1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn nâng cao năng lực đấu thầu tại Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng Sông Đà SUDICO

112 90 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 683,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở hệ thống lý luận đánh giá thực trạng tiềm năng và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Công ty trong lĩnh vực đấu thầu xây lắp, đề tài nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp của Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng Sông Đà SUDICO.

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Sau khoảng thời gian học tập và làm luận văn với sự giúp đỡ quý báu, tận tình chu đáo của thầy giáo GS.TS Vũ Thanh Te và các thầy cô giáo Trường Đại học Thủy lợi, bạn bè đồng nghiệp cũng với sự nỗ lực cố gắng học tập, tìm tòi, nghiên cứu của bản thân, tác giả đã hoàn thành luận văn thạc

sĩ với đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp của Công

ty Cổ phần Đầu tư xây dựng Kinh tế Việt Nam”.

Tác giả xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới GS.TS Vũ Thanh Te đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và cung cấp các thông tin khoa học quý báu cho tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn này Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng khoa học đã đóng góp những ý kiến và lời khuyên quý giá cho bản luận văn.

Do điều kiện thời gian, kiến thức khoa học và kinh nghiệm thực tế của bản thân chưa nhiều nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp và trao đổi tận tình của các thầy cô giáo

và bạn bè để luận văn được hoàn chỉnh hơn.

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Trương Văn Hân

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả Cáckết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất

kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào.Việc tham khảo các nguồn tài liệu đãđược thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Trương Văn Hân

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẤU THẦU VÀ CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY LẮP 5

1.1 Tổng quan về đấu thầu trong xây lắp 5

1.1.1 Bản chất của đấu thầu trong hoạt động xây dựng 5

1.1.2 Một số khái niệm có liên quan đến hoạt động đấu thầu xây lắp 8

1.1.3 Sự cần thiết phải thực hiện đấu thầu trong xây dựng 11

1.1.4 Vai trò của đấu thầu: 14

1.2 Tổng quan về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh trong đấu thầu Xây lắp 16

1.2.1 Khái niệm về cạnh tranh 16

1.2.2 Đặc điểm của cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng 20

1.2.3 Cạnh tranh trong đấu thầu thời kỳ hội nhập Quốc tế 23

1.3 Một số kinh nghiệm đấu thầu và cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp trên thế giới 24

1.3.1 Kinh nghiệm đấu thầu của Nhật Bản: 25

1.3.2 Quy định đấu thầu của Hàn Quốc: 25

1.3.3 Quy định đấu thầu của Trung Quốc: 26

1.3.4 Kinh nghiệm đấu thầu xây dựng của nước Nga: 28

1.3.5 Kinh nghiệm đấu thầu của tổ chức ngân hàng thế giới (WB) và ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) 28

1.4 Thực trạng công tác đấu thầu và và cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp ở Việt Nam 31

1.4.1 Quản lý nhà nước về đấu thầu trong xậy dựng 31

1.4.2 Quá trình áp dụng các hình thức đấu thầu trong xây dựng 32

1.4.3 Những kết quả đạt được trong đấu thầu xây dựng 38

1.4.4 Những tồn tại và hạn chế trong đấu thầu xây dựng 39

1.4.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đấu thầu trong xây dựng 40

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 42

Trang 4

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ NĂNG

LỰC CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY LẮP 43

2.1 Các cơ sở lý luận về cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp 43

2.1.1 Đặc điểm của cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp 43

2.1.2 Năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp 45

2.1.3 Khả năng cạnh tranh trong đấu thầu của doanh nghiệp xây lắp 46

2.2 Các công cụ cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp 47

2.2.1 Cạnh tranh bằng giá dự thầu 47

2.2.2 Cạnh tranh bằng chất lượng công trình 47

2.2.3 Cạnh tranh bằng tiến độ thi công 48

2.2.4 Cạnh tranh bằng năng lực tài chính 49

2.2.5 Cạnh tranh bằng máy móc thiết bị, công nghệ thi công 49

2.3 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp 50

2.3.1 Chỉ tiêu số lượng công trình trúng thầu và giá trị trúng thầu hàng năm 50

2.3.2 Lợi nhuận đạt được 51

2.3.3 Chất lượng sản phẩm 51

2.3.4 Cơ sở vật chất, kỹ thuật công nghệ 52

2.3.5 Kinh nghiệm và năng lực thi công 53

2.3.6 Năng lực tài chính 53

2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp 54

2.4.1 Nhân tố khách quan 55

2.4.2 Nhân tố chủ quan: 60

2.5 Ý nghĩa của cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp 66

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 71

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG KINH TẾ VIỆT NAM 72

3.1 Thực trạng và định hướng phát triển năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng Kinh tế Việt Nam 72

3.1.1 Giới thiệu khái quát về Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng Kinh tế Việt Nam 72

3.1.2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty 75

3.1.3 Cơ cấu tổ chức của Công ty 76

Trang 5

3.2 Đánh giá thực trạnh năng lực cạnh tranh của Công ty 80

3.2.1 Năng lực kinh nghiệm và năng lực thi công 80

3.2.2 Năng lực cạnh tranh về chất lượng kĩ thuật – công nghệ thi công 81

3.2.3 Năng lực cạnh tranh về thực hiện tiến độ thi công 82

3.2.4 Năng lực cạnh tranh về giá dự thầu 83

3.2.5 Năng lực cạnh tranh về nguồn nhân lực 84

3.3 Phân tích những tồn tại và nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của Công ty 86

3.3.1 Phân tích những mặt tồn tại, hạn chế của công ty 86

3.3.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng 89

3.4 Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu của Công ty trong đấu thầu xây lắp 95

3.4.1 Định hướng phát triển của Công ty trong giai đoạn 2017 – 2022 95

3.4.2 Một số giải pháp cơ bản nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty trong đấu thầu các gói thầu xâ lắp giai đoạn 2017 – 2022 97

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 101

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 102

1 Kết luận 102

2 Kiến nghị 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

Trang 6

DANH MỤC BIỂU ĐỒHình 1.1 Khái quát hoạt động đấu thầu xây lắp 9

Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý công ty 73

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 3.1 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình sản xuất kinh doanh từ 2013 – 2016

76

Bảng 3.2 Bảng thống kê một số công trình trượt thầu và nguyên nhân 84

Bảng 3.3 Lực lượng cán bộ quản lý, chuyên môn và kỹ thuật của Công ty 85

Bảng 3.4 Công nhân kỹ thuật ký hợp đồng lao động với công ty 86

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Với nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế thế giới ngày nay, sự cạnh tranhdiễn ra một cách khốc liệt và mạnh mẽ Các doanh nghiệp phải không ngừng thay đổi,cải tiến và đổi mới nếu không muốn bị đào thải và bật ra khỏi vòng quay của sự pháttriển đó Để có thể tồn tại và phát triển, các nhà quản lý cần có những quyết định chínhxác, kịp thời nắm bắt được cơ hội kinh doanh và không ngừng hoàn thiện bản thânchính doanh nghiệp

Như chúng ta đã biết ngành xây dựng là một ngành đóng góp khá lớn vào sự pháttriển chung của đất nước Việt Nam trong những năm vừa qua Rất nhiều các dự án đầu

tư xây dựng sử dụng vốn trong và ngoài nước với quy mô lớn được đưa ra khiến mức độcạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành ngày càng trở nên quyết liệt Mặt khác,xây dựng cơ bản cũng là một lĩnh vực mang tính đặc thù riêng Đặc trưng của ngành làvốn đầu tư lớn, thời gian hoàn thành công trình kéo dài nên vấn đề đặt ra là làm sao đểquản lý nguồn vốn có hiệu quả, khắc phục được tình trạng thất thoát, lãng phí Và mộttrong những hoạt động để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cũng như tạotính công bằng minh bạch giữa các doanh nghiệp xây dựng đó là thông qua công tác đấuthầu

Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng Kinh tế Việt Nam chính thức được thành lậpnăm 2008 Đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng nói riêng và cácdoanh nghiệp khác nói chung thì năng lực đấu thầu luôn gắn liền với hiệu quả hoạt độngkinh doanh.Với tình hình thị trường xây lắp hiện nay, khi mà công tác lựa chọn nhà thầuđều thông qua hình thức đấu thầu rộng rãi, để có thể thắng thầu, doanh nghiệp cần phảiđưa ra được biện pháp tổ chức thi công hiệu quả, với giá thành công trình xây dựng làthấp nhất, tiến độ thi công ngắn nhất để từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấuthầu xây dựng, tăng khả năng thắng thầu khi tham gia đấu thầu các dự án trong và ngoàinước

Từ ý nghĩa thực tiễn đó, tôi với tư cách là cán bộ hiện đang công tác tại Công ty

Trang 9

cổ phần Đầu tư xây dựng Kinh tế Việt Nam, tôi chọn đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp tại Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng Kinh tế Việt Nam” Tôi hy vọng rằng đề tài nghiên cứu của mình sẽ đưa ra được các giải pháp đúng

đắn để từ đó giúp các nhà lãnh đạo, quản lý công ty đưa ra được chiến lược nhằm nângcao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp mình

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Trên cơ sở hệ thống lý luận đánh giá thực trạng tiềm năng và các nhân tố ảnhhưởng đến năng lực cạnh tranh của Công ty trong lĩnh vực đấu thầu xây lắp, đề tàinghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây lắpcủa Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng Kinh tế Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

a Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Đề tài Luận văn tập trung nghiên cứu các giảipháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp của Công ty cổ phần Đầu tưxây dựng Kinh tế Việt Nam

b Phạm vi nghiên cứu:

+ Phạm vi về không gian: Luận văn nghiên cứu những vấn đề về năng lực cạnhtranh của Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng Kinh tế Việt Nam giới hạn trong phạm vi đấu thầu xây lắp

+ Phạm vi về thời gian: Luận văn nghiên cứu kết quả hoạt động đấu thầu xâylắp của Công ty trong các năm gần đây và định hướng phát triển của Công ty trongtương lai

4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

a Cách tiếp cận:

+ Tiếp cận lý thuyết, tìm hiểu các tài liệu đã được nghiên cứu

+ Tiếp cận thực tế đấu thầu xây lắp ở Việt Nam

b Phương pháp nghiên cứu

Trang 10

Để hoàn thành các nội dung và giải quyết các vấn đề nghiên cứu của đề tài, tácgiả sẽ sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau đây trong luận văn:

- Phương pháp thu thập và tổng hợp số liệu

- Phương pháp khảo sát thực tế

- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia – các vị lãnh đạo công ty về hướng pháttriển công ty trong thời gian tới

- Phương pháp kế thừa và một số phương pháp kết hợp khác

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

a Ý nghĩa khoa học:

Đề tài nghiên cứu Nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp có căn

cứ khoa học phục vụ cho việc nghiên cứu trong bước lập hồ sơ đấu thầu và lựa chọnnhà thầu thi công công trình

b Ý nghĩa thực tiễn:

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ được sử dụng trong phân tích, đánh giá Nângcao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu và đấu thầu xây lắp Một số giải pháp sẽ đượcvận dụng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của đơn vị mình và định hướng pháttriển đơn vị trong tương lai

6 Kết quả dự kiến đạt được

Luận văn đã nghiên cứu tìm hiểu sâu hơn về đấu thầu nói chung và đấu thầutrong lĩnh vực xây lắp nói riêng, qua đó đã đưa ra thêm một số giải pháp nhằm nângcao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp Một số giải pháp trong luận văn đãđược đưa vào áp dụng thực tế tại đơn vị và cho thấy hiệu quả

Đặc biệt đối với Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng Kinh tế Việt Nam chưa cócông trình nào nghiên cứu nào về đề tài nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầuxây lắp, mà đề tài này lại là một vấn đề rất cấp thiết có tính chất sống còn đối với công

ty trong những năm trở lại đây

Đề xuất một số giải pháp trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu

Trang 11

thầu xây lắp tại Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng Kinh tế Việt Nam nói riêng và củacác công ty xây dựng trong tương lai.

7 Nội dung của luận văn

Ngoài phần mở đầu khẳng định tính cấp thiết của đề tài, các mục tiêu cần đạt được khithực hiện đề tài, các cách tiếp cận và phương pháp thực hiện để đạt được các mục tiêu

đó Luận văn gồm 3 chương chính với nội dung cụ thể như sau:

- Chương 1: Tổng quan về đấu thầu và cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp

- Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh trong

đấu thầu xây lắp

- Chương 3: Đánh giá năng lực cạnh tranh và đề xuất các giải pháp nâng cao

năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp của Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựngKinh tế Việt Nam

Trang 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẤU THẦU VÀ CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY LẮP

1.1 Tổng quan về đấu thầu trong xây lắp

1.1.1 Bản chất của đấu thầu trong hoạt động xây dựng

Theo cách hiểu chung nhất thì đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứngcác yêu cầu của bên mời thầu để thực hiện gói thầu thuộc các dự án trên cơ sở bảo đảmtính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế Các quy định về đấu thầuđược coi là công cụ quan trọng giúp bên mời thầu có thể lựa chọn được người cungcấp hàng hoá, dịch vụ tốt nhất Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi mà nhucầu và tỷ trọng mua sắm công (mua sắm bằng vốn nhà nước) ở nước ta còn rất lớn

Lựa chọn nhà thầu được thực hiện ở nhiều dự án thuộc các lĩnh vực khác nhau,bao gồm: Dự án đầu tư xây dựng công trình, dự án mua sắm hàng hoá, dự án quyhoạch, nghiên cứu khoa học, lựa chọn đối tác Việc lựa chọn nhà thầu hiện chịu sựđiều chỉnh của rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như: Luật Thương mại(đối với lựa chọn nhà thầu mua sắm hàng hoá), Luật Xây dựng (đối với nhà thầu hoạtđộng xây dựng), Luật Đấu thầu (đối với lựa chọn nhà thầu thuộc các lĩnh vực) Ngoài

ra, do yêu cầu quản lý trong một số lĩnh vực quan trọng, nhạy cảm (dầu khí, đất đai, tàichính ), Nhà nước cũng có những quy định riêng về lựa chọn nhà thầu Do các đặcđiểm riêng nên lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng – dạng hoạt động rất quantrọng trong bối cảnh hiện nay của nước ta – có những khác biệt so với lựa chọn nhàthầu khác như cung cấp hàng hoá, cung cấp dịch vụ, lựa chọn đối tác

Khác với lựa chọn nhà thầu cung cấp hàng hoá là chọn hàng hoá đã có sẵn,người mua có thể tiếp cận bằng trực giác, việc lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xâydựng mang bản chất của một chuỗi các hành động nhằm chọn ra người làm ra sảnphẩm xây dựng Hơn nữa, tại thời điểm đấu thầu, do sản phẩm xây dựng mới chỉ đượcthể hiện trên các bản vẽ, sẽ được hình thành theo một thời gian nhất định nên sau khi

đã chọn được nhà thầu, đòi hỏi phải có sự tham gia, giám sát của chủ đầu tư Bởi vậy,vấn đề chất lượng, tiến độ, giá cả của sản phẩm, dịch vụ xây dựng phụ thuộc rất nhiềuvào nhà thầu sẽ làm ra sản phẩm và quan hệ hợp đồng giữa chủ đầu tư với nhà thầu

Trang 13

Từ nhận thức này, có thể hiểu nhà thầu là chủ thể trung tâm của hoạt động đấu thầuxây dựng, cần được xem xét kỹ lưỡng cả về tư cách pháp lý và các biểu hiện của nănglực thực tế.

Nhà thầu trong hoạt động xây dựng được xác định là các tổ chức, cá nhân có đủnăng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng tham gia đấu thầu và kýkết, thực hiện hợp đồng trong hoạt động xây dựng Xét theo tính chất và mối quan hệvới chủ đầu tư, nhà thầu xây dựng bao gồm tổng thầu xây dựng, nhà thầu chính vàthầu phụ

Tổng thầu xây dựng là nhà thầu ký kết hợp đồng trực tiếp với chủ đầu tư xâydựng công trình để nhận thầu toàn bộ một loại công việc hoặc toàn bộ công việc của

dự án đầu tư xây dựng công trình Tổng thầu xây dựng bao gồm: tổng thầu thiết kế.tổng thầu thi công xây dựng công trình tổng thầu thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ

và thi công xây dựng công trình (tổng thầu EPC) tổng thầu lập dự án đầu tư xây dựngcông trình, thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình

Nhà thầu chính trong hoạt động xây dựng là nhà thầu ký kết hợp đồng nhậnthầu trực tiếp với chủ đầu tư xây dựng công trình để thực hiện phần việc chính của mộtloại công việc của dự án đầu tư xây dựng công trình Nhà thầu phụ trong hoạt độngxây dựng là nhà thầu ký kết hợp đồngvới nhà thầu chính hoặc tổng thầu xây dựng đểthực hiện một phần công việc của nhà thầu chính hoặc tổng thầu xây dựng

Điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng (gọi tắt lànhà thầu xây dựng) được xác định thông qua năng lực hoạt động xây dựng, năng lựchành nghề xây dựng Năng lực hoạt động, năng lực hành nghề của tổ chức, cá nhântham gia hoạt động xây dựng bao gồm:

Đối với tổ chức: Năng lực hoạt động xây dựng được thể hiện thông qua việcđảm bảo các điều kiện để thực hiện các công việc như: Lập dự án đầu tư xây dựngcông trình Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình Khảo sát xây dựng Thiết kế xâydựng công trình Thi công xây dựng công trình Giám sát thi công xây dựng

Năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức được xác định theo hạng trên cơ sởnăng lực hành nghề xây dựng của các cá nhân trong tổ chức, kinh nghiệm hoạt động

Trang 14

xây dựng, khả năng tài chính, thiết bị và năng lực quản lý của tổ chức.

Một số tổ chức tư vấn được thực hiện một, một số hoặc tất cả các công việc vềlập dự án đầu tư xây dựng công trình, quản lý dự án, khảo sát xây dựng, thiết kế xâydựng công trình, giám sát thi công xây dựng công trình nếu có đủ điều kiện năng lựctheo quy định Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, nhà thầu thiết kếxây dựng công trình không được ký hợp đồng tư vấn giám sát với chủ đầu tư đối vớicông trình do mình thiết kế nhà thầu giám sát thi công xây dựng không được ký hợpđồng với nhà thầu thi công xây dựng thực hiện kiểm định chất lượng công trình xâydựng đối với công trình do mình giám sát Tổ chức tư vấn khi thực hiện công việc tưvấn nào thì được xếp hạng theo công việc tư vấn đó

Đối với cá nhân khi tham gia các hoạt động xây dựng phải có năng lực hànhnghề được xác định thông qua Chứng chỉ hành nghề, kinh nghiệm trong hoạt động xâydựng

Chứng chỉ hành nghề là giấy xác nhận năng lực hành nghề cấp cho kỹ sư, kiếntrúc có đủ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp hoạt động trong lĩnh vựcthiết kế quy hoạch xây dựng, khảo sát xây dựng, thhiết kế xây dựng công trình, giámsát thi công xây dựng Chứng chỉ hành nghề được quy định theo mẫu thống nhất và cógiá trị trong phạm vi cả nước, cho thấy phạm vi và lĩnh vực được phép hành nghề củangười được cấp

Cá nhân đảm nhận các chức danh sau đây phải có chứng chỉ hành nghề: chủnhiệm đồ án thiết kế quy hoạch xây dựng, thhiết kế xây dựng công trình chủ trì các đồ

án thiết kế chủ nhiệm khảo sát xây dựng giám sát thi công xây dựng và cá nhân hànhnghề độc lập thực hiện các công việc thiết kế quy hoạch xây dựng, thiết kế xây dựngcông trình, giám sát thi công xây dựng Thủ tục cấp, quản lý, hướng dẫn sử dụngchứng chỉ hành nghề trong hoạt động xây dựng được quy định trong các văn bản sau:

+ Nghị định 16/2005/NĐ – CP ngày 7/02/2007 của Chính phủ về Quản lý dự ánđầu tư xây dựng công trình (gọi tắt là Nghị định 16/CP)

+ Quyết định 12/2005/QĐ – BXD ngày 18 tháng 4 năm 2005 của Bộ trưởng BộXây dựng ban hành Quy chế cấp chứng chỉ hành nghề giám sát thi công xây dựng

Trang 15

+ Quyết định 15/2005/QĐ – BXD ngày 25 tháng 4 năm 2005 của Bộ trưởng BộXây dựng ban hành Quy chế cấp chứng chỉ hành nghề kiến trúc sư, kỹ sư tham giahoạt động xây dựng.

Do ý nghĩa đặc biệt quan trọng của vấn đề điều kiện năng lực trong hoạt độngxây dựng nên việc xây dựng hệ thống thông tin về năng lực các nhà thầu xây dựng làđiều cần được chú trọng Mạng thông tin rộng khắp, đáng tin cậy về năng lực các nhàthầu xây dựng sẽ là nguồn tham khảo hữu ích cho các chủ đầu tư, nhà thầu, cơ quanquản lý nhà nước nhằm đảm bảo tính công bằng, minh bạch trong hoạt động đấuthầu

1.1.2 Một số khái niệm có liên quan đến hoạt động đấu thầu xây lắp

Để hiểu rõ hơn khái niệm đấu thầu, tác giả làm rõ hơn một số khái niệm liênquan chặt chẽ với khái niệm đấu thầu Theo Luật Đấu thầu số 43/2013 được Quốc hộinước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,thong qua ngày 26/11/2013, thì:

- “Đấu thầu” là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng

cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhàđầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự

án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệuquả kinh tế;

- “Đấu thầu xây lắp” là đấu thầu các công việc có liên quan đến xây dựng

công trình và các hạng mục công trình nhằm lựa chọn ra nhà thầu xây lắp có thể đápứng được yêu cầu kỹ thuật của công việc với mức chi phí hợp lý nhất Là cuộc cạnhtranh công khai giữa các nhà thầu với cùng một điều kiện nhằm dành được công trìnhxây dựng do chủ đầu tư mời thầu, xét thầu theo quy định đấu thầu của Nhà nước

Trang 16

Hình 1.1 Khái quát hoạt động đấu thầu xây lắp

Đánh giá

- “Dự án” là một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có phối

hợp và kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành để đạt được mục tiêuphù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí vànguồn lực

- “Dự án đầu tư xây dựng công trình” là tập hợp các đề xuất có liên quan đến

việc bỏ vốn để xây dựng mới,mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằmmục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụtrong một thời hạn nhất định.Dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm phần thuyếtminh và phần thiết kế cơ sở

- “Chủ đầu tư” là người sở hữu vốn hoặc được giao trách nhiệm thay mặt chủ

sở hữu, người vay vốn trực tiếp quản lý và thực hiện dự án

- “Bên mời thầu” là Chủ đầu tư hoặc tổ chức chuyên môn có đủ năng lực và

kinh nghiệm được Chủ đầu tư sử dụng để tổ chức đấu thầu theo các quy định của phápluật về đấu thầu

- “Nhà thầu” là tổ chức, cá nhân có đủ tư cách hợp lệ theo quy định tại Luật

Đấu thầu

- “Nhà thầu chính” là nhà thầu chịu trách nhiệm về việc tham gia đấu thầu,

đứng tên dự thầu, ký kết và thực hiện hợp đồng nếu được lựa chọn Nhà thầu tham gia

Năng lực, giải pháp Nhà thầu

Lựa chọn Nhà thầu

Ký kết Hợp đồng

Trang 17

đấu thầu một cách độc lập gọi là nhà thầu độc lập Nhà thầu cùng với một hoặc nhiềunhà thầu khác tham gia đấu thầu trong một đơn dự thầu thì gọi là nhà thầu liên danh.

- “Nhà thầu xây lắp” là nhà thầu tham gia đấu thầu các gói thầu xây lắp, gồm

những công việc thuộc quá trình xây dựng và lắp đặt thiết bị các công trình, hạng mụccông trình, cải tạo, sửa chữa lớn

- “Nhà thầu phụ” là nhà thầu thực hiện một phần công việc của gói thầu trên

cơ sở thoả thuận hoặc hợp đồng được ký với nhà thầu chính Nhà thầu phụ không phải

là nhà thầu chịu trách nhiệm về việc tham gia đấu thầu

- “Nhà thầu trong nước” là nhà thầu được thành lập và hoạt động theo pháp

luật Việt Nam

- “Nhà thầu nước ngoài” là nhà thầu được thành lập và hoạt động theo pháp

luật của nước mà nhà thầu mang quốc tịch

- “Gói thầu” là một phần của dự án, trong một số trường hợp đặc biệt gói thầu

là toàn bộ dự án gói thầu có thể gồm những nội dung mua sắm giống nhau thuộcnhiều dự án hoặc là khối lượng mua sắm một lần đối với mua sắm thường xuyên

- “Hồ sơ mời thầu” là toàn bộ tài liệu sử dụng cho đấu thầu rộng rãi hoặc đấu

thầu hạn chế bao gồm các yêu cầu cho một gói thầu làm căn cứ pháp lý để nhà thầuchuẩn bị hồ sơ dự thầu và để bên mời thầu đánh giá hồ sơ dự thầu nhằm lựa chọn nhàthầu trúng thầu là căn cứ cho việc thương thảo, hoàn thiện và ký kết hợp đồng

- “Hồ sơ dự thầu” là toàn bộ tài liệu do nhà thầu lập theo yêu cầu của hồ sơ

mời thầu và được nộp cho bên mời thầu theo quy định nêu trong hồ sơ mời thầu

- “Giá dự thầu” là giá do nhà thầu nêu trong đơn dự thầu thuộc hồ sơ dự thầu.

Trường hợp nhà thầu có thư giảm giá thì giá dự thầu là giá sau giảm giá

- “Giá trúng thầu” là giá được phê duyệt trong kết quả lựa chọn nhà thầu làm

cơ sở để thương thảo, hoàn thiện và ký kết hợp đồng

- “Hợp đồng” là văn bản ký kết giữa chủ đầu tư và nhà thầu được lựa chọn trên

cơ sở thỏa thuận giữa các bên nhưng phải phù hợp với quyết định phê duyệt kết quả

Trang 18

lựa chọn nhà thầu.

1.1.3 Sự cần thiết phải thực hiện đấu thầu trong xây dựng

Việc xây dựng công trình là một trong những khâu quan trọng của một dự án,

để xây dựng được một công trình đáp ứng tốt các đòi hỏi về kỹ thuật, chất lượng, thờigian thực hiện, tiết kiệm chi phí và hạn chế tới mức thấp nhất những tranh chấp có thểgây thiệt hại về vật chất hoặc về uy tín của các bên hữu quan Đối với tất cả các dự ánthì việc xây dựng công trình qua đấu thầu là cách duy nhất để tránh những sơ hở, sailầm có thể gây thiệt hại về vật chất và uy tín cho các bên có liên quan

Hiện nay, vấn đề quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản đang là vấn đề nan giải.Nhiều công trình xây dựng số vốn thực bỏ ra hơn số vốn dự toán đã phê duyệt nhiều lần

mà vẫn không được đưa vào bàn giao sử dụng đúng tiến độ Theo số liệu thống kênhững năm gần đây có tới 60% số công trình xây dựng vượt dự toán ban đầu phải điềuchỉnh lại Thậm chí có những công trình dự toán ban đầu tăng lên 60% - 70% Nếu tínhtoán toàn bộ các khoản chi thêm đó trong cả nước thì số tiền vốn lãng phí thuộc sở hữuNhà nước là rất lớn Quá trình thất thoát này cứ diễn ra liên tục và ngày càng có quy mô,

số lượng lớn, làm ảnh hưởng trực tiếp tới giá trị của công trình, chất lượng của côngtrình bị giảm xuống và lúc đó hiệu quả của nó cũng bị ảnh hưởng theo Bên cạnh đó là

sự nảy sinh những phức tạp trong việc giao thầu, nhận thầu của các đơn vị kinh tế về giá

cả, thời gian thi công, chất lượng công trình gây ra sự ảnh hưởng đến công trình (nhiềuChủ đầu tư tự lựa chọn tổ chức nhận thầu để giao thầu và tự thoả thuận về giá cả xâydựng công trình kể cả nguồn vốn Ngân sách và các nguồn khác) Từ thực tế đó, các hiệntượng tiêu cực trong quan hệ giao nhận thầu trở nên đa dạng và phức tạp thêm

Trước tình hình quản lý trong đầu tư xây dựng cơ bản có nhiều yếu kém, thấtthoát lãng phí như vậy, nền kinh tế nước ta khi chuyển sang nền kinh tế thị trường dướitác động của các quy luật kinh tế như quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị, quy luậtcung cầu , muốn cho các công trình xây dựng trở thành hàng hoá trên thị trường vàtăng cường hiệu lực quản lý của nhà nước về xây dựng cơ bản, cải tiến công tác đơngiá dự toán, chống lãng phí, thất thoát, tham nhũng, tiêu cực thì việc thực hiệnphương thức đấu thầu là một đòi hỏi cấp thiết, là một hướng tích cực có nhiều ưu thếhơn hẳn phương thức giao thầu theo kế hoạch trước đây của chúng ta

Trang 19

Cần phải nhìn nhận một cách đúng đắn rằng đấu thầu là một phương pháp hìnhthành từ sự kết hợp nhuần nhuyễn và tinh tế giữa các yếu tố pháp lý, kỹ thuật và tàichính với các nguyên lý của khoa học quản lý tổ chức, với tính chất là một phươngpháp phổ biến có hiệu quả cao, đấu thầu ngày càng được nhìn nhận như một điều kiệnthiết yếu để đảm bảo thành công cho các Nhà đầu tư dù họ thuộc khu vực Nhà nướchay tư nhân, dù họ đầu tư ở trong nước hay nước ngoài.

Như vậy đấu thầu là việc rất cần thiết với nền kinh tế của đất nước nó mang lạilợi ích thiết thực đối chủ đầu tư, nhà thầu và nhà nước

a Đối với chủ đầu tư

Đấu thầu giúp chủ đầu tư lựa chọn được đối tác phù hợp nhất

Thông qua hoạt động đấu thầu xây, chủ đầu tư sẽ tìm được các nhà thầu hợp lýnhất và có khả năng đáp ứng tốt nhất các yêu cầu đã đặt ra Thực hiện có hiệu quả yêucầu về chất lượng công trình tiết kiệm được vốn đầu tư, bảo đảm tiến độ xây dựngcông trình

Thông qua đấu thầu và kết quả hoạt động giao nhận thầu của chủ đầu tư sẽ tăngcường được hiệu quả quản lý vốn đầu tư, tránh tình trạng thất thoát lãng phí vốn đầu tư

ở tất cả các khâu của quá trình đầu tư thực hiện dự án

Đấu thầu sẽ giúp chủ đầu tư đảm bảo quyền chủ động, giải quyết được tận gốc

sự phụ thuộc vào nhà thầu nếu chỉ có nhà thầu duy nhất

Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, công khai và minh bạch giữa các doanhnghiệp xây dựng trong quá trình đấu thầu

Ngoài ra đấu thầu là cơ hội để chủ đầu tư nâng cao trình độ, năng lực đội ngũcán bộ kinh tế kỹ thuật của chính các chủ đầu tư trong quá trình đấu thầu

b Đối với nhà thầu

Các nhà thầu tham dự đấu thầu và hướng tới mục tiêu thắng thầu, các nhà thầuphải tự hoàn thiện mình trên tất cả phương diện Muốn tham gia đấu thầu thì nhà thầuphải có uy tín nhất định trên thị trường nhà thầu phải chọn trọng điểm để đầu tư về cácmặt kỹ thuật, công nghệ và lao động Như vậy khi tham gia đấu thầu nhà thầu xây

Trang 20

dựng có thể thấy được khả năng và năng lực của mình so với đối thủ như thế nào để cóbiện pháp duy trì và nâng cao hơn nữa năng lực của mình Từ đó nâng cao uy tín củacủa nhà thầu, vị thế của nhà thầu ngày càng được cải thiện.

Nhờ nguyên tắc công khai và bình đẳng trong đấu thầu: Các nhà thầu đấu thầucạnh tranh bình đẳng trên thương trường, các nhà thầu phải phát huy tối đa tính chủđộng trong việc tìm kiếm các cơ hội tham dự đấu thầu và kí kết hợp đồng (khi trúngthầu) tạo công ăn việc làm cho người lao động, phát triển sản xuất kinh doanh

Nhờ đấu thầu, các nhà thầu phải đầu tư có trọng điểm nhằm nâng cao năng lựccông nghệ và kỹ thuật của mình Từ đó sẽ nâng cao năng lực của doanh nghiệp trongtham gia đấu thầu

Để đạt mục tiêu thắng thầu, các doanh nghiệp xây dựng phải tự hoàn thiện cácmặt quản lý, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý trong tham gia đấu thầu vàthực hiện công trình đã thắng thầu

Thông qua phương thức đấu thầu, các nhà thầu xây dựng sẽ tự nâng cao hiệuquả công tác quản trị chi phí , quản lý tài chính, thúc đẩy nâng cao hiệu quả kinh tế khigiá bỏ thầu thấp nhưng vẫn thu được lợi nhuận

Khi tham gia đấu thầu nhiều và thắng thầu, nhà thầu xây dựng tạo thêm mốiquan hệ với các chủ đầu tư, cơ quan nhà nước, tạo sự gắn kết giữa người lao động vớinhà thầu đây là những tiền đề cơ bản của sự phát triển bền vững của nhà thầu

c Đối với nhà nước

Đấu thầu xây lắp góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đầu

tư và xây dựng, xây dựng các chính sách quản lý ngành tốt hơn Bên cạnh đó giúpgiảm lạm phát tiết kiệm cho ngân sách, hạn chế và loại trừ các tình trạng như thất thoátlãng phí vốn đầu tư và các hiện tượng tiêu cực khác trong xây dựng cơ bản

Đấu thầu xây lắp góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các dự án, nângcao hiệu quả sản xuất kinh doanh của ngành xây dựng nước ta

Trang 21

1.1.4 Vai trò của đấu thầu:

a Đối với nền kinh tế:

- Đấu thầu góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của nền kinh tế: Đấu thầu xâylắp góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đầu tư và xây dựng,hạn chế và loại trừ các tình trạng như thất thoát lãng phí vốn đầu tư và các hiện tượngtiêu cực khác trong xây dựng cơ bản Đấu thầu xây lắp góp phần nâng cao hiệu quả sửdụng vốn của các dự án, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của ngành xây dựngnước ta Đấu thầu là động lực, điều kiện để cho các doanh nghiệp xây dựng cạnh tranhlành mạnh trong cơ chế thị trường, thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp xâydựng

- Đấu thầu giúp chủ đầu tư lựa chọn được đối tác phù hợp nhất: Thông qua đấuthầu xây lắp, chủ đầu tư sẽ tìm được các nhà thầu hợp lý nhất và có khả năng đáp ứngtốt nhất các yêu cầu của dự án Thông qua đấu thầu xây lắp và kết quả hoạt động giaonhận thầu của chủ đầu tư sẽ tăng cường được hiệu quả quản lý vốn đầu tư, tránh tìnhtrạng thất thoát vốn đầu tư ở tất cả các khâu của quá trình thi công xây lắp Đấu thầu sẽgiúp chủ đầu tư giải quyết được tình trạng lệ thuộc vào nhà thầu duy nhất Đấu thầutạo cơ hội nâng cao trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ kinh tế, kỹ thuật của bênmời thầu và các nhà thầu

- Đấu thầu tạo môi trường lành mạnh giúp các nhà thầu nâng cao khả năng cạnhtranh của mình, tạo sự công bằng và hiệu quả cao trong xây dựng: Nhờ nguyên tắccông khai và bình đẳng trong đấu thầu, các doanh nghiệp xây dựng phát huy đến mứccao nhất cơ hội tìm kiếm dự án, tham gia đấu thầu và ký kết hợp đồng (nếu trúngthầu), tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, phát triển sản xuất kinh doanh

Để thắng thầu mỗi nhà thầu phải chọn trọng điểm để đầu tư về các mặt kỹ thuật,công nghệ và lao động Từ đó sẽ nâng cao năng lực của doanh nghiệp không chỉ trongmột lần tham gia đấu thầu mà còn góp phần phát triển mở rộng quy mô doanh nghiệpdần dần

Để thắng thầu doanh nghiệp xây dựng phải hoàn thiện về mặt tổ chức quản lýnâng cao trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ trong việc lập hồ sơ dự thầu cũng như

Trang 22

toàn cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp.

Thông qua đấu thầu, các doanh nghiệp xây dựng sẽ tự nâng cao hiệu quả côngtác quản trị tài chính, làm giảm chi phí và thúc đẩy nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp

Trong xây dựng hiện nay, hình thức đấu thầu là hình thức công bằng nhất, bắtbuộc các doanh nghiệp tham gia muốn thắng thầu đều phải tự nâng cao năng lực củamình Nhà thầu nào có sức cạnh tranh cao sẽ thắng thầu Chủ đầu tư dựa trên các tiêuchuẩn được xác định trước để so sánh, lựa chọn nhà thầu, có sự giám sát của cơ quan

có thẩm quyền Trong sự công bằng khách quan như vậy sẽ tạo ra sự cạnh tranh lànhmạnh, sẽ giúp cho việc nâng cao hiệu quả kinh tế của ngành xây dựng nói riêng vàhiệu quả kinh tế nói chung

b Đối với doanh nghiệp xây dựng:

Trong cơ chế thị trường ngày nay đã hết thời mà doanh nghiệp xây dựng nhậncác công trình xây dựng từ cấp trên giao mà muốn tồn tại, muốn duy trì hoạt động sảnxuất kinh doanh cũng như các loại hình doanh nghiệp khách, doanh nghiệp xây dựngcũng phải tham gia vào thị trường xây dựng để tìm kiếm và giành lấy các dự án.Nhưng không giống như các doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực khác mà đốitượng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xây dựng là các công trình xây dựng

Do vậy doanh nghiệp xây dựng muốn duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh không cócách nào khác là tìm kiếm thông tin về các dự án đầu tư và tham gia đấu thầu Nếukhông tham gia đấu thầu hoặc trượt thầu thì sẽ không tạo đủ công ăn việc làm chongười lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh có thể bị đình trệ Vậy có thể nói đấuthầu là tiền đề cơ sở và nền tảng của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Như chúng ta đã biết dự thầu là hình thức tham gia cạnh tranh trên thị trườngxây dựng Sự cạnh tranh này rất quyết liệt và mạnh mẽ thể hiện ở những khía cạnh:

- Muốn tham gia đấu thầu thì doanh nghiệp phải có uy tín nhất định trên thịtrường, bởi nước ta mới áp dụng đấu thầu không lâu mà phần lớn áp dụng hình thứcđấu thầu hạn chế Như vậy khi tham gia đấu thầu doanh nghiệp xây dựng có thể thấyđược khả năng và năng lực của mình so với đối thủ như thế nào để có biện pháp duy

Trang 23

trì và nâng cao hơn nữa năng lực của mình Từ đó uy tín của doanh nghiệp ngày càngđược nâng cao, vị thế của doanh nghiệp ngày càng được cải thiện.

- Khi tham gia đấu thầu các doanh nghiệp xây dựng có điều kiện nâng cao trình

độ chuyên môn, kinh nghiệm cho cán bộ công nhân viên, tạo điều kiện hoàn thiện vềmặt tổ chức

- Khi tham gia đấu thầu nhiều và thắng thầu, doanh nghiệp tạo thêm mối quan

hệ với các chủ đầu tư, cơ quan nhà nước tạo tiền đề cho sự phát triển của doanhnghiệp

- Như vậy ta thấy đấu thầu có vai trò hết sức quan trọng, nó là cơ sở, nền tảng lànhân tố không thể thiếu được trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Chính việc tham gia đấu thầu thành công là phải có sự tích luỹ kinh nghiệm, tìm kiếmthông tin đa dạng, và điều quan trọng hơn là phải dựa vào năng lực và vị thế của công

ty Việc tham gia đấu thầu và giành thắng lợi đóng vai trò tích cực trong việc tạo racông ăn, việc làm, duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Vậy ta có thể nói đấu thầu là tất yếu khách quan mà mỗi chúng ta không thể phủ nhận

1.2 Tổng quan về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh trong đấu thầu Xây lắp

1.2.1 Khái niệm về cạnh tranh.

1.2.1.1 Khái niệm

Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm cónhiều cách hiểu khác nhau Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi doanhnghiệp, phạm vi ngành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia vv…điều này chỉ khác nhau ở chỗ mục tiêu được đặt ra ở chỗ quy mô doanh nghiệp hay ởquốc gia mà thôi Trong khi đối với một doanh nghiệp mục tiêu chủ yếu là tồn tại vàtìm kiếm lợi nhuận thì đối với một quốc gia mục tiêu là nâng cao mức sống và phúc lợicho nhân dân

Theo C.Mác: "Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bảnnhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thuđược lợi nhuận siêu ngạch " Nghiên cứu sâu về sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa và

Trang 24

cạnh tranh tư bản, C Mác đã phát hiện ra quy luật cơ bản của cạnh tranh tư bản chủnghĩa là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân, và qua đó hình thành nên hệthống giá cả thị trường Quy luật này dựa trên những chênh lệch giữa giá cả chi phí sảnxuất và khả năng có thể bán hành hoá dưới giá trị của nó nhưng vẫn thu đựơc lợinhuận.

Theo Từ điển Bách khoa Việt nam (tập 1) Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạtđộng tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhàkinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành cácđiều kiện sản xuất , tiêu thụ thị trường có lợi nhất

Hai nhà kinh tế học Mỹ P.A Samuelson và W.D.Nordhaus trong cuốn kinh tếhọc (xuất bản lần thứ 12) cho rằng cạnh tranh (Competition) là sự kình địch giữa cácdoanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường

Ở Phạm vi quốc gia, theo Uỷ ban cạnh tranh công nghiệp của Tổng thống Mỹthì cạnh tranh đối với một quốc gia là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện thị trường

tự do và công bằng, có thể sản xuất các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏicủa thị trường Quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng đợc thu nhập thực tế của ngườidân nứơc đó

Tại diễn đàn Liên hợp quốc trong báo cáo về cạnh tranh toàn cầu năm 2003 thìđịnh nghĩa cạnh tranh đối với một quốc gia là "Khả năng của nước đó đạt được nhữngthành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt đựơc các tỷ lệ tăng trưởngkinh tế cao được xác định bằng các thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tínhtrên đầu người theo thời gian

Từ những định nghĩa và các cách hiểu không giống nhau trên có thể rút ra cácđiểm hội tụ chung sau đây

Cạnh tranh là cố gắng nhằm giành lấy phần hơn phần thắng về mình trong môitrường cạnh tranh Để có cạnh tranh phải có các điều kiện tiên quyết sau:

- Phải có nhiều chủ thể cùng nhau tham gia cạnh tranh: Đó là các chủ thể cócùng các mục đích, mục tiêu và kết quả phải giành giật, tức là phải có một đối tượng

Trang 25

mà chủ thể cùng hướng đến chiếm đoạt Trong nền kinh tế, với chủ thể cạnh tranh bênbán, đó là các loại sản phẩm tương tự có cùng mục đích phục vụ một loại nhu cầu củakhách hàng mà các chủ thể tham gia cạnh tranh đều có thể làm ra và được người muachấp nhận Còn với các chủ thể cạnh tranh bên mua là giành giật, mua được các sảnphẩm theo đúng mong muốn của mình.

- Việc cạnh tranh phải được diễn ra trong một môi trường cạnh tranh cụ thể, đó

là các ràng buộc chung mà các chủ thể tham gia cạnh tranh phải tuân thủ Các ràngbuộc này trong cạnh tranh kinh tế giữa các doanh nghiệp chính là các đặc điểm nhucầu về sản phẩm của khách hàng và các ràng buộc của luật pháp và thông kê kinhdoanh ở trên thị trường Còn giữa người mua với người mua, hoặc giữa những ngườimua và người bán là các thoả thuận được thực hiện có lợi hơn cả đối với người mua

- Cạnh tranh có thể diễn ra trong một khoảng thời gian không cố định hoặcngắn ( từng vụ việc) hoặc dài (trong suốt quá trình tồn tại và hoạt động của mỗi chủthể tham gia cạnh tranh) Sự cạnh tranh có thể diễn ra trong khoảng thời gian khôngnhất định hoặc hẹp (một tổ chức, một địa phương, một ngành) hoặc rộng (một nước,giữa các nước)

1.2.1.2 Các loại hình cạnh tranh

Dựa vào các tiêu thức khác nhau, cạnh tranh được phân ra thành nhiều loại

* Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường cạnh tranh được chia thành 3 loại.

- Cạnh tranh giữa người mua và người bán: Người bán muốn bán hàng hoá của

mình với giá cao nhất, còn người mua muốn mua được hàng hoá mà mình muốn vớigiá thấp nhất Giá cả cuối cùng được hình thành sau quá trình thương lượng giữ haibên

- Cạnh tranh giữa những người mua với nhau: Mức độ cạnh tranh phụ thuộc

vào quan hệ cung cầu trên thị trường Khi cung nhỏ hơn cầu thì cuộc cạnh tranh trởnên gay gắt, giá cả hàng hoá và dịch vụ sẽ tăng lên, người mua phải chấp nhận giá cao

để mua được hàng hoá hoá mà họ cần

- Cạnh tranh giữa những nguời bán với nhau: Là cuộc cạnh tranh nhằm giành

Trang 26

giật khách hàng và chiếm lĩnh thị trường, kết quả là giá cả giảm xuống và có lợi chongười mua Trong cuộc cạnh tranh này, doanh nghiệp nào tỏ ra đuối sức, không chịuđược sức ép sẽ phải rút lui khỏi thị trường, nhường thị phần của mình cho các đối thủmạnh hơn.

* Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế cạnh tranh được phân thành hai loại.

- Cạnh tranh trong nội bộ ngành: là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp

trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá hoặc dịch vụ Kết quả củacuộc cạnh tranh này là làm cho kỹ thuật phát triển

- Cạnh tranh giữa các ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong

các nghành kinh tế với nhau nhằm thu được lợi nhuận cao nhất Trong quá trình này có

sự phận bổ vốn đầu tư một cách tự nhiên giữa các nghành, kết quả là hình thành tỷ suấtlợi nhuận bình quân

*Căn cứ vào tính chất cạnh tranh cạnh tranh được phân thành 3 loại.

- Cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Cometition): Là hình thức cạnh tranh giữa

nhiều người bán trên thị trường trong đó không người nào có đủ ưu thế khống chếgiá cả trên thị trường Các sản phẩm bán ra đều được người mua xem là đồng thức, tức

là không khác nhau về quy cách, phẩm chất mẫu mã Để chiến thắng trong cuộc cạnhtranh các doanh nghiệp buộc phải tìm cách giảm chi phí, hạ giá thành hoặc làm khácbiệt hoá sản phẩm của mình so với các đối thủ cạnh tranh

- Cạnh tranh không hoàn hảo (Imperfect Competition): Là hình thức cạnh tranh

giữa những người bán có các sản phẩm không đồng nhất với nhau

Mỗi sản phẩn đều mang hình ảnh hay uy tín khác nhau cho nên để giành đựơc

ưu thế trong cạnh tranh, người bán phải sử dụng các công cụ hỗ trợ bán như: Quảngcáo, khuyến mại, cung cấp dịch vụ, ưu đãi giá cả, đây là loại hình cạnh tranh phổ biếntrong giai đoạn hiện nay

- Cạnh tranh độc quyền (Monopolistic Competition): Trên thị trường chỉ có một

hoặc một số ít người bán một sản phẩm hoặc dịch vụ vào đó, giá cả của sản phẩm hoặcdịch vụ đó trên thị trường sẽ do họ quyết định không phụ thuộc vào quan hệ cung cầu

Trang 27

* Căn cứ vào thủ đoạn sử dụng trong cạnh tranh chia cạnh tranh thành:

- Cạnh tranh lành mạnh: Là cạnh tranh đúng luật pháp, phù hợp với chuẩn mực

xã hội và được xã hội thừa nhận, nó thường diễn ra sòng phẳng, công bằng và côngkhai

- Cạnh tranh không lành mạnh: Là cạnh tranh dựa vào kẽ hổ của luật pháp, trái

với chuẩn mực xã hội và bị xã hội lên án ( như trốn thuế buôn lậu, móc ngoặc, khủng

bố vv )

1.2.1.3 Cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng.

Hiện nay các vấn đề về đấu thầu xây dựng đã và đang được đề cập đến rất nhiềutrong các tài liệu như sách, báo, tạp chí chuyên ngành và các văn bản của nhà nướcNhưng chúng ta lại chưa thấy có một định nghĩa cụ thể nào về cạnh tranh trong đấuthầu xây dựng Theo ý của tác giả, ta có thể hiểu cạnh tranh trong đấu thầu xây dựngnhư sau: Cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng là quá trình đấu tranh quyết liệt giữa cácdoanh nghiệp xây dựng kể từ khi bắt đầu tìm kiếm thông tin, đưa ra các giải pháp thamgia đấu thầu, bảo đảm trúng thầu, ký kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng cho tới khi bàngiao công trình đưa vào sử dụng

Doanh nghiệp tìm kiếm các thông tin về đấu thầu (dự án, chủ đầu tư, nguồnvốn, các đối thủ cạnh tranh ) để nghiên cứu xem doanh nghiệp có đủ năng lực thamgia đấu thầu hay không, nếu có thì ta tiếp tục tiến hành các bước tiếp theo là khảo sátthực tế kết hợp phân tích tài liệu tìm ra các giải pháp hợp lý nhất để trúng thầu Nếudoanh nghiệp đấu thầu thành công thì tiến hành thương thảo với bên mời thầu để xâydựng hợp đồng, ký kết hợp đồng, giao nhận thầu, tổ chức thi công, nghiệm thu và bàngiao công trình đưa vào sử dụng Ngược lại, nếu trượt thầu thì tìm kiếm các thông tin

về các dự án khác để tiến hành đấu thầu mới

1.2.2 Đặc điểm của cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng

Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây dựng trong đấu thầu là sự cố gắng giànhđược quyền thực hiện các dự án xây dựng thông qua đấu thầu với điều kiện thuận lợi vàtối ưu nhất trên cơ sở nguồn nội lực và ngoại lực có khả năng khống chế được của doanhnghiệp nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích kinh tế Cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng có

Trang 28

thể hiểu ngắn gọn trên các khía cạnh sau đây:

Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây dựng trong đấu thầu là quá trình doanhnghiệp đưa ra những giải pháp kỹ thuật, trang thiết bị, nhân lực, tiến độ thi công, giá bỏthầu, ưu thế về kinh nghiệm thi công… nhằm thể hiện tính ưu việt của mình so với cácnhà thầu khác nhằm thỏa mãn các yêu cầu của bên mời thầu trong việc thực hiện dự án.Quan niệm này cho thấy sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là sự ganh đua hết sức gaygắt nhằm mục đích trúng thầu Tuy nhiên, cách hiểu này giới hạn ở khâu đấu thầu, chưabao hàm suốt quá trình sản xuất kinh doanh Mỗi doanh nghiệp đều tham gia đấu thầu rấtnhiều công trình khác nhau với những đối thủ khác nhau trong những khoảng thời gian,địa điểm khác nhau Do đó, quan niệm theo nghĩa hẹp này sẽ khó xác định được toàndiện các vấn đề cạnh tranh trong đấu thầu

Hiểu rộng hơn, cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng là sự ganh đua giữa các doanhnghiệp trong quá trình tìm kiếm thông tin, đưa ra các giải pháp về kỹ thuật, ưu thế vềkinh nghiệm, điều kiện thực hiện dự án, giá bỏ thầu… nhằm đảm bảo trúng thầu và thựchiện các cam kết theo hợp đồng ký kết với chủ đầu tư

Cạnh tranh trong đấu thầu thường được hiểu theo nghĩa rộng và có một số đặcđiểm sau đây:

+ Về chủ thể tham gia cạnh tranh đấu thầu xây dựng : thường có nhiều chủ thểtham gia, các chủ thể này có cùng một mục tiêu theo đuổi đó là phải giành được nhữnglợi thế về phía mình Các chủ thể tham gia cạnh tranh đấu thầu phải tuân thủ các quyđịnh của pháp luật, các thông lệ quốc tế và các ràng buộc về điều kiện tham gia đấu thầu

do cơ quan quản lý dự án đặt ra Các chủ thể khi tham gia đấu thầu đều phải cạnh tranhvới nhau, điều này dẫn tới sự hình thành nhiều mối quan hệ cạnh tranh giữa các chủ thểkhi tham gia đấu thầu Đó là, mối quan hệ cạnh tranh giữa người bán và người mua, theo

đó, người mua (bên mời thầu) muốn mua được công trình xây dựng có chất lượng cao,thời gian thi công ngắn, chi phí hợp lý, về phía những người bán (nhà thầu) thì muốn bánđược công trình trong tương lai có giá cao với chi phí hợp lý và có lợi nhuận lớn nhấttrong hạn độ bảo đảm các quy chuẩn của xây dựng

+ Về đối tượng của cạnh tranh đấu thầu xây dựng : khi đánh giá và quyết định lựa

Trang 29

chọn nhà thầu, chủ đầu tư thường căn cứ các tiêu chí để xét thầu, đó là : kinh nghiệm,năng lực cảu nhà thầu, khả năng tài chính, trình độ chuyên môn, kỹ thuật, tiến độ thicông và giá dự thầu Trong đó, bên mời thầu chú ý nhiều nhất tới chất lượng, tính năng

ưu việt về kĩ thuật và giá thành sản phẩm, đó cũng chính là đối tượng cạnh tranh giữa cácnhà thầu với nhau

Cạnh tranh bằng chất lượng công trình, là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệptrong việc đề xuất các giải pháp tốt nhất về khoa học – công nghệ nhằm đáp ứng các tiêuchuẩn do bên mời thầu đề ra Để thắng thầu, doanh nghiệp phải không ngừng đầu tư,nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học – công nghệ nhằm nâng cao chất lượngcông trình Chất lượng công trình là một trong những yếu tố quan trong nhất, nó khẳngđịnh năng lực thi công, uy tín của doanh nghiệp Mặt khác, chất lượng công trình còngóp phần không nhỏ trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, hoàn thành mụctiêu kinh tế - kỹ thuật mà doanh nghiệp đề ra và thương hiệu của doanh nghiệp

Cạnh tranh bằng giá dự thầu cũng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quyết địnhđến thành công hay thất bại trong đấu thầu xây dựng Do đó, xây dựng được mức giá bỏthầu hợp lý là yêu cầu hàng đầu trong việc đảm bảo tính cạnh tranh và đạt hiệu quả kinhdoanh cao của doanh nghiệp Để tạo ra ưu thế cạnh tranh về giá đòi hỏi doanh nghiệpphải nhanh nhạy và linh hoạt trong việc tìm hiểu thông tin về dự án, đối thủ cạnh tranh,mục tiêu của dự án, ưu thế của các doanh nghiệp khác trong cạnh tranh… Tùy theo từngcông trình cụ thể dựa vào mục tiêu của công ty, tiềm lực tài chính, năng lực thi công từ

đó xây dựng chính sách giá khác nhau để quyết định giá bỏ thầu

Cạnh tranh bằng tiến độ thi công Tiến độ thi công thể hiện năng lực của nhà thầutrên các khía cạnh như trình độ tổ chức và quản lý thi công, khả năng kỹ thuật, trang thiết

bị máy móc và nguồn nhân lực Nhà thầu cạnh tranh với nhau qua các tiêu chí này đểgiành những ưu thế trong đấu thầu Thực hiện đầy đủ các cam kết về tiến độ thi công làđiều quan trọng để thắng thầu cũng như nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp

+ Về hình thức cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng : hai hình thức chủ yếu làcạnh tranh theo chiều rộng và cạnh tranh theo chiều sâu

Trang 30

Cạnh tranh theo chiều rộng bao gồm các yếu tố chính như : đa dạng hóa các côngtrình xây dựng mà doanh nghiệp kinh doanh trên cơ sở nguồn lực hiện có, cải tiếnphương thanh toán và các điều kiện thi công trong hợp đồng nhận thầu, nâng cao nănglực xây dựng hồ sơ dự thầu đặc biệt là hoạt động giới thiệu và thông tin về doanh nghiệp,đổi mới công tác tổ chức thi công, tăng cường hoạt động tìm kiếm thông tin kinh tế, đẩymạnh hoạt động marketing, truyền thông.

Cạnh tranh theo chiều sâu là sự đầu tư của doanh nghiệp thông qua việc nâng cấpthiết bị thi công, nghiên cứu và ứng dựng những tiến bộ của khoa học – công nghệ vàothi công, nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ khoa học và công nhân viênchức trong doanh nghiệp Cạnh tranh theo chiều sâu thực chất là sự cạnh tranh giữa cácdoanh nghiệp thông qua việc đầu tư nghiên cứ nhằm nâng cao hàm lượng khoa học kĩthuật của hàng hóa chào bán nói riêng và năng lực khoa học của doanh nghiệp nói chung

Trong thực tế, doanh nghiệp thường thực hiện cả hai hình thức trên để nâng caonăng lực cạnh tranh đấu thầu của mình

1.2.3 Cạnh tranh trong đấu thầu thời kỳ hội nhập Quốc tế

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, đấu thầu quốc tế diễn ra ngàycàng nhiều với những yêu cầu cao Trong khi đó, năng lực của các doanh nghiệp xâylắp trong nước đa phần còn non kém và nhiều bỡ ngỡ với việc tham gia đấu thầu Hộinhập quốc tế buộc các doanh nghiệp phải nâng cao khả năng cạnh tranh để đủ sứcđứng vững trên thương trường, không những giữa những doanh nghiệp trong nước vớinhau mà còn với cả các doanh nghiệp nước ngoài

- Những cơ hội:

+ Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới(WTO) và là thành viên của Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) Việc gianhập thị trường thế giới thông qua hai sự kiện này cho phép các doanh nghiệp xâydựng tiếp cận với một cách dễ dàng hơn với các nguồn lực như: nguyên liệu, côngnghệ, máy móc trên toàn thế giới Họ có thể có những chiến lược liên kết với doanhnghiệp của bất cứ nước nào, kết quả là làm tăng khả năng cạnh tranh của các doanhnghiệp xây dựng Việt Nam Bên cạnh đó, các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam sẽ có

Trang 31

nhiều cơ hội để trở thành thầu phụ cho các doanh nghiệp xây dựng nước ngoài Cácdoanh nghiệp thầu chính hiện nay luôn tìm kiếm những nhà thầu phụ có khả năng đápứng những đòi hỏi nhất định về kỹ thuật và chất lượng công trình, sản xuất đượcnhững mặt hàng chiến lược phục vụ cho các công trình xây dựng Chính điều này sẽ làđộng cơ khuyến khích các doanh nghiệp thầu phụ Việt Nam nâng cao khả năng cạnhtranh của chính mình.

+ Tình hình chính trị, xã hội của Việt Nam trong thời gian qua khá ổn định

+ Tốc độ phát triển của nền kinh tế Việt Nam hàng năm khá cao và ổn địnhtrong một thời gian tương đối dài

- Những nguy cơ:

+ Việc Việt Nam gia nhập thị trường thế giới thông qua gia nhập AFTA, cácdoanh nghiệp xây dựng Việt Nam sẽ gặp phải những khó khăn, thách thức to lớn trongcạnh tranh để tồn tại và phát triển Các doanh nghiệp xây dựng sẽ phải chịu sức ép rấtlớn trong cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài khi họ hơn hẳn về kinh nghiệm,trình độ công nghệ, thiết bị, năng lực tài chính, trình độ quản lý và am hiểu thông lệquốc tế

1.3 Một số kinh nghiệm đấu thầu và cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp trên thế giới

Xuất phát từ sự khác nhau về các đặc điểm đặc thù, trình độ tổ chức đấu thầu củacác nước, các tổ chức quốc tế, các quy định về đấu thầu và kinh nghiệm tổ chức đấu thầucủa các nước, các tổ chức quốc tế, hoạt động đấu thầu xây dựng của các tổ chức quốc tếnhư Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và của các nước nhưNga, Hàn Quốc thể hiện tính phong phú đa dạng của hoạt động đấu thầu xây dựng.Nghiên cứu hoạt động đấu thầu xây dựng của các nước như Nga, Trung Quốc, Nhật Bản,Hàn Quốc và Campuchia, một số tổ chức quốc tế như Ngân hàng Phát triển châu Á(ADB), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC), tổnghợp những kinh nghiệm quý báu đó làm những bài học cho các hoạt động đấu thầu xâydựng nói chung, đấu thầu xây dựng các công trình Việt Nam nói riêng và từ đó góp phầnnâng cao chất lượng của hoạt động này trong tương lai ở Việt Nam

Trang 32

Kinh nghiệm đấu thầu xây dựng các nước trên thế giới

1.3.1 Kinh nghiệm đấu thầu của Nhật Bản:

Ở Nhật Bản, quốc gia này chỉ xem xét năng lực nhà thầu trên cơ sở “thành tích”(hay còn gọi là kết quả thực tế) thực hiện công tác xây dựng và tư vấn Việc xem xét

“thành tích” của nhà thầu sẽ dựa trên các thông tin về doanh nghiệp, nhân viên kỹthuật, dữ liệu công trình, dữ liệu hợp đồng… Nhật Bản đã đưa Hệ thống thông tin vềthành tích đã đạt được trong xây dựng và tư vấn kỹ thuật vận hành trên mạng Internet

từ tháng 10/1994 để các tổ chức, cá nhân, kể cả cơ quan nhà nước, tổ chức công ích,nhà thầu xây dựng, tư vấn… đăng ký tham gia và chia sẻ thông tin theo cơ chế đóngphí

1.3.2 Quy định đấu thầu của Hàn Quốc:

Quy định đấu thầu của Hàn Quốc được ban hành dưới dạng Luật hợp đồng màtrong đó Nhà nước là một bên tham gia (dưới đây gọi tắt là Luật Hợp đồng) Trên cơ

sở Luật HD, Tổng thống, Thủ tướng Chính phủ ban hành các văn bản hướng dẫn thựchiện, Bộ Kinh tế và Bộ Tài chính cá trách nhiệm hướng dẫn thực hiện chi tiết Về nộidung, Luật HD có nội dung tương tự các quy định đấu thầu trên thế giới, đều đưa racác mục tiêu là đấu thầu cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế với mộtdung lượng lớn và quy định rất chi tiết

Tuy nhiên, điều khác biệt trong quy trình đấu thầu của Hàn Quốc là hệ thốngmua sắm của Hàn Quốc là hệ thống tập trung cao, thông qua một cơ quan chuyên môn

tổ chức các cuộc đấu thầu là SAROK với kim ngạch mua sắm lên đến hàng chục tỷUSD/năm Nhờ sự tập trung này, SAROK là một cơ quan chuyên nghiệp trong lĩnhvực mua sắm để thực hiện các dự án lớn của Hàn Quốc Chính phủ Hàn Quốc dànhmột khoản ngân sách nhất định hàng năm cho SAROK nhằm nâng cao năng lực tổchức đấu thầu và đặc biệt hình thành một trung tâm kiểm tra chất lượng các hợp đồngsau khi đấu thầu Do vậy, chất lượng hàng sau đấu thầu đã được đảm bảo, tránh tìnhtrạng nhà thầu không thực hiện đúng cam kết trong hồ sơ dự thầu

Sự chuyên môn hóa đã tạo ra năng lực mua sắm là điều vô cùng quan trọng và không thể thiếu để đảm bảo tính hiệu quả của các cuộc đấu thầu

Trang 33

1.3.3 Quy định đấu thầu của Trung Quốc:

Trung Quốc là một nền kinh tế đang trên đà phát triển và hình thức đấu thầuđược áp dụng rộng rãi ở quốc gia này Nền kinh tế Trung Quốc có nhiều đặc điểmtương tự với Việt Nam, vì vậy những bài học kinh nghiệm từ quy trình đấu thầu củaTrung Quốc có tính lý luận cao trong việc hoàn thiện quy trình đấu thầu của Việt Nam

a Quá trình hình thành các văn bản pháp luật về đấu thầu:

- Trước đây việc trao hợp đồng ở Trung Quốc thông qua đàm phán trực tiếp, tuynhiều từ khi có các nguồn tài trợ quốc tế từ WB, ADB thì việc áp dụng hình thức này

để giải ngân đã trở nên bắt buộc Thực tế này đã tạo tiền đề cho việc hình thành cácvăn bản pháp quy liên quan

- Nhờ sự trợ giúp của các tổ chức quốc tế, năm 1998 Bộ Tài chính Trung Quốc

đã bắt đầu soạn thảo Luật Đấu thầu áp dụng cho mua sắm thường xuyên sử dụng Ngânsách Nhà nước Tiếp đó hàng loạt nghị định hướng dẫn thực hiện đã được ban hành.Tuy nhiên, Luật đấu thầu Trung Quốc mới chỉ đưa ra các quy định về đấu thầu rộng rãi

và đấu thầu hạn chế, chỉ áp dụng cho các công trình xây dựng Các hình thức lựa chọnnhà thầu khác như chào hàng cạnh tranh, mua sắm trực tiếp chưa được đề cập trongLuật Sắp tới, Trung Quốc sẽ ban hành thêm Luật mua sắm Chính phủ

b Sự phân cấp quản lý đấu thầu ở Trung Quốc:

Do đặc thù là một quốc gia có diện tích rộng lớn và đông dân cư, nên việc quản

lý ở Trung Quốc được phân cấp cho nhiều bộ ngành như sau

Ủy ban Kế hoạch và Phát triển Nhà nước là cơ quan đầu mối giúp Chính phủquản lý công tác đấu thầu trong lĩnh vực các công trình xây dựng, bao gồm việc chủ trìsoạn thảo Luật đấu thầu, Luật mua sắm Chính phủ và chủ trì thẩm định kết quả các góithầu lớn thuộc các dự án xây dựng do Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư

Bộ Tài chính là cơ quan chủ trì soạn thảo các văn bản hướng dẫn mua sắmthường xuyên đối với các cơ quan hành chính sự nghiệp trong phạm vi toàn quốc

Bộ Hợp tác kinh tế và ngoại thương quản lý đấu thầu mua sắm thiết bị điện vàđiện tử, quản lý xuất nhập khẩu, thẩm định các kết quả đấu thầu các gói thầu mua sắmtheo phân cấp

Trang 34

Bộ Xây dựng chủ trì các cuộc đấu thầu các công trình giao thông.

Ủy ban Thương mại và Kinh tế Nhà nước quản lý đấu thầu dự án thuộc doanhnghiệp nhằm tạo công bằng, giải quyết xử lý vi phạm, tăng cường thể chế

Các địa phương căn cứ vào Luật đấu thầu và văn bản hướng dẫn của các Bộchuyên ngành để hướng dẫn thực hiện công tác đấu thầu tại địa phương

c Tính hợp lệ của nhà thầu doanh nghiệp Nhà nước:

Ở Trung Quốc khi thực hiện cải cách doanh nghiệp Nhà nước thì các doanhnghiệp được hoạt động độc lập, tách khỏi sự quản lý của các Bộ ngành, phù hợp với cơchế thị trường nên học có đủ tư cách hợp lệ khi tham gia đấu thầu đối với các gói thầu

sử dụng nguồn tài trợ quốc tế Đây là một kinh nghiệm quý báu trong việc tạo ra tínhhợp lệ của nhà thầu để đảm bảo theo đúng yêu cầu của nhà tài trợ

d Công khai trong đấu thầu:

Ở Trung Quốc đã hình thành mạng lưới website trên mạng với mục đích đăngtải các thông tin về đấu thầu cũng như thông báo mời thầu trong phạm vi toàn quốc.Các nhà thầu không chỉ được tiếp cận với nguồn thông tin đầy đủ và cập nhật mà còn

có thể trực tiếp nêu thắc mắc và kiến nghị qua hệ thống thông tin trực tuyến này

Công ty Công nghệ thông tin đảm trách công việc này, chịu trách nhiệm tạođiều kiện thuận lợi nhất cho việc đăng tải và truy cập thông tin đấu thầu Khách hàng

có thể lựa chọn phương thức sử dụng mật mã riêng của mình để truy cập hoặc sử dụngmột thiết bị kết nối dạng chìa khóa Bên lấy thông tin được miễn phí, bên đăng tảithông tin được miễn phí trong vòng 7 ngày hoặc chịu một mức phí rất thấp Nội dungđăng tải mời thầu bao gồm tên dự án, phạm vi công việc của gói thầu, tên của Bênmua, ngày giờ bán hồ sơ, ngày giờ đóng và mở thầu

Nội dung đăng tải kết quả đấu thầu: Tên dự án, phạm vi công việc đt, ngày mởthầu, ngày dự kiến công bố kết quả đấu thầu, tên nhà thầu dự kiến trúng thầu, giá đềnghị trúng thầu, tên nhà sản xuất, nguồn gốc thiết bi, thời gian hết hạn đưa khiếu nạiliên quan, trạng thái hiện tại về khiếu nại, danh sách nhà thầu không trúng thầu cùngvới lý do tóm tắt

Trang 35

1.3.4 Kinh nghiệm đấu thầu xây dựng của nước Nga:

Ở Nga, để quản lý hoạt động đấu thầu, Tổng thống Nga ban hành Nghị định kèmtheo quy chế đấu thầu về mua sắm hàng hoá, xây lắp công trình, dịch vụ cho các nhu cầuquốc gia Một trong những kinh nghiệm tổng quan chi phí hoạt động đấu thầu của nướcNga là sự phù hợp cao của quy chế đấu thầu quốc tế Nó đảm bảo cho các hoạt động đấuthầu quốc tế diễn ra ở nước Nga không phải tốn nhiều công sức vào việc nghiên cứu tìmhiểu các quy định của các tổt chức quốc tế trước khi tiến hành chúng Do vậy, đây là mộttrong những căn cứ quan trọng góp phần thực hiện một trong những yêu cầu của nângcao chất lượng đấu thầu là tiết kiệm, hiệu quả, đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của chủ đầu

tư và tạo sự dễ dàng cho quá trình thực hiện

Cơ chế quản lý, giám sát, xử phạt nghiêm minh các hành vi tiêu cực trong cáchoạt động đấu thầu ở nước Nga đảm bảo chấm dứt tình trạng lạm dụng quyền lực của cácquan chức chính phủ trong việc đấu thầu mua sắm hàng hoá, xây lắp và dịch vụ cho cácnhu cầu quốc gia Có thể nói, ở Nga, chính sách xử phạt thích đáng những cá nhân, tổchức vi phạm quy chế đấu thầu đã thúc đẩy việc thực hiện các yêu cầu công bằng, bìnhđẳng trong đấu thầu; hạn chế đến mức thấp nhất các hiện tượng thiếu minh bạch, thiếu vô

tư của những người làm công tác xét thầu Đây là một kinh nghiệm quý báu chúng ta cóthể nghiên cứu học tập để nâng cao chất lượng đấu thầu cho các công trình xây dựng

1.3.5 Kinh nghiệm đấu thầu của tổ chức ngân hàng thế giới (WB) và ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)

Quy trình đấu thầu quốc tế trong xây lắp của ADB cũng rất ngắn gọn cụ thể vàchặt chẽ Quy chế này giúp cho bên mời thầu lựa chọn chính xác các nhà thầu có đủnăng lực và các điều kiện khác thực hiện hợp đồng Vì vậy quy trình đấu thầu nàycũng giúp cho nguồn vốn vay được sử dụng có hiệu quả nhất Quy trình đấu thầu quốc

tế trong lĩnh vực xây lắp của ADB cũng tương tự như WB Tuy nhiên trong quá trình

tổ chức đấu thầu cạnh tranh quốc tế ADB thường xuyên kiểm soát có nghĩa là ADB cóvăn bản đồng tình ở khâu trước thì bên vay mới được tiến hành các khâu tiếp theo

Khi một dự án được xây dựng bằng vốn vay của WB thì thường được thực hiệntheo quy trình đấu thầu quốc tế mà tổ chức WB đã soạn thảo Thông thường ngân hàng

sẽ kiểm soát hồ sơ mời sơ tuyển, kết quả chọn sơ tuyển, hồ sơ mời thầu và kết quả xét

Trang 36

thầu Quy trình tổ chức đấu thầu cạnh tranh quốc tế trong xây lắp của WB rất cụ thểchặt chẽ.

Nghiên cứu những kinh nghiệm về đấu thầu của các tổ chức quốc tế có quan hệmật thiết với Việt Nam như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu Á(ADB) tác giả rút ra bài học kinh nghiệm:

Bài học kinh nghiệm đầu tiên là việc cả hai tổ chức này đều có hai văn bản quyđịnh riêng rẽ về đấu thầu cho hai lĩnh vực đấu thầu rất khác nhau là đấu thầu xây lắp,mua sắm hàng hóa và lĩnh vực tuyển chọn thầu tư vấn Trong khi Ngân hàng Thế giới

có hai văn bản quy định về đấu thầu là: thứ nhất, hướng dẫn mua sắm bằng vốn vaycủa IBRD (Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế) và tín dụng IDA (Hiệp hội Pháttriển quốc tế) đối với hàng hóa xây lắp; và thứ hai, hướng dẫn của WB về tuyển dụngchuyên gia tư vấn thì ADB cũng có hai hướng dẫn riêng rẽ cho hai lĩnh vực xây lắp,mua sắm hàng hóa và tư vấn: Thứ nhất, hướng dẫn của ADB về tuyển dụng chuyêngia tư vấn; thứ hai hướng dẫn của ADB về mua sắm

Bài học kinh nghiệm thứ hai được tác giả rút ra là việc thống nhất thông tin vềđấu thầu Thông báo mời thầu có thể bị lợi dụng nếu bên mời thầu có dụng ý giành sự

ưu tiên cho nhà thầu nào đó Một ví dụ điển hình là trường hợp đấu thầu một gói thầu

có sử dụng vốn vay của một tổ chức quốc tế ở một nước Châu Á bị tổ chức quốc tế đóphát hiện và hủy kết quả đấu thầu là việc thông báo mời thầu trên một tờ báo của một

tư nhân Bên mời thầu đồng thời với việc đăng thông báo trên đã đăng ký đặt muatoàn bộ số báo đó Do vậy thông tin đấu thầu không thể đến với các nhà thầu tiềmnăng

Theo quy định, Ngân hàng Thế giới yêu cầu việc đấu thầu cạnh tranh quốc tế(ICB) phải thông báo mời thầu công khai trên tờ báo “Development Business” củaLiên Hợp Quốc Ngân hàng WB quy định: “Việc thông báo đúng lúc về các cơ hội đấuthầu cực kỳ quan trọng trong đấu thầu cạnh tranh Đối với các dự án mua sắm theo thểthức ICB, bên vay phải chuẩn bị và nộp cho Ngân hàng một dự thảo Thông báo chung

về mua sắm Ngân hàng sẽ thu xếp việc đăng thông báo đó trên báo “DevelopmentBusiness” của Liên Hợp Quốc

Trang 37

Theo quy định của Ngân hàng ADB, quảng cáo và thông báo mời thầu phảiđảm bảo cơ hội cạnh tranh cho các nhà thầu thuộc tất cả các nước thành viên của ADB

và do đó phải được thu xếp để đăng tải công khai trên tạp chí “Cơ hội kinh doanhADB” của Ngân hàng cũng như một tờ báo lưu hành rộng rãi trong nước của bên vay

Ngoài ra, Ngân hàng Thế giới còn quy định rõ “Mọi người dự thầu đều phảiđược cung cấp những thông tin như nhau và phải cùng được đảm bảo cơ hội bình đẳngtrong việc nhận thông tin bổ sung kịp thời Bên vay phải tạo điều kiện thuận lợi chonhững người có thể dự thầu đến thăm địa điểm dự án”

Ngân hàng Thế giới (WB) vừa mới công bố lệnh cấm Công ty Cổ phần Pháttriển Cơ sở Hạ tầng Thăng Long và các công ty con tham gia các hoạt động của WBtrong thời gian 2,5 năm, sau khi công ty này thừa nhận hành vi lừa đảo Công ty Pháttriển Hạ tầng Thăng Long thành lập năm 2001, hoạt động dịch vụ tư vấn trên địa bànhơn 40 tỉnh, thành trong cả nước Hầu hết những dự án công ty này tham gia là các dự

án ODA được Ngân hàng thế giới - WB, Ngân hàng phát triển châu Á - ADB, Ngânhàng hợp tác quốc tế Nhật Bản – JBIC tài trợ

* Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ quy trình đấu thầu của các tổ chức và quốc gia trên thế giới:

Qua nghiên cứu một số quy định về đấu thầu nêu trên, có thể rút ra bài học kinhnghiệm cho việc hoàn thiện quy trình đấu thầu ở Việt Nam như sau:

Thứ nhất: quán triệt sâu sắc các quy luật kinh tế khách quan trong nền kinh tế

thị trường, xây dựng bằng được hệ thống các quy định về đấu thầu mang tính quyphạm pháp luật ở mức độ cao Nội dung của cá quy định phải đảm bảo nguyên tắckhách quan, công bằng, minh bạch Đồng thời, các quy định phải rõ ràng, cụ thể đểđảm bảo khả năng thực hiện, tránh sự can thiệp của các cơ quan quản lý Nhà nước vàoviệc lựa chọn và trao hợp đồng, cũng như xử lý các sai phạm, khiếu nại

Thứ hai: chú trọng việc đào tạo và chỉ sử dụng đội ngũ cán bộ và chuyên gia

cho công tác quản lý đấu thầu đáp ứng các yêu cầu thực tế của công tác này

* So sánh quá trình đấu thầu theo quy chế đấu thầu quốc gia và các tổ chức quốc tế.

Trang 38

Qua phân tích kinh nghiệm về công tác đấu thầu ở một số nước trên thế giới, tathấy có những bước tiến mới so với Việt Nam và có cơ chế giám sát tương đối chặtchẽ, tạo nên tính minh bạch và công bằng cao trong hoạt động đấu thầu Việt Nam cầnnghiên cứu kỹ quy chế đấu thầu thế giới để có kế hoạch hoàn thiện hơn.

1.4 Thực trạng công tác đấu thầu và và cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp ở Việt Nam

1.4.1 Quản lý nhà nước về đấu thầu trong xậy dựng

Quản lý nhà nước về đấu thầu trong xậy dựng thông qua Luật Đấu thầu số43/QH13 ngày 26/11/2013 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2014, nghị định số63/2014/NĐ – CP ngày 26/6/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đấuthầu và lựa chọn nhà thầu có hiệu lực ngày 15/8/2014

Quản lý nhà nước góp phần nâng cao vai trò của chủ đầu tư và tăng cường tráchnhiệm của nhà thầu Thực hiện đấu thầu sẽ tạo được sự công bằng và cạnh tranh giữacác nhà thầu, hạn chế tiêu cực trong việc lựa chọn đơn vị thực hiện, qua đó giảm đượcchi phí đầu tư, mang lại hiệu quả cho dự án

- Luật Đấu thầu được ban hành đã tăng cường tính pháp lý của hoạt động đấuthầu,thống nhất các quy định của nhà nước về đấu thầu theo hướng là luật gốc về đấuthầu sử dụng vốn nhà nước; khắc phục các tồn tại trong đấu thầu; tăng cường tính côngkhai, minh bạch, tăng cường phân cấp, đơn giản hóa thủ tục,tăng cường hội nhập vớiquốc tế và tăng cường năng lực cạnh tranh giữa các nhà thầu trong nước Khắc nhữngkhó khăn trong quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản Các mẫu hồ sơ hướngdẫn trong công tác đấu thầu được ban hành ngày càng đầy đủ, chi tiết và đồng bộ,giúpcho các cơ quan chức năng quản lý về đấu thầu ở các Bộ, nghành, địa phương, chủ đầu

tư trong quá trình thực hiện dễ dàng và nhanh chóng, từ đó nâng cao chất lượng tài liệuđấu thầu cũng như quá trình đấu thầu được công bằng, minh bạch hơn, đỡ sai sót

- Phương thức đấu thầu bằng hình thức chỉ định thầu còn được áp dụng khárộng rãi trong nhóm công trình có vốn đầu tư từ các tổ chức phi chính phủ, quá trìnhđấu thầu thực hiện còn khép kín dẫn đến hiện tượng thông thầu

- Chất lượng hồ sơ mời thầu còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra cho

Trang 39

các công tác lựa chọn nhà thầu, các tiêu chí đánh giá còn mang tính chất cảm tính vàhướng vào một số nhà thầu nào đó làm mất đi tính cạnh tranh và minh bạch trong quátrình lựa chọn nhà thầu.

- Đa số các nhà thầu lập hồ sơ dự thầu theo công nghệ lắp ghép modul Phần giá

dự thầu của các nhà thầu nhiều trường hợp chỉ khác nhau ở thư giảm giá Phần lớn hồ

sơ dự thầu cốt trúng thầu, sau đó khi thực hiện thì bố trí khác cả về nhân sự và biệnpháp thi công

1.4.2 Quá trình áp dụng các hình thức đấu thầu trong xây dựng

Theo Luật Đấu thầu 2013, hiện nay nước ta có các hình thức đấu thầu sau:

Đấu thầu rộng rãi

Đấu thầu rộng rãi là hình thức đấu thầu không hạn chế số lượng nhà thầu tham gia.Bên mời thầu phải thông báo công khai về các điều kiện dự thầu trên các phương tiệnthông tin đại chúng tối thiểu 10 ngày trước khi phát hành hồ sơ mời thầu Đấu thầurộng rãi là hình thức chủ yếu áp dụng trong đấu thầu

- Chỉ có một số nhà thầu có khả năng đáp ứng được yêu cầu của gói thầu

- Các nguồn vốn sử dụng yêu cầu phải tiến hành đấu thầu hạn chế

- Do tình hình cụ thể của gói thầu mà việc đấu thầu hạn chế có lợi thế

Trang 40

sau:Trường hợp bất khả kháng do thiên tai địch hoạ, được phép chỉ định ngay cho đơn

vị có đủ năng lực để thực hiện công việc kịp thời, sau đó phải báo cáo Thủ tướngChính phủ về nội dung chỉ định thầu để xem xét phê duyệt

* Gói thầu có tính chất nghiên cứu thử nghiệm, bí mật quốc gia, bí mật an ninh,

bí mật quốc phòng do Thủ tướng Chính phủ quyết định

* Gói thầu đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quyết định trên cơ sở báo cáo thẩmđịnh của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ý kiến bằng văn bản của cơ quan tài trợ vốn và các

cơ quan có liên quan

Trong báo cáo đề nghị chỉ định thầu phải xác định rõ ba nội dung sau:

+ Không quá 100 triệu đồng đối với gói thầu dự toán mua sắm thường xuyên

Chào hàng cạnh tranh:

Hình thức này được áp dụng cho chào hàng cạnh tranh theo quy trình thôngthường áp dụng đối với gói thầu quy định tại Khoản 1 Điều 23 của Luật Đấu thầu cógiá trị 5 tỷ đồng, chào hàng cạnh tranh theo quy trình rút gọn áp dụng đối với gói thầudịch vụ phi tư vấn thông dụng, đơn giản có giá trị không quá 500 triệu đồng, gói thầumua sắm hàng hóa thông dụng, sẵn có trên thị trường với đặc tính kỹ thuật được tiêuchuẩn hóa, tương đương nhau về chất lượng và gói thầu xây lắp công trình đơn giản đã

Ngày đăng: 03/08/2021, 16:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2009), Thông tư số 02/2009/TT – BKH ngày 17/2/2009 hướng dẫn lập kế hoạch đấu thầu Khác
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2010), Thông tư số 21/2010/TT – BKH ngày 28/10/2010 Quy định chi tiết về thẩm định hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu Khác
3. Chính phủ (2013), Nghị định số 15/2013/NĐ_CP ngày 06 tháng 2 năm 2013 về việc quản lý chất lượng công trình xây dựng Khác
4. Chính phủ (2012), Nghị định số 68/2012/NĐ – CP ngày 12 tháng 9 năm 2012 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định số 85/2009/NĐ – CP ngày 15 tháng 10 năm 2009 về hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật xây dựng Khác
5. Chính phủ (2014), Nghị định số 63/2014/NĐ – CP ngày 26 tháng 6 năm 2014 về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu Khác
6. Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng Kinh tế Việt Nam, Báo cáo Tài chính hoạt động kinh doan 2012 – 2016, hồ sơ năng lực Khác
7. Ngô Thị Thanh Vân, Môi trường pháp lý trong xây dựng, Tập bài giảng dùng cho cao học, Trường Đại học Thủy lợi Khác
8. Nguyễn Bá Uân (2012), Phương pháp định giá xây dựng, Tập bài giảng dùng cho cao học, Trường Đại học Thủy lợi Khác
9. Nguyễn Bá Uân (2013), Quản lý dự án xây dựng nâng cao, Tập bài giảng cao học, Đại học Thủy lợi Khác
10. Nguyễn Xuân Phú (2010), Kinh tế đầu tư công trình thủy lợi, Tập bài giảng cao học, Đại học Thủy lợi Khác
11. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2014), Luật Xây Dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/06/2014 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w