hữu, còn có các tài sản từ các nguồn khác(được hỗ trợ, tài trợ, được cho, tặng, hoặc từ kết quả sản xuất - kinh doanh tíchlũy lại ) thuộc sở hữu chung của các thành viên trong tổ chức kinh tế này Các
tổ chức sản xuất - kinh doanh hỗn hợp thuộc loại này có điều lệ hoạt động vàbầu ra Ban Lãnh đạo theo nguyên tắc nhất định do Điều lệ công ty, doanhnghiệp, hợp tác xã quy định, để thay mặt các chủ sở hữu quản lý, điều hành, sửdụng có hiệu quả tài sản chung của tổ chức sản xuất - kinh doanh, mang lại lợiích cho các chủ thể và đóng góp vào lợi ích chung Có quy chế chặt chẽ ràngbuộc trách nhiệm của những người trong Ban Lãnh đạo được ủy quyền quản lýsản xuất - kinh doanh với kết quả, hiệu quả hoạt động của tổ chức sản xuất -kinh doanh Loại hình tổ chức sản xuất - kinh doanh hỗn hợp rất đa dạng, từ cáctập đoàn đa quốc gia, xuyên quốc gia đến các công ty cổ phần, công ty tráchnhiệm hữu hạn, có quy mô nhỏ Xếp các loại hình hợp tác xã cũng thuộc thànhphần kinh tế hỗn hợp vì các hợp tác xã cũng dựa trên sự đóng góp tài sản, vốn
Trang 7của các chủ sở hữu tư nhân, của những người sản xuất hàng hóa nhỏ và hoạtđộng như các tổ chức sản xuất - kinh doanh hỗn hợp V.I.Lênin coi hợp tác xãcủa những công nhân văn minh là hợp tác xã xã hội chủ nghĩa (ở nước ta chưa
có loại hình hợp tác xã này), còn hợp tác xã của những người sản xuất nhỏ vẫntôn trọng sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất là một loại hình kinh tế hỗn hợp
Các thành phần kinh tế là các bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dânthống nhất đều bình đẳng với nhau và bình đẳng trước pháp luật Giữa các thànhphần kinh tế có quan hệ tương hỗ với nhau, hợp tác và cạnh tranh bình đẳng với
nhau Các thành phần kinh tế đều có vị trí, vai trò quan trọng khác nhau và gần
tương đương nhau; nhưng thành phần kinh tế công với các doanh nghiệp nhà
nước “tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu; những địa bàn quantrọng và quốc phòng, an ninh; những lĩnh vực mà doanh nghiệp thuộc các thành
phần khác không đầu tư”, thì thành phần kinh tế công giữ vị trí, vai trò then
chốt, thành phần kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh
tế trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Kinh tế công cùng với kinh tế tư
nhân là nòng cốt để phát triển nền kinh tế có tính tự chủ cao Các chủ thể thuộccác thành phần kinh tế cùng hợp tác, cạnh tranh bình đẳng, bình đẳng trước phápluật, cùng nhau huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực xã hội đóng gópvào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước với mục tiêu chung “dângiàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
2 Cơ sở triết học của đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay
2.1 Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Khi nghiên cứu sự vận động, phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội,chủ nghĩa Mác - Lênin luôn khẳng định ở mỗi hình thái kinh tế - xã hội, ngoàiquan hệ sản xuất thống trị, điển hình cũng còn tồn tại những quan hệ sản xuất lỗithời, lạc hậu Sự tồn tại của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần suy đến cùng là doquy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển củalực lượng sản xuất Khi xem xét tiến trình vận động của lịch sử xã hội loài
Trang 8người, đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, C.Mác vàPh.Ăngghen đã kết luận: Sự chuyển biến từ hình thức sở hữu này tới một hìnhthức sở hữu khác cao hơn bao giờ cũng phải dựa trên sự phát triển của lực lượngsản xuất.
C.Mác cho rằng: “Không một xã hội nào lại diệt vong khi tất cả những lựclượng sản xuất mà chế độ xã hội đó tạo địa bàn đầy đủ cho phát triển vẫn cònchưa phát triển và những quan hệ sản xuất mới cao hơn không bao giờ xuất hiệnkhi những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó còn chưa chín muồitrong lòng bản thân xã hội cũ [1, tr.15- 16]
Một hình thức kinh tế không bao giờ mất đi trước khi quan hệ sản xuất của
nó vẫn còn tác dụng Nền kinh tế nhiều thành phần không phải tồn tại tự nó, mà nóthường xuyên biến đổi, tác động qua lại với nhau Trong thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội còn tồn tại nhiều kết cấu kinh tế khác nhau, không phải chỉ có kết cấukinh tế xã hội chủ nghĩa mà còn có kết cấu kinh tế phi xã hội chủ nghĩa
Một trong những đặc trưng nổi bật của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội được V.I.Lênin đề cập trong các tác phẩm: Về bệnh ấu trĩ “tả khuynh” và
tính tiểu tư sản (1918), Bàn về thuế lương thực (1921) và nhiều tác phẩm khác
đó là sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế Các thành phần kinh tế tồn tại đanxen với nhau trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Tương ứng với cácthành phần kinh tế đó là các chế độ sở hữu và với những trình độ tổ chức sảnxuất khác nhau Điều mà V.I.Lênin lưu ý là, Nhà nước với tên gọi là Nhà nước
xã hội chủ nghĩa là để xác định phương hướng tiến lên chủ nghĩa xã hội chứchưa có nghĩa là nền kinh tế đó đã là kinh tế xã hội chủ nghĩa Nhà nước xã hội
chủ nghĩa cần phải biết sử dụng thành phần kinh tế tư bản nhà nước, tư bản tư
nhân để phục vụ cho việc thực hiện nhiệm vụ chiến lược phát triển kinh tế, thựchiện mục tiêu của chủ nghĩa xã hội
V.I.Lênin đã chỉ rõ sự cần thiết phải có một loạt những bước quá độ nhưchủ nghĩa tư bản nhà nước Ở một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ nghĩa xãhội cũng cần phải biết sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước và các thành phầnkinh tế khác: “Trong một nước tiểu nông, trước hết các đồng chí phải bắc những
Trang 9chiếc cầu nhỏ vững chắc, đi xuyên qua chủ nghĩa tư bản nhà nước, tiến lên chủnghĩa xã hội, không phải bằng cách trực tiếp dựa vào nhiệt tình, mà là với nhiệttình do cách mạng vĩ đại sinh ra, bằng cách khuyến khích lợi ích cá nhân, bằng
sự quan tâm thiết thân của cá nhân, bằng cách áp dụng chế độ hạch toán kinh tế.Nếu không, các đồng chí sẽ không tiến đến chủ nghĩa cộng sản được; nếukhông, các đồng chí sẽ không dẫn được hàng chục và hàng chục triệu người đếnchủ nghĩa cộng sản” [5, tr.189]
Quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một thời kỳ lịch sử lâu dài, phải trải quanhững chặng đường, những bước đi cụ thể, nhiều bước quá độ ngắn, ở đó chưathể có ngay quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa được, do vậy đòi hỏi phải sử dụngmột cách có hiệu quả các thành phần kinh tế phi chủ nghĩa xã hội Năm 1918,V.I.Lênin đã từng giả định thời hạn của thời kỳ quá độ Năm 1921, trong tác
phẩm Bàn về thuế lương thực, V.I.Lênin viết: “Những điều trên đây viết năm
1918, có một loạt sai lầm về thời hạn Các thời hạn đều dài hơn như đã giả địnhhồi đó Điều đó không có gì là lạ” [6, tr.189] Chính thực tiễn đã điều chỉnhnhận thức về thời hạn về các chặng đường của thời kỳ quá độ
V.I.Lênin đã chứng minh tính hiện thực của bước quá độ từ chủ ngfhiax
tư bản lên chủ nghĩa xã hội “Trong trường hợp tốt nhất thì bước quá độ ấy cũngchiếm mất nhiều năm Suốt cả thời kỳ đó, trong chính sách của chúng ta lại chia
ra nhiều bước quá độ nhỏ hơn nữa Và tất cả cái khó khăn của nhiệm vụ chúng
ta phải làm, tất cả cái khó khăn của chính sách và tất cả sự khéo léo của chínhsách là ở chỗ biết tính đến những nhiệm vụ đặc thù của từng bước quá độ” [6,tr.119- 120]
Sự khéo léo trong chính sách, theo V.I.Lênin đó chính là cần thiết phải sửdụng một cách có hiệu quả các thành phần kinh tế phi chủ nghĩa xã hội để xâydựng chủ nghĩa xã hội
Trong tác phẩm Bàn về thuế lương thực, V.I.Lênin viết: “Danh từ quá độ
có nghĩa là gì? vận dụng nó vào kinh tế có phải nó có nghĩa là trong chế độ hiệnnay có những thành phần, những bộ phận, những mảnh của chủ nghĩa tư bản vàchủ nghĩa xã hội không? bất cứ ai cũng đều thừa nhận là có” [5, tr.248] Luận
Trang 10điểm trên cho thấy trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tất yếu phải tồn tạinền kinh tế đa thành phần Khi Cách mạng tháng Mười Nga thành công, nghiêncứu thực tiễn nền kinh tế của nước Nga lúc bấy giờ, V.I.Lênin đã xác định đó lànền kinh tế không thuần nhất, ở đó tồn tại nhiều thành phần kinh tế đan xen vàtác động lẫn nhau, đó là những yếu tố của 5 thành phần kinh tế xã hội khác nhau
là kinh tế gia trưởng, tiểu sản xuất hàng hoá, chủ nghĩa tư bản tư nhân, chủnghĩa tư bản nhà nước và chủ nghĩa xã hội
2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tính tất yếu và chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh luôn hướng tớimục đích là đất nước được độc lập, nhân dân được ấm no, tự do, hạnh phúc Đểđạt được mục đích đó chỉ có thể dưới chủ nghĩa xã hội Như vậy, Hồ Chí Minhluôn gắn tiền đề kinh tế với tiền đề chính trị, trong đó tiền đề kinh tế có ý nghĩaquyết định, tiền đề chính trị sẽ định hướng phát triển kinh tế đúng mục tiêu vàcon đường mà chính trị đã đặt ra Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội,người chỉ rõ: Muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội thì trước hết phải xâydựng con người mới xã hội chủ nghãi Cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới,
xã hội xã hội chủ nghãi là cả một quá trình lâu dài, đầy gian nan, vất vả đòi hỏimọi người dân Việt Nam phải đem hết khả năng của mình để cống hiến cho sựnghiệp cách mạng Cách mạng tháng Tám thành công, chúng ta đã giành đượcchính quyền về tay nhân dân, song đất nước gặp muôn vàn khó khăn, giặc đói,giặc dốt, giặc ngoại xâm hoành hành… Để thực hiện được mục tiêu chính trị,bảo vệ chính quyền cách mạng, từng bước khắc phục khó khăn để xây dựngchính quyền nhân dân, Hồ Chí Minh đã nêu lên tư tưởng xây dựng nền kinh tếnhiều thành phần với tư cách là xây dựng nền dân chủ nhân dân phát triển theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần nhằm pháthuy mọi tiềm năng, mọi thành phần của đất nước cho công cuộc kháng chiến
Nhận thức rõ những đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đểthực hiện xây dựng nền kinh tế trong kháng chiến chống Pháp, thực hiện đườnglối kháng chiến toàn dân, toàn diện, bảo đảm cơ sở vật chất kỹ thuật, trước hết là