Hiệu quả xử lý cao với quy trình xử lý tiên tiến đã giúpcông nghệ AO trở lên vượt bậc so với các công nghệ tương đương [3].Johkasou là hệ thống xử lý nước thải tại nguồn bằng công nghệ s
Trang 1HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
-Ngô Đạt Trung
TÍNH TOÁN THIẾT KẾ CÔNG NGHỆ JOHKASOU TRONG
XỬ LÝ NƯỚC THẢI BỆNH VIỆN
LUẬN VĂN THẠC SĨ: MÔI TRƯỜNG
Hà Nội - 2021
Trang 2HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
-Ngô Đạt Trung
TÍNH TOÁN THIẾT KẾ CÔNG NGHỆ JOHKASOU TRONG
XỬ LÝ NƯỚC THẢI BỆNH VIỆN
Chuyên ngành: Kỹ thuật môi trường
Mã số: 8520320
LUẬN VĂN THẠC SĨ MÔI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
GS.TS Trịnh Văn Tuyên
Hà Nội – 2021
Trang 3` Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan các nội dung được trình bày trong luận văn “Tínhtoán thiết kế công nghệ johkasou trong xử lý nước thải bệnh viện” là nghiêncứu của cá nhân tôi, trên cơ sở một số dữ liệu, số liệu được tham khảo Nhữngtài liệu được sử dụng tham khảo trong luận văn đã nêu rõ trong phần tài liệutham khảo Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là hoàn toàn trungthực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào
Hà Nội, tháng 10 năm 2020
Tác giả
Ngô Đạt Trung
Trang 4Lời cảm ơn
Trong suốt quá trình học tập em luôn được sự quan tâm, hướng dẫn vàgiúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo ở Học viện Khoa học và Công nghệ -Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cùng với sự động viên giúp
đỡ của bạn bè đồng nghiệp
Lời đầu tiên em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy côtrong khoa Công nghệ môi trường – Học viện Khoa học và Công nghệ đã tậntình giúp đỡ cho em suốt thời gian học tại học viện
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành sâu sắc tới thầy giáo
GS.TS Trịnh Văn Tuyên đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi về mọimặt để em có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp Thầy là người truyền đạtkiến thức, kinh nghiệm, chỉ bảo em trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn
Em cũng xin được gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo Trường Đại học YHải Phòng, Ban lãnh đạo Công ty Cổ phần Công nghiệp Minh Hà Phát ViệtNam và các anh chị đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ em về vậtchất và tinh thần để em thực hiện đề tài này
Cuối cùng, em xin chúc các thầy cô trong Học viện Khoa học và Côngnghệ, Ban lãnh đạo Trường Đại học Y Hải Phòng và Ban lãnh đạo Công ty Cổphần Công nghiệp Minh Hà Phát Việt Nam sức khỏe, thành công
Tác giả
Ngô Đạt Trung
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1TỔNG QUAN VỀ NƯỚC THẢI BỆNH VIỆN
1.1.1Nguồn gốc phát sinh 1.1.2Đặc trưng nước thải bệnh viện 1.2THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ NƯỚC THẢI BỆNH VIỆN TẠI VIỆT NAM
1.2.1Hiện trạng quản lý nước thải bệnh viện tại Việt Nam 1.2.2Thực trạng xử lý nước thải bệnh viện tại Việt Nam 1.3TỔNG QUAN VỀ JOHKASOU VÀ CÔNG NGHỆ AO
1.3.1Định nghĩa Johkasou 1.3.2Đặc điểm Johkasou 1.3.3Ưu nhược điểm của Johkasou CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.2PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1Phương pháp điều tra khảo sát 2.2.2Phương pháp tính toán thiết kế 2.2.3Phương pháp thực nghiệm 2.2.4Phương pháp phân tích 2.2.5Phương pháp tính hiệu quả đầu tư và chi phí vận hành CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1KẾT QUẢ ĐIỀU TRA KHẢO SÁT
Trang 63.1.1Công suất xử lý 3.1.2Đặc tính nước thải Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng
3.2 TÍNH TOÁN CÁC HẠNG MỤC
3.2.1Rọ chắn rác 3.2.2Bể điều hòa 3.2.3Tính toán bể Anoxic 3.2.4Bể vi sinh hiếu khí 3.2.5Bể lắng
3.2.6Tính toán bể khử trùng 3.2.7Tính toán bể chứa bùn 3.2.8Các hạng mục công trình và thiết bị chính 3.3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ XỬ LÝ THỰC TẾ
3.3.1Kết quả theo dõi nhiệt độ, DO, pH 3.3.2Hiệu quả xử lý COD 3.3.3Hiệu quả xử lý BOD 3.3.4Hiệu quả xử lý Amoni 3.3.5Hiệu quả xử lý Photphat 3.3.6Hiệu quả xử lý Nitrat 3.3.7Hiệu quả xử lý Coliform 3.4 TÍNH TOÁN CHI PHÍ ĐẦU TƯ VÀ CHI PHÍ VẬN HÀNH
3.4.1Chi phí đầu tư 3.4.2Chi phí quản lý và vận hành 3.4.3So sánh chi phí với công nghệ AO thông thường KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1 BẢNG SỐ LIỆU
PHỤ LỤC 2: HÌNH ẢNH THỰC TẾ
Trang 10
Bảng 3.1: Các thông số nước thải bệnh viện Đại học Y Hải Phòng
Bảng 3.2: Các thông số thiết kế và vận hành hệ bùn hoạt tính [10]
Bảng 3.3: Thống kê thiết bị
Bảng 3.4: Đánh giá hiệu quả xử lý nước thải bệnh viện Đại học Y Hải Phòng 61
Bảng 3.5: Chi phí xây dựng đối với các công trình trong hệ thống xử lý
Bảng 3.6: Chi phí máy móc thiết bị trong hệ thống xử lý
Bảng 3.7: Chi phí điện năng
Bảng 3.8: Chi phí hóa chất sử dụng cho 1 ngày
Bảng 3.9: Chi phí vận hành xử lý nước thải trong 1 ngày
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Module Johkasou điển hình Hình 1.2: Chi tiết Johkasou Hình 3.1: Sơ đồ dây chuyền công nghệ xử lý Hình 3.2: Biểu đồ thể hiện hiệu quả xử lý COD của hệ thống xử lý nước thảibệnh viện Đại học Y Hải Phòng Hình 3.3: Biểu đồ thể hiện hiệu quả xử lý BOD5 của hệ thống xử lý nước thảibệnh viện Đại học Y Hải Phòng Hình 3.4: Biểu đồ thể hiện hiệu quả xử lý Amoni của hệ thống xử lý nước thảibệnh viện Đại học Y Hải Phòng Hình 3.5: Biểu đồ thể hiện kết quả xử lý Photphat hệ thống xử lý nước thảibệnh viện Đại học Y Hải Phòng .Hình 3.6: Biểu đồ thể hiện kết quả xử lý Nitrat của hệ thống xử lý nước thảibệnh viện Đại học Y Hải Phòng .Hình 3.7: Biểu đồ thể hiện hiệu quả xử lý tổng Coliform của hệ thống xử lýnước thải bệnh viện Đại học Y Hải Phòng
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
Trong cuộc sống thường nhật, ngành y tế giữ vai trò quan trọng trongviệc chăm sóc sức khỏe cộng đồng, điều trị bệnh, đảm bảo sức khỏe cho conngười để học tập và lao động sản xuất Với tốc độ phát triển nhanh chóng của
xã hội hiện đại, các dịch vụ chăm sóc y tế cũng phát triển không ngừng để conngười có được sức khỏe tốt nhất cống hiến cho xã hội Đi đôi với các dịch vụ
y tế ngày một gia tăng, lượng nước thải phát sinh từ các cơ sở y tế cũng ngàycàng gia tăng Theo Nguyễn Thanh Hà (2015)[1], nước thải y tế chứa hàmlượng cặn lơ lửng dao động từ 75 đến 250 mg/l, BOD5 dao động từ 120 đến
200 mg/l, COD có giá trị từ 150 đến 250 mg/l, hàm lượng N-NH3 phụ thuộcvào loại hình cơ sở y tế, phosphore thường tồn tại dưới dạng orthor-phosphate(PO43-, HPO42-, H2PO4-, H3PO4) hay poly-phosphate [Na3(PO3)6] và P-PO43-hữu cơ Ngoài những chất ô nhiễm thông thường, trong nước thải y tế có thể
có những chất bẩn, khoáng và hữu cơ đặc thù như các chế phẩm thuốc, cácchất khử trùng, các đồng vị phóng xạ được sử dụng trong quá trình chẩn đoán
và điều trị bệnh
Theo quy định mỗi cơ sở y tế phải có hệ thống thu gom, xử lý nước thảiđồng bộ và có hệ thống thu gom nước mưa chảy tràn tách riêng với nước thải
từ các khoa, phòng Hệ thống thu gom nước thải phải là hệ thống ngầm hoặc
có nắp đậy Hệ thống xử lý nước thải phải có bể thu gom bùn và nước thảitrước khi thải ra môi trường đáp ứng các yêu cầu theo QCVN28:2010/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải y tế [2] Nếukhông được thu gom, xử lý đảm bảo các quy chuẩn hiện hành, nước thải y tế
có nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái các nguồn nước tiếp nhận, ảnh hưởng đếnchất lượng môi trường đất và có thể phát tán các dịch bệnh trong cộng đồng
Ở nước ta, nước thải y tế từ các bệnh viện, cơ sở y tế chủ yếu được xử
lý hai cấp – xử lý sơ bộ và xử lý qua bể lọc sinh học nhỏ giọt, bể bùn hoạttính Tuy nhiên, các hệ thống xử lý này vẫn chưa đáp ứng quy chuẩn môitrường hiện hành Hai công nghệ xử lý nước thải bệnh viện hiện đang được ápdụng và đang hoạt động rất hiệu quả tại các trạm xử lý nước thải bệnh việntrên toàn quốc là công nghệ AO và công nghệ AAO Với những ưu điểm mà 2
Trang 13công nghệ trên đem lại: các công nghệ trên được xác định là công nghệ tối ưucho việc xử lý nước thải Công nghệ xử lý AAO và AO khác nhau do côngnghệ AAO có giai đoạn kỵ khí giúp hiệu quả xử lý tăng cao, công nghệ xử lýAAO phù hợp với các bệnh viện có nước thải ô nhiễm vào mức nghiệm trọng.Phương pháp sinh học kết hợp quá trình thiếu khí, hiếu khí (AO) phù hợp vớikhoảng 80% bệnh viện hiện nay vì công nghệ này có hiệu quả xử lý cả BOD,COD, Amoni, Nitrat Hiệu quả xử lý cao với quy trình xử lý tiên tiến đã giúpcông nghệ AO trở lên vượt bậc so với các công nghệ tương đương [3].
Johkasou là hệ thống xử lý nước thải tại nguồn bằng công nghệ sinhhọc của Nhật Bản, được sử dụng để lắp đặt cho các biệt thự, các hộ gia đình,khu chung cư cao tầng, khu đô thị hoặc cho các khách sạn, nhà hàng,…Johkasou có thể xử lý được các loại nước thải sinh hoạt (nước thải đen, nướcthải xám) từ các nguồn như nhà vệ sinh, nhà tắm, máy giặt, nhà bếp và cácnguồn thải khác Johkasou đã được nghiên cứu, hoàn thiện và ứng dụng rộngrãi tại Nhật Bản và nhiều nước trên thế giới, Johkasou đã được module hóatheo nhiều kích cỡ khác nhau, phù hợp cho từng quy mô sử dụng
Johkasou có kết cấu bền chắc, vật liệu bằng composit cốt sợi thủy tinhkhông bị ăn mòn, thời gian thi công lắp đặt ngắn, diện tích xây dựng nhỏ, phùhợp với cảnh quan và các điều kiện kiến trúc của bệnh viện, không gây mùi
do được lắp đặt chìm dưới đất và có nắp đậy kín
Từ những ưu điểm trên, chúng tôi thực hiện “Tính toán công nghệ
johkasou trong xử lý nước thải bệnh viện” Kết quả của nghiên cứu sẽ cung
cấp cơ sở để ứng dụng rộng rãi module Johkasou vào trong xử lý nước thảibệnh viện
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 TỔNG QUAN VỀ NƯỚC THẢI BỆNH VIỆN
1.1.1 Nguồn gốc phát sinh
Theo QCVN 28:2010/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nướcthải y tế thì: Nước thải y tế là dung dịch thải từ các cơ sở khám chữa bệnh.Nguồn tiếp nhận nước thải là các nguồn: nước mặt, vùng nước biển ven bờ,
hệ thống thoát nước, nơi mà nước thải y tế thải vào [2]
Nước thải bệnh viện là một dạng của nước thải sinh hoạt và chỉ chiếmmột phần nhỏ trong tổng số lượng nước thải sinh hoạt của khu dân cư Tuynhiên, nước thải bệnh viện cực kỳ nguy hiểm về phương diện vệ sinh dịch tễ,bởi vì ở các bệnh viện tập trung những người mắc bệnh là nguồn gốc củanhiều loại bệnh với bệnh nguyên học đã biết hay chưa biết đối với y học hiệnđại Nước thải bệnh viện ngoài ô nhiễm thông thường (ô nhiễm khoáng chất
và ô nhiễm các chất hữu cơ) còn chứa các tác nhân gây bệnh – những vi trùng,động vật nguyên sinh gây bệnh, trứng, giun, virus,… Chúng sẽ nhiều nếubệnh viện có khoa truyền nhiễm chuyên khoa, các khoa lao và những khoakhác Các chất ô nhiễm vào hệ thống thoát nước thông qua những thiết bị vệsinh như: nhà tắm, bồn rửa mặt, nơi giặt giũ,… khi mà những đối tượng tiếpxúc với người bệnh
Nước thải bệnh viện phát sinh từ những nguồn chính sau:
- Nước thải là nước mưa chảy tràn trên toàn bộ diện tích của bệnh viện.Lượng nước này sinh ra do nước mưa rơi trên mặt bằng khuôn viên bệnh viện,được thu gom vào hệ thống thoát nước Chất lượng của nước thải này phụthuộc vào độ sạch của khí quyển và mặt bằng rửa trôi của khu vực bệnh viện.Nếu khu vực mặt bằng của bệnh viện như sân bãi, đường xá không sạch chứanhiều rác tích tụ lâu ngày, đường xá lầy lội thì nước thải loại này sẽ bị nhiễmbẩn nặng, nhất là nước mưa đợt đầu Ngược lại, khâu vệ sinh sân bãi, đường
xá tốt thì lượng nước mưa chảy tràn qua khu vực đó sẽ có mức độ ô nhiễmthấp
Trang 15- Nước sinh hoạt của cán bộ công nhân viên y tế trong bệnh viện, củabệnh nhân và người nhà bệnh nhân đến thăm và chăm sóc bệnh nhân Là loạinước thải ra sau khi sử dụng cho các nhu cầu sinh hoạt trong bệnh viện củacán bộ công nhân viên, bệnh nhân, người nhà bệnh nhân như: nước thải ở nhà
ăn, nhà vệ sinh, nhà tắm, từ các khu vực làm việc,… Lượng nước thải này phụthuộc vào số cán bộ công nhân bệnh viện, số giường bệnh và số người nhàbệnh nhân thăm nuôi bệnh nhân, số lượng người khám bệnh Nước thải sinhhoạt thường chứa những tạp chất khác nhau Các thành phần này bao gồm:52% chất hữu cơ, 48% chất vô cơ, ngoài ra còn chứa nhiều loại VSV gâybệnh, phần lớn các VSV có trong nước thải là các virus, vi khuẩn gây bệnh tả,
lị, thương hàn,…
- Nước thải từ các hoạt động khám và điều trị Trong các dòng nướcthải của bệnh viện thì dòng thải này có thể coi là loại nước thải có độ ô nhiễmhữu cơ cao và chứa nhiều vi trùng gây bệnh nhất
- Nước thải loại này phát sinh từ nhiều quá trình khác nhau trong hoạtđộng của bệnh viện (chẳng hạn từ khâu xét nghiệm, giải phẫu, sản nhi, súc rửacác dụng cụ y khoa, các ống nghiệm, các lọ hóa chất hoặc giặt tẩy quần áobệnh nhân, chăn màn, ga giường cho các phòng bệnh và vệ sinh lau nhà, cọrửa tẩy uế các phòng bệnh và phòng làm việc,…) Nhìn chung nước thải loạinày bao gồm: Cặn lơ lửng, các chất hữu cơ hòa tan, vi trùng gây bệnh, có thể
cả chất phóng xạ,… Đây là loại nước thải độc hại gây ô nhiễm môi trường lớn
và ảnh hưởng nhiều tới sức khỏa cộng đồng Do đó, nước thải loại này nhấtthiết phải được xử lý trước khi thải ra ngoài môi trường
+ Nước thải từ các phòng xét nghiệm như: Huyết học và xét nghiệmsinh hóa chứa chất dịch sinh học (nước tiểu, máu và dịch sinh học, hóachất)
+ Khoa xét nghiệm vi sinh: Chứa chất dịch sinh học, vi khuẩn, virus, nấm, ký sinh trùng, hóa chất
+ Khoa giải phẫu bệnh: gồm nước rửa sản phẩm các mô, tạng tế bào
+Khoa X-Quang: Nước rửa phim, chất thải phóng xạ lỏng là dung dịch
có chứa tác nhân phóng xạ phát sinh trong quá trình chẩn đoán, điều trị
Trang 16như nước tiểu của người bệnh, các chất bài tiết, nước súc rửa các dụng
cụ có chứa chất phóng xạ (nước súc rửa dụng cụ trong chẩn đoán hìnhảnh có chứa hạt nhân phóng xạ tia γ, hạt nhân nguyên tử 67Ga, 75Se,
133Xe)
+ Điều trị bệnh: Nước thải chứa hóa chất và chất phóng xạ
+ Khoa sản: Nước thải chứa máu và các tạp chất khác
- Nước giặt giũ quần áo, ga, chăn màn,… cho bệnh nhân
Như vậy xét các nguồn phát sinh và thành phần của các nước thải bệnhviện, có thể nói rằng nước thải bệnh viện là loại nước thải nguy hiểm, chứa rấtnhiều vi trùng gây bệnh và các hợp chất hữu cơ độc hại khác, nếu không qua
xử lý mà thải ra hệ thống thoát nước chung sẽ gây ô nhiễm nặng cho môitrường, ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng
1.1.2 Đặc trưng nước thải bệnh viện
a Các chất rắn trong nước thải y tế (TS, TSS và TDS)
Thành phần vật lý cơ bản trong nước thải y tế gồm có: tổng chất rắn(TS); tổng chất rắn lơ lửng (TSS); tổng chất rắn hòa tan (TDS) Chất rắn hòatan có kích thước hạt 10-8 - 10-6 mm, không lắng được Chất rắn lơ lửng cókích thước hạt từ 10-3 - 1 mm và lắng được Ngoài ra trong nước thải còn cóhạt keo (kích thước hạt từ 10-5 - 10-4 mm) khó lắng
Trong nước thải bệnh viện hoặc các cơ sở y tế khác, hàm lượng cặn lơlửng dao động từ 75 mg/L đến 250 mg/L Hàm lượng của các chất rắn lơ lửngtrong nước thải phụ thuộc vào sự hoạt động của các bể tự hoại trong cơ sở ytế
Các chỉ tiêu hữu cơ của nước thải y tế gồm có: nhu cầu oxy sinh hóa(BOD) và nhu cầu oxy hóa học (COD)
BOD 5 gián tiếp chỉ ra mức độ ô nhiễm do các chất có khả năng bị oxy hoá sinh học, mà đặc biệt là các chất hữu cơ.
Trang 17BOD5 thường được xác định bằng phương pháp phân hủy sinh học trong thời gian 5 ngày nên được gọi là chỉ số BOD5.
Có thể phân loại mức độ ô nhiễm của nước thải thông qua chỉ số BOD5 như sau:
- BOD5 < 200 mg/lít (mức độ ô nhiễm thấp)
- 350 mg/l < BOD5 < 500 mg/lít (mức độ ô nhiễm trung bình)
- 500 mg/l < BOD5 < 750 mg/lít (mức độ ô nhiễm cao)
- BOD5 > 750 mg/lít (mức độ ô nhiễm rất cao)
Theo báo cáo khảo sát của Viện Sức khỏe nghề nghiệp và môi trườngtại nhiệm vụ “Nghiên cứu đề xuất giải pháp xử lý CTBV đạt tiêu chuẩn môitrường” Hà Nội, năm 2004, trong nước thải bệnh viện tại Việt Nam, BOD5dao động từ 120 mg/l đến 200 mg/lít
COD là chỉ tiêu để đánh giá mức độ ô nhiễm nước thải kể cả chất hữu cơ
dễ phân huỷ và khó phân huỷ sinh học Đối với nước thải, hàm lượng
ô nhiễm hữu cơ được xác định gián tiếp thông qua chỉ số COD
Có thể phân loại mức độ ô nhiễm thông qua chỉ số COD như sau:
- COD < 400 mg/lít (mức độ ô nhiễm thấp)
- 400 mg/l < COD < 700 mg/lít (mức độ ô nhiễm trung bình)
- 700 mg/l < COD < 1500 (mức độ ô nhiễm cao)
- COD > 1500 mg/lít (mức độ ô nhiễm rất cao)
Trong nước thải bệnh viện tại Việt Nam, COD thường có giá trị từ 150mg/l đến 250 mg/lít
c Các chất dinh dưỡng trong nước thải y tế (các chỉ tiêu nitơ và phospho)
Trong nước thải y tế cũng chứa các nguyên tố dinh dưỡng gồm Nitơ vàPhốt pho Các nguyên tố dinh dưỡng này cần thiết cho sự phát triển của visinh vật và thực vật Nước thải y tế thường có hàm lượng N-NH4+ phụ thuộcvào loại hình cơ sở y tế Thông thường nước thải phát sinh từ các phòng khám
Trang 18và các Trung tâm y tế quận/ huyện thấp (300 - 350 lít/giường ngày) nhưng chỉ sốtổng Nitơ cao khoảng từ 50 - 90 mg/l Các giá trị này chỉ có tính chất tham khảo,khi thiết kế hệ thống xử lý cần phải khảo sát và đánh giá chính xác nồng độ cácchất ô nhiễm trong nước thải ở các thời điểm khác nhau Trong nước, nitơ tồn tạidưới dạng nitơ hữu cơ, nitơ amôn, nitơ nitrit và nitơ nitrat Nitơ gây ra hiệntượng phú dưỡng và độc hại đối với nguồn nước sử dụng ăn uống Phốt photrong nước thường tồn tại dưới dạng orthophotphat (PO43-, HPO42-, H2PO4-,
H3PO4) hay polyphotphat [Na3(PO3)6] và phốt phát hữu cơ
Phốt pho là nguyên nhân chính gây ra sự bùng nổ tảo ở một số nguồnnước mặt, gây ra hiện tượng tái nhiễm bẩn và nước có màu, mùi khó chịu
Các chất thải bệnh viện (nước thải và rác thải) khi xả ra môi trườngkhông qua xử lý có nguy cơ làm hàm lượng nitơ và photpho trong các sông,
hồ tăng
Trong hệ thống thoát nước và sông, hồ, các chất hữu cơ chứa nitơ bịamôn hoá Sự tồn tại của NH4+ hoặc NH3 chứng tỏ sông, hồ bị nhiễm bẩn bởicác chất thải Trong điều kiện có ôxy, nitơ amôn trong nước sẽ bị các loại vikhuẩn Nitrosomonas và Nitrobacter chuyển hoá thành nitơrit và nitơrat
Hàm lượng nitơrat cao sẽ cản trở khả năng sử dụng nước cho mục đíchsinh hoạt, ăn uống
d Chất khử trùng và một số chất độc hại khác
Do đặc thù hoạt động của các cơ sở y tế, đặc biệt là các bệnh viện, cáchóa chất khử trùng đã được sử dụng khá nhiều, các chất này chủ yếu là cáchợp chất của clo (cloramin B, clorua vôi, ) sẽ đi vào nguồn nước thải và làmgiảm hiệu quả xử lý của các công trình xử lý nước thải sử dụng phương phápsinh học
Ngoài ra, một số kim loại nặng như Pb (chì), Hg (Thủy ngân), Cd(Cadimi) hay các hợp chất AOX phát sinh trong việc chụp X- quang cũng nhưtại các phòng xét nghiệm của bệnh viện trong quá trình thu gom, phân loạikhông triệt để sẽ đi vào hệ thống nước thải có nguy cơ gây ra ô nhiễm nguồnnước tiếp nhận
Trang 19e Dư lượng kháng sinh trong nước thải y tế
Hầu hết các nghiên cứu về sự xuất hiện PPCPs trong môi trường vàđánh giá rủi ro liên quan đã được thực hiện ở châu Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản vàgần đây là tại Hàn Quốc[4] Tương đối ít nghiên cứu được biết về tình hình dưlượng các dược phẩm tồn tại trong môi trường nước thải nói riêng ở các nướcđang phát triển như Việt Nam, nơi thị trường dược phẩm đang phát triểnnhanh chóng và các quy định về môi trường chưa được thiết lập tốt Sự hiệndiện của kháng sinh trong môi trường ở Việt Nam lần đầu tiên được báo cáobởi Satoshi Manageaki [5], người đã tìm thấy Sulfamethazine ở nồng độ cao(19,2 mg/L) trong nước thải trang trại lợn Theo Hồng Ánh Dương cùng cáccộng sự [6] đã điều tra sự xuất hiện của nhóm các chất kháng khuẩnFluoroquinolone trong nước thải bệnh viện tại Hà Nội Kết quả cho thấy Nồng
độ của Ciprofloxacin (CIP) và Norfloxacin (NOR) trong sáu chất thải củabệnh viện, tương ứng dao động từ 1,1 đến 44 µg/L và từ 0,9 đến 17 µg/L, việcloại bỏ Fluoroquinolone khỏi dòng nước thải là từ 80 đến 85%, có lẽ là do sựhấp phụ của bùn thải Một số thuốc kháng sinh là các hợp chất tự nhiên cótiếp xúc với vi sinh vật môi trường hàng triệu năm mới phân hủy sinh học,thậm chí nó đóng vai trò như là một nguồn thức ăn cho một số vi sinh vật.Kháng sinh tổng hợp (Ví dụ Quinolone) là chất khó để phân hủy sinh học.Tuy nhiên, chúng vẫn đang bị suy thoái ở mức độ khác nhau trong môi trường
tự nhiên Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng sự gắn kết của các Quinolonetrong đất và trầm tích làm chậm quá trình phân hủy sinh học của chúng Tuynhiên, xử lý nước thải của các vùng nước ô nhiễm Quinolone không đạt hiệuquả loại bỏ các kháng sinh bởi các quá trình bao gồm không chỉ phân hủy sinhhọc mà còn xảy ra sự suy thoái của các chất [1] Một nghiên cứu sơ bộ về sựxuất hiện của các hợp chất có hoạt tính dược phẩm trong nước thải bệnh viện
và nước mặt ở Hà Nội, Việt Nam [4] cho thấy sự hiện diện của các hợp chấthoạt tính dược phẩm (PhACs) thuộc các nhóm trị liệu khác nhau (bao gồm cảthuốc chống viêm không Steroid, thuốc giảm đau, thuốc chống động kinh vàchất điều chỉnh Lipid) trong mẫu nước thải bệnh viện và nước mặt lần đầutiên được điều tra tại Việt Nam Kết quả phân tích cho thấy 10 PhACs, baogồm Naproxen, Indomethacin, Ketoprofen, Fenoprofen, Ibuprofen,
Trang 20Propyphenazone, Diclofenac, Axit Clofibric, Gemfibrozil và Carbamazepine
đã được phát hiện ít nhất một lần trong mẫu nước thải bệnh viện Việc pháthiện các PhACs cho thấy nước thải bệnh viện được coi là nguồn gây ô nhiễmmôi trường đáng kể bởi các dược phẩm
f Các vi sinh vật gây bệnh trong nước thải y tế
Nước thải y tế có thể chứa các vi sinh vật gây bệnh như: Samonellatyphi gây bệnh thương hàn, Samonella paratyphi gây bệnh phó thương hàn,Shigella sp Gây bệnh lỵ, Vibrio cholerae gây bệnh tả,
Ngoài ra trong nước thải y tế còn chứa các vi sinh vật gây nhiễm bẩnnguồn nước từ phân như sau:
- Coliforms và Fecal coliforms: Coliform là các vi khuẩn hình que
gram âm có khả năng lên men lactose để sinh ga ở nhiệt độ 35 ± 0.5oC.Coliform có khả năng sống ngoài đường ruột của động vật (tự nhiên), đặc biệttrong môi trường khí hậu nóng Nhóm vi khuẩn coliform chủ yếu bao gồmcác loài như Citrobacter, Enterobacter, Escherichia, Klebsiella và cả Fecalcoliforms (trong đó E coli là loài thường dùng để chỉ định nguồn nước bị ônhiễm bởi phân) Trong quá trình xác định số lượng Fecal coliform cần lưu ýkết quả có thể bị sai lệch do có một số vi sinh vật (không có nguồn gốc từphân) phát triển được ở nhiệt độ 44oC
- Fecal streptococci: nhóm này bao gồm các vi khuẩn chủ yếu sốngtrong đường ruột của động vật như Streptococcus bovis và S.equinus Một sốloài có phân bố rộng hơn hiện diện cả trong đường ruột của người và động vậtnhư S.faecalis và S.faecium hoặc có 2 biotype Các loại biotype có khả năngxuất hiện cả trong nước ô nhiễm và không ô nhiễm Việc đánh giá số lượngFecal streptococci trong nước thải được tiến hành thường xuyên Tuy nhiên,
nó có các giới hạn như có thể lẫn lộn với các biotype sống tự nhiên Fecalstreptococci rất dễ chết đối với sự thay đổi nhiệt độ Các thử nghiệm về sauvẫn khuyến khích việc sử dụng chỉ tiêu này, nhất là trong việc so sánh với khảnăng sống sót của Salmonella
Trang 21- Clostridium perfringens: đây là loại vi khuẩn chỉ thị duy nhất tạo bào
tử trong môi trường yếm khí Do đó, nó được sử dụng để chỉ thị các ô nhiễmtheo chu kỳ hoặc các ô nhiễm đã xảy ra trước thời điểm khảo sát do khả năngsống sót lâu của các bào tử Đối với các cơ sở tái sử dụng nước thải, chỉ tiêunày là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá do các bào tử của nó có khả năng sốngsót tương đương với một số loại virus và trứng ký sinh trùng
Bảng 1.1: Các thông số đặc trưng của nước thải bệnh viện [1]
Đối với lượng phát sinh và những đặc trưng như trên, nếu không được
xử lý hiệu quả trước khi thải ra môi trường, nước thải bệnh viện sẽ trở thànhđối tượng mang lại những tác động tiêu cực đến cả sức khỏe con người vàmôi trường
1.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ NƯỚC THẢI BỆNH VIỆN TẠIVIỆT NAM
1.2.1 Hiện trạng quản lý nước thải bệnh viện tại Việt Nam
Đối với nước thải y tế, tính đến tháng 3/2017, cả nước có khoảng gần13.700 cơ sở y tế xả nước thải ra trung bình 150.000 m3/ngày đêm Lượng
Trang 22nước thải y tế phát sinh hàng năm tăng dần theo thời gian Trong nước thải y
tế, ngoài những yếu tố ô nhiễm thông thường còn có những chất khoáng vàchất hữu cơ đặc thù, các vi khuẩn gây bệnh, chế phẩm thuốc, chất khử trùng,các dung môi hóa học, dư lượng thuốc kháng sinh và có thể có các đồng vịphóng xạ được sử dụng trong quá trình chẩn đoán và điều trị bệnh.Mỗi loạihình cơ sở y tế khác nhau có tính chất nước thải phát sinh khác nhau.Công tác
xử lý nước thải y tế đã được các cơ sở y tế quan tâm, đầu tư nhằm đảm bảoyêu cầu sau khi xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia Theo Cục Quản lý môitrường y tế (Bộ Y tế), đến tháng 3/2017, hiện mới có khoảng 60% cơ sở có hệthống xử lý nước thải y tế đảm bảo quy chuẩn, tiêu chuẩn Hầu hết các bệnhviện tuyến trung ương đã xây dựng và vận hành hệ thống xử lý nước thảitrong khi có khoảng 81,4% bệnh viện tuyến tỉnh và 71,7% bệnh viện tuyếnhuyện XLNT y tế đảm bảo theo quy định Tuy nhiên, nhiều hệ thống XLNT y
tế đã xuống cấp do quá tải giường bệnh, một số hệ thống được xây dựng từlâu, thiếu kinh phí đầu tư, nâng cấp, duy trì bảo dưỡng dẫn đến chất lượngnước thải y tế đầu ra chưa đạt yêu cầu Một lượng lớn các chất độc hại trongnước thải y tế không thể xử lý được bằng phương pháp XLNT thông thường
Trên địa bàn Thành phố Hà Nội, tổng lượng nước thải phát sinh khoảng10.442 m3/ngày đêm, trong đó có 4.372 m3/ngày đêm từ các cơ sở y tế thuộcThành phố quản lý; 6.070 m3/ngày đêm từ các cơ sở y tế trung ương và bộngành; trung bình là khoảng 0,4-0,6 m3/giường bệnh thực kê/ngày, các phòngkhám tư nhân không quá 5m3/cơ sở/ngày [8]
Theo thông tư 36/2015/TT-BTNMT, chất thải lỏng nguy hại ngành y tế
có 3 nhóm chính: Chất thải lây nhiễm (Mã: 13 01 01); Hóa chất thải bao gồmhoặc có các thành phần nguy hại (Mã: 13 01 02) và Dược phẩm gây độc tếbào thải (Mã: 13 01 03), nước X-quang thải (mã: 19 01 01), chất thải phóng
xạ [9] Các chất thải này tập trung chính ở các bệnh viện quy mô lớn thuộctuyến TW và Thành phố Các cơ sở y tế dự phòng, nước thải chủ yếu từ quátrình xét nghiệm, thí nghiệm, tiêm phòng do tráng rửa dụng cụ; các trạm y tếxã/phường/thị trấn lượng nước thải phát sinh chủ yếu là nước thải trong quá
Trang 23trình thủ thuật y tế đơn giản; tính chất nước thải từ 02 nguồn thải trên đặc tínhnguy hại không cao.
Với công nghệ kỹ thuật số ngày càng phát triển và được áp dụng phổbiến trong việc chuẩn đoán hình ảnh trong khám chữa bệnh, thì việc sử dụngchụp ảnh X-quang để chuẩn đoán hình ảnh tại các cơ sở y tế đã được chuyểnđổi sang chụp ảnh kỹ thuật số, do vậy còn rất ít bệnh việc sử dụng chụp X-quang; vì vậy, việc phát sinh nước thải X-quang trong các cơ sở y tế hết sứchạn chế Mặt khác, việc xử lý chất thải phóng xạ được kiểm tra và giám sátchặt chẽ; đồng thời với việc kiểm soát chặt chẽ các dạng dược phẩm sử dụngtrong hoạt động khám chữa bệnh, thì việc phát sinh các loại dược phẩm thải
bỏ là rất hạn chế trong các bệnh viện, các cơ sở y tế; việc phát sinh nhóm hóachất thải (Mã: 13 01 02) thường khối lượng nhỏ và chủ yếu tại các bệnh việnlớn nơi có bố trí các phòng thí nghiệm, xét nghiệm Do vậy, hiện nay tại các
cơ sở y tế có đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung, thì nhiều dạng chấtthải lỏng nguy hại (hóa chất thải, nước thải X-quang ) sau khi được xử lý sơ
bộ theo quy định sẽ được thu gom xử lý cùng với các loại nước thải lây nhiễmtại các trạm xử lý nước thải tập trung của bệnh viện
1.2.1.1 Tồn tại, hạn chế
+ Cán bộ quản lý nhà nước: số lượng cán bộ quản lý nhà nước về môitrường nói chung và đối với lĩnh vực chất thải y tế nói riêng còn mỏng vànhiều nơi trình độ của cán bộ quản lý còn chưa cao; trong khi đó số lượng cácbệnh viện và cơ sở y tế trên địa bàn Thành phố lớn, đặc biệt là các phòngkhám tư nhân
+ Cán bộ chuyên môn tại cơ sở y tế: cán bộ phụ trách công tác quản lýchất thải y tế tại các cơ sở y tế hầu hết đều là kiêm nhiệm; thời gian phục vụcông tác chuyên môn nhiều, lại thường xuyên biến động nên rất khó khăntrong vấn đề tiếp cận kịp thời với các quy định của pháp luật về bảo vệ môitrường
Trang 24+ Các cơ sở y tế công lập hầu hết là đơn vị không tự chủ hoàn toàn vềtài chính, do đó kinh phí chủ yếu do ngân sách nhà nước đảm bảo Đối vớinguồn thu của đơn vị cũng chưa có quy định cụ thể về chi phí đầu tư, xử lýchất thải y tế Việc không có mục chi tài chính, cũng như thiếu kinh phí gâykhó khăn cho công tác quản lý chất thải rắn y tế nguy hại; đặc biệt đối với các
cơ sở y tế tuyến xã/phường/thị trấn Trong khi đó, khá nhiều hoạt động liênquan đến quản lý chất thải y tế cần kinh phí, như: xây dựng khu lưu giữ chấtthải nguy hại, mua sắm trang thiết bị, phương tiện thu gom, vận chuyển hoặc
xử lý chất thải y tế nguy hại tại chỗ
+ Giá viện phí hiện nay chưa tính đúng, tính đủ các chi phí cho việc xử
lý chất thải y tế Các cơ sở y tế đang gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếmnguồn vốn đầu tư hệ thống xử lý chất thải y tế và hạnh toán các chi phí cho xử
lý chất thải y tế Vì vậy, kinh phí đầu tư cho công tác quản lý chất thải y tếcòn hạn chế Các bệnh viện chưa chú trọng cho đầu tư xử lý chất thải lỏng;đặc biệt là đối với các cơ sở y tế có phát sinh nước thải lưu lượng thấp, dothiếu chi phí đầu tư, vận hành hệ thống xử lý, khó khăn trong quản lý hệthống xử lý (quan trắc môi trường định kỳ chưa đảm bảo; thiếu cán bộ cóchuyên môn về môi trường )
+ Tại nhiều các cơ sở y tế tuyến trung ương, tuyến thành phố, tuyếnquân/huyện/thị xã: công tác phân loại tại nguồn với chất thải lỏng nguy hại(các mã 13 01 01 - 13 01 02 - 13 01 03) chưa tốt, còn tình trạng các chất thảilỏng nguy hại lẫn với chất thải rắn nguy hại khi vận chuyển đi xử lý hoặcđược trộn lẫn với nước thải để xử lý tại hệ thống xử lý nước thải y tế của bệnhviện Việc này dẫn đến ảnh hưởng trong quá trình thu gom, xử lý sau này củacác đơn vị xử lý chất thải nguy hại cũng như ảnh hưởng đến việc vận hànhcủa hệ thống xử lý nước thải tại cơ sở
+ Tại một số bệnh viện tuy đã có hệ thống xử lý nước thải, song hệthống xử lý nước thải đã quá cũ, xuống cấp; việc vận hành không đảm bảotheo quy trình, không thực hiện duy tu bảo dưỡng thường xuyên nên chấtlượng nước thải sau xử lý vẫn có chỉ tiêu vượt quy chuẩn môi trường cho
Trang 25phép như các bệnh viện: phụ sản TW, Xanh Pôn; Đa khoa Hà Đông, Đa khoa Sơn Tây, Bắc Thăng Long; Phụ Sản Hà Nội; Đa khoa Đan Phượng.
+ Một số bệnh viện, trung tâm y tế quận, huyện, thị xã; các trạm y tếxã/phường/thị trấn và các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân: chất thải lỏng nguyhại (các mã 13 01 01 - 13 01 02 - 13 01 03) do có quy mô nhỏ nên lượng nướcthải y tế phát sinh ít (100 - 300 lít/ngày), không có hệ thống xử lý nước thải;hầu hết được trộn lẫn với nước thải thông thường và chỉ xử lý đơn giản bằngcloramin B trước khi xả vào môi trường, dẫn tới nguy cơ lây nhiễm vi vật vậtcao trong môi trường tiếp nhận
1.2.1.2 Nguyên nhân
- Nhiều cơ sở y tế được xây dựng từ những năm 1960, 1970 nên cơ sởvật chất, công trình, hệ thống xử lý về môi trường đã bị xuống cấp; thiếu kinhphí đầu tư kịp thời nên chưa đáp ứng được nhu cầu nâng cấp giường bệnh củabệnh viện
- Các trạm y tế xã/phường/thị trấn, các cơ sở y tế tư nhân và một sốbệnh viện nhỏ nằm rải rác trên phạm vi rộng, lượng chất thải y tế nguy hạiphát thải ít; dẫn tới khó khăn cho hoạt động vận chuyển, xử lý Ngoài ra, giáthành vận chuyển và xử lý cho các trường hợp này tính theo khối lượng chấtthải phát sinh thường cao hơn; dẫn đến tình trạng chỉ ký hợp đồng để hợp lệthủ tục theo quy định
- Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Y tế, Lực lượng cảnh sát môitrường (PC05) là những đơn vị có liên quan trực tiếp đến công tác quản lýmôi trường ngành y tế nói chung và chất thải y tế nói riêng Tuy nhiên, với địabàn phải quản lý rộng, số lượng cơ sở y tế nhiều và đa dạng các loại hình (gần4.000 cơ sở y tế các tuyến) như Hà nội hiện nay, thì lực lượng hiện có của cácđơn vị này khá mỏng, khó có thể quản lý một cách chặt chẽ, toàn diện được.Việc phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong công tác thanh tra, kiểm tra,
xử lý vi phạm về môi trường chưa thường xuyên và chưa thực sự hiệu quả
Trang 26- Thiếu phương án thu gom hợp lý đối với chất thải y tế nguy hại đặcbiệt cho các cơ sở có lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh nhỏ hoặc với tạicác khu vực xa xôi, giao thông không thuận tiện (đường xa, đường nhỏhẹp, ).
- Năng lực của cán bộ làm công tác quản lý chất thải y tế ở nhiều nơicòn mang tính kiêm nhiệm, chưa đáp ứng được yêu cầu Các quy định vềquản lý chất thải y tế còn chưa đến được với đối tượng áp dụng do hạn chếtrong hoạt động tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật
- Lãnh đạo của một số bệnh viện, cơ sở y tế thường nặng về công tácchuyên môn điều trị, khám chữa bệnh mà chưa tập trung chỉ đạo về công tácbảo vệ môi trường, đặc biệt là quản lý chất thải Bên cạnh đó, ý thức và tráchnhiệm của các cán bộ y tế chịu trách nhiệm thực hiện việc phân loại, thu gom,vận chuyển chất thải trong cơ sở y tế chưa cao
- Kinh phí chi cho đầu tư xây dựng hệ thống xử lý chất thải y tế cònthiếu trong khi nhu cầu đầu tư xây dựng/cải tạo, nâng cấp các hệ thống xử lýchất thải y tế là rất lớn Ngoài ra, kinh phí chi cho vận hành thường xuyên vàbảo dưỡng hệ thống xử lý chất thải y tế của nhiều cơ sở y tế vẫn còn thiếu;chưa có cơ chế và định mức chi cho xử lý chất thải tại các cơ sở y tế và chưađược đưa vào quy định trong ngân sách chi thường xuyên của đơn vị
1.2.2 Thực trạng xử lý nước thải bệnh viện tại Việt Nam
1.2.2.1 Mô hình xử lý tại chỗ
Là mô hình áp dụng phổ biến hiện nay tại nhiều cơ sở y tế Các cơ sở y
tế đã thực hiện xử lý chất thải lỏng bằng việc đầu tư xây dựng hệ thống xử lýnước thải đáp ứng quy chuẩn theo quy định Các cơ sở đều có cán bộ theo dõi,vận hành và thực hiện ghi chép hoạt động của hệ thống xử lý vào sổ theo dõivận hành; thực hiện đánh giá tác động môi trường/cam kết bảo vệ môitrường/Đề án bảo vệ môi trường/kế hoạch bảo vệ môi trường và có giấy phép
xả thải; thực hiện quan trắc chất lượng nước thải định kỳ hàng quý, hàng năm.Tuy nhiên, đối với hầu hết các cơ sở y tế có lưu lượng nước thải nhỏ (<1-2m3/ngày đêm), việc xử lý nước thải theo mô hình tại chỗ sẽ tốn kém chi phí
Trang 27trong quá trình đầu tư, vận hành hệ thống xử lý hơn so với việc tiến hành xử
lý theo cụm hoặc tập trung (theo tính toán có thể tiết kiệm chi phí gần 50%)
Công nghệ xử lý nước thải y tế áp dụng phổ biến tại các cơ sở y tế hiệnnay trên địa bàn thành phố Hà nội là công nghệ bùn hoạt tính theo quy trìnhAAO, thiết bị hợp khối CN2000 (kết hợp các quy trình hóa học, hóa lý, sinhhọc), thiết bị MBBR, HA-18B được áp dụng để xử lý toàn bộ nước thải y tếphát sinh từ quá trình khám chữa bệnh bao gồm cả các chất thải y tế nguy hạidạng lỏng sau khi được xử lý sơ bộ theo đúng quy định; cụ thể:
* Đối với các bệnh viện Trung ương và Bộ, ngành:
Hiện có 21/25 bệnh viện trực thuộc Bộ y tế có hệ thống xử lý nước thảitập trung (trong đó có 01 hệ thống xử lý nước thải xử lý cho cụm, gồm 5 bệnhviện: Bạch Mai, Tai Mũi Họng TW, Nhiệt đới TW, Da liễu TW và Lão khoaTW; Bệnh viện Bạch Mai là cơ sở xử lý nước thải cho cụm), đạt tỷ lệ 100%.07/21 bệnh viện trực thuộc các bộ, ngành đã được đầu tư hệ thống xử lý nướcthải, 14/21 bệnh viện còn lại chưa có số liệu điều tra cụ thể
Trong 05/21 hệ thống xử lý nước thải của bệnh viện trực thuộc Bộ y tếđược đánh giá là xuống cấp (Bệnh viện phụ sản TW, Bệnh viện hữu nghị ViệtĐức, Viện huyết học truyền máu TW) hoặc quá tải (Bệnh viện Nhi TW, cụmBệnh viện Bạch Mai); hiện 02 bệnh viện (cụm Bệnh viện Bạch Mai, Nhi TW)đang xây mới hệ thống xử lý nước thải y tế theo dự án của Bộ Y tế; Bệnh việnhữu nghị Việt Đức đang triển khai dự án “Đầu tư xây dựng hệ thống xử lýchất thải từ nguồn ODA của Đức và Viện Huyết học truyền máu TW đangchạy thử nghiệm hệ thống xử lý nước thải mới (chạy song song với hệ thốngcũ)
* Đối với các cơ sở y tế thuộc Thành phố Hà Nội quản lý:
+ 12/12 bệnh viện đa khoa thành phố đã có hệ thống xử lý nước thải;trong đó 03/12 bệnh viện (đa khoa Hà Đông, đa khoa Sơn Tây, Bắc ThăngLong) có hệ thống xử lý nước thải được đầu tư từ 2007, đã xuống cấp nghiêmtrọng; 01/12 bệnh viện (bệnh viện Xanh Pôn) có hệ thống xử lý nước thải
Trang 28được đầu tư từ năm 2009, hiện hoạt động không hiệu quả (theo kết quả đánh giá của Sở Tài nguyên và Môi trường, 2018).
+ 14/16 bệnh viện chuyên khoa thành phố đã có hệ thống xử lý nướcthải; trong đó 01 bệnh viện Phụ Sản Hà Nội được đầu tư hệ thống xử lý nướcthải từ năm 2010 và hiện đang hoạt động không hiệu quả (theo kết quả đánhgiá của Sở Tài nguyên và Môi trường, 2018) 02 bệnh viện còn lại (Bệnh việnYHCT Hà Đông, bệnh viện phục hồi chức năng) chưa được đầu tư hệ thống
xử lý nước thải y tế, đang thực hiện xử lý bằng cloramin B trước khi xả thải ramôi trường
+ 13/13 bệnh viện đa khoa quận huyện đều có hệ thống xử lý nước thải
y tế; trong đó có 01 bệnh viện đa khoa Đan Phượng được đầu tư hệ thống xử
lý nước thải từ năm 2009 và hiện đang hoạt động không hiệu quả (theo kếtquả đánh giá của Sở Tài nguyên và Môi trường, 2018)
- Trung tâm y tế quận, huyện, thị xã: 45 phòng khám đa khoa khu vực
và Nhà hộ sinh thuộc các trung tâm y tế quận/huyện/thị xã đã có hệ thống xử
lý nước thải theo công nghệ HA-18B (D) của Nhật Bản Hầu hết hệ thống xử
lý nước thải tại các Trung tâm y tế quận/ huyện/ thị xã không vận hành hoặcvận hành kém hiệu quả và xuống cấp (theo kết quả đánh giá của Sở Tàinguyên và Môi trường, 2018)
- Các Trạm y tế xã/phường/thị trấn: nước thải được xử lý bằng hóa chấtkhử trùng Cloramin B trước khi thải ra môi trường tiếp nhận theo hướng dẫntại Quyết định số 105/QĐ-MT ngày 03/7/2014 của Cục trưởng Cục quản lýmôi trường y tế
- 35/35 Bệnh viện tư nhân trên địa bàn đều có hệ thống xử lý nước thải.Các phòng khám và cơ sở dịch vụ y tế tư nhân xử lý bằng hóa chất khử trùngCloramin B trước khi thải vào môi trường tiếp nhận
Theo kết quả điều tra, quan trắc 23 mẫu nước thải (trước và sau xử lý)
và 03 mẫu bùn thải tại 23 cơ sở y tế trên địa bàn thành phố Hà Nội, gồm 15bệnh viện, 2 trung tâm y tế, 6 phòng khám có hệ thống xử lý nước thải chothấy: hệ thống xử lý nước thải tại các Trung tâm y tế quận/ huyện không vận
Trang 29hành hoặc vận hành kém hiệu quả và xuống cấp Đối với các bệnh viện thuộctuyến trung ương được khảo sát, lấy mẫu, mặc dù hệ thống xử lý nước thảiđược vận hành liên tục, tuy nhiên hiệu quả xử lý vẫn chưa đảm bảo theo yêucầu Cụ thể như sau:
- Chỉ có 7/23 mẫu nước thải sau xử lý (chiếm 30,4%) đạt quy chuẩncho phép theo QCVN 28:2010/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chấtlượng nước thải Y tế (cột B); trong đó có đến 4/6 (chiếm 66,67%) mẫu nướcthải đầu ra của cơ sở y tế tư nhân và 11/15 (chiếm 77,33%) mẫu nước thải đầu
ra của các bệnh viện có các chỉ tiêu đã phân tích vượt quy chuẩn cho phéptheo QCVN 28:2010/BTNMT (cột B): Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chấtlượng nước thải Y tế Các chỉ tiêu vượt quy chuẩn chủ yếu bao gồm: BOD5,COD, Amoni, dầu mỡ động thực vật, TSS
- Trong 5 cơ sở y tế có sử dụng nguồn phóng xạ được lấy mẫu, phântích và đánh giá chỉ tiêu phóng xạ α, β Kết quả phân tích nước thải đầu ra chothấy các chỉ tiêu phóng xạ α, β trong nước thải đầu ra đều đạt quy chuẩn chophép
Về tiêu hủy bùn: Bùn thải từ các hệ thống xử lý nước thải của các Bệnhviện, cơ sở y tế đã được trang bị hệ thống xử lý nước thải, được hút định kỳbởi các cơ sở xử lý có chức năng đã được cấp phép Tùy mức công suất của
hệ thống xử lý mà thời gian hút bùn từ 6 tháng đến 2 năm Bùn thải này sẽđược vận chuyển đem đi xử lý theo đúng quy định về quản lý chất thải nguyhại
- Kết quả phân tích mẫu bùn thải tại 3 cơ sở y tế được lựa chọn ngẫunhiên trên địa bàn thành phố Hà Nội cho thấy tất cả các chỉ tiêu đã phân tíchđều đạt quy chuẩn cho phép theo QCVN 50:2013/BTNMT - quy định vềngưỡng bùn thải nguy hại [8]
1.2.2.2 Mô hình xử lý theo cụm
Hiện tại, Bộ Y tế đang triển khai dự án hỗ trợ xử lý chất thải cụm cácbệnh viện khu vực Bệnh viện Bạch Mai (gồm 5 bệnh viện: Bạch Mai, Tai MũiHọng TW, Nhiệt đới TW, Da liễu TW và Lão khoa TW); hệ thống xử lý nước
Trang 30thải y tế công suất 2.700 m3/ngày đêm, công nghệ AAO kết hợp MBR Đốivới các cơ sở y tế do Sở Y tế quản lý, Thành phố chưa triển khai thực hiện xử
lý chất thải y tế theo mô hình cụm [8]
1.2.2.3 Mô hình xử lý tập trung
Áp dụng phổ biến đối với các cơ sở y tế tư nhân không có hệ thống xử
lý nước thải y tế, nước thải y tế nguy hại có tính lây nhiễm được thu gomcùng với chất thải rắn y tế nguy hại lây nhiễm, ký hợp đồng với các đơn vị cóchức năng đã được cấp phép xử lý chất thải nguy hại để xử lý tập trung [8].1.3 TỔNG QUAN VỀ JOHKASOU VÀ CÔNG NGHỆ AO
1.3.1 Định nghĩa Johkasou
Johkasou là hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt Các hệ thống xử lýnước thải Johkasou có thể được lắp đặt tại các khu vực nơi cơ sở hạ tầng xử lýnước thải chưa được xây dựng, các biệt thự, các hộ gia đình, các khu chung
cư hoặc cho các khách sạn, nhà hàng… (Johkasou xử lý cùng lúc tất cả cácnguồn nước thải từ khu nhà vệ sinh, nhà tắm, máy giặt, nhà bếp) Với hệthống xử lý nước thải sinh hoạt, Johkasou thì hệ thống giúp thanh lọc nướcthải thông qua quá trình xử lý nhờ các vi sinh vật kị khí và hiếu khí nhằm loại
bỏ BOD và các chất hữu cơ, vô cơ, vi khuẩn độc hại khác trong nước thải
Hình 1.1: Module Johkasou điển hình
Trang 311.3.2 Đặc điểm Johkasou
Hình 1.2: Chi tiết Johkasou
Là một hệ thống hợp khối thu gọn của các quá trình xử lý nước thải
đi kèm với những công nghệ xử lý nước tiên tiến
+ Sử dụng màng lọc khuẩn theo hướng không gian nhằm tăng bề mặt tiếp xúc nước thải với các vi sinh vật đặc hiệu
+ Xử lý nước thải theo phương pháp sinh học, dùng các vi sinh vật kịkhí và hiếu khí phân hủy chất hữu cơ trong nước thải Johkasou là thiết bịthân thiện với môi trường
- Với những ưu điểm nổi bật của hệ thống, Johkasou đang phát huy thếmạnh ở các khu vưc dân cư phân tán như các nhà máy, bệnh viện, khu pháttriển nhà ở, Johkasou giúp xử lý nước thải sinh hoạt
- Johkasou đảm bảo được chất lượng của nguồn nước thải, chất lương
xả thải, bảo tồn môi trường nước…
- Johkasou áp dụng được linh hoạt cho nhiều quy mô: quy mô nhỏ(dùng cho hộ gia đình 5 – 10 người, quy mô vừa (dùng cho cụm dân cư 11 –
50 người), quy mô lớn (dùng cho các nhà cao tầng, khu đô thị, khu Thươngmại từ 51 người trở lên) Trong 03 quy mô này, tùy thuộc vào tính chất của
Trang 32nguồn nước thải và chất lượng xả thải mà nó đươc chia thành nhiều model khác nhau có qui trình và phương thức xử lý khác nhau.
1.3.3 Ưu nhược điểm của Johkasou
- Vì là sản xuất tại nhà máy, nên việc lắp đặt tại công trình rất đơn giản
và tiết kiệm thời gian
- Nước sau xử lý đạt được tiêu chuẩn của Nhật Bản cũng như tiêu chuẩn QCVN 14/2008 /BTNMT của Việt Nam
- Chi phí thi công tương thích với từng công trình
* Nhược điểm:
Chi phí sản xuất một module Johkasou cao hơn so với chi phí xây dựng
bể BTCT hợp khối tương đương
Kích thước của một bồn Johkasou bị giới hạn bởi kích thước phương tiện vận chuyển từ nhà máy sản xuất đến địa điểm lắp đặt
1.3.4 Tổng quan về công nghệ AO
AO là cụm viết tắt của hai quá trình: Thiếu khí (Anoxic) và hiếu khí (Oxic) Hiện nay, công nghệ xử lý AO được hoàn thiện và được ứng dụng
Trang 33trong hầu hết các loại nước thải có hàm lượng N, P cao như: nước thải sinhhoạt, nước thải y tế, nước thải thủy sản, nước thải thực phẩm, nước thải côngnghiệp Công nghệ AO có ưu điểm sau:
- Xử lý triệt để đồng thời hàm lượng chất hữu cơ BOD và chất dinh dưỡng N, P
- Chi phí đầu tư hệ thống xử lý nước thải chi phí thấp
- Hệ thống vận hành ổn định, tự động hóa cao
- Chi phí bảo trì, bảo dưỡng thiết bị thấp
Quá trình Anoxic (Thiếu khí):
Trong điều kiện thiếu khí hệ vi sinh vật thiếu khí phát triển xử lý N và
P thông qua quá trình Nitrat hóa và Photphoril
Quá trình Nitrat hóa xảy ra như sau:
Hai chủng loại vi khuẩn chính tham gia vào quá trình này là Nitrosonas
và Nitrobacter Trong môi trường thiếu Oxi, các loại vi khuẩn này sẽ khửNitrat Denitrificans sẽ tách oxi của Nitrat (NO3-) và Nitrit (NO2-) theo chuỗichuyển hóa:
NO3- NO2- N2O N2Khí Nito phân tử N2 tạo thành sẽ thoát khỏi nước và ra ngoài Như vậy
là Nito đã được xử lý
Quá trình Phophorit hóa:
Chủng loại vi khuẩn tham gia vào quá trình này là Acinetobacter Các hợp chất hữu cơ chứa photpho sẽ được hệ vi khuẩn Acinetobacter chuyển hóa
thành các hợp chất mới không chứa photpho và các hợp chất có chứa photphonhưng dễ phân hủy đối với chủng loại vi khuẩn hiếu khí
Để quá trình Nitrat hóa và Photphoril hóa diễn ra thuận lợi, tại bểAnoxic bố trí hệ thống phân phối khí Hệ thống phân phối khí có chức năngkhuấy trộn dòng nước tạo ra môi trường thiếu oxi cho hệ vi sinh vật thiếu khíphát triển
Trang 34Quá trình Oxic (Hiếu khí):
Đây là quá trình xử lý sử dụng chủng vi sinh vật hiếu khí để phân hủychất thải Trong quá trình này, các vi sinh vật sẽ hấp thụ Oxy, chất hữu cơ(chất ô nhiễm) và sử dụng chất dinh dưỡng là Nito và Photpho để tổng hợp tếbào mới, CO2, H2O và giải phóng năng lượng Ngoài quá trình tổng hợp tếbào mới, tồn tại phản ứng phân hủy nội sinh (Các tế bào vi sinh vật già sẽ tựphân hủy) làm giảm số lượng bùn hoạt tính Tuy nhiên quá trình tổng hợp tếbào mới vẫn chiếm ưu thế do trong bể duy trì các điều kiện tối ưu vì vậy sốlượng tế bào mới tạo thành nhiều hơn tế bài bị phân hủy và tạo thành bùn dưcần phải được thải bỏ định kỳ
Các phản ứng chính xảy ra trong ngăn Aeroten như:
Quá trình Oxy hóa và phân hủy hữu cơ:
Chất hữu cơ + O2 CO2 + H2O + Năng lượngQuá trình tổng hợp tế bào mới:
Chất hữu cơ + O2 + NH3 Tế bào vi sinh vật + CO2 + H2O + Năng lượng
Quá trình phân hủy nội sinh:
C5H7O2N + O2 CO2 + H2O + NH3 + Năng lượng
Hệ vi sinh vật trong quá trình hiếu khí được nuôi cấy bằng chế phẩmmen vi sinh hoặc từ bùn hoạt tính Oxy cấp vào bể bằng máy thổi khí đặt cạnhoặc máy sục khí đặt chìm
Trang 35CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Trong nghiên cứu này, đối tượng nghiên cứu được xác định là module
xử lý nước thải Johkasou kết hợp công nghệ AO và nước thải bệnh viện
Công nghệ AO kết hợp trong Module Johkasou được nghiên cứu ở quy
mô thực nghiệm tại Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng với đối tượng xử lý lànước thải Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp điều tra khảo sát
Phương pháp điều tra khảo sát được thực hiện để tổng hợp các số liệucủa bệnh viện đại học Y Hải Phòng: vị trí địa lý, mặt bằng hiện trạng và pháttriển, loại hình, quy mô bệnh viện (chuyên ngành, công suất, số giường bệnh,
…), từ đó tính ra công suất xử lý phù hợp cho hệ thống xử lý nước thải
Sau khi đo đạc, các số liệu được tổng hợp và thống kê bằng phần mềmExcel Các dữ liệu thống kê sẽ giúp đưa ra được thiết kế tối ưu nhất cho môhình
2.2.2 Phương pháp tính toán thiết kế
a Tính toán công suất nước thải của bệnh viện.
+ Căn cứ vào số giường bệnh của bệnh viện và tiêu chuẩn thải nước trên mỗi giường bệnh, từ đó tính ra lượng nước thải y tế của bệnh viện
+ Dựa vào số lượng cán bộ hiện đang công tác tại bệnh viện, từ đó tính
ra lượng nước thải sinh hoạt của cán bộ nhân viên bệnh viện
+ Công suất xử lý của trạm xử lý là tổng lượng nước thải y tế theo giường bệnh và lượng nước thải sinh hoạt của cán bộ nhân viên bệnh viện
b Tính toán kích thước các hạng mục xử lý chính và các công trình phụ
trợ
+ Từ công suất xử lý của trạm xử lý nước thải đã tính được, dựa trêncác thông số của nước thải đầu vào, tính toán tải lượng xử lý, kích thước của
Trang 36các công trình đơn vị (bể thu gom, bể điều hòa, bể thiếu khí, hiếu khí,…) đáp ứng yêu cầu nước thải đầu ra đạt QCVN 28:2010/BTNMT về nước thải y tế
- Bể điều hòa tính toán dựa theo thời gian lưu nước trong bể đảm bảo điều hòa lưu lượng và chất lượng nước
- Bể thiếu khí tính toán dựa trên hàm lượng Amoni, Nitrat trong dòngthải đầu vào, đầu ra của bể, từ đó tính ra thời gian lưu nước cần thiết của bể,thể tích của bể tính theo thời gian lưu nước và lưu lượng nước thải trung bìnhgiờ
- Tính toán bể hiếu khí dựa vào các thông số lưu lượng, BOD đầu vào,đầu ra, nồng độ bùn hoạt tính, tính ra được thể tích bể, lượng bùn dư, lượngkhông khí cần thiết cấp cho bể hoạt động ổn định
- Diện tích bể lắng được tính theo lượng bùn dư sau bể hiếu khí và lưulượng nước thải Bể lắng được chia làm 2 vùng, vùng lắng ở phía trên và vùngchứa cặn ở phía dưới
- Thể tích bể khử trùng dựa trên thời gian tiếp xúc với hóa chất khửtrùng Lượng hóa chất sử dụng tính theo liều lượng tiêu thụ và lưu lượng dòngthải
- Thiết kế module Johkasou theo kích thước các bể đã tính toán
2.2.3 Phương pháp thực nghiệm
Sau khi thiết kế, xây dựng, lắp đặt hoàn thiện hệ thống xử lý nước thảibệnh viện sử dụng module Johkasou kết hợp công nghệ AO ngoài hiệntrường
Tiến hành các công tác chuẩn bị, đưa hệ thống vào chạy thực nghiệm.Sau khi hệ thống đã hoàn thiện, bắt đầu nuôi cấy vi sinh trong 20 ngày trong
bể hiếu khí, thiếu khí Sau khi nuôi cấy, hệ thống sẵn sàng để hoạt động thìbắt đầu cho nước thải vào và chạy thực nghiệm
Nghiên cứu tiếp tục tiến hành chạy thực nghiệm hệ thống liên tục trongtháng 09/2020 và cho hệ thống hoạt động đến khi ổn định tiến hành đánh giáhiệu quả xử lý nước thải bệnh viện của hệ thống
Trang 37Nước thải được lấy mẫu đầu vào, đầu ra hệ thống vào cuối mỗi ngày,liên tục trong tháng 09/2020, được bảo quản và đưa về phòng thí nghiệm phântích, theo dõi các thông số COD, BOD, Amoni, Photphat, Nitrat và Coliform.
Các thông số nhiệt độ, DO, pH được đo trực tiếp tại hiện trường bằngmáy đo nhanh
2.2.4 Phương pháp phân tích
Đánh giá, phân tích một số chỉ tiêu cơ bản như nhiệt độ, pH, DO, COD,BOD, nito – amoni (N – NH4+), nito – nitrat ( N – NO3-), photphat (PO43-),tổng Coliform theo QCVN 28:2010/BTNMT cột B về nước thải y tế, cụ thể:
- Nhiệt độ, pH, DO: Sử dụng máy đo Hanna HI 8314
- COD: Được xác định bằng phương pháp chuẩn độ dicromat kali theo
Cường độ màu này đại diện cho lượng NH3 có trong mẫu được xácđịnh bằng cách dùng máy đo quang Phương pháp dùng để xác định lượng
NH3 dưới 20µg NH3 - N/l và bằng 5mg NH3 – N/l Phương pháp sẽ bị ảnhhưởng bởi một số nhóm như amin, cloramin, xeton, aldehyt, rượu ( do chúngtạo màu với thuốc thử);
- Nitrat: Được xác định theo TCVN 6180:1996 (ISO 7890 – 3:1999)(E)) Xác định Nitrat – Phương pháp trắc phổ dùng thuốc thử axitsunfosalixylic;
- Photphat: Được xác định bằng phương pháp đo phổ dùng amoni molipdat, áp dụng tiêu chuẩn quốc gia TCVN 6202: 2008 ISO 6878:2004
Tổng Coliform: Được xác định bằng phương pháp màng lọc theo
TCVN 6187 – 1:2009 (ISO 9308 – 1:2000/Cor 1:2007)
Trang 382.2.5 Phương pháp tính hiệu quả đầu tư và chi phí vận hành
- Tính toán đưa ra chi phí đầu tư xử lý trên 1 m3 nước thải
+ Khái toán chi phí xây dựng hệ thống bao gồm: chi phí xây dựng các
bể bê tông cốt thép, chi phí xây dựng nền móng bệ đặt Johkasou, chi phí xâydựng nhà điều hành và các công trình phụ trợ
+ Khái toán chi phí máy móc thiết bị: chi phí đầu tư máy bơm (bơmnước thải, bơm tuần hoàn, bơm bùn,…), máy thổi khí (bể điều hòa, bể hiếukhí), thiết bị loại bỏ rác, hộp phân chia lưu lượng nước thải, bùn thải, hệ thống
tủ điện và tủ điều khiển, chi phí sản xuất Johkasou và các vật liệu xử lý
Từ chi phí xây dựng và thiết bị, tính được chi phí đầu tư hệ thống xử lýnước thải bệnh viện, với công suất của hệ thống, tính được chi phí đầu tư trênmỗi mét khối nước thải
- Ước tính chi phí vận hành hệ thống xử lý hàng ngày trên mỗi 1 m3nước thải
+ Chi phí điện năng: từ công suất hoạt động của thiết bị trong hệ thống,ước tính chi phí điện năng tiêu thụ của mỗi ca máy theo giá điện quy định củanhà nước
+ Chi phí hóa chất: dựa vào công nghệ xử lý, tính liều lượng hóa chất
sử dụng mỗi ngày và chi phí cho lượng hóa chất đó
+ Chi phí nhân công: tính theo lương của tổng số cán bộ vận hành hệ thống xử lý
+ Chi phí bảo dưỡng và quản lý khác: bao gồm chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị và chi phí dự phòng sửa chữa, khắc phục sự cố
Từ các chi phí trên tổng hợp được chi phí quản lý và vận hành hệ thống
xử lý để xử lý 1m3 nước thải
Trang 39CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 KẾT QUẢ ĐIỀU TRA KHẢO SÁT
Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng tiền thân là một phòng khám đa khoatrực thuộc trường, do các giáo sư và bác sĩ của trường phụ trách khám và điềutrị: GS.TS Nguyễn Hữu Chỉnh, PGS.TS Nguyễn Khắc Sơn, GS.TS PhạmVăn Thức, PGS.TS Phạm Văn Nhiên, PGS.TS Nguyễn Văn Mùi Phòngkhám hoạt động tốt đảm bảo nhu cầu khám, chữa bệnh của dân cư khu vực,tạo điều kiện thực hành tốt cho sinh viên và cải thiện đời sống cho cán bộcông chức, viên chức
Ngày 04/4/2007, theo Quyết định số 1247/QĐ-BVYHP của Bộ trưởng
Bộ Y tế, Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng được thành lập trên cơ sở phòngkhám đa khoa của trường Đại học Y Hải Phòng Bệnh viện hoạt động theođiều lệ tổ chức ban hành kèm theo quyết định số 2512/QĐ-BYT ngày12/7/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế
Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng được xây dựng trên nền địa hình thànhphố Hải Phòng nằm trong quần thể địa hình Thành phố Hải Phòng nói chung
Tại Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng đã có hệ thống thu gom nước mưa
và nước thải bằng các cống chạy xung quanh các khu nhà Toàn bộ các cốngthu nước này đều được đậy bằng các tấm đan bê tông và ống cống ngầm.Nước thải y tế, nước thải sinh hoạt và nước mưa của trường chảy theo hệthống cống chung và xả vào hệ thống cống thoát nước của thành phố Đây lànguồn gây ô nhiễm chủ yếu cho khuôn viên trường, ảnh hưởng lớn tới sứckhoẻ học sinh sinh viên và người đi khám bệnh và cán bộ công nhân viênchức của trường Hơn nữa, khi trời mưa to, nước mưa cùng nước thải chưa xử
lý sẽ dẫn thẳng vào cống thoát thành phố, ảnh hưởng trực tiếp tới môi trườngsống của các khu dân cư lân cận
Nước thải từ các khu vệ sinh được xử lý sơ bộ tại các bể phốt trước khiđấu nối vào hệ thống thu gom
Trang 40Các kết quả phân tích đánh giá hiện trạng chất lượng nước thải trườngcho thấy mức độ ô nhiễm khá nghiêm trọng, với nhiều thông số vượt tiêuchuẩn cho phép.
Do vậy, để đảm bảo xử lý triệt để chất thải, đặc biệt là nước thải, việcđầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải Bệnh viện Đại học Y dược HảiPhòng là hết sức cần thiết
Ngoài ra, do hệ thống thoát nước của Bệnh viện có nhiều chỗ đã hưhỏng nên gây ứ đọng trong mùa mưa, nước mưa chảy tràn vào hệ thống thoátnước chung cuốn theo rác, đất đá và các chất lơ lửng khác, làm tăng lượngnước thải đi vào hệ thống xả Hiện tại Bệnh viện chưa có khu xử lý nước thải
3.1.1 Công suất xử lý
Số giường bệnh của bệnh viện tính đến tháng 11/2019 là 150 giường.Tuy nhiên bệnh viện đang thực hiện dự án mở rộng quy mô với số giườngbệnh tăng lên 250 giường
Lấy tiêu chuẩn cấp nước cho mỗi giường bệnh là 700 l/ng.đêm [3].Lưu lượng nước cấp tính trên tổng số giường bệnh:
Q = 250*0,7 = 175 m3/ngày.đêmTổng số bác sỹ, y tá, CBCNV làm việc trong bệnh viện là 115 người.Căn cứ theo tiêu chuẩn 33:2006 TCVN-BXD lượng nước sử dụng hết khoảng
200 lít/người/ngày, thì lượng nước sinh hoạt sử dụng là:
115 người x 200 lít/người/ngày = 23.000 lít/ngày = 23 m3/ngày
Lượng nước thải sinh hoạt được tính bằng 100% lượng nước sử dụng
(khoản 1 Điều 39 thuộc Nghị định 80/2014/NĐ-CP)[10]:
(175 + 23) x 100% = 198 m3/ngàyNhư vậy tổng lưu lượng nước thải đầu vào của hệ thống xử lý là:
Q = 200 m3/ngày.đêmTính toán thiết kế hệ thống xử lý với lưu lượng 200 m3/ngày.đêm