Ở nước ta, về mặt quản lý nhà nước, một tổ chức tôn giáo được công nhận khi có đủ các điều kiện sau: Là tổ chức của những người có cùng tín ngưỡng, có giáo lý, giáo luật, lễ nghi không t
Trang 1GIÁO VỚI MỘT SỐ LĨNH VỰC ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
1 Tôn giáo trong chủ nghĩa xã hội
Bản chất, nguồn gốc và tính chất của tôn giáo
1.1 Bản chất của tôn giáo
- Khái niệm tôn giáo
Tôn giáo là hiện tượng xã hội phức tạp còn nhiều quan niệm khác nhau
Theo quan niệm chung nhất, tôn giáo là hiện tượng xã hội mang tính lịch sử,
bao gồm ý thức về lực lượng siêu nhiên, tổ chức, hoạt động tôn thờ lực lượng siêunhiên mà sự tồn tại và phát triển của nó là do sự phản ánh hư ảo hiện thực kháchquan vào trong đầu óc của con người Đúng như Ph.Ăngghen nhận xét: "Tất cả mọitôn giáo chẳng qua là sự phản ảnh hư ảo - vào trong đầu óc của con người - củanhững lực lượng bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phảnánh trong đó những lực lượng trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trầnthế"1Xét về mặt xã hội, tôn giáo là một cộng đồng xã hội quan hệ chặt chẽ với nhaubởi các giáo luật và giáo lý, và chịu sự chi phối của giai cấp cầm quyền Trong các
xã hội cũ, giai cấp bóc lột lợi dụng tôn giáo như là một công cụ để nô dịch quầnchúng nhân dân lao động
- Bản chất của tôn giáo
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội, một hình thái ý thức xã hội phản ánhxuyên tạc hiện thực khách quan biến lực lượng tự nhiên, xã hội thành lực lượngsiêu nhiên; là thế giới quan lộn ngược, trong giải quyết mối quan hệ giữa conngười với tự nhiên, xã hội Tôn giáo phản ánh sự bất lực, bế tắc của con ngườitrước tự nhiên và xã hội Con người sáng tạo ra tôn giáo rồi trở thành nô lệ của
tôn giáo C Mác khẳng định: "Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy Tôn giáo là tiếng
thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như
nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần Tôn giáo là thuốc phiện của nhân
1 C.Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, tr 437.
Trang 2dân"1 Xét đến cùng tôn giáo áp bức con người về tinh thần làm tha hóa conngười ở những mức độ khác nhau Tuy nhiên trong tôn giáo cũng hàm chứanhững giá trị văn hóa đạo đức nhất định Tôn giáo luôn mang dấu ấn lịch sử củathời đại, của dân tộc mà nó ra đời, tồn tại và nó cũng biến đổi, thích ứng với sựbiến đổi của xã hội Thông thường, khi mới ra đời các tôn giáo đều phản ánhnguyện vọng của quần chúng, nhưng trong quá trình tồn tại, vận động và pháttriển thường bị các thế lực, giai cấp thống trị lợi dụng biến thành công cụ phục
vụ cho lợi ích của chúng, chống lại lợi ích của quần chúng Tôn giáo còn tồn tạilâu dài, còn là nhu cầu tinh thần của một bộ phận quần chúng nhân dân
Về phương diện thế giới quan giữa thế giới quan duy vật và thế giới quan tôngiáo là đối lập nhau Tuy vậy, trong thực tiễn, Đảng Cộng sản và nhà nước xã hội chủnghĩa luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân
Ở nước ta, về mặt quản lý nhà nước, một tổ chức tôn giáo được công nhận khi có đủ các điều kiện sau: Là tổ chức của những người có cùng tín ngưỡng, có
giáo lý, giáo luật, lễ nghi không trái với thuần phong, mỹ tục, lợi ích dân tộc; cóhiến chương, điều lệ thể hiện tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo gắn bóvới dân tộc và không trái với quy định của pháp luật; có đăng ký hoạt động tôngiáo và hoạt động tôn giáo ổn định; có trụ sở, tổ chức và người đại diện hợppháp; có tên gọi không trùng tên tổ chức tôn giáo đã được cơ quan có thẩmquyền công nhận2
1.2 Nguồn gốc của tôn giáo
Nguồn gốc kinh tế - xã hội:
Trong xã hội nguyên thuỷ, do trình độ lực lượng sản xuất thấp kém, conngười cảm thấy yếu đuối, lệ thuộc và bất lực trước tự nhiên, vì vậy họ đã gán cho
tự nhiên những lực lượng siêu tự nhiên có sức mạnh, quyền lực to lớn, quyết địnhđến cuộc sống của họ, và họ phải tôn thờ Về điều này, Ph Ăngghen đã chỉ rõ:
"Tôn giáo sinh ra trong thời đại hết sức nguyên thủy, từ những khái niệm hết sức
1
C.Mácvà Ph Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, tr 570.
2 Xem Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo, số 21/2004/ PL-UBTVQH 11.
Trang 3sai lầm, nguyên thuỷ của con người về bản chất của chính họ và về thế giới tựnhiên bên ngoài, xung quanh họ"1.
Khi xã hội có giai cấp đối kháng, người lao động còn chịu thêm sự áp bứcbóc lột của giai cấp thống trị Do không tìm được lối thoát trên trần gian, đã buộc
họ tìm lối thoát trên "thiên đường", "thế giới bên kia" V.I.Lênin đã viết: "Sự bất lựccủa giai cấp bị bóc lột trong cuộc đấu tranh chống bọn bóc lột tất nhiên đẻ ra lòngtin vào một cuộc đời tốt đẹp hơn ở thế giới bên kia, cũng giống y như sự bất lựccủa người dã man trong cuộc đấu tranh chống thiên nhiên đẻ ra lòng tin vào thầnthánh, ma quỉ, vào những phép màu"2
Nguồn gốc nhận thức: Do trình độ nhận thức thấp kém, con người không
lý giải được các hiện tượng bí ẩn của thế giới khách quan, họ đã tưởng tượng, vàgán cho nó sức mạnh siêu tự nhiên, tạo ra các biểu tượng tôn giáo Ph.Ăngghen
đã viết: “Sự nhân cách hoá các lực lượng tự nhiên làm nảy sinh ra những vị thầnđầu tiên3 Mặt khác, nhận thức là một quá trình biện chứng phức tạp, bên cạnh sựphản ánh sâu sắc bản chất, qui luật của hiện thực khách quan, trong nhận thức củacon người còn chứa đựng những yếu tố suy diễn, tưởng tưởng xa lạ với hiện thựckhách quan, làm nảy sinh những biểu tượng hư ảo, hoang tưởng trong đó có ảotưởng tôn giáo, hình thành các biểu tượng tôn giáo đầu tiên
Nguồn gốc tâm lý: Những trạng thái tâm lý tiêu cực như sự sợ hãi, cô đơn,
bất hạnh, đau khổ, nhất là sợ hãi trước cái chết và ngay cả trạng thái tâm lý tìnhcảm tích cực như: lòng biết ơn, sự kính trọng, sự hài lòng và sự ngưỡng mộtrước vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên, xã hội cũng làm nảy sinh nhu cầu tôn giáo.V.I.Lênin cho rằng: sự sợ hãi của quần chúng trước những thế lực mù quáng củathiên nhiên, của sự áp bức, bóc lột, bất công của giai cấp thống trị đang hàngngày, hàng giờ đe doạ, đem lại cho họ sự phá sản đột ngột, bất ngờ, ngẫu nhiên,làm cho họ phải diệt vong, biến họ thành một người ăn xin, một kẻ bần cùng vàdồn họ vào cảnh chết đói, đó chính là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo hiện đại4
1 C.Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 1994, tr 437.
2 V.I.Lênin Toàn tập, tập 12, Nxb Tiến bộ, Mátxcova 1979, tr.169-170.
3 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 12, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1979, tr.169.
4 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 17,Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1979, tr.515.
Trang 4Ngoài ra truyền thống, phong tục, tập quán, thói quen cũng là những nguyênnhân dẫn đến sự hình thành và phát triển của tôn giáo.
.1.3 Tính chất của tôn giáo
Tính lịch sử: Tôn giáo là sản phẩm của hoàn cảnh lịch sử, ra đời, tồn tại,
biến đổi và mất đi gắn với sự vận động, biến đổi của xã hội loài người Trongnhững điều kiện lịch sử khác nhau, dân tộc khác nhau thì quan niệm về thần,thánh, về thân phận con người và con đường giải thoát sẽ khác nhau Tính lịch
sử của tôn giáo phản ánh sự biến đổi thích nghi của tôn giáo với điều kiện mớicủa lịch sử nhân loại, dân tộc
Tính quần chúng: Tôn giáo phản ánh khát vọng của quần chúng về một xã
hội tự do, bình đẳng và bác ái, là nhu cầu tinh thần, niềm tin của một bộ phậnđông đảo quần chúng nên được đông đảo quần chúng tin theo Hiện nay, ở nước
ta và trên thế giới có nhiều tín đồ, chức sắc tin theo các tôn giáo lớn là biểu hiện
cụ thể tính quần chúng của tôn giáo
Tính chính trị: Trong xã hội có đối kháng giai cấp, giai cấp thống trị sử
dụng tôn giáo làm công cụ nô dịch mê hoặc, ru ngủ người lao động, chấp nhận
sự áp bức, bóc lột của giai cấp thống trị, tôn giáo có tính chính trị Ngày nay, tôngiáo đã và đang bị các thế lực chính trị phản động lợi dụng chống phá cáchmạng, cần cảnh giác đấu tranh chống sự lợi dụng tôn giáo đó
Tính đối lập với khoa học: Tôn giáo phản ánh hư ảo, sai lạc, duy tâm, thần
bí thế giới hiện thực vào trong đầu óc con người nên nó đối lập với khoa học.Trong lịch sử tôn giáo đã từng sử dụng quyền lực tôn giáo để phủ nhận thànhtựu, đàn áp các nhà khoa học Tính chất đối lập với khoa học trở thành nội dungbản chất của tôn giáo, kìm hãm sự phát triển xã hội
.2 Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết vấn đề tôn giáo trong cách mạng xã hội chủ nghĩa
2.1 Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về giải quyết vấn đề tôn giáo
- Nguyên nhân tồn tại của tôn giáo trong xã hội xã hội chủ nghĩa
Trang 5Trong chủ nghĩa xã hội tôn giáo còn tồn tại bởi các nguyên nhân sau: Chủnghĩa xã hội, nhất là ở thời kỳ quá độ, tuy đã có những biến đổi căn bản về kinh
tế - xã hội, nhưng vẫn chưa thể nào xoá bỏ triệt để các nguồn gốc phát sinh, tồntại của tôn giáo Trong chủ nghĩa xã hội, vẫn còn tồn tại nhiều thành phần kinh
tế với những lợi ích khác nhau, bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xãhội vẫn còn Một bộ phận nhân dân vẫn còn bất lực trước những khó khăn, bấthạnh; nhiều hiện tượng tự nhiên, xã hội chưa lý giải được Tín ngưỡng, tôn giáovẫn còn có khả năng đáp ứng nhu cầu văn hóa, tinh thần và có ý nghĩa nhất định
về giáo dục ý thức cộng đồng, đạo đức, phong cách, lối sống Tôn giáo có tínhlạc hậu và sự biến đổi, thích ứng của các tổ chức tôn giáo Ngoài ra, do nhữngyếu kém trong thực hiện chính sách kinh tế - xã hội của các đảng cộng sản vànhà nước xã hội chủ nghĩa; sự o bế, nuôi dưỡng lợi dụng tôn giáo của các thế lựcthù địch Đó là những nguyên nhân chủ yếu cho tôn giáo tồn tại trong chủnghĩa xã hội
Tuy vậy, do bản chất của chủ nghĩa xã hội và quan điểm, chính sách giảiquyết vấn đề tôn giáo của Đảng và Nhà nước xã hội chủ nghĩa làm cho tôn giáo có
những chuyển biến quan trọng, các tôn giáo đã có những biến đổi tích cực: Các
tổ chức tôn giáo, giáo hội không còn là những tổ chức thống trị áp bức bóc lột
quần chúng nhân dân lao động mà đã trở thành những tổ chức chuyên chăm loviệc đạo Các đặc quyền, đặc lợi của nhà thờ, giáo hội bị xoá bỏ Nhà thờ táchkhỏi nhà nước, khỏi trường học, không còn là công cụ áp bức chi phối giáo dục.Tuy vậy, vẫn còn một số tổ chức giáo hội tôn giáo bị kẻ thù lợi dụng, đã tham
gia hoạt động chính trị chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa Giáo dân đã thực sự
là người chủ đất nước, tin theo đảng, ủng hộ nhà nước xã hội chủ nghĩa, đờisống vật chất, tinh thần được nâng cao; có đóng góp tích cực vào sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Tuy vậy, cá biệt có lúc, có nơi niềm tin tôn giáo tăng
lên, vẫn có những giáo dân bị kẻ thù lợi dụng chống lại cách mạng Giáo lí, lễ nghi của các tôn giáo có sự thay đổi để thích nghi phù hợp với chế độ xã hội
mới, tuân thủ pháp luật của nhà nước xã hội chủ nghĩa như so với đời sống mới
Trang 6Đội ngũ chức sắc tôn giáo, đa số họ đã tin và đi theo cách mạng, chuyên tâm
chăm lo phần đạo, góp phần xây dựng chế độ xã hội mới Song cá biệt vẫn cònmột số chức sắc mặc cảm, bị kẻ thù lợi dụng chống phá chế độ
- Thực chất giải quyết vấn đề tôn giáo
Giải quyết vấn đề tôn giáo trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa là tổng
thể các hoạt động tích cực, chủ động, có kế hoạch của cả hệ thống chính trị trên tất
cả các lĩnh vực, nhằm giải phóng nhân dân lao động ra khỏi sự áp bức của tôn giáo
về tinh thần, đồng thời phát huy những giá trị tích cực của tín ngưỡng tôn giáo, tập hợp, đoàn kết quần chúng không phân biệt tín ngưỡng tôn giáo, tạo nên động lực
của cách mạng xã hội chủ nghĩa, góp phần thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử củagiai cấp vô sản
Thực chất giải quyết vấn đề tôn giáo trong cách mạng xã hội chủ nghĩa là khắc
phục ảnh hưởng tiêu cực của tín ngưỡng tôn giáo đến mọi mặt đời sống con người và
xã hội để tập hợp, đoàn kết quần chúng tạo nên động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa nhằm giải phóng nhân dân lao động khỏi sự áp bức của tôn giáo về tinh thần,
góp phần thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, kiên quyết đấu tranh chốngđịch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng Cho nên, giải quyết vấn đề tôngiáo vừa là mục đích, vừa là động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa
- Những nguyên tắc trong giải quyết vấn đề tôn giáo trong chủ nghĩa xã hội
Tín ngưỡng, tôn giáo là một vấn đề phức tạp, nhạy cảm, tế nhị Cho nên, giảiquyết vấn đề tôn giáo cần phải thận trọng, chuẩn xác, vừa giữ vững nguyên tắc, vừalinh hoạt, mềm dẻo phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể Trong chủ nghĩa xã hội,giải quyết vấn đề tôn giáo cần phải tuân thủ lập trường và phương pháp của chủnghĩa Mác - Lênin, tuân thủ những nguyên tắc cơ bản sau đây:
Một là, giải quyết vấn đề tôn giáo phải gắn với việc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.
Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, giải quyết vấn đề tôn giáo phải gắn
liền với việc giải quyết nguồn gốc sinh ra tôn giáo, tức là gắn liền với sự nghiệp
cách mạng xã hội chủ nghĩa: “Phê phán thượng giới biến thành phê phán cõi
Trang 7trần, phê phán tôn giáo biến thành phê phán pháp quyền, phê phán thần học biếnthành phê phán chính trị” 1 Theo đó, giải quyết vấn đề tôn giáo phải sử dụngtổng hợp các giải pháp trên tất cả các lĩnh vực Không được cực đoan coi tôngiáo là đối tượng duy nhất để phê phán, mà coi nhẹ vấn đề đấu tranh giai cấp,muốn tuyên chiến, tiêu diệt tôn giáo Không thể dùng mệnh lệnh hành chính đểxoá bỏ tôn giáo mà chỉ có thể giải phóng quần chúng khỏi ảnh hưởng tiêu cựccủa tôn giáo bằng cách từng bước giải quyết nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc xãhội của tôn giáo Do đó, giải quyết vấn đề tôn giáo phải gắn với việc đấu tranhgiai cấp của giai cấp công nhân để cải tạo xã hội cũ xây dựng xã hội mới.
Giải quyết vấn đề tôn giáo là một quá trình lâu dài gắn với quá trình pháttriển của cách mạng xã hội chủ nghĩa trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị,văn hóa, giáo dục, khoa học - công nghệ nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinhthần của nhân dân lao động, trong đó có đồng bào theo đạo; đồng thời phải chủđộng và thường xuyên coi trọng thế giới quan duy vật, phép biện chứng, phươngpháp luận khoa học, đường lối, chính sách của đảng cộng sản và nhà nước xã hộichủ nghĩa một cách phù hợp
Hai là, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, kiên quyết bài trừ mê tín dị đoan
Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của công dân làquan điểm cơ bản có tính nguyên tắc trong giải quyết vấn đề tôn giáo Quanđiểm mác - xít coi tôn giáo là việc tư nhân đối với nhà nước, nhưng đối với Đảngcủa giai cấp công nhân xã hội chủ nghĩa, tôn giáo không phải là việc tư nhân Lêninnhấn mạnh: “Tôn giáo phải được tuyên bố là một việc của tư nhân đó là câu nói màngười ta thường dùng để chỉ thái độ của người xã hội chủ nghĩa đối với tôn giáo.Nhưng cần phải xác định rõ ý nghĩa của câu nói để khỏi gây ra mọi sự hiểu lầm.Chúng ta đòi hỏi rằng, đối với Nhà nước mà nói tôn giáo phải là việc tư nhân,nhưng đối với Đảng của chính chúng ta thì bất luận thế nào chúng ta không thể coitôn giáo là một việc tư nhân được”2 Đó chính là tôn trọng quyền bình đẳng của
1C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.571.
2 V.I Lênin: Toàn tập, tập12, bản tiếng Việt, Nxb Tiến bộ, M 1979, tr.171.
Trang 8mọi công dân, khẳng định quyền lợi, nghĩa vụ của công dân trước pháp luật.Trong chủ nghĩa xã hội, mọi công dân đều có thể theo hoặc không theo tôn giáo ,không ai có thể bắt buộc công dân từ bỏ tôn giáo mà họ đang theo và cũng khôngđược lôi kéo công dân theo tôn giáo nào đó Mọi công dân có quyền theo đạo, đổiđạo, bỏ đạo tùy theo ý thích của họ mà không ai được ngăn cản Tôn trọng phải điliền với không ngừng tạo điều kiện cho quần chúng tiến bộ mọi mặt, bài trừ mê tín
dị đoan Không vì lý do tôn trọng tín ngưỡng mà để quần chúng nghèo đói, dốt nát,
nô lệ thần quyền, giáo lý khắt khe Phải giải quyết đồng thời ba vấn đề: tôn trọng tự
do tín ngưỡng, bài trừ mê tín dị đoan và bảo đảm cho tín đồ tiến bộ về mọi mặt
Ba là, thực hiện đoàn kết đồng bào giữa các tôn giáo, đoàn kết giữa người theo tôn giáo và không theo tôn giáo.
Quan điểm này thể hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân, không phânbiệt tín ngưỡng tôn giáo, nhằm tập hợp được mọi lực lượng để thực hiện sựnghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa Đoàn kết đồng bào giữa các tôn giáo, khôngphân biệt chia rẽ, kỳ thị các tôn giáo Đoàn kết giữa người có tôn giáo và khôngtôn giáo Phát huy tinh thần yêu nước của những chức sắc tiến bộ trong các tôngiáo để họ làm tốt việc đạo, việc đời, hướng dẫn tín đồ chấp hành đúng chínhsách, pháp luật của nhà nước xã hội chủ nghĩa
Kiên quyết vạch trần và trừng trị kịp thời những phần tử lợi dụng tôn giáo
để hoạt động chống phá cách mạng, gây chia rẽ trong nội bộ nhân dân, xuyên tạcđường lối chính sách của đảng và nhà nước xã hội chủ nghĩa, làm tổn hại đến lợiích của tổ quốc xã hội chủ nghĩa và lợi ích của nhân dân
Bốn là, phân biệt rõ mặt tư tưởng (tín ngưỡng) và chính trị trong giải quyết vấn đề tôn giáo.
Mặt tư tưởng và mặt chính trị của tôn giáo là hai loại mâu thuẫn khácnhau, phải có thái độ giải quyết khác nhau Mặt tư tưởng thể hiện sự tín ngưỡngtrong tôn giáo của quần chúng Khắc phục mặt tư tưởng là nhiệm vụ thườngxuyên, lâu dài gắn với quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sốngvật chất tinh thần của nhân dân Đấu tranh loại bỏ yếu tố chính trị phản động
Trang 9trong tôn giáo là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên phải được tiến hành kiênquyết, dứt khoát, đồng thời phải thận trọng, tỉ mỉ.
Thực tế cho thấy, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tư tưởng và chính trị củacác tôn giáo không đơn giản, bởi hai mặt đó đan xen, tác động lẫn nhau, rất khóphân biệt rạch ròi, nhất là khi kẻ thù luôn lợi dụng mặt tín ngưỡng để lồng vấn
đề chính trị vào trong các hoạt động của tôn giáo Điều đó càng đòi hỏi khi xemxét, giải quyết vấn đề tôn giáo phải bình tĩnh, thận trọng, nghiên cứu kĩ thực chấtcủa vấn đề để giải quyết chính xác, đạt hiệu quả cao
Năm là, phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi giải quyết vấn đề tôn giáo
Tôn giáo có tính lịch sử, ở các thời kỳ lịch sử khác nhau, vai trò lịch sửcủa tôn giáo đến đời sống xã hội khác nhau, thái độ của giáo hội, chức sắc, tín
đồ có khác nhau Do đó, xem xét giải quyết vấn đề tôn giáo phải quán triệt quanđiểm khách quan, toàn diện, lịch sử cụ thể phát triển Tuyệt đối không được mặccảm, định kiến chủ quan trong xem xét giải quyết vấn đề tôn giáo
13.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết vấn đề tôn giáo
Vận dụng trung thành, sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, nắmvững tình hình đặc điểm tôn giáo Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại tưtưởng, chính sách giải quyết vấn đề tôn giáo đặc sắc, hiệu quả, thể hiện trênnhững nội dung chính sau đây:
- Đoàn kết lương giáo, hoà hợp dân tộc.
Quan điểm đoàn kết của Hồ Chí Minh là quan điểm bao trùm lên tất cả, vì
sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì lợi ích của nhân dân Hồ Chí Minh đã khẳng
định: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công.
Đoàn kết lương giáo và những người có tín ngưỡng, tôn giáo với những ngườikhông theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa những người theo tôn giáo khác nhau làmột bộ phận của đại đoàn kết dân tộc nói chung, xuất phát từ mục tiêu độc lập dântộc và lý tưởng cao cả giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội của người cộng sản
Hồ Chí Minh chỉ ra muốn đoàn kết những người có tín ngưỡng tôn giáokhác nhau và với những người không theo tín ngưỡng tôn giáo, phải đặt lợi ích
Trang 10dân tộc, lợi ích toàn dân lên trên hết, đồng thời quan tâm đến đời sống vật chất,tinh thần của đồng bào có đạo Phải phân biệt được nhu cầu tín ngưỡng chânchính của đồng bào có đạo với việc lợi dụng tín ngưỡng vì lợi ích cục bộ, vị kỷ;phân biệt đức tin chân chính của quần chúng với việc các phần tử phản động lợidụng tôn giáo để chống phá cách mạng Phải chú ý kế thừa những giá trị nhânbản của tôn giáo, trân trọng những người sáng lập các tôn giáo, vì các ông đều
có điểm chung là mong muốn giải phóng con người Người viết: “Khổng tử, Giê
-su, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những điểm chung đó sao Họ muốn mưu cầu hạnhphúc cho loài người”1 Bác ca ngợi lòng nhân ái của đức chúa Giê - su “Cả đời chỉ
lo cứu thế độ dân, hy sinh cho tự do, bình đẳng”; “Đức Phật là đại từ đại bi, cứukhổ, cứu nạn người phải hy sinh để diệt lũ ác ma”2; sự tu dưỡng đạo đức cá nhâncủa Khổng Tử, và Bác “cố gắng làm người học trò của các vị ấy” Với nhữngngười lầm đường lạc lối, Người kiên trì thuyết phục, cảm hoá với thái độ khoandung độ lượng: ''mong những đồng bào đó mau mau giác ngộ và quay về vớikháng chiến để phụng sự Chúa, phụng sự Tổ quốc'' Chính phủ luôn "hoannghênh rộng rãi như những người con đi lạc mới về"
- Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định tư tưởng nhất quán, lâu dài của Đảng,Nhà nước ta là tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân Theo Người, đây làmột quyền cơ bản của con người Sự tôn trọng ấy không chỉ thể hiện trên văn bản lờinói mà mà quan trọng hơn là bằng hành động thực tiễn thiết thực Khi Đảng và Nhànước ta tổ chức thực hiện chính sách có sai lầm, Bác nhận trách nhiệm và kiên quyếtsửa chữa Người viết: “Trong cải cách ruộng đất tuy có nơi đã phạm sai lầm trongviệc thực hiện chính sách tôn trọng tự do, tín ngưỡng, nhưng Đảng và Chính phủ đã
có chính sách kiên quyết sửa chữa”3 Đồng thời, cảnh giác nghiêm trị những kẻ lợidụng tin ngưỡng tôn giáo, hành nghề mê tin dị đoan, những việc làm sai chủ trương,chính sách tôn giáo của Đảng và Chính phủ
1 “Nho giáo xưa và nay”, NXB khoa học xã hội, H 1971, tr.16.
2
Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H 1985, tr.409.
3
Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, Nxb Sự thật, H 1987, tr.560.
Trang 11- Giải quyết tốt mối quan hệ giữa tôn giáo và dân tộc; tập hợp, đoàn kết đồng bào tôn giáo thực hiện nhiệm vụ cách mạng
Theo Hồ Chí Minh chủ nghĩa xã hội không mâu thuẫn với lý tưởng của tôngiáo, mà còn hiện thực hoá lý tưởng đó Chỉ có cách mạng mới thực sự đảm bảocho đồng bào tự do tín ngưỡng thực hiện "đẹp đời, tốt đạo" như khát vọng thiêngliêng của đồng bào các tôn giáo Theo Hồ Chí Minh: Nước độc lập tôn giáo mớiđược tự do Bởi vậy, Người yêu cầu tín đồ "Kính Chúa và yêu nước" phải kết hợpvới nhau; "đẹp đời, tốt đạo phải đi liền với nhau, không thể phân chia Đẹp đời làtạo cơ sở vật chất, xã hội để tốt đạo Muốn tốt đạo cần phải đi theo cách mạng xâydựng cuộc sống mới Vì thế, không lý do gì đồng bào các tôn giáo không đoàn kếtcùng toàn thể dân tộc kháng chiến, kiến quốc Ai không thực hiện điều đó khôngphải là người Việt Nam yêu nước chân chính và cũng là không phải tín đồ chânchính Đây là yêu cầu cần phải có đối với mọi tín đồ Việt Nam chân chính, yêu
nước Người quan tâm sâu sắc lợi ích của giáo dân Theo Hồ Chí Minh: nước độc
lập mà dân không được ấm no hạnh phúc thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì.Đồng bào các tôn giáo theo cách mạng mà Đảng, Nhà nước không quan tâm đếnlợi ích thiết thân của đồng bào để phần xác ấm no, phần hồn thong dong thì khôngthể đoàn kết được "Ta quan tâm quần chúng thì quần chúng sẽ theo ta Ta đượclòng dân thì không sợ gì cả Nếu giáo dục tốt thì giáo dân có thể đấu tranh sống theo Đảng, chết theo Chúa"1 Cho nên Đảng, Nhà nước phải quan tâm pháttriển sản xuất, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của giáo dân để giáo dângiác ngộ, đoàn kết tham gia kháng chiến, kiến quốc
Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo và lực lượng cốt cán trong các tôn giáo.
Cán bộ là gốc của mọi công việc Công tác tôn giáo phải cần có cán bộgiỏi Do đó, phải đào tạo cán bộ hiểu biết công tác tôn giáo Người yêu cầu cán
bộ phải tôn trọng và bảo đảm tự do tín ngưỡng tôn giáo, không thành kiến, hẹphòi, không xúc phạm tín ngưỡng, không mắc bệnh dùng lý luận không đúng lúc,
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr 385.
Trang 12hay đao to búa lớn nào khách quan, chủ quan nào tích cực, tiêu cực, nào khoahọc hoá, gì gì hoá mà tốt nhất là miệng nói, tay làm làm gương cho người khácbắt chước1 Phương pháp giáo dục phải thận trọng, kiên trì, gần gũi với đồngbào; với phương châm lấy cái tốt mà bỏ dần cái xấu, dần dần nói cho người tahiểu, để người ta vui lòng làm, chứ không có quyền ép người ta Người quantâm thu phục, cảm hoá, bồi dưỡng các chức sắc, tín đồ tôn giáo theo cách mạng.Thực tế, nhiều chức sắc tín đồ tôn giáo đã có đóng góp cho cách mạng như: Ngô
Tử Hạ, Nguyễn Mạnh Hà, Hồ Ngọc Cẩn, Cao Triều Phát, Phạm Bá Trực VớiNgười, "dĩ bất biến, ứng vạn biến", làm gì để xây dựng được khối đoàn kếtlương - giáo, làm gì có lợi cho Cách mạng đều cần thiết cả
II Mối quan hệ giữa tôn giáo với một số lĩnh vực đời sống xã hội
TNTG là một bộ phận tồn tại khách quan trong ĐSTT của một bộ phận nhân dân ảnh hưởng nhất định đến ĐS của cá nhân và xã hội TRÊN MỌI
LĨNH VỰC ĐỜI SỐNG XÃ HỘI KINH TẾ, CHÍNH TRỊ, VĂN HÓA, ĐẠO ĐỨC, TỪ THIỆN NHÂN ĐẠO, QP AN NINH.
* Xét xuyên suốt lịch sử nhân loại ảnh hưởng tiêu cực của TNTG giảm dần theo thời gian
ĐSTT xã hội là tổng hoà những giá trị, những sản phẩm, những hiện tượng,
những quá trình, những hoạt động, những quan hệ tinh thần của con người, phảnánh đời sống vật chất xã hội và được thể hiện như một phương thức hoạt động vàtồn tại tinh thần của con người trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định
Với tính cách là một hệ thống, ĐSTT xã hội bao gồm: Đời sống tư tưởng, đạo đức, lối sống; đời sống khoa học - công nghệ; đời sống văn hoá - nghệ thuật; đời sống giáo dục - đào tạo và Đời sống sinh hoạt TNTG của xã hội
- Đời sống TNTG tuy không phải là một lĩnh vực cơ bản trong ĐSTT nhưng nó
vẫn là một bộ phận tồn tại khách quan trong ĐSTT của một bộ phận nhân dân ảnh
hưởng nhất định đến ĐSTT của cá nhân và xã hội
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.91-109.
Trang 13* Xét xuyên suốt lịch sử nhân loại ảnh hưởng tiêu cực của TNTG giảm dần theo thời gian
E.Durkheim (1858 - 1917) nhà triết học, xã hội học, tôn giáo học ngời Pháp, có
lí khi nhận định: “Đã có một sự thật không còn nghi ngờ là tôn giáo ngày càngchiếm lĩnh một phần nhỏ bé dần trong đời sống xã hội Ban đầu, tôn giáo lan tràn ratất cả Tất cả cái gì là xã hội đều là tôn giáo Rồi dần dần những chức năng chínhtrị, kinh tế, khoa học tự vợt thoát khỏi chức năng tôn giáo Nếu có thể giải thíchChúa lúc đầu có mặt ở tất cả các mối quan hệ nhân loại, dần dần tự rút lui và bỏmặc cho con ngời với những cuộc tranh chấp của nó Chí ít, nếu Chúa còn muốnthống trị những mối quan hệ của con ngời, thì cũng từ trên cao và từ xa” [dẫn theo
118, tr 50-51]
2.1 Mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị
Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào thống trị về kinh tế thì cũng thống trị
ĐSTT xã hội Hệ tư tưởng chính trị giữ vị trí đặc biệt quan trọng, qui định tính chất, nội dung, phương hướng phát triển ĐSTT, trong đó có lĩnh vực tôn giáo
* Thời cổ đại: nói chung tôn giáo còn ảnh hưởng chi phối nặng đến chính trị Thời phong kiến: Các nhà nước PK đều dùng quốc giáo về thực chất để làm tư
tưởng thống trị, hiện tượng hợp nhất giữa chính trị và tôn giáo rất phổ biến, chínhtrị thần quyền là chính tri phổ biến Trung Quốc, Ai Cập, Ba Tư… nhất thể hóagiữa chức sắc tôn giáo với nhà thống trị là phổ biến
Ăng ghen: “Tín điều của giáo hội đồng thời cũng là tín điều chính trị, các câuchữ trong kinh thánh có hiệu lực pháp luật trong các phiên tòa… đó là kết quả tấtnhiên của địa vị bao trùm tất cả của giáo hội trong chế độ Pk đương thời” [Chiếntranh nông dân ở Đức, ]
Năm 800, Giáo hoàng trao vương miện cho Chaliman (742-814) lên ngôihòang đế thuyết “quân quyền do Chúa trao” Thần quyền lấn át thế quyền
Phương Đông, Việt Nam hài hòa hơn giữa thần quyền, thế quyền
Trang 14* Thời kỳ hiện đại
- Các nước tư bản: tách nhà nước – giáo hội; chính trị và tôn giáo Dự luật vềquyền con người (1791) của Mỹ, chính phủ thế tục quản lý tôn giáo … Nói chung
là sự suy yếu ảnh hưởng của tôn giáo với chính trị
Nhưng lợi dụng tôn giáo để thống trị, bóc lột GCCN, nhân dân lao động Lênin:GCTS sử dụng chức năng đao phủ, chức năng thầy tu để thống trị, bóc lột GCCN,nhân dân lao động
- Các nước thuộc địa: GC thống trị, lợi dụng tôn giáo để xâm lược, thống trị,bóc lột GCCN, nhân dân lao động
- Các nước XHCN: GCCN tách giáo hội ra khỏi nhà nước, nhà thờ khỏi trườnghọc, xây dựng thể chế chính trị vô thần; tôn trọng đảm bảo quyền tự do tôn giáocủa nhân dân lao động Động viên tập hợp tín đò, chức sắc vào cuộc cuộc xây dựng
xã hội mới
Việt Nam: đa số quần chúng đi theo cách mạng, nhưng vẫn còn có một bộ phậntín đồ bị địch lợi dụng Cho nên, không được đồng nhất TNTG với chính trị phảnđộng, đồng thời cũng không coi nhẹ, mất cảnh giác trước sự lợi dụng TNTG đó củacác thế lực thù địch Nếu kẻ thù lợi dụng TNTG để chống phá chế độ ta thì đó làchính trị phản động Còn Đảng và Nhà nước lãnh đạo quần chúng theo đạo thựchiện nhiệm vụ cách mạng là chính trị vô sản tiến bộ Từ đó, cần tôn trọng quyền tự
do tín ngưỡng, tập hợp, động viên quân nhân thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị - xãhội, đồng thời cảnh giác, vô hiệu hoá mọi sự lợi dụng TNTG của kẻ thù
2.2 Mối quan hệ giữa tôn giáo với đạo đức
Đạo đức là toàn bộ những quan niệm, thái độ, tình cảm của con người về các
qui tắc, các chuẩn mực điều chỉnh hành vi và đánh giá cách ứng xử trong quan hệgiữa cá nhân với cá nhân và giữa cá nhân với cộng đồng xã hội theo các chuẩn mựcthiện - ác, lương tâm- trách nhiệm, quyền lợi - nghĩa vụ, công bằng, danh dự, hạnhphúc Trong đời sống hiện thực, đạo đức được thiết lập, thực hiện chủ yếu bằng
Trang 15phương thức tự điều chỉnh, thông qua sức mạnh của dư luận xã hội Đạo đức bị quiđịnh, chế ước bởi tồn tại xã hội, bởi giai cấp và bởi truyền thống đạo đức dân tộc.Đạo đức vừa có nội dung mang tính nhân loại vừa có nội dung mang tính giai cấp.
Dưới CNXH, hai nội dung đó thống nhất với nhau Trung thành với lí tưởng XHCN; lao động tích cực, sáng tạo; có lòng yêu nước thiết tha và tinh thần quốc tế trong sáng; có lòng nhân ái đối với cộng đồng là những chuẩn mực đạo đức cơ bản
của con người mới Việt Nam hiện nay cần xây dựng
Đạo đức tôn giáo cũng là sự tiếp biến, rồi "thần hoá" văn hóa, đạo đức xã hội, được qui định thành giới luật, lễ nghi tôn giáo để các tín đồ tin theo Do tính "thần thánh, thiêng liêng", khó kiểm chứng nên các tín đồ thường vâng phục, tuân thủ một cách tự giác, hiệu quả hơn
Đạo đức tôn giáo cũng có mặ tiêu cực và tích cực nhất định
ở phương diện văn hoá, đạo đức, TNTG vừa có các giá trị văn hoá, đạo đứcnhất định, vừa chứa đựng các nội dung phản văn hoá, trái đạo đức, nên nó có ảnhhưởng hai chiều đến văn hoá, đạo đứccon người, xã hội
Do có sự tác động, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các hình thái ý thức xã hội, nênTNTG không thể không tiếp biến ở mức độ nhất định các giá trị văn hoá đạo đứccủa xã hội Mặt khác, để tồn tại, phát triển TNTG cũng cần phải tiếp biến, thần hoácác giá trị văn hoá đạo đức nhất định để tập hợp, lôi kéo, hấp dẫn quần chúng tintheo Nhưng do bản chất lạc hậu của nó, TNTG cũng chứa không ít cái phản vănhoá, trái đạo đức Điều đó cho phép giải thích hiện tượng cùng một tôn giáo nhưng
ở mỗi tộc người, dân tộc, quốc gia khác nhau thì nó có các giá trị văn hoá đạo đức
và các phản giá trị văn hoá, đạo đức khác nhau Do đó, đòi hỏi phải nhận rõ các giátrị và phản giá trị của TNTG Từ đó, lựa chọn, tiếp thu những giá trị văn hoá, đạođức tích cực, phù hợp như việc đề cao tính cộng đồng, khuyến thiện trừ ác, nhânnghĩa, vị tha và khắc phục những phản giá trị gây ảnh hưởng tiêu cực đến ĐSTT
cá nhân, xã hội như sự cầu xin hư ảo, tha hoá, nô lệ thần linh, cản trở thế giới quan,văn hoá, đạo đức, lối sống tốt đẹp của cá nhân, xã hội Tránh tuyệt đối hoá ảnh