1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng

98 87 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Trong Đấu Thầu Xây Lắp Của Công Ty Cổ Phần Constrexim Số 1 Hà Nội
Tác giả Trương Văn Hân
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Bá Uân
Trường học Trường Đại học Thủy lợi
Thể loại thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 270,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp của Công ty Cổ phần Constrexim số 1 Hà Nội nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh sản xuất của Công ty. Luận văn nghiên cứu về năng lực cạnh tranh trong đấu thầu và xây lắp của doanh nghiệp xây dựng và các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh.

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Sau khoảng thời gian học tập và làm luận văn với sự giúp đỡ quý báu,tận tình chu đáo của thầy giáo PGS.TS Nguyễn Bá Uân và các thầy cô giáoTrường Đại học Thủy lợi, bạn bè đồng nghiệp cũng với sự nỗ lực cố gắng họctập, tìm tòi, nghiên cứu của bản thân, tác giả đã hoàn thành luận văn thạc sĩvới đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp của Công ty

Cổ phần Constrexim Số 1 Hà Nội”

Tác giả xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Bá Uân

đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và cung cấp các thông tin khoa học quý báucho tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn này Xin chân thành cảm

ơn các thầy cô trong hội đồng khoa học đã đóng góp những ý kiến và lờikhuyên quý giá cho bản luận văn

Do điều kiện thời gian, kiến thức khoa học và kinh nghiệm thực tế củabản thân chưa nhiều nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giảrất mong nhận được ý kiến đóng góp và trao đổi tận tình của các thầy cô giáo

và bạn bè để luận văn được hoàn chỉnh hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Trương Văn Hân

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng đượccông bố trong bất kì công trình nào trước đây Tất cả các trích dẫn đã đượcghi rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Trương Văn Hân

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU TRONG XÂY DỰNG 4

Bản chất và vai trò của đấu thầu trong hoạt động xây dựng 4

Bản chất của đấu thầu trong hoạt động xây dựng 4

Một số khái niệm có liên quan đến hoạt động đấu thầu 8

Vai trò của hoạt động đấu thầu trong hoạt động xây dựng 10

Thực trạng công tác đấu thầu trong hoạt động XD ở nước ta 11

Quản lý nhà nước về đấu thầu trong xậy dựng 11

Quá trình áp dụng các hình thức đấu thầu trong xây dựng 12

Những kết quả đạt được trong đấu thầu xây dựng 19

Những tồn tại và hạn chế trong đấu thầu xây dựng 20

Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đấu thầu trong XD 21

Một số kinh nghiệm quản lý nhà nước về đấu thầu 24

Những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 26

Kết luận chương 1 27

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY LẮP CỦA DNXD 28

Cạnh tranh và khả năng cạnh tranh trong đấu thầu của DNXD 28

Tiếp cận và phân loại cạnh tranh trong đấu thầu của DNXD 29

Khả năng và phương thức cạnh tranh trong đấu thầu của DNXD 32

Các tiêu chí đánh giá khả năng cạnh tranh trong đấu thầu của DNXD 36 Những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh trong đấu thầu của doanh nghiệp xây dựng 41

Nhóm nhân tố bên trong doanh nghiệp 41

Nhóm nhân tố bên ngoài doanh nghiệp 48

Một số bài học về nâng cao năng lực cạnh tranh 51

Kết luận chương 2 55

Trang 4

CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY

LẮP CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CONSTREXIM SỐ 1 HÀ NỘI 56

Giới thiệu khái quát về Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng CONSTREXIM số 1 56

Giới thiệu về Công ty Cổ phần Constrexim số 1 56

Kết quả hoạt động xản suất kinh doanh của Công ty 61

Đánh giá thực trạnh năng lực cạnh tranh của Công ty 62

Năng lực kinh nghiệm và năng lực thi công 62

Năng lực cạnh tranh về chất lượng kĩ thuật – công nghệ thi công 63

Năng lực cạnh tranh về thực hiện tiến độ thi công 64

Năng lực cạnh tranh về giá dự thầu 65

Năng lực cạnh tranh về nguồn nhân lực 67

Phân tích những tồn tại và nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của Công ty 69

Phân tích những mặt tồn tại, hạn chế của công ty 69

Phân tích các nhân tố ảnh hưởng 72

3.4 Đánh giá những cơ hội và thách thức đối với công ty trong cạnh tranh 80

3.4.1 Những cơ hội đối với Công ty 80

3.4.2 Những thách thức đối với Công ty 80

Đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty trong đấu thầu xây lắp 81

Định hướng phát triển của Công ty trong giai đoạn 2015 – 2020 81

Một số giải pháp cơ bản nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty trong đấu thầu các gói thầu xâ lắp giai đoạn 2015 – 2020 83

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 88

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

Trang 5

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 2.1 Sơ đồ quá trình cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng 30Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý công ty 58

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình sản xuất kinh doanh 61Bảng 3.2 Bảng thống kê một số công trình trượt thầu và nguyên nhân 66Bảng 3.3 Lực lượng cán bộ quản lý, chuyên môn và kỹ thuật của Công ty 67Bảng 3.4 Công nhân kỹ thuật ký hợp đồng lao động với công ty 68

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đấu thầu trong xây dựng cơ bản là một hoạt động có ý nghĩa hết sứcquan trọng đối với sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp xây dựng vàtoàn xã hội Ở nươc ta hiên nay hoạt động đấu thầu được áp dụng rộng rãi ởnhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng đấu thầu trong xây dựng

cơ bản luôn được quan tâm, cải tiến để tựng bước hoàn thiện

Đấu thầu trong xây dựng là một hoạt động cạnh tranh giữa các nhàthầu Mỗi nhà thầu muốn thắng thầu phải có năng lực, kinh nghiệm phù hợpvới yêu cầu của gói thầu và phải có giá dự thầu hợp lý thì sẽ có cơ hội thắngthầu cao, để nhận được hợp đồng, tạo được việc làm, có doanh thu từ đó giúpdoanh nghiệp tồn tại và phát triển

Công ty Cổ phần Constrexim số 1 Hà Nội trực thuộc Công ty Cổ phầnĐầu tư Xây dựng và Thương mại Việt Nam hoạt động trên các lĩnh vực chính

là xây lắp và đầu tư kinh doanh bất động sản, trong các lĩnh vực kinh doanh,Constrexim số 1 Hà Nội đã khẳng định được uy tín, thương hiệu, vị thế trênthi trường, giá trị sản xuất kinh doanh không ngừng gia tăng, thị trường thịphần được mở rộng trên phạm vi toàn quốc

Trong bối cảnh thị trường xây dựng đang có sự cạnh tranh gay gắt,Công ty muốn thắng thầu thì phải nghiên cứu xây dựng một thương hiệumạnh và một sách lược đầu thầu kinh doanh linh hoạt hợp lý theo hướng thịtrường Xuất phát từ những yêu cầu và mong muốn đó thì việc lựa chọn đề tài

“Nghiên cứu giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp của Công ty Cổ phần Constrexim số 1 Hà Nội” là rất cần thiết.

7

Trang 8

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Đề tài nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnhtranh trong đấu thầu xây lắp của Công ty Cổ phần Constrexim số 1 Hà Nộinhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh sản xuất của Công ty

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a. Đối tượng nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu về năng lực cạnh tranh trong đấu thầu và xây lắpcủa doanh nghiệp xây dựng và các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh

b. Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi nghiên cứu về nội dung và không gian: Nghiên cứu năng lực cạnhtranh đối với Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng Constrexim số 1 Hà Nội trongviệc đấu thầu trong nước các gói thầu xây lắp sử dụng từ 30% vốn nhà nướctrở lên

- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Luận văn nghiên cứu khảo sát hoạt độngđấu thầu của Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng Constrexim số 1 Hà Nội từnăm 2010 đến nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiêncứu sau: luận duy vật biên chứng, kết hợp nghiên cứu định tính định lượng,phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phươngpháp tiếp cận hệ thống, phương pháp đối chiếu với hệ thống văn bản pháp quy

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

a. Ý nghĩa khoa học:

Hệ thống hoá các cơ sở lý luận về khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp nói chung và khả năng cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp của doanhnghiệp xây dựng nói riêng từ đó tìm ra một số giải pháp nhằm nâng cao khảnăng cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp của các doanh nghiệp này

Trang 9

b. Ý nghĩa thực tiễn:

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho cácdoanh nghiệp xây dựng nói chung, cho Công ty Cổ phần Constrexim số 1 HàNội nói riêng trong tiến trình phấn đấu nâng cao khả năng cạnh tranh trongđấu thầu xây lắp

6 Kết quả dự kiến đạt được

a. Tổng quan về công tác đấu thầu xây lắp, nêu được vai trò và sự cần thiết củahoạt động đấu thầu xây lắp trong điều kiện nền kinh tế hội nhập và mở của,đánh giá được thực trạng công tác đấu xây lắp ở nước ta trong những nămqua, và những công trình nghiên cứu có liên quan

b. Hệ thống hoá lý luận các quan niệm về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, lợithế cạnh tranh, vị thế cạnh tranh, khả năng cạnh tranh, các tiêu chí đánh giákhả năng cạnh tranh và các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh trongđấu thầu của doanh nghiệp xây dựng

c. Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, đánh giá kết quảđạt được và những tồn tại trong cạnh tranh qua đó nghiên cứu đề xuất đượcmột số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trong đấu thầu xây lắpcủa Công ty Cổ phần Constrexim số 1 Hà Nội cho giai đoạn 2015 – 2020

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn còn bao gồm 3chương có nội dung chính như sau:

- Chương 1: Tổng quan về hoạt động đấu thầu trong xây dựng

- Chương 2: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp của

doanh nghiệp xây dựng

- Chương 3: Đánh giá năng lực cạnh tranh và đề xuất giải pháp nâng cao năng

lực cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp của Công ty Cổ phần Constrexim số 1

Hà Nội

Trang 10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU

TRONG XÂY DỰNG Bản chất và vai trò của đấu thầu trong hoạt động xây dựng

Bản chất của đấu thầu trong hoạt động xây dựng

Theo cách hiểu chung nhất thì đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầuđáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu để thực hiện gói thầu thuộc các dự ántrên cơ sở bảo đảm tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế.Các quy định về đấu thầu được coi là công cụ quan trọng giúp bên mời thầu

có thể lựa chọn được người cung cấp hàng hoá, dịch vụ tốt nhất Điều này có

ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi mà nhu cầu và tỷ trọng mua sắm công (muasắm bằng vốn nhà nước) ở nước ta còn rất lớn

Lựa chọn nhà thầu được thực hiện ở nhiều dự án thuộc các lĩnh vựckhác nhau, bao gồm: Dự án đầu tư xây dựng công trình, dự án mua sắm hànghoá, dự án quy hoạch, nghiên cứu khoa học, lựa chọn đối tác Việc lựa chọnnhà thầu hiện chịu sự điều chỉnh của rất nhiều văn bản quy phạm pháp luậtkhác nhau như: Luật Thương mại (đối với lựa chọn nhà thầu mua sắm hànghoá), Luật Xây dựng (đối với nhà thầu hoạt động xây dựng), Luật Đấu thầu(đối với lựa chọn nhà thầu thuộc các lĩnh vực) Ngoài ra, do yêu cầu quản lýtrong một số lĩnh vực quan trọng, nhạy cảm (dầu khí, đất đai, tài chính ),Nhà nước cũng có những quy định riêng về lựa chọn nhà thầu Do các đặcđiểm riêng nên lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng – dạng hoạt độngrất quan trọng trong bối cảnh hiện nay của nước ta – có những khác biệt sovới lựa chọn nhà thầu khác như cung cấp hàng hoá, cung cấp dịch vụ, lựachọn đối tác

Khác với lựa chọn nhà thầu cung cấp hàng hoá là chọn hàng hoá đã cósẵn, người mua có thể tiếp cận bằng trực giác, việc lựa chọn nhà thầu tronghoạt động xây dựng mang bản chất của một chuỗi các hành động nhằm chọn

Trang 11

ra người làm ra sản phẩm xây dựng Hơn nữa, tại thời điểm đấu thầu, do sảnphẩm xây dựng mới chỉ được thể hiện trên các bản vẽ, sẽ được hình thànhtheo một thời gian nhất định nên sau khi đã chọn được nhà thầu, đòi hỏi phải

có sự tham gia, giám sát của chủ đầu tư Bởi vậy, vấn đề chất lượng, tiến độ,giá cả của sản phẩm, dịch vụ xây dựng phụ thuộc rất nhiều vào nhà thầu sẽlàm ra sản phẩm và quan hệ hợp đồng giữa chủ đầu tư với nhà thầu Từ nhậnthức này, có thể hiểu nhà thầu là chủ thể trung tâm của hoạt động đấu thầuxây dựng, cần được xem xét kỹ lưỡng cả về tư cách pháp lý và các biểu hiệncủa năng lực thực tế

Nhà thầu trong hoạt động xây dựng được xác định là các tổ chức, cánhân có đủ năng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng thamgia đấu thầu và ký kết, thực hiện hợp đồng trong hoạt động xây dựng Xéttheo tính chất và mối quan hệ với chủ đầu tư, nhà thầu xây dựng bao gồmtổng thầu xây dựng, nhà thầu chính và thầu phụ

Tổng thầu xây dựng là nhà thầu ký kết hợp đồng trực tiếp với chủ đầu

tư xây dựng công trình để nhận thầu toàn bộ một loại công việc hoặc toàn bộcông việc của dự án đầu tư xây dựng công trình Tổng thầu xây dựng baogồm: tổng thầu thiết kế tổng thầu thi công xây dựng công trình tổng thầuthiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình (tổngthầu EPC) tổng thầu lập dự án đầu tư xây dựng công trình, thiết kế, cung cấpthiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình

Nhà thầu chính trong hoạt động xây dựng là nhà thầu ký kết hợp đồngnhận thầu trực tiếp với chủ đầu tư xây dựng công trình để thực hiện phần việcchính của một loại công việc của dự án đầu tư xây dựng công trình Nhà thầuphụ trong hoạt động xây dựng là nhà thầu ký kết hợp đồngvới nhà thầu chínhhoặc tổng thầu xây dựng để thực hiện một phần công việc của nhà thầu chínhhoặc tổng thầu xây dựng

Trang 12

Điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng(gọi tắt là nhà thầu xây dựng) được xác định thông qua năng lực hoạt độngxây dựng, năng lực hành nghề xây dựng Năng lực hoạt động, năng lực hànhnghề của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng bao gồm:

- Đối với tổ chức: Năng lực hoạt động xây dựng được thể hiện thông qua việcđảm bảo các điều kiện để thực hiện các công việc như: Lập dự án đầu tư xâydựng công trình Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình Khảo sát xâydựng Thiết kế xây dựng công trình Thi công xây dựng công trình Giámsát thi công xây dựng

Năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức được xác định theo hạng trên

cơ sở năng lực hành nghề xây dựng của các cá nhân trong tổ chức, kinhnghiệm hoạt động xây dựng, khả năng tài chính, thiết bị và năng lực quản lýcủa tổ chức

Một số tổ chức tư vấn được thực hiện một, một số hoặc tất cả các côngviệc về lập dự án đầu tư xây dựng công trình, quản lý dự án, khảo sát xâydựng, thiết kế xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng công trình nếu

có đủ điều kiện năng lực theo quy định Đối với các dự án sử dụng vốn ngânsách nhà nước, nhà thầu thiết kế xây dựng công trình không được ký hợpđồng tư vấn giám sát với chủ đầu tư đối với công trình do mình thiết kế nhàthầu giám sát thi công xây dựng không được ký hợp đồng với nhà thầu thicông xây dựng thực hiện kiểm định chất lượng công trình xây dựng đối vớicông trình do mình giám sát Tổ chức tư vấn khi thực hiện công việc tư vấnnào thì được xếp hạng theo công việc tư vấn đó

- Đối với cá nhân khi tham gia các hoạt động xây dựng phải có năng lực hànhnghề được xác định thông qua Chứng chỉ hành nghề, kinh nghiệm trong hoạtđộng xây dựng

Trang 13

Chứng chỉ hành nghề là giấy xác nhận năng lực hành nghề cấp cho kỹ

sư, kiến trúc có đủ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp hoạtđộng trong lĩnh vực thiết kế quy hoạch xây dựng, khảo sát xây dựng, thhiết kếxây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng Chứng chỉ hành nghề đượcquy định theo mẫu thống nhất và có giá trị trong phạm vi cả nước, cho thấyphạm vi và lĩnh vực được phép hành nghề của người được cấp

Cá nhân đảm nhận các chức danh sau đây phải có chứng chỉ hành nghề:chủ nhiệm đồ án thiết kế quy hoạch xây dựng, thhiết kế xây dựng công trình.chủ trì các đồ án thiết kế chủ nhiệm khảo sát xây dựng giám sát thi công xâydựng và cá nhân hành nghề độc lập thực hiện các công việc thiết kế quyhoạch xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng.Thủ tục cấp, quản lý, hướng dẫn sử dụng chứng chỉ hành nghề trong hoạtđộng xây dựng được quy định trong các văn bản sau:

+ Nghị định 16/2005/NĐ – CP ngày 7/02/2007 của Chính phủ về Quản

lý dự án đầu tư xây dựng công trình (gọi tắt là Nghị định 16/CP)

+ Quyết định 12/2005/QĐ – BXD ngày 18 tháng 4 năm 2005 của Bộtrưởng Bộ Xây dựng ban hành Quy chế cấp chứng chỉ hành nghề giám sát thicông xây dựng

+ Quyết định 15/2005/QĐ – BXD ngày 25 tháng 4 năm 2005 của Bộtrưởng Bộ Xây dựng ban hành Quy chế cấp chứng chỉ hành nghề kiến trúc sư,

kỹ sư tham gia hoạt động xây dựng

Do ý nghĩa đặc biệt quan trọng của vấn đề điều kiện năng lực tronghoạt động xây dựng nên việc xây dựng hệ thống thông tin về năng lực các nhàthầu xây dựng là điều cần được chú trọng Mạng thông tin rộng khắp, đáng tincậy về năng lực các nhà thầu xây dựng sẽ là nguồn tham khảo hữu ích cho cácchủ đầu tư, nhà thầu, cơ quan quản lý nhà nước nhằm đảm bảo tính côngbằng, minh bạch trong hoạt động đấu thầu

Trang 14

Một số khái niệm có liên quan đến hoạt động đấu thầu

Để hiểu rõ hơn khái niệm đấu thầu, tác giả làm rõ hơn một số khái niệmliên quan chặt chẽ với khái niệm đấu thầu Theo Luật Đấu thầu số 43/2013được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,thong qua ngày26/11/2013, thì:

- “Đấu thầu” là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng

cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựachọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thứcđối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh,công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế;

- “Dự án” là một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có phối

hợp và kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành để đạt đượcmục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về thờigian, chi phí và nguồn lực

- “Dự án đầu tư xây dựng công trình” là tập hợp các đề xuất có liên quan đến

việc bỏ vốn để xây dựng mới,mở rộng hoặc cải tạo những công trình xâydựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặcsản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định.Dự án đầu tư xây dựng côngtrình bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở

- “Chủ đầu tư” là người sở hữu vốn hoặc được giao trách nhiệm thay mặt chủ

sở hữu, người vay vốn trực tiếp quản lý và thực hiện dự án

- “Bên mời thầu” là Chủ đầu tư hoặc tổ chức chuyên môn có đủ năng lực và

kinh nghiệm được Chủ đầu tư sử dụng để tổ chức đấu thầu theo các quy địnhcủa pháp luật về đấu thầu

- “Nhà thầu” là tổ chức, cá nhân có đủ tư cách hợp lệ theo quy định tại Luật

Đấu thầu

Trang 15

- “Nhà thầu chính” là nhà thầu chịu trách nhiệm về việc tham gia đấu thầu,

đứng tên dự thầu, ký kết và thực hiện hợp đồng nếu được lựa chọn Nhà thầutham gia đấu thầu một cách độc lập gọi là nhà thầu độc lập Nhà thầu cùng vớimột hoặc nhiều nhà thầu khác tham gia đấu thầu trong một đơn dự thầu thì gọi

là nhà thầu liên danh

- “Nhà thầu xây lắp” là nhà thầu tham gia đấu thầu các gói thầu xây lắp, gồm

những công việc thuộc quá trình xây dựng và lắp đặt thiết bị các công trình,hạng mục công trình, cải tạo, sửa chữa lớn

- “Nhà thầu phụ” là nhà thầu thực hiện một phần công việc của gói thầu trên

cơ sở thoả thuận hoặc hợp đồng được ký với nhà thầu chính Nhà thầu phụkhông phải là nhà thầu chịu trách nhiệm về việc tham gia đấu thầu

- “Nhà thầu trong nước” là nhà thầu được thành lập và hoạt động theo pháp

luật Việt Nam

- “Nhà thầu nước ngoài” là nhà thầu được thành lập và hoạt động theo pháp

luật của nước mà nhà thầu mang quốc tịch

- “Gói thầu” là một phần của dự án, trong một số trường hợp đặc biệt gói thầu

là toàn bộ dự án gói thầu có thể gồm những nội dung mua sắm giống nhauthuộc nhiều dự án hoặc là khối lượng mua sắm một lần đối với mua sắmthường xuyên

- “Hồ sơ mời thầu” là toàn bộ tài liệu sử dụng cho đấu thầu rộng rãi hoặc đấu

thầu hạn chế bao gồm các yêu cầu cho một gói thầu làm căn cứ pháp lý đểnhà thầu chuẩn bị hồ sơ dự thầu và để bên mời thầu đánh giá hồ sơ dự thầunhằm lựa chọn nhà thầu trúng thầu là căn cứ cho việc thương thảo, hoàn thiện

và ký kết hợp đồng

- “Hồ sơ dự thầu” là toàn bộ tài liệu do nhà thầu lập theo yêu cầu của hồ sơ

mời thầu và được nộp cho bên mời thầu theo quy định nêu trong hồ sơ mờithầu

Trang 16

- “Giá dự thầu” là giá do nhà thầu nêu trong đơn dự thầu thuộc hồ sơ dự thầu.

Trường hợp nhà thầu có thư giảm giá thì giá dự thầu là giá sau giảm giá

- “Giá trúng thầu” là giá được phê duyệt trong kết quả lựa chọn nhà thầu làm

cơ sở để thương thảo, hoàn thiện và ký kết hợp đồng

- “Hợp đồng” là văn bản ký kết giữa chủ đầu tư và nhà thầu được lựa chọn trên

cơ sở thỏa thuận giữa các bên nhưng phải phù hợp với quyết định phê duyệtkết quả lựa chọn nhà thầu

Vai trò của hoạt động đấu thầu trong hoạt động xây dựng

1 Đối với nhà nước:

Công tác đấu thầu đóng góp những thành tựu to lớn cho sự phát triểnkinh tế, thể hiện vai trò quan trọng trong các hoạt động của kinh tế thị trường.Đấu thầu mang lại cho nhà nước những đầu tư mới về công nghệ, máymóc, thiết bị hiện đại, tạo điều kiện cho việc thúc đấy quá trình công nghiệphóa và hiện đại hóa của đất nước

Là cơ sở để đánh giá đúng chính xác năng lực thực sự của các dơn vịkinh tế cơ sở, ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực diễn ra, tránh được sự thiên

vị của chủ đầu tư với các nhà thầu

Mặt tích cực nhất mà phía nhà nước thu được thông qua đấu thầu làtích lũy và học hỏi kinh nghiệm và biện pháp quản lý nhà nước đối với các dự

án, đặc biệt là quản lý tài chính, tăng cường các lời ích kinh tế xã hội khác

2 Đối với chủ đầu tư:

Lựa chọn được nhà thầu có năng lực đáp ứng được yêu cầu của mình

về kĩ thuật, chất lượng, đảm bảo tiến độ thi công đồng thời giá thành hợp lý,khắc phục tình trạng độc quyền về giá cả của các nhà thầu, mang lại hiệu quảcủa dự án đầu tư cao nhất

10

Trang 17

3 Đối với nhà thầu:

Đảm bảo công bằng đối với các thành phần kinh tế, không phân biệtđối xử giữa các nhà thầu, kích thích các nhà thầu nâng cao trình độ kĩ thuật,

áp dụng công nghệ và các giải pháp thực hiện tốt nhất, tận dụng tối đa mọinguồn lực sẵn có của mình

Học hỏi nhiều kinh nghiệm qua thực tế, có cơ hội để nâng cao trình độ,năng lực về quản lý và khoa học công nghệ, trình độ chuyên môn cho các bộcông nhân viên Nâng cao uy tín và vị trí của mình trên thương trường trongnước và quốc tế

1.2 Thực trạng công tác đấu thầu trong hoạt động XD ở nước ta1.2.1 Quản lý nhà nước về đấu thầu trong xậy dựng

Quản lý nhà nước về đấu thầu trong xậy dựng thông qua Luật Đấu thầu

số 43/QH13 ngày 26/11/2013 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2014, nghịđịnh số 63/2014/NĐ – CP ngày 26/6/2014 quy định chi tiết thi hành một sốđiều của Luật đấu thầu và lựa chọn nhà thầu có hiệu lực ngày 15/8/2014

Quản lý nhà nước góp phần nâng cao vai trò của chủ đầu tư và tăngcường trách nhiệm của nhà thầu Thực hiện đấu thầu sẽ tạo được sự công bằng

và cạnh tranh giữa các nhà thầu, hạn chế tiêu cực trong việc lựa chọn đơn vịthực hiện, qua đó giảm được chi phí đầu tư, mang lại hiệu quả cho dự án

- Luật Đấu thầu được ban hành đã tăng cường tính pháp lý của hoạt động đấuthầu,thống nhất các quy định của nhà nước về đấu thầu theo hướng là luật gốc

về đấu thầu sử dụng vốn nhà nước; khắc phục các tồn tại trong đấu thầu; tăngcường tính công khai, minh bạch, tăng cường phân cấp, đơn giản hóa thủtục,tăng cường hội nhập với quốc tế và tăng cường năng lực cạnh tranh giữacác nhà thầu trong nước Khắc những khó khăn trong quản lý nhà nước về đầu

tư xây dựng cơ bản Các mẫu hồ sơ hướng dẫn trong công tác đấu thầu đượcban hành ngày càng đầy đủ, chi tiết và đồng bộ,giúp cho các cơ

17

Trang 18

quan chức năng quản lý về đấu thầu ở các Bộ, nghành, địa phương, chủ đầu tưtrong quá trình thực hiện dễ dàng và nhanh chóng, từ đó nâng cao chất lượngtài liệu đấu thầu cũng như quá trình đấu thầu được công bằng, minh bạch hơn,

đỡ sai sót

- Phương thức đấu thầu bằng hình thức chỉ định thầu còn được áp dụng khárộng rãi trong nhóm công trình có vốn đầu tư từ các tổ chức phi chính phủ, quátrình đấu thầu thực hiện còn khép kín dẫn đến hiện tượng thông thầu

- Chất lượng hồ sơ mời thầu còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra chocác công tác lựa chọn nhà thầu, các tiêu chí đánh giá còn mang tính chất cảmtính và hướng vào một số nhà thầu nào đó làm mất đi tính cạnh tranh và minhbạch trong quá trình lựa chọn nhà thầu

- Đa số các nhà thầu lập hồ sơ dự thầu theo công nghệ lắp ghép modul Phầngiá dự thầu của các nhà thầu nhiều trường hợp chỉ khác nhau ở thư giảm giá.Phần lớn hồ sơ dự thầu cốt trúng thầu, sau đó khi thực hiện thì bố trí khác cả

về nhân sự và biện pháp thi công

1.2.2 Quá trình áp dụng các hình thức đấu thầu trong xây dựng

Theo Luật Đấu thầu 2013, hiện nay nước ta có các hình thức đấu thầu sau:

Đấu thầu rộng rãi

Đấu thầu rộng rãi là hình thức đấu thầu không hạn chế số lượng nhàthầu tham gia Bên mời thầu phải thông báo công khai về các điều kiện dựthầu trên các phương tiện thông tin đại chúng tối thiểu 10 ngày trước khi pháthành hồ sơ mời thầu Đấu thầu rộng rãi là hình thức chủ yếu áp dụng trongđấu thầu

Đấu thầu hạn chế:

Đấu thầu hạn chế là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu mời một sốnhà thầu (tối thiểu là 5) có đủ năng lực tham dự Danh sách nhà thầu tham dự

Trang 19

phải được người có thẩm quyền hoặc cấp có thẩm quyền chấp thuận Hình thức này chỉ được xem xét khi áp dụng khi có những điều kiện sau:

- Chỉ có một số nhà thầu có khả năng đáp ứng được yêu cầu của gói thầu

- Các nguồn vốn sử dụng yêu cầu phải tiến hành đấu thầu hạn chế

- Do tình hình cụ thể của gói thầu mà việc đấu thầu hạn chế có lợi thế

* Gói thầu có tính chất nghiên cứu thử nghiệm, bí mật quốc gia, bí mật an ninh,

bí mật quốc phòng do Thủ tướng Chính phủ quyết định

* Gói thầu đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quyết định trên cơ sở báo cáo thẩmđịnh của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ý kiến bằng văn bản của cơ quan tài trợ vốn

và các cơ quan có liên quan

Trong báo cáo đề nghị chỉ định thầu phải xác định rõ ba nội dung sau:

Trang 20

+ Không quá 500 triệu đồng đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn,dịch vụ phi tư vấn, dịch vụ công, không quá 01 tỷ đồng đối với gói thầu muasắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp, mua thuốc, vật tư y tế, sản phẩm công.

+ Không quá 100 triệu đồng đối với gói thầu dự toán mua sắm thườngxuyên

Chào hàng cạnh tranh:

Hình thức này được áp dụng cho chào hàng cạnh tranh theo quy trìnhthông thường áp dụng đối với gói thầu quy định tại Khoản 1 Điều 23 của LuậtĐấu thầu có giá trị 5 tỷ đồng, chào hàng cạnh tranh theo quy trình rút gọn ápdụng đối với gói thầu dịch vụ phi tư vấn thông dụng, đơn giản có giá trịkhông quá 500 triệu đồng, gói thầu mua sắm hàng hóa thông dụng, sẵn có trênthị trường với đặc tính kỹ thuật được tiêu chuẩn hóa, tương đương nhau vềchất lượng và gói thầu xây lắp công trình đơn giản đã có thiết kế bản vẽ thicông được phê duyệt có giá trị không quá 01 tỷ đồng, gói thầu đối với muasắm thường xuyên có giá trị không quá 200 triệu đồng Mỗi gói thầu phải có ítnhất 3 chào hàng của 3 nhà thầu khác nhau trên cơ sở yêu cầu chào hàng củabên mời thầu Việc gửi chào hàng có thể được thực hiện bằng cách gửi trựctiếp, bằng Fax, bằng đường bưu điện hoặc các phương tiện khác

Mua sắm trực tiếp:

Trên cơ sở tuân thủ quy định tại điều 60 của Nghị định

63/2014/NĐ-CP, hình thức mua sắm trực tiếp được áp dụng trong trường hợp hàng hóathuộc gói thầu áp dụng mua sắm trực tiếp là một trong nhiều loại hàng hóathuộc gói thầu tương tự đã ký hợp đồng trước đó thì quy mô của hàng hóa ápdụng mua sắm trực tiếp phải nhỏ hơn 130% quy mô của hàng hóa cùng loạithuộc gói thầu tương tự đã ký hợp đồng trước đó Trước khi ký hợp đồng, nhàthầu phải chứng minh có đủ năng lực về kỹ thuật tài chính để thực hiện góithầu

Trang 21

Tự thực hiện:

Hình thức này chỉ áp dụng đối với các gói thầu mà chủ đầu tư có đủnăng lực thực hiện trên cơ sở tuân thủ quy định tại điều 61 của Nghị định63/2014/NĐ-CP Việc áp dụng hình thức tự thực hiện phải được phê duyệttrong kế hoạch lựa chọn nhà thầu trên cơ sở tuân thủ quy định tại Điều 25 củaLuật Đấu thầu và đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

- Có chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực hoạt động và ngành nghề kinh doanh phùhợp với yêu cầu của gói thầu

- Phải chứng minh và thể hiện trong phương án tự thưc hiện và khả năng huyđộng nhân sự, máy móc, thiết bị đáp ứng yêu cầu về tiến độ thực hiện góithầu

- Đơn vị được giao thực hiện gói thầu không được chuyển nhượng khối lượngcông việc đối với tổng số tiền từ 10% giá gói thầu trở lên hoặc dưới 10% giágói thầu nhưng trên 50 tỷ đồng

7 Lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt

Trường hợp gói thầu, dự án xuất hiện các điều kiện đặc thù, riêng biệt

mà không thể áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư quy địnhtại các điều 20, 21, 22, 23, 24 và 25 của Luật này thì người có thẩm quyềntrình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định phương án lựa chọn nhà thầu,nhà đầu tư

8 Tham gia thực hiện của cộng đồng

Cộng đồng dân cư, tổ chức, tổ, nhóm thợ tại địa phương nơi có gói thầuđược giao thực hiện toàn bộ hoặc một phần gói thầu đó trong các trường hợpsau đây:

a Gói thầu thuộc chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ xóa đóigiảm nghèo cho các huyện, xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo, vùngkinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;

Trang 22

b Gói thầu quy mô nhỏ mà cộng đồng dân cư, tổ chức, tổ, nhóm thợ tại địa phương có thể đảm nhiệm

9 Các phương thức đấu thầu:

- Phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ

Phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ được áp dụng trong các trường hợp sau đây:

a) Đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu cung cấp dịch vụ phi tư vấn; gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có quy mô nhỏ;

b) Chào hàng cạnh tranh đối với gói thầu cung cấp dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp;

c) Chỉ định thầu đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp;

d) Mua sắm trực tiếp đối với gói thầu mua sắm hàng hóa; đ)

Chỉ định thầu đối với lựa chọn nhà đầu tư

Nhà thầu, nhà đầu tư nộp hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất gồm đề xuất về

kỹ thuật và đề xuất về tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu.

Việc mở thầu được tiến hành một lần đối với toàn bộ hồ sơ dự thầu, hồ

sơ đề xuất.

- Phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ

Phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ được áp dụng trong các trường hợp sau đây:

a) Đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp;

b) Đấu thầu rộng rãi đối với lựa chọn nhà đầu tư

Nhà thầu, nhà đầu tư nộp đồng thời hồ sơ đề xuất về kỹ thuật và hồ sơ

đề xuất về tài chính riêng biệt theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu.

Trang 23

Việc mở thầu được tiến hành hai lần Hồ sơ đề xuất về kỹ thuật sẽ được mở ngay sau thời điểm đóng thầu Nhà thầu, nhà đầu tư đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật sẽ được mở hồ sơ đề xuất về tài chính để đánh giá.

- Phương thức hai giai đoạn một túi hồ sơ

a Phương thức hai giai đoạn một túi hồ sơ được áp dụng trong trường hợp đấuthầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp,hỗn hợp có quy mô lớn, phức tạp

b Trong giai đoạn một, nhà thầu nộp đề xuất về kỹ thuật, phương án tài chínhtheo yêu cầu của hồ sơ mời thầu nhưng chưa có giá dự thầu Trên cơ sở traođổi với từng nhà thầu tham gia giai đoạn này sẽ xác định hồ sơ mời thầu giaiđoạn hai

c Trong giai đoạn hai, nhà thầu đã tham gia giai đoạn một được mời nộp hồ sơ

dự thầu Hồ sơ dự thầu bao gồm đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chínhtheo yêu cầu của hồ sơ mời thầu giai đoạn hai, trong đó có giá dự thầu và bảođảm dự thầu

- Phương thức hai giai đoạn hai túi hồ sơ

a Phương thức hai giai đoạn hai túi hồ sơ được áp dụng trong trường hợp đấuthầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp,hỗn hợp có kỹ thuật, công nghệ mới, phức tạp, có tính đặc thù

b Trong giai đoạn một, nhà thầu nộp đồng thời hồ sơ đề xuất về kỹ thuật và hồ

sơ đề xuất về tài chính riêng biệt theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu Hồ sơ đềxuất về kỹ thuật sẽ được mở ngay sau thời điểm đóng thầu Trên cơ sở đánhgiá đề xuất về kỹ thuật của các nhà thầu trong giai đoạn này sẽ xác định cácnội dung hiệu chỉnh về kỹ thuật so với hồ sơ mời thầu và danh sách nhà thầuđáp ứng yêu cầu được mời tham dự thầu giai đoạn hai Hồ sơ đề xuất về tàichính sẽ được mở ở giai đoạn hai

Trang 24

c Trong giai đoạn hai, các nhà thầu đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn một đượcmời nộp hồ sơ dự thầu Hồ sơ dự thầu bao gồm đề xuất về kỹ thuật và đề xuất

về tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu giai đoạn hai tương ứng với nộidung hiệu chỉnh về kỹ thuật Trong giai đoạn này, hồ sơ đề xuất về tài chính

đã nộp trong giai đoạn một sẽ được mở đồng thời với hồ sơ dự thầu giai đoạnhai để đánh giá

Các hình thức đấu thầu theo phạm vi đấu thầu:

- Đấu thầu cạnh tranh trong nước

Đấu thầu trong nước là hình thức đấu thầu chỉ có các nhà thầu trongnước tham dự Khác với hình thức mua bán bình thường khác chỉ có bên mua,bên bán thương lượng riêng với nhau, hình thức đấu thầu cạnh tranh mở racông khai cho nhiều nhà kinh doanh cạnh tranh với nhau dưới các dạng khácnhau

- Đấu thầu cạnh tranh quốc tế

Đấu thầu quốc tế là cuộc đấu thầu có các nhà thầu trong nước và ngoàinước tham dự Trong một cuộc đấu thầu cạnh tranh quốc tế, bên gọi thầuthường là một nước phát triển do một cơ quan chính phủ hay một công tyquốc gia đại diện đứng ra tổ chức đấu thầu Còn các công ty nước ngoài dựthầu thường là các công ty lớn có tiềm năng và có kinh nghiệm kinh doanhquốc tế

- Đấu thầu quốc tế chỉ được tổ chức trong các trường hợp sau:

+ Đối với gói thầu mà không có nhà thầu nào trong nước có khả năngđáp ứng yêu cầu của gói thầu

+ Đối với các dự án sử dụng nguồn vốn tài trợ của các tổ chức quốc tếhoặc của nước ngoài có quy định trong điều ước là phải đấu thầu quốc tế

- Nhà thầu nước ngoài khi tham dự đấu thầu tại Việt Nam hoặc phải liên doanhvới nhà thầu Việt Nam, hoặc phải cam kết sử dụng thầu phụ Việt

Trang 25

Nam, nhưng phải nêu rõ sự phân chia giữa các bên về phạm vi công việc, khối lượng và đơn giá tương ứng.

- Các nhà thầu nước ngoài trúng thầu phải thực hiện cam kết về tỷ lệ % khốilượng công việc cùng với đợn giá tương ứng dành cho phía Việt Nam là liêndanh hoặc thầu phụ như đã nêu trong hồ sơ dự thầu Trong khi thương thảo,hoàn thiện hợp đồng nếu nhà thầu nước ngoài trúng thầu không thực hiện cáccam kết nêu trong hồ sơ dự thầu thì kết quả đấu thầu sẽ bị hủy bỏ

- Các nhà thầu tham gia đấu thầu ở Việt Nam phải cam kết mua sắm và sử dụngcác vật tư, thiết bị phù hợp về chất lượng và giá cả, đang sản xuất, gia cônghoặc hiện có tại Việt Nam

- Trong trường hợp hai hồ sơ dự thầu của nhà thầu nước ngoài được đánh giángang nhau, hồ sơ dự thầu có tỷ lệ công việc dành cho phía Việt Nam là liêndanh hoặc thầu phụ cao hơn sẽ được chấp nhận

- Nhà thầu trong nước tham gia dự đấu thầu quốc tế (đơn phương hoặc liêndanh) được xét ưu tiên khi hồ sơ dự thầu được đánh giá tương đương với các

hồ sơ dự thầu của nhà thầu nước ngoài

- Trường hợp hai hồ sơ dự thầu được đánh giá ngang nhau, sẽ ưu tiên

hồ sơ dự thầu có tỷ lệ nhân công nhiều hơn

- Nhà thầu trong nước tham gia đấu thầu quốc tế sẽ được hưởng chế độ ưu đãitheo quy định của pháp luật

1.2.3 Những kết quả đạt được trong đấu thầu xây dựng

Từ giữa năm 2014 đến nay là những năm đầu tiên áp dụng Luật Đấuthầu số 43/2013/QH13 và Nghị định số 63/2014/NĐ – CP quy định chi tiết thihành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu có hiệu lực thihành Dù mới bắt đầu áp dụng nhưng các quy định mới về đấu thầu đã cónhững tác động nhất định đến công tác đấu thầu của cả nước Có rất nhiều các

Trang 26

kết quả cả tích cực và tiêu cực nhưng ta thấy nổi bật trên tất cả là tính cạnhtranh trong đấu thầu đã được nâng cao hơn.

Trước khi Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 và Nghị định số63/2014/NĐ-CP có hiệu lực thi hành, hạn mức được phép chỉ định thầu quyđịnh tại Nghị định số 85/2009/NĐ – CP là khá cao Tại các dự án ở cấphuyện, cấp xã đa số các gói thầu có quy mô nhỏ nên hầu hết không tồn tạihình thức đấu thầu mà áp dụng hình thức chỉ định thầu để rút ngắn thời giancủa qúa trình tổ chức lựa chọn nhà thầu Hình thức chỉ định thầu chiếm đa sốkhi lựa chọn nhà thầu là chuyện khá phổ biến tại nhiều địa phương Chính vìvậy tỷ lệ giảm giá trong nhiều trường hợp không được đến 1%, có nhiềutrường hợp bằng 0% Tuy việc áp dụng hình thức chỉ định thầu chỉ nhanh hơn

ở quy trình một chút, nhưng nó lại lại dẫn đến thất thoát lãng phí vốn rất lớn

1.2.4 Những tồn tại và hạn chế trong đấu thầu xây dựng

Mặc dù Luật đấu thầu hiện hành và các văn bản hướng dẫn đã quy địnhkhá rõ về quy trình đấu thầu, tuy nhiên thực tế vẫn diễn ra một số vi phạm vềquy trình đấu thầu Một số chủ đầu tư thậm chí còn không lập và phê duyệt kếhoạch đấu thầu mà vẫn tổ chức đấu thầu

Phương thức đấu thầu bằng hình thức chỉ định thầu còn được áp dụngkhá rộng rãi trong hầu hết các gói thầu đặc biệt là những dự án cấp huyện vàcấp xã, với cấp tỉnh các dự án áp dụng đấu thầu rất ít chỉ chiếm một tỷ lệkhông đáng kể

Do một số chủ đầu tư hạn chế về năng lực, kinh nghiệm, chuyên môn khôngnắm được quy trình đấu thầu, thiếu tính chuyên nghiệp nên chưa thực hiệnđúng quy trình đấu thầu nên phụ thuộc nhiều vào các đơn vị tư vấn đấu thầu,chưa chủ động nghiên cứu và cập nhật thường xuyên các quy định mới về đấuthầu, không phát hiện được những điều khoản mang tính chỉ định sẵn nhàthầu gây khiếu nại trong qúa trình đấu thầu làm ảnh hưởng đến tiến độ dự án

20

Trang 27

tự làm mất vị trí và thẩm quyền của mình Mặt khác năng lực của đơn vị tưvấn đấu thầu còn những hạn chế nhất định Làm cho chất lượng của hồ sơ mờithầu chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra cho công tác lựa chọn nhà thầu Hồ sơmời thầu của một số bên mời thầu chưa tuân thủ chặt chẽ quy định về yêu cầucạnh tranh Các yêu cầu đặt ra trong hồ sơ mời thầu còn mang tính chất chungchung, các tiêu chí đánh giá còn mang tính chất cảm tính và hướng vào một

số nhà thầu nào đó làm mất đi tính cạnh tranh và minh bạch trong quá trìnhlựa chọn nhà thầu

Trong việc lập hồ sơ dự thầu, đa số các nhà thầu lập hồ sơ dự thầu theocông nghệ lắp ghép mà không có sự nghiên cứu kỹ về gói thầu Phần lớn hồ

sơ dự thầu lập ra với mục đích trúng thầu, nhưng khi thực hiện thì bố trí khác

về nhân sự, về biện pháp thi công

1.2.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đấu thầu trong XD

Chính sách của Nhà nước

Khi tham gia đấu thầu, các doanh nghiệp xậy dựng đều phải thực hiệncác quy định chung của Nhà nước về đấu thầu Chính sách của Nhà nướcđóng vai trò rất quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thắng thầu của cácdoanh nghiệp xây dựng

Thị trường

Thị trường là nơi diễn ra sự cạnh tranh của các doanh nghiệp, thịtrường còn là cơ sở quan trọng hình thành nên cơ cấu xây lắp và cơ cấu đấuthầu, nó tác động đến đầu vào và đầu ra của dự án, các yếu tố cung, cầu, giá

cả lên xuống thất thường ảnh hưởng lớn đến việc đầu tư và xác định giá dựthầu, nhân tố thị trường ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công hay thất bại củamột dự án được đưa ra trong đấu thầu xậy dựng

27

Trang 28

Nội bộ doanh nghiệp

Các nhân tố thuộc về doanh nghiệp như: phương pháp quản lý, máymóc thiết bị, lao động, tài chính,… đóng vai trò rất quan trọng để đảm bảokhả năng cạnh tranh của mình khi tham gia đấu thầu Các chủ đầu tư khi đánhgiá xét chọn đơn vị trúng thầu cũng thường xem xét tìm hiểu đánh giá cácnhân tố đó một cách cẩn thận, chặt chẽ và chính xác nhằm lựa chọn được đơn

vị có đủ năng lực để thực hiện dự án

- Máy móc thiết bị của doanh nghiệp:

Khi tham gia đấu thầu trước hết máy móc, thiết bị của doanh nghiệpphải là những loại phù hợp với nhu cầu thi công và đạt hiệu quả cao, máy mócthiết bị phải mang tính đồng bộ, phù hợp với giả cả và chất lượng sản phẩm

do công nghệ đó sản xuất ra với số lượng nhiều, số năm sử dụng ít, công suấtlớn, đó là những nguồn lực về vật chất sẵn có để phục vụ cho việc cạnh tranhcủa doanh nghiệp

- Tài chính doanh nghiệp:

Nguồn tài chính có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh trongđấu thầu của các doanh nghiệp xây dựng Được thể hiện ở quy mô tài chínhcủa doanh nghiệp, khả năng huy động vốn và khả năng đảm bảo vốn lưu độngcủa doanh nghiệp

Mức lợi nhuận bình quân hàng năm từ các hợp đồng đã thi công thểhiện tính hiệu quả trong kinh doanh của doanh nghiệp

Mặt khác nhân tố tổng số nợ phải trả và nợ phải trả trong kì ảnh hưởngtới mực độ cạnh tranh của doanh nghiệp

Bên cạnh đó nhân tố không kém phần quan trọng là năng lực của độingũ cán bộ quản lý tài chính, nếu như đội ngũ này có trình độ chuyên môncao, xử lý kịp thời các vấn đề liên quan thì có thể giảm chi phí giá thành xâylắp để đưa ra được một giá bỏ thầu hợp lý

Trang 29

- Nguồn lực của doanh nghiệp:

Một doanh nghiệp cần phải có đầy đủ các phòng ban chức năng, các bộcần thiết cũng như số lượng công nhân trên từng công trường, trình độ lãnhđạo và trình độ bậc thợ Đâu là hai yếu tố cần thiết để kết hợp tạo thành sứcmạnh cho doanh nghiệp khi trình bày về năng lực của mình cho chủ đầu tư dự

án, nó còn có sức cạnh tranh cao đối với các doanh nghiệp khác

- Nguồn vật tư của doanh nghiệp:

Khi tham gia đấu thầu thì các nhà thầu thường quan tâm tới các chi phí

cụ thể là đưa ra mức giá cuối cùng tham gia dự thầu Đặc biệt là giá vật tư,tuy nhiên nếu nhà thầu có nguồn vật tư gần nơi thi công dồi dào, đủ cung cấpcho dự án đang đấu thầu thì sẽ có ưu thế dặc biệt đối với chủ đầu tư

Bên cạnh đó yếu tố cũng được quan tâm là mức giá của nguồn cung cấpvật tư, nếu nhà thầu tính toán và đưa ra mức giá phù hợp thì lại càng có lợicho mình hơn

- Nhân tố về tổ chức, quản lý của doanh nghiệp

Cơ câu tổ chức quản lý hợp lý sẽ tạo cho doanh nghiệp nâng cao đượchiệu quả của hoạt động trong doanh nghiệp nhờ đó tạo ra sự linh hoạt khi xử

lý các thay đổi của các nhân tố bên ngoài cũng như bên trong của doanhnghiệp làm giảm những thiệt hại không đáng có hay khôi phục những mất máttrước đây Vì thế sự hợp lý và linh hoạt trong tôt chức của các doanh nghiệpxây dựng là một yêu cầu rất quan trọng, đánh giá về trình độ tổ chức của cán

bộ cấp trên đối với các bộ phận cấp dưới

Bên cạnh các nhân tố ảnh hưởng trên còn có các nhân tố khác như: vịtrí, sở trường của doanh nghiệp, chiến lược marketting, uy tín, khả năng liêndoanh liên kết của doanh nghiệp,… cũng ảnh hưởng tới khả năng đấu thầu màdoanh nghiệp quan tâm

Trang 30

1.3 Một số kinh nghiệm quản lý nhà nước về đấu thầu

Kinh nghiệm trong nước

- Luật xây dựng đã có điều khoản xây dựng chặt chẽ nhưng trên thực tế hiệntượng thông thầu giữa các doanh nghiệp xây dựng và các bên mời thầu và bên

dự thầu vẵn còn tương đối phổ biến, nên cần có giải pháp chống khép kíntrong đấu thầu

- Luật đấu thầu hầu như chỉ quan tâm đến việc quy định hồ sơ mời thầu(HSMT) theo loại hình thi công xây dựng mà không quy định chi tiết cụ thểHSMT cho các loại hình khác mà chúng ta đang áp dụng từng bước trong quátrình hội nhập

- Về phạm vi điều chỉnh và sử lý mối quan hệ giữa Luật Đấu thầu với các Luậtmang tính chuyên ngành có những điều khoản không thống nhất nên khi ápdụng thường bị trùng, ách tắc mâu thuẫn

- Về giá trúng thầu cũng cần phải được xem xét.Theo Luật Đấu thầu, nhà thầutrúng thầu là nhà thầu có giá đánh giá thấp nhất nhưng không vượt giá góithầu được phê duyệt trong kế hoạch đấu thầu Nguyên tắc này chỉ thích hợpvới một vài nước phát triển có trình độ cao

- Quy định của luật chưa có hướng dẫn cụ thể cho việc hoàn thiện hồ sơ dự thầu(HSDT) nhằm thống nhất phương pháp đánh giá và việc lựa chọn nhà thầu đạtđược mục tiêu quản lý của Nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng

Kinh nghiệm ở nước ngoài

Xuất phát từ sự khác nhau về các đặc điểm, đặc thù, trình độ tổ chứcđấu thầu của các nước, các tổ chức quốc tế, các quy định về đấu thầu và kinhnghiệm quản lý, tổ chức thầu của các nước như:

- Ở Nga: quy chế đấu thầu phù hợp cao với quy chế đấu thầu quốc tế, có cơ chếquản lý giám sát, xử phạt nghiêm minh các hành vi tiêu cực trong đấu thầu

Trang 31

- Ở Hàn Quốc: thiết lập 1 cơ quan trập trung với số lượng cán bộ chuyên gialớn, có nhiệm vụ tổ chức thực hiện đấu thầu, tất cả các nhu cầu mua sám hànghóa và xây lắp công lớn của đất nước, những nhu cầu mua sắm hàng hóa vàxây lắm có giá trị nhỏ cũng được phân cấp rõ ràng.

- Ở Campuchia: quy chế quản lý đấu thầu do nhà nước ban hành còn khá đơngiản, ngắn gọn, nhưng việc tổ chức đấu thầu được tiến hành một cách tậptrung thông qua một hội đồng chuyên trách do nhà nước chỉ định

- Ngân hàng thể giới (WB), ngân hàng phát triển châu Á (ADB) ban hành riêng

rẽ hai loại văn bản cho hoạt động đấu thầu theo 2 phương thức đấu thầu xâylắp và đấu thầu hàng hóa, quy định rõ tính hợp lệ của nhà thầu, có chính sáchrất rõ ràng đối với hành động gian lận và tham nhũng

Qua nghiên cứu kinh nghiệm quản lý và quy chế đấu thầu xây dựngcác công trình ở một số nước tác giả thấy số lượng các nhà thầu nước ngoài

có mặt và chiếm lĩnh thị trường xậy dựng tại Việt Nam ngày càng tăng vì cácnhà thầu quốc tế có tiềm lực mạnh, có khả năng cạnh tranh cao Các nhà thầunày đã tham gia đấu thầu thi công những công trình xây dựng tại Việt Namnhư nhà thầu Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc,… Trên cơ sởnghiên cứu kinh nghiệm của một số nước, một số tổ chức quốc tế có ý nghĩarất lớn để góp phẩn hoàn thiện quy chế đấu thầu của nước ta cũng như tìm racác biện pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động phổ biến này Qua nhữngkinh nghiệm trên, tác giả thấy nổi bật lên một số điểm nhấn là:

- Có thể nghiên cứu xây dựng các quy định về đấu thầu tách rời giữa đấu thầumua sắm hàng hóa dịch vụ và công trình xây dựng với đấu thầu tuyển chọn tưvấn

- Nghiên cứu áp dụng tổ chức hoạt động đấu thầu tập trung trên phạm vi toànquốc hoặc từng vùng để tăng tính khách quan, công bằng và bình đẳng

Trang 32

- Áp dụng cơ chế giám sát, xử phạt nghiêm minh các tổ chức, cơ quan

và cá nhân vi phạm trong đấu thầu và thực hiện các hợp đồng

Ngoài ra còn một số điểm khác nữa sẽ được nghiên cứu để áp dụng vàohoàn cảnh của nước ta

Những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

- Tác giả Phạm thị Trang, Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng đã cóbài báo viết về “Một số đề xuất hoàn thiện công tác đấu thầu xây lắp côngtrình ở Việt Nam” Bài báo đã nghiên cứu quy trình đấu thầu xây lắp ở nước tahiện nay, trên cơ sở thực trạng, phân tích kinh nghiệm, so sánh với quy trìnhđấu thầu của các nước và tổ chức trên thế giới, nhằm tạo lên sự công bằng vàtính minh bạch, đảm bảo tính cạnh tranh cao trong lĩnh vực xây dựng, vấn đềnghiên cứu và hoàn thiện công tác đấu thầu xây dựng cần phải được quan tâm

để tạo nên sự phù hợp trong thời kỳ hội nhập toàn cầu hóa hiện nay

- Đề tài: Nghiên cứu tình hình thực hiện tổng thầu và lựa chọn nhà thầu tronghoạt động xây dựng mã số RD 10 – 06 được đăng tải trên báo xâydựng.gov.vn của tác giả Nguyễn Tuấn Anh đã nêu được hiện trạng tình hìnhthực hiện công tác đấu thầu và lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng,đưa ra được hướng tiếp cận đối với các vấn đề nghiên cứu trên cơ sở thamkhảo các quy định hiện hành của Việt Nam cũng như các hướng dẫn, quy địnhcủa nước ngoài về vấn đề này

- Trên trang www.baoxaydung.com.vn của tác giả Khắc Bình đã đưa ra vấn đềlựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng, tác giả đưa ra vấn đề trong bốicảnh tình trạng tham nhũng, lãng phí, thất thoát diễn ra tương đối phổ biếntrong đầu tư xây dựng, thì việc chú trọng công tác dấu thầu xây dựng là mộtgiải pháp khá căn bản, ghi nhận những nỗ lực của nhà nước trong việc quản

lý, điều tiết hoạt động liên quan trực tiếp tới quản lý và sử dụng tài sản củanhà nước

Trang 33

Kết luận chương 1

Chương 1 tác giả đã trình bày những kiến thức cơ bản về đấu thầu như:khái niệm, hệ thống văn bản pháp quy về đấu thầu, vai trò và những kết quảđạt được cũng như những tồn tại hạn chế trong hoạt động dấu thầu, bên cạnh

đó tác giả cũng đề cập tới những nhân tố ảnh hưởng tới cạnh tranh trong đấuthầu xây dựng Ngoài ra chương 1 cũng nêu nên thực trạng công tác đấu thầu ởnước ta trong thời gian qua và một số kinh nghiệm đấu thầu của các nhà thầunước ngoài Những nội dung nói trên là tiền đề để tiến hành phân tích và đánhgiá năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp của Công ty Cổ phầnConstrexim số

1 Trong chương 2 sẽ là cơ sở để đề xuất giải pháp của chương 3

Trang 34

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH

TRONG ĐẤU THẦU XÂY LẮP CỦA DNXD

2.1 Cạnh tranh và khả năng cạnh tranh trong đấu thầu của DNXD

Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, nhàphân phối, bán lẽ, người tiêu dùng, thương nhân,…) nhằm giành lấy những vịthế tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa,dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế, thương mại khác để thu được nhiều lợi íchnhất cho mình Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những nhà sản xuất, phân phốivới nhau hoặc có thể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng khingười sản xuất muốn bán hàng hóa, dịch vụ với giá cao, người tiêu dùng lạimuốn mua được với giá thấp Cạnh tranh của một doanh nghiệp là chiến lượccủa một doanh nghiệp với các đối thủ trong cùng một ngành Có nhiều biệnpháp cạnh tranh: cạnh tranh giá cả (giảm giá) hoặc cạnh tranh phi giá cả(khuyến mãi, quảng cáo) hay cạnh tranh của một doanh nghiệp, một ngành,một quốc gia là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện về thị trường tự do vàcông bằng có thể sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đáp ứng đượcđòi hỏi của thị trường, đồng thời tạo ra việc làm và nâng cao được thu nhậpthực tế

Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là sự thể hiện thực lực và lợi thếcủa doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thõa mãn tốt nhất cácđòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao, bằng việc khai thác,

sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm,dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuậnngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường.Khả năng canh tranh của doanh nghiệp được tạo ra từ thực lực của doanhnghiệp và là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh

Trang 35

không chỉ được tính băng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổchức quản trị doanh nghiệp,… mà năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắnliền với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường Năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp gắn với với thị phần mà nó nắm giữ, cũng cóquan điểm đồng nhất của doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh doanh Khảnăng cạnh tranh còn có thể được hiểu là khả năng tồn tại trong kinh doanh vàđạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặcchất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thịtrường hiện tại và làm nảy sinh thị trường mới Như vậy, cạnh tranh trong đấuthầu xây dựng là quá trình các doanh nghiệp xây dựng ganh đua nhau để đưa

ra các giải pháp về kỹ thuật, tài chính, tiến độ thi công công trình nhằm thỏamãn yêu cầu của Chủ đầu tư

Tiếp cận và phân loại cạnh tranh trong đấu thầu của DNXD

Tiếp cận về cạnh tranh trong đâu thầu của DNXD

Cạnh tranh trong đấu thầu có thể tiếp cận theo hai cách:

Theo nghĩa hẹp: cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng là quá trình các

doanh nghiệp xây dựng ganh đua nhau đưa ra các giải pháp về kĩ thuật, tàichính, tiến độ thi công để xây dựng công trình thỏa mãn một cách tối ưu cácyêu cầu của bên mời thầu

Quan niệm này cho thấy sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là sựganh đua hết sức gay gắt nhằm mục đích trúng thầu Tuy nhiên, quan niệmnày vẫn chỉ bó hẹp ở khâu đấu thầu mà chưa chỉ ra được sự cạnh tranh củacác doanh nghiệm trong suốt quá trình sản xuất – kinh doanh Mỗi doanhnghiệp đều tham gia đấu thầu ở nhiều công trình khác nhau với những đối thủkhác nhau trong khoảng thời gian, địa điểm khác nhau, do đó quan niệm theonghĩa hẹp này sẽ khó xác định được toàn diện các vấn đề cạnh tranh trong đấuthầu

Trang 36

Theo nghĩa rộng: cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng là sự đấu tranh

gay gắt giữa các doanh nghiệp xây dựng kể từ khi bắt đầu tìm kiếm thông tin,đưa ra các giải pháp tham gia đấu thầu, đảm bảo trúng thầu và thực hiện hợpđồng cho tới khi hoàn thành công trình và bàn giao theo yêu cầu của chủ đầu

tư Có thể hiểu cạnh tranh theo nghĩa rộng trong đấu thầu xây dựng theo sơ đồhình 2.1

Hình 2.1 Sơ đồ quá trình cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng

Doanh nghiệp phải chủ động tìm kiếm thông tin về các cuộc đấu thầu

để chuẩn bị tham gia đấu thầu

Khi doanh nghiệp tham gia đấu thầu, có hai trường hợp xảy ra: trượtthầu hoặc trúng thầu Trong trường hợp nào thì doanh nghiệp cũng luôn luônphải tìm kiếm các thông tin để tiếp cận các cuộc đấu thầu, phân tích và đánhgiá thông tin để đưa ra các quyết định đúng đắn trong việc tham gia đấu thầu

Phân loại cạnh tranh trong đấu thầu xậy dựng

Cạnh tranh trong đấu thầu có nhiều loại, trong đó chủ yếu là:

- Cạnh tranh giữa người mua và người bán: người mua dịch vụ xây dựng (chủđầu tư – bên mời thầu) và người bán dịch vụ xây dựng công trình (doanhnghiệp xây dựng – nhà thầu) với những mục tiêu khác nhau, tạo ra sự sộiđộng của thị trường xây dựng Mục tiêu của chủ đầu tư là các công trình

30

Trang 37

có chất lượng cao, thời gian xây dựng ngắn và chi phí xây dựng hợp lý Cònmục tiêu của nhà thầu là đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quảnhất và ít rủi ro nhất.

- Cạnh tranh giữa người mua dịch vụ với nhau: chỉ xảy ra khi có nhiều chủ đầu

tư có công trình cần xây dựng nhưng chỉ có một doanh nghiệp xây dựng hoặcmột ít tổ chức xây dựng tham gia đấu thầu có khả năng công nghệ độc quyền

để xây dựng các công trình ấy trường hợp này hiếm xảy ra trong nền kinh tếthị trường, nhất là trong đấu thầu

- Cạnh tranh giữa những người cung ứng dịch vụ (cạnh tranh giữa các nhà thầu– doanh nghiệp xây dựng) đó là cuộc cạnh tranh khốc liệt nhất, gay go nhấtcủa cạnh tranh trên thị trường xây dựng

Cạnh tranh là quá trình đấu tranh giữa các doanh nghiệp khác nhaunhằm đứng vững trên thị trường và tăng lợi nhuận trên cơ sở tạo ra, sử dụng

ưu thế của mình về chất lượng, thời gian thi công và chi phí xây dựng côngtrình Cạnh tranh, một mặt sẽ trừng phạt các doanh nghiệp có chi phí cao bằngcác hình thức loại bỏ doanh nghiệp ra khỏi thị trường hoặc doanh nghiệp chỉthu được lợi nhuận thấp Mặt khác, sẽ khuyến khích những doanh nghiệp cóchi phí thấp, chính nguyên tắc trừng phạt và khuyến khích của cạnh tranh tạo

áp lực buộc cách doanh nghiệp tìm mọi biện pháp để giảm chi phí sản xuất –kinh doanh, vì đó là cơ sở cho sự tồn tại hay phá sản của doanh nghiệp

Một trong những vấn đề trong sự tồn tại và phát triển của DNXD trongđiều kiện cơ chế thị trường là phải giành được lợi thế cạnh tranh trên thitrường, kí được nhiều hợp đồng có khả năng mang lại lợi nhuận cao Vì thếđấu thầu xây dựng có thể xem là một trong những hoạt động rất quan trọngđối với các doanh nghiệp xây dựng

Để thắng thầu được nhiều dự án đầu tư, doanh nghiệp phải có thực lựccạnh tranh, phải có chiến lược và chiến thuật hợp lý và cần phải có chữ tín với

37

Trang 38

chủ đầu tư, tạo dựng các mối quan hệ thường xuyên với chủ đầu tư hiện tại và chủ đầu tư tiềm năng.

Để dự thầu doanh nghiệp phải tiếp cận với hàng loạt vấn đề, từ khâuthiết kế đến thi công, bàn giao đưa công trình vào sử dụng Hoạt động thicông phải được triển khai thực hiện theo một trình tự công nghệ nghiêm ngặt(kĩ thuật và tổ chức thi công) đảm bảo cho quá trình thi công diễn ra thuậ lợi

và tiết kiệm nhất Để thi công xây dựng công trình đúng tiến độ, đạt hiệu quảkinh tế mong muốn thì DNXD phải có bộ máy quản lý đủ năng lực để điềuhành sản xuất Nếu hoạt động đấu thầu xây dựng được xem là hoạt động đầutiên trong quan hệ giữa doanh nghiệp xây dựng với chủ đầu tư, thì hoạt độngbàn giao công trình hoàn thành có thể xem là hoạt động cuối cùng Nhữngcông trình bàn giao cho chủ đầu tư được xem là những sản phẩm đã được thìtrường chấp nhận Hoạt động này có quan hệ tích cực hoặc tiêu cực tới hoạtđộng đấu thầy xây dựng của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp bàn giao côngtrình đảm bảo kĩ thuật, mỹ thuật, thời gian xây dựng thì uy tín của doanhnghiệp trên thi trường xây dựng được đề cao Ngược lại nếu doanh nghiệp bàngiao những công trình xây dựng không đảm bảo như cam kết hợp đồng thì uytín của doanh nghiệp sẽ giảm sút

Khả năng và phương thức cạnh tranh trong đấu thầu của DNXD

Khái quát về khả năng cạnh tranh trong đấu thầu của DNXD

Khi nói đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là nói đến nội lực(bên trong) của doanh nghiệp, trong đó có các năng lực về tài chính, kĩ thuật,công nghệ, marketing, tổ chức quản lý, đội ngũ lao động của DN Có nội lực

là điều kiên cần, còn điều kiện đủ là doanh nghiệp phải biết sử dụng và pháthuy tất cả các nội lực đó để phục vụ các cuộc cạnh tranh khác nhau, tạo lợithế hơn hẳn các doanh nghiệp khác Như vậy khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp là toàn bộ năng lực và việc sử dụng các năng lực đó để tạo ra lợi thế

Trang 39

của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh khác nhằm thỏa mãn đến mức tối đa các đòi hỏi của thi trường.

Khả năng cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng là toàn bộ những nănglực về tài chính, thiết bị, công nghệ, marketing, tổ chức quản lý mà doanhnghiệp có thể sử dụng để tạo ra các lợi thế của mình so với các doanh nghiệpkhác

Khả năng cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của doanh nghiệp khôngchỉ là lợi thế về sản phẩm (chất lượng, giá cả) mà còn có cả lợi thế về nguồnlực để đảm bảo sản xuất ra sản phẩm đó (tài chính, công nghệ, nhân lực) Đểtồn tại và phát triển bền vững phải không ngừng nâng cao nội lực của doanhnghiệp nhằm tạo ưu thế về mọi mặt như chất lượng công trình, tiến độ thicông, biện pháp thi công, giá cả.… so với các đối thủ.Trước yêu cầu ngàycàng cao và đa dạng của khách hàng, nếu doanh nghiệp không vươn lên đápứng được thì sự thất bại trong cạnh tranh là điều khó tránh khỏi Trên thực tế,

sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng trở lên gay gắt, buộc các nhàthầu phải tìm mọi biện pháp để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình

Cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng là việc các doanh nghiệp cử dụngtoàn bộ năng lực có thể để giành lấy phần thắng, phần hơn trước các đối thủcùng tham dự thầu

Phương thức cạnh tranh trong đấu thầu của DNXD

Để đánh giá, cho điểm và lựa chọn nhà thầu, chủ đầu tư căn cứ vàonhững chỉ tiêu chủ yếu sau của nhà thầu:

- Kinh nghiệm và năng lực của nhà thầu

- Tài chính

- Tiến độ thi công

- Giá dự thầu

Trang 40

Trong các chỉ tiêu trên, chủ đầu tư đặc biệt chú trong đến 3 chỉ tiêuhàng đầu mà các doanh nghiệp xây dựng sử dụng như những phương thứctrọng tâm trong quá trình cạnh tranh đấu thầu, cụ thể:

Phương thức 1: cạnh tranh bằng giá dự thầu

Trong đấu thầu, chỉ tiêu giá bỏ thầu có vai trò quyết định việc doanhnghiệp có trúng thầu hay không Nếu xây dựng được mức giá bỏ thầu tốt, đảmbảo được hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp vừa đảm bảo khả năng trúngthầu cao

Chất lượng của việc xây dựng mức giá bỏ thầu liên quan đến rất nhiềuyếu tố Nó thể hiện được các phẩm chất của doanh nghiệp xây dựng như:

- Trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp

- Kĩ thuật thi công, khả năng áp dụng công nghệ tiên tiến

- Phẩm chất kinh doanh của doanh nghiệp

Để giá bỏ thầu của doanh nghiệp có ưu thế cạnh tranh đòi hỏi có chínhsách về giá một cách linh hoạt dựa trên cơ sở: năng lực thực sự của doanhnghiệp, mục tiêu tham gia đấu thầu, quy mô, đặc điểm dự án, địa điểm của dự

án, phong tục tập quán của địa phương có dự án được thi công

Việc xây dựng giá bỏ thầu phụ thuộc lớn vào mục tiêu đấu thầu của nhàthầu như để kiếm lợi nhuận, công ăn việc làm hay mở ra thị trường mới Mộtnhà thầu thường xây dựng các mức giá khác nhau với những mục tiêu đạtđược khác nhau Tùy theo từng công trình cụ thể, tiềm lực nguồn lao động,khả năng về vốn, thiết bị máy móc… mục tiêu tham gia đấu thầu có chínhsách định giá khác nhau trong việc quyết định giá bỏ thầu

Phương thức 2: Cạnh tranh bằng chất lượng công trình

Chất lượng công trình là tập hợp các thuộc tính của công trình trongđiều kiện nhất định về kinh tế kĩ thuật Chất lượng là một chỉ tiêu tổng hợp

Ngày đăng: 03/08/2021, 16:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2009), Thông tư số 02/2009/TT – BKH ngày 17/2/2009 hướng dẫn lập kế hoạch đấu thầu Khác
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2010), Thông tư số 21/2010/TT – BKH ngày 28/10/2010 Quy định chi tiết về thẩm định hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu Khác
2. Chính phủ (2013), Nghị định số 15/2013/NĐ_CP ngày 06 tháng 2 năm 2013 về việc quản lý chất lượng công trình xây dựng Khác
4. Chính phủ (2014), Nghị định số 63/2014/NĐ – CP ngày 26 tháng 6 năm 2014 về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu Khác
5. Công ty Cổ phần CONSTREXIM số 1, Báo cáo Tài chính hoạt động kinh doan 2011 – 2014, hồ sơ năng lực Khác
6. Ngô Thị Thanh Vân, Môi trường pháp lý trong xây dựng, Tập bài giảng dùng cho cao học, Trường Đại học Thủy lợi Khác
7. Nguyễn Bá Uân (2012), Phương pháp định giá xây dựng, Tập bài giảng dùng cho cao học, Trường Đại học Thủy lợi Khác
8. Nguyễn Bá Uân (2013), Quản lý dự án xây dựng nâng cao, Tập bài giảng cao học, Đại học Thủy lợi Khác
9. Nguyễn Xuân Phú (2010), Kinh tế đầu tư công trình thủy lợi, Tập bài giảng cao học, Đại học Thủy lợi Khác
10. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2014), Luật Xây Dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/06/2014.97 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w