Nhiễm bệnh mãn tính gây nên chán ăn, hấp thu thức ăn và tiêu hóa kém, viêm mạn tính ống tiêu hóa, giun chiếm các chất dinh dưỡng như: protein, lipid, vitamin A… dẫn đến suy dinh dưỡng, t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC
VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Phùng Thị Thu Nhi
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NHIỄM GIUN TRUYỀN QUA ĐẤT Ở TRẺ 1 ĐẾN 6 TUỔI TẠI HUYỆN TAM ĐƯỜNG TỈNH LAI CHÂU NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Hà Nội – 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC
VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Phùng Thị Thu Nhi
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NHIỄM GIUN TRUYỀN QUA ĐẤT Ở TRẺ 1 ĐẾN 6 TUỔI TẠI HUYỆN TAM ĐƯỜNG TỈNH LAI CHÂU NĂM 2018
Chuyên ngành: Động vật học
Mã số: 8.42.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 TS BS Đỗ Trung Dũng
2 PGS.TS Phạm Ngọc Doanh
Hà Nội – 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu trong luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi dựa trên những tài liệu, số liệu do chính tôi tự tìm hiểu và nghiên cứu Chính vì vậy, các kết quả nghiên cứu đảm bảo trung thực và khách quan nhất Đồng thời, kết quả này chưa từng xuất hiện trong bất cứ một nghiên cứu nào Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực nếu
sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 01 tháng 06 năm 2021
Học viên
Phùng Thị Thu Nhi
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ tình cảm và lòng biết ơn sâu sắc đến TS
BS Đỗ Trung Dũng - Trưởng khoa Ký sinh trùng Viện Sốt rét - Ký sinh trùng
- Côn trùng Trung ương và PGS TS Phạm Ngọc Doanh - Phó trưởng phòng Phòng Ký sinh trùng học, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật là hai người thầy đã nhiệt tình hướng dẫn, động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luân văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban giám đốc cùng các thầy cô Phòng Đào tạo sau đại học, Học viện Khoa học và Công nghệ về sự tận tâm trong mỗi bài giảng, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá tình học tập
và nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè đồng nghiệp, những người thân yêu đã ở bên giúp đỡ, ủng hộ, động viên để tôi có thể hoàn
thành tốt luận văn này
Hà Nội, ngày 01 tháng 6 năm 2021
Học viên
Phùng Thị Thu Nhi
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
WHO (World Health Organization) Tổ chức Y tế thế giới
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đặc điểm hình thái và sinh học của giun truyền qua đất 3
1.1.1 Giun đũa 3
1.1.1.1 Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái của giun đũa 3
1.1.1.2 Hình thái trứng giun đũa 4
1.1.1.3 Vòng đời phát triển của giun đũa 4
1.1.2 Giun tóc 6
1.1.2.1 Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái của giun tóc 6
1.1.2.2 Đặc điểm hình thái trứng giun tóc 6
1.1.2.3 Vòng đời phát triển của giun tóc 7
1.1.3 Giun móc/mỏ 8
1.1.3.1 Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái của giun móc/mỏ 8
1.1.3.2 Đặc điểm hình thái trứng giun móc/mỏ 9
1.1.3.3 Vòng đời phát triển của giun móc/mỏ 9
1.2 Triệu chứng lâm sàng và tác hại của các bệnh giun truyền qua đất 11 1.2.1 Triệu trứng lâm sàng và tác hại của bệnh giun đũa 11
1.2.2 Triệu chứng lâm sàng và tác hại của bệnh giun tóc 11
1.2.3 Triệu chứng lâm sàng và tác hại của bệnh giun móc/mỏ 12
1.3 Chẩn đoán bệnh giun truyền qua đất 13
1.3.1 Dịch tễ học 13
1.3.2 Lâm sàng 13
1.3.3 Cận lâm sàng 13
1.4 Điều trị bệnh giun truyền qua đất 14
Trang 71.4.1 Các thuốc sử dụng để điều trị bệnh giun truyền qua đất 14
1.4.2 Phác đồ điều trị 14
1.5 Tình hình nghiên cứu bệnh giun truyền qua đất trên thế giới và ở việt nam……….……….14
1.5.1 Tình hình nghiên cứu bệnh giun truyền qua đất trên thế giới 14
1.5.2 Tình hình nghiên cứu bệnh giun truyền qua đất ở Việt Nam 19
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21
2.3 Nội dung nghiên cứu 21
2.4 Thiết kế nghiên cứu 22
2.4.1 Cỡ mẫu nghiên cứu: 22
2.4.2 Phương pháp chọn mẫu: 22
2.5 Các kỹ thuật được sử dụng trong nghiên cứu 23
2.5.1 Kỹ thuật xét nghiệm phân 23
2.5.2 Kỹ thuật phỏng vấn, thu thập thông tin bộ câu hỏi KAP 24
2.5.3 Các chỉ số đánh giá trong nghiên cứu 25
2.6 Xử lý và phân tích số liệu 26
2.7 Đạo đức trong nghiên cứu 26
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng và địa điểm nghiên cứu 28
3.2 Thực trạng nhiễm giun truyền qua đất ở trẻ em ……… 29
3.2.1 Tình hình nhiễm chung và nhiễm từng loài giun 29
3.2.2 Tỷ lệ nhiễm giun truyền qua đất theo giới tính 33
3.2.3 Tỷ lệ nhiễm đơn và nhiễm nhiều loài giun truyền qua đất 33
3.2.4 Cường độ nhiễm giun truyền qua đất ở trẻ em 34
3.3 Đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành của bà mẹ 35
Trang 83.3.1 Kiến thức của bà mẹ về bệnh giun truyền qua đất 36
3.3.1.1 Các nguồn thông tin được tiếp cận 36
3.3.1.2 Hiểu biết về tên các loài giun truyền qua đất 36
3.3.1.3 Hiểu biết về nguyên nhân nhiễm giun truyền qua đất 37
3.3.1.4 Hiểu biết về tác hại của giun truyền qua đất 37
3.3.1.5 Hiểu biết về đối tượng dễ bị nhiễm giun truyền qua đất 38
3.3.1.6 Hiểu biết về cách phòng chống nhiễm giun truyền qua đất 38
3.3.2 Thái độ và thực hành của bà mẹ về phòng trị bệnh giun truyền qua đất……… 39
3.4 Phân tích yếu tố liên quan đến nhiễm giun truyền qua đất 41
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45
Kết luận 45
1 Thực trạng nhiễm giun truyền qua đất ở trẻ từ 1 đến 6 tuổi 45
2 Kiến thức, thái độ và thực hành của bà mẹ về giun truyền qua đất 45 3 Các yếu tố liên quan đến nhiễm giun truyền qua đất 46
Kiến nghị 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
Phụ lục 1 55
Phụ lục 2 61
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Tổng hợp một số nghiên cứu về giun truyền qua đất 16
Bảng 2.1 Phân loại cường độ nhiễm cho mỗi loài giun 26
Bảng 3.1 Một số thông tin chung của địa điểm nghiên cứu 28
Bảng 3.2 Số lượng và tỷ lệ giới tính của trẻ tham gia nghiên cứu 28
Bảng 3.3 Số lượng và tỷ lệ các nhóm tuổi của trẻ em tham gia nghiên cứu 29
Bảng 3.4 Tỷ lệ nhiễm giun truyền qua đất ở trẻ em tại các xã 29
Bảng 3.5 Tỷ lệ nhiễm giun truyền qua đất ở trẻ em theo giới tính 33
Bảng 3.6 Tỉ lệ đơn nhiễm và đa nhiễm giun truyền qua đất ở trẻ em 34
Bảng 3.7 Cường độ nhiễm giun truyền qua đất ở trẻ 34
Bảng 3.8 Tỷ lệ tiếp cận nguồn thông tin về bệnh giun của bà mẹ 36
Bảng 3.9 Tỷ lệ bà mẹ biết tên các loài giun 36
Bảng 3.10 Tỷ lệ bà mẹ biết về nguyên nhân nhiễm giun truyền qua đất 37
Bảng 3.11 Tỷ lệ bà mẹ biết tác hại của nhiễm giun truyền qua đất 37
Bảng 3.12 Tỷ lệ bà mẹ biết đối tượng dễ bị nhiễm giun nhất 38
Bảng 3.13 Tỷ lệ bà mẹ biết các cách phòng chống nhiễm giun 38
Bảng 3.14 Thái độ và thực hành của bà mẹ về phòng chống nhiễm giun 39
Bảng 3.15 Một số yếu tố liên quan đến nhiễm giun truyền qua đất 42
Trang 10DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Hình thái giun đũa trưởng thành 3
Hình 1.2 Hình thái các dạng trứng giun đũa 4
Hình 1.3 Các giai đoạn phát triển trứng giun đũa 4
Hình 1.4 Vòng đời phát triển của giun đũa 5
Hình 1.5 Giun tóc trưởng thành 6
Hình 1.6 Các hình dạng trứng giun tóc thường gặp 6
Hình 1.7 Vòng đời phát triển của giun tóc 7
Hình 1.8 Giun móc/mỏ trưởng thành 9
Hình 1.9 Các giai đoạn phát triển trứng giun móc/mỏ 9
Hình 1.10 Vòng đời phát triển giun móc/mỏ 10
Hình 2.1 Địa điểm nghiên cứu thuộc 3 xã trên bản đồ huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu 21
Hình 3.1: Tỷ lệ nhiễm giun truyền qua đất ở các xã 30
Trang 11con đường lây nhiễm qua đất chứa mầm bệnh, bao gồm: giun đũa (Ascaris
lumbricoides), giun tóc (Trichuris trichiura) và giun móc/giun mỏ
(Ancylotoma duodenale/Necator americanus) [1, 2]
Bệnh GTQĐ gây nhiều tác hại thầm lặng và lâu dài tới sức khỏe con người, đã trở thành vấn đề cấp thiết ở nhiều nơi trên thế giới, nhất là những vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới Theo ước tính của Tổ chức y tế Thế giới, năm 2015 toàn cầu có trên 1,4 tỷ người bị nhiễm giun đũa và số người chết do giun đũa gây nên là 60.0000 người mỗi năm; số người nhiễm giun tóc cũng tương tự là 1,4 tỷ người, gây chết cho 10.000 người hàng năm; và số
người mắc giun móc là 1,3 tỷ người, hàng năm gây chết cho 65.000 người [3]
Bệnh GTQĐ gặp ở mọi lứa tuổi và gây ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển thể chất, tinh thần, đặc biệt là đối với trẻ em Trẻ em trước tuổi đến trường chiếm từ 10% đến 20% trong số 3,5 tỷ người sống trong các khu vực lưu hành của bệnh GTQĐ [4] Mặc dù những bệnh GTQĐ không gây chết nhanh, chúng gây nguy hiểm cho sức khỏe của trẻ em một cách âm thầm Nhiễm bệnh mãn tính gây nên chán ăn, hấp thu thức ăn và tiêu hóa kém, viêm mạn tính ống tiêu hóa, giun chiếm các chất dinh dưỡng như: protein, lipid, vitamin A… dẫn đến suy dinh dưỡng, thiếu máu, ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển nhận thức, thể chất và tình trạng thiếu sắt, ảnh hưởng đến phản ứng miễn dịch của trẻ bị nhiễm bệnh [5, 6] Sinh trưởng chậm thường xảy ra ở trẻ trong khoảng từ 6 tháng đến 2 năm tuổi, trùng với thời gian bắt đầu nhiễm GTQĐ Trên toàn cầu, ước tính gần 200 triệu trẻ trước tuổi đến trường bị còi cọc, 33% trong số đó sống ở các nước đang phát triển; nhiễm GTQĐ là một yếu tố quan trọng góp phần vào tình trạng suy dinh dưỡng ở nhóm tuổi này [7] Về mặt xã hội, suy dinh dưỡng dẫn đến kìm hãm phát triển kinh tế bởi nó
Trang 12trực tiếp ảnh hưởng đến nguồn nhân lực, ảnh hưởng giống nòi Vì vậy nghiên
cứu phòng tránh nhiễm GTQĐ ở trẻ là cần thiết và đáng được quan tâm
Việt Nam là nước nằm trong vùng nhiệt đới, với điều kiện khí hậu, tập quán sinh hoạt cũng như vệ sinh môi trường thuận lợi cho sự phát triển và lây nhiễm của các bệnh ký sinh trùng Bệnh GTQĐ phân bố rộng trong cả nước, với tỉ lệ nhiễm khác nhau theo các vùng miền Theo số liệu điều tra từ năm
2011 - 2016 của Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương, tỷ lệ nhiễm chung bệnh GTQĐ ở học sinh tiểu học tại miền Bắc là 12,3%, miền Trung - Tây Nguyên là 18,6% và miền Nam là 6,16%, toàn quốc là 12,3% [8] Tuy nhiên, điều tra về hiện trạng nhiễm GTQĐ ở trẻ trước tuổi đến trường ở
nước ta trong những năm gần đây ít được quan tâm
Lai Châu là một trong các tỉnh miền núi Tây Bắc, người dân ở các vùng sâu, vùng xa có tập quán sinh hoạt, vệ sinh, ăn uống và canh tác còn lạc hậu, dẫn đến nguy cơ nhiễm GTQĐ cao, đặc biệt là trẻ 1 đến 6 tuổi thuộc các dân tộc ít người, làm ảnh hưởng đến phát triển thể lực và trí tuệ của trẻ Vì vậy,
đánh giá thực trạng nhiễm GTQĐ ở trẻ em thuộc tỉnh Lai Châu là cần thiết
Do đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và một số
yếu tố liên quan đến nhiễm giun truyền qua đất ở trẻ 1 đến 6 tuổi tại huyện
Tam Đường tỉnh Lai Châu năm 2018” với các mục tiêu:
1 Xác định được tỷ lệ và cường độ nhiễm GTQĐ của trẻ 1 đến 6 tuổi tại
một 3 xã thuộc huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu
2 Đánh giá được kiến thức, thái độ, thực hành phòng tránh nhiễm GTQĐ
của các bà mẹ tại địa điểm nghiên cứu
3 Xác định được một số yếu tố liên quan đến tình trạng nhiễm GTQĐ ở
trẻ 1 đến 6 tuổi
Trang 13Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đặc điểm hình thái và sinh học của các loài giun truyền qua đất 1.1.1 Giun đũa
1.1.1.1 Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái của giun đũa
Giun đũa ký sinh và gây bệnh cho con người là loài Ascaris
lumbricoides, có vị trí phân loại như sau:
- Lớp Chromadorea Inglis 1983
- Bộ Rhabditida Chitwood, 1933
- Liên họ Ascaridoidea Baird, 1853
- Họ Ascarididae Baird, 1853
- Giống Ascaris Linnaeus, 1758
- Loài Ascaris lumbricoides Linnaeus, 1758
Giun đũa (Ascaris lumbricoides) có hình thể dài và to như chiếc đũa
Giun đũa cái dài 20 – 40 cm, lớn hơn giun đũa đực có chiều dài 15 – 30 cm
Cơ thể màu trắng hồng, hình trụ tròn, hai đầu thon nhọn Đầu có 3 môi xếp cân đối, gồm một môi lưng và hai môi bụng, bao bọc các môi là tầng kitin trong Đuôi giun đực cong phía bụng có lỗ hậu môn, có 2 gai sinh dục bằng nhau Giun cái có đuôi thẳng, tử cung của giun cái trưởng thành có thể chứa tới 27 triệu trứng [6]
Hình 1.1 Hình thái giun đũa trưởng thành [6]
Trang 141.1.1.2 Hình thái trứng giun đũa
Trứng đã thụ tinh: Kích thước 50–70 x 40–50 m Hình bầu dục, đôi
khi tròn, vỏ dày có nhiều lớp Lớp vỏ ngoài albumin xù xì bắt màu của phân, màu vàng sẫm Phôi tròn nhỏ, phát triển tăng số lượng tế bào và dần hình thành ấu trùng Đôi khi gặp trứng giun đũa không có lớp vỏ ngoài, trong suốt
không màu hoặc màu xanh xám có một lớp vỏ nhẵn bóng
Trứng không thụ tinh: Kích thước 50–106 x 40–60 m Hình dài, đôi
khi hình quả lê hoặc tam giác, hay hình bất thường Lớp vỏ ngoài mỏng, ít xù
xì, màu vàng sẫm Trong trứng chứa đầy tế bào noãn hoàng to hình đa giác
Trứng thụ tinh Trứng không thụ tinh Trứng có ấu trùng
Hình 1.2 Hình thái các dạng trứng giun đũa [6]
1.1.1.3 Vòng đời phát triển của giun đũa
Giun đũa sống trong ruột non của người Tuổi thọ của giun thường kéo dài từ 13–15 tháng Quá thời gian này, giun đũa thường bị nhu động ruột đẩy
ra ngoài theo phân Giun đũa đực và giun đũa cái trưởng thành giao phối với nhau, giun cái đẻ trứng Trứng giun đũa được thải ra ngoại cảnh theo phân Gặp điều kiện thuận lợi thích hợp (nhiệt độ, độ ẩm, oxy), trứng giun từ một
phôi ban đầu sẽ phát triển đến giai đoạn có ấu trùng trong trứng (Hình 1.3)
Hình 1.3 Các giai đoạn phát triển trứng giun đũa [6]
Nếu người ăn phải trứng giun đũa có ấu trùng, thì ấu trùng sẽ trải qua quá trình di hành và phát triển thành giun đũa trưởng thành như sau (Hình 1.4): ở dạ dày, nhờ sức co bóp cơ học và dịch vị làm cho ấu trùng thoát ra
Trang 15khỏi vỏ trứng, ấu trùng xuống ruột, chui qua các mao mạch ở ruột vào tĩnh mạch mạc treo để đi về gan Thời gian qua gan là từ sau 3–7 ngày Sau đó ấu trùng đi theo tĩnh mạch trên gan để vào tĩnh mạch chủ và vào tim phải Từ tim phải, ấu trùng theo động mạch phổi để tới phổi Ấu trùng giai đoạn phổi là thời gian ấu trùng tiết kháng nguyên gây ra bệnh lý cho người bệnh, đồng thời kích thích cơ thể sản sinh kháng thể chống lại giun đũa Sau khi thay vỏ, ấu trùng từ phế nang di chuyển về vùng hầu họng, từ đó được nuốt xuống ruột và
ấu trùng sẽ phát triển thành giun đũa trưởng thành ký sinh ở ruột non [6]
Hình 1.4 Vòng đời phát triển của giun đũa [9]
Ngoài ra, có thể gặp hiện tượng lạc chỗ vì trong quá trình di hành, ấu trùng có thể bị mắc lại ở các kẽ van tim, hay có thể vào tĩnh mạch, tới phổi rồi vào hệ thống động mạch chủ, từ đó ấu trùng có thể di chuyển tới các cơ quan khác trong cơ thể con người, thậm chí có thể thấy giun đũa ở tim, ở động mạch khoeo… Hiện tượng lạc chỗ gây ra các bệnh của hệ thống tuần hoàn Ngoài ra, giun đũa còn có thể di chuyển để chui vào ống mật, ống tụy, ruột
thừa, dạ dày, ống tai [6]
Trang 161.1.2 Giun tóc
1.1.2.1 Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái của giun tóc
Giun tóc ký sinh và gây bệnh cho con người là loài Trichuris trichiura,
có vị trí trong hệ thống phân loại như sau:
- Lớp Enoplea Inglis 1983
- Bộ Trichinellida Hall, 1916
- Liên họ Trichinelloidea Ward, 1907
- Họ Trichuridae Ransom, 1911
- Giống Trichuris Linnaeus, 1758
- Loài Trichuris trichiura Linnaeus, 1771
Giun tóc có kích thước nhỏ, dài 3–5 mm, phần đầu mảnh, nhỏ như sợi tóc (Hình 1.5) Giun tóc ký sinh ở ruột già, chủ yếu ở phần manh tràng và đại
tràng, cá biệt khi mật độ giun tóc nhiều có thể gặp ở ruột non
Hình 1.5 Giun tóc trưởng thành [6]
1.1.2.2 Đặc điểm hình thái trứng giun tóc
Trứng giun tóc dễ nhận biết vì có hình quả trám (quả cau) đặc trưng, màu vàng tươi hoặc sẫm màu, kích thước 50–34 m x 22–23 m Vỏ có nhiều lớp Ở hai đầu có 2 nắp đậy trong không màu Bên trong chứa tế bào phôi
phát triển hình thành ấu trùng (Hình 1.6)
Hình 1 6 Các hình dạng trứng giun tóc thường gặp [6]
Giun đực Giun cái
Trang 171.1.2.3 Vòng đời phát triển của giun tóc
Giun tóc trưởng thành ký sinh ở đại tràng, chủ yếu ở vùng manh tràng Sau khi giao hợp, giun tóc cái đẻ trứng Trứng giun tóc theo phân ra ngoài Gặp điều kiện thích hợp (nhiệt độ, độ ẩm và oxy), trứng từ một tế bào phôi sẽ phát triển đến giai đoạn chứa ấu trùng Nhiệt độ thích hợp nhất để trứng giun tóc phát triển ở ngoại cảnh là 25–30○C Với nhiệt độ như vậy, thời gian cần thiết để trứng giun tóc phát triển thành trứng mang ấu trùng là 17–30 ngày Trứng giun tóc mang ấu trùng có sức đề kháng cao đối với những tác nhân bất lợi của điều kiện ngoại cảnh, có thể sống tới 5 năm
Hình 1.7 Vòng đời phát triển của giun tóc [9]
Người ăn phải trứng giun tóc có ấu trùng, trứng qua miệng, thực quản tới
dạ dày Nhờ sức co bóp cơ học và tác dụng dịch vị của dạ dày làm cho ấu trùng thoát khỏi vỏ trứng Ấu trùng giun tóc không di hành qua một số cơ quan nội tạng như ấu trùng giun đũa hay ấu trùng giun móc/mỏ mà di chuyển thẳng tới manh tràng để phát triển thành giun tóc trưởng thành (Hình 1.7)
Trang 18Thời gian từ khi trứng giun tóc có ấu trùng được nuốt phải tới khi phát triển thành giun tóc trưởng thành mất khoảng 30 ngày Đời sống của giun tóc
kéo dài trung bình khoảng 5–6 năm [6]
1.1.3 Giun móc/mỏ
1.1.3.1 Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái của giun móc/mỏ
Bệnh giun móc/mỏ ở người chủ yếu do hai loài giun móc Ancylostoma
duodenalae và giun mỏ Necator americanus gây ra, có vị trí phân loại như
- Giống Ancylostoma Dubini, 1843
- Loài Ancylostoma duodenale Dubini, 1843
- Giống Necator Stiles, 1903
- Loài Necator americanus Stiles, 1902
Hai loài giun này tuy khác nhau về hình thái, nhưng có đặc điểm dịch
tễ, bệnh học và các tác hại tương tự nhau nên được gọi chung là giun móc/mỏ [6] Giun móc/mỏ trưởng thành có chiều dài khoảng 5–13 mm (Hình 1.8) Lỗ miệng có những cặp răng hoặc tấm cắt cong tùy loài Giun móc/mỏ sống ở tá tràng và phần đầu ruột non, cắm miệng vào niêm mạc ruột để hút máu
Necator americanus Ancylostoma duodenale
Giun cái
Giun đực Giun cái
Giun đực
Trang 19Hình 1 8 Giun móc/mỏ trưởng thành [6]
1.1.3.2 Đặc điểm hình thái trứng giun móc/mỏ
- Trứng của 2 loại này không khác nhau
- Kích thước 54 – 70 x 60 – 40 m
- Hình thuôn đều, vỏ mỏng, trong suốt không màu, trứng mới thải
ra ngoài, phôi có 4 – 8 tế bào nằm ở giữa, sau phát triển tăng số lượng tế bào và hình thành ấu trùng bên trong trứng
Hình 1 9 Các giai đoạn phát triển trứng giun móc/mỏ [6]
1.1.3.3 Vòng đời phát triển của giun móc/mỏ
Giun móc/mỏ đực và cái trưởng thành ký sinh ở tá tràng Sau khi giao hợp, giun cái sẽ đẻ trứng Trứng giun theo phân ra ngoại cảnh Ở ngoại cảnh, gặp điều kiện thuận lợi (nhiệt độ, độ ẩm, oxy), trứng giun sẽ phát triển thành
ấu trùng (Hình 1.10) Ở nhiệt độ 25–35○C, trứng giun sẽ nở thành ấu trùng ở giai đoạn 1 sau 24 giờ Ngoài ra, tính chất thổ nhưỡng cũng có ảnh hưởng tới
sự phát triển của ấu trùng Đất màu, phù sa ven sông, đất mùn tạo điều kiện thuận lợi cho ấu trùng phát triển; đất sét, đất mặn hạn chế sự phát triển của ấu trùng [6]
Ấu trùng giai đoạn L1 thoát khỏi trứng, sống tự do trong phân hoặc đất
và dinh dưỡng bằng các vi khuẩn hoặc các chất hữu cơ khác trong phân, đất Chúng phát triển thành ấu trùng giai đoạn L2 chưa có khả năng lây nhiễm Tới ngày thứ 5 sau khi nở, ấu trùng giai đoạn L2 phát triển thành ấu trùng giai đoạn L3 không dinh dưỡng và có khả năng xâm nhập vào vật chủ qua đường
da hoặc niêm mạc
Trang 20Khi tiếp xúc với người, ấu trùng xâm nhập qua da, thường ở các kẽ ngón chân hoặc ở cẳng chân và vùng mông, ấu trùng theo đường tĩnh mạch về tim phải Từ tim phải ấu trùng theo động mạch phổi tới phổi Tại phổi ấu trùng tiếp tục thay vỏ 2 lần nữa để trở thành ấu trùng giai đoạn L4 và L5 Tiếp theo, ấu trùng từ phế nang di chuyển theo các nhánh phế quản tới khí quản rồi lên vùng hầu họng và được nuốt xuống ruột Ấu trùng dừng lại tại tá tràng để
ký sinh và phát triển thành giun móc/mỏ trưởng thành (Hình 1.11)
Thời gian từ khi ấu trùng xâm nhập vào cơ thể người tới khi phát triển thành giun móc/mỏ trưởng thành mất khoảng 42–45 ngày Đời sống của giun
móc A duodenale kéo dài khoảng 4–5 năm, N americanus kéo dài khoảng
10–15 năm [6]
Hình 1.10 Vòng đời phát triển giun móc/mỏ [9]
Trang 211.2 Triệu chứng lâm sàng và tác hại của các bệnh giun truyền qua đất
1.2.1 Triệu trứng lâm sàng và tác hại của bệnh giun đũa
Khoảng 85% các trường hợp nhiễm giun đũa không có triệu chứng điển hình Triệu chứng thường gặp nhất là khó chịu ở bụng Các triệu chứng như hen suyễn, mất ngủ, đau mắt và phát ban gây ra do phản ứng dị ứng của vật chủ với chất bài tiết và dịch tiết của giun trưởng thành, cũng như xác giun chết Sự xâm nhập của ấu trùng ít gây hủy hoại niêm mạc ruột vật chủ Tuy nhiên, ấu trùng di hành đến lá lách, gan, hạch bạch huyết và não thường gây
ra phản ứng viêm Ngoài ra, ấu trùng đi vào các phế nang gây ra các nốt xuất huyết nhỏ kèm theo ho, sốt và khó thở Khi bị nhiễm ấu trùng với số lượng lớn có thể dẫn đến viêm phổi, có khả năng gây tử vong nếu ảnh hưởng đến
vùng phổi lớn [5]
Khi bị nhiễm với số lượng lớn giun trưởng thành đôi khi gây tắc ruột và giun trưởng thành xâm nhập vào thành ruột hoặc ruột thừa có thể gây xuất huyết cục bộ, viêm phúc mạc hoặc viêm ruột thừa Giun đũa ngoài chiếm đoạt chất dinh dưỡng, còn gây ra rối loạn các chức năng về tiêu hoá và dinh dưỡng, do làm tổn thương niêm mạc ruột tại vị trí ký sinh, chiếm vitamin, đặc biệt là vitamin A và D Do đó, làm ảnh hưởng đến thể lực, tuổi thọ của người bệnh, đặc biệt là làm giảm khả năng phát triển thể lực và trí lực của trẻ em Ở trẻ em hay gặp những triệu chứng: gầy còm, bụng chướng, biếng ăn, kinh giật, chảy nước bọt do chất độc của giun đũa gây ra gây nhiễm độc thần kinh Giun cái trưởng thành thậm chí có thể chui lên ống dẫn mật đến gan, gây áp
xe, hoặc xuống ống tụy, gây xuất huyết viêm tụy, thậm chí tử vong Nhiễm
nặng cũng gây mất cảm giác ngon miệng và không hấp thụ thức ăn [5]
1.2.2 Triệu chứng lâm sàng và tác hại của bệnh giun tóc
Hầu hết bệnh nhân không có triệu chứng lâm sàng Tuy nhiên, nhiễm bệnh mãn tính gây ra các triệu chứng đặc trưng như: phân lẫn máu, đau bụng dưới, giảm cân, sa trực tràng, buồn nôn và thiếu máu Trong trường hợp sa trực tràng, giun trưởng thành có thể quan sát bên ngoài thấy chúng cắm sâu vào niêm mạc trực tràng Thiếu máu chủ yếu là do xuất huyết khi giun xâm nhập vào thành ruột và giun hút máu vật chủ Trong trường hợp nhiễm nặng
Trang 22thường gây nhiễm khuẩn thứ cấp, là kết quả sự xâm nhập của giun ở niêm
mạc, mở đường cho vi khuẩn xâm nhập [5]
1.2.3 Triệu chứng lâm sàng và tác hại của bệnh giun móc/mỏ
Quá trình bệnh giun móc/mỏ ở người có thể được chia thành ba giai
đoạn: xâm nhập, di hành và ký sinh ở ruột
- Sự xâm nhập bắt đầu khi ấu trùng tiếp xúc với da người Mặc dù ít gây thiệt hại đối với các lớp da bề mặt, phản ứng tế bào của vật chủ được kích thích khi ấu trùng xâm nhập vào mạch máu có thể cô lập và tiêu diệt ấu trùng Kích thích tại chỗ ấu trùng xâm nhập, kết hợp với phản ứng viêm gây
ra tình trạng nổi mề đay, ngứa Nếu bị bội nhiễm vi khuẩn gây ra tình trạng lở loét da Các nốt mẩn đỏ có thể mất sau 1–2 ngày, nhưng có khi kéo dài 1–2 tuần Ở trẻ em do tái nhiễm và do trẻ ngứa gãi nên có thể dẫn tới lở loét, hoặc
thành các sẹo thâm đen, đôi khi trở thành eczema [5]
- Giai đoạn di hành là giai đoạn ấu trùng thoát ra khỏi các mao quản trong phổi, đi vào phế nang và lên phế quản đến cổ họng Sự di hành thường gây ho khan và đau họng Nếu nhiễm số lượng lớn ấu trùng có thể gây xuất huyết nghiêm trọng Ở những nơi tái nhiễm liên tục, một số ấu trùng giun
móc A duodenale có thể xâm nhập vào hệ cơ xương của vật chủ – ở đó
chúng không hoạt động, nhưng tiếp tục phát triển khi có điều kiện thuận lợi, như khi bệnh nhân mang thai Những ấu trùng này sau đó có thể xuất hiện
trong sữa mẹ và truyền sang cho con
- Giai đoạn giun ký sinh ở ruột vật chủ là giai đoạn nhiễm giun móc nghiêm trọng nhất Khi đến ruột non, giun non sử dụng nang miệng và răng
để đào qua niêm mạc ruột và bắt đầu hút máu mạnh mẽ Dịch tiết nước bọt của giun có chứa chất chống đông máu để tạo điều kiện cho việc hút máu Ước tính một con giun móc mỗi ngày hút 0,02–0,07 ml máu Nếu bị nhiễm hàng trăm con giun móc, lượng máu mất hàng ngày có thể tới 50–60 ml Mất
máu do A duodenale ước tính lớn gấp mười lần so với giun mỏ N
americanus Khi bị nhiễm hơn 75 giun mỏ hoặc 10 giun móc, ngay cả khi
40% chất sắt do giun hút được hấp thụ lại bởi vật chủ, vẫn gây bệnh thiếu máu do thiếu sắt, kèm theo đau bụng gián đoạn, chán ăn và thèm ăn đất Nhiễm nặng thường gây thiếu máu nghiêm trọng, thiếu protein, da và tóc
Trang 23khô, phù nề, bụng phình to (đặc biệt ở trẻ em), chậm phát triển, chậm dậy thì,
chậm phát triển trí tuệ, suy tim, thậm chí tử vong [5]
1.3 Chẩn đoán bệnh giun truyền qua đất
Dựa vào các yếu tố dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng để chẩn đoán [5, 6,
10]
1.3.1 Đặc điểm dịch tễ học
- Không sử dụng nhà tiêu hoặc sử dụng nhà tiêu không hợp vệ sinh
- Dùng phân tươi hoặc ủ chưa đủ thời gian để bón cây trồng
- Không thường xuyên đi giày, dép, ủng khi tiếp xúc với đất
- Không uống thuốc tẩy giun định kỳ
- Ăn uống không hợp vệ sinh, vệ sinh cá nhân và môi trường, nước sạch
1.3.2 Lâm sàng
Tùy từng trường hợp nhiễm GTQĐ và cường độ nhiễm, sức đề kháng
của cơ thể mà biểu hiện lâm sàng có thể rất khác nhau và không điển hình
- Các triệu chứng thiếu máu: da xanh, niêm mạc nhợt, hoa mắt chóng mặt
- Rối loạn tiêu hóa: buồn nôn, đau bụng, đi ngoài
1.3.3 Cận lâm sàng
Xét nghiệm phân tìm trứng giun được coi là “tiêu chuẩn vàng” và là phương pháp đơn giản, chính xác, rẻ tiền được áp dụng trong chẩn đoán bệnh GTQĐ Có nhiều kỹ thuật xét nghiệm phân như: xét nghiệm phân trực tiếp,
kỹ thuật Willis, Kato, Kato-Katz, Etherformalin đã được áp dụng
Tuy nhiên, hiện nay thường sử dụng kỹ thuật Kato-Katz để xét nghiệm
vì vừa có thể đánh giá được tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm [5, 6, 10]
Ngoài ra, còn có thể áp dụng một số xét nghiệm cận lâm sàng khác (siêu âm, chụp X-quang, xét nghiệm máu ), đặc biệt là trong các trường hợp
Trang 24nghi ngờ có biến chứng hoặc kiểm tra các chức năng liên quan khác của tình
trạng nhiễm GTQĐ [5, 6, 10]
1.4 Điều trị bệnh giun truyền qua đất
1.4.1 Các thuốc sử dụng để điều trị bệnh giun truyền qua đất
Hiện có nhiều loại thuốc điều trị bệnh GTQĐ đạt hiệu quả cao, không
có tác dụng phụ và có thể điều trị rộng rãi trong cộng đồng [5, 6] Trong đó,
hai nhóm thuốc điều trị bệnh GTQĐ thường được sử dụng nhất hiện nay là:
- Nhóm Benzimidazole: Mebendazole và Albendazole
- Nhóm Pyrimidin: pyrantel pamoate, oxantel
+ Albendazole 400mg, liều duy nhất
+ Mebendazole 500mg, liều duy nhất
- Nhiễm nặng hoặc nhiễm phối hợp
+ Albendazole 400 mg/ngày x 3 ngày + Mebendazole 500 mg/ngày x 3 ngày 1.5 Tình hình nghiên cứu bệnh giun truyền qua đất trên thế giới và ở việt nam
1.5.1 Tình hình nghiên cứu bệnh giun truyền qua đất trên thế giới
Bệnh GTQĐ phân bố ở nhiều nước trên thế giới, thường gặp ở các khu vực có điều kiện nước sạch và vệ sinh kém [3, 14] Mặc dù phổ biến nhất ở các nước thu nhập thấp và thu nhập trung bình, GTQĐ cũng xảy ra ở các
nước có thu nhập cao ở các nhóm dễ bị nhiễm [15, 16]
Bệnh giun đũa phổ biến trên thế giới, có mặt hầu hết các châu lục Ở những quốc gia đang phát triển, khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới, tình trạng
vệ sinh môi trường kém, sử dụng phân người trong trồng trọt thì tỷ lệ nhiễm
Trang 25giun đũa tăng cao hơn Giun tóc cũng phân bố rộng khắp trên thế giới với mức độ khác nhau tuỳ theo từng vùng Do tính chất sinh thái giống nhau giữa giun tóc và giun đũa nên các vùng có bệnh giun đũa đều có bệnh giun tóc Ở những khu vực nóng và ẩm thì có thể có tới 90% dân số bị nhiễm giun tóc và trở thành loài giun lây nhiễm hàng đầu tại đó [10] Bệnh giun móc/mỏ cũng
có mặt ở khắp nơi trên thế giới nhưng chủ yếu vẫn là ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới có khí hậu nóng và ẩm Theo Tổ chức Y tế thế giới, ước tính năm 1998 trên thế giới có 1,3 tỷ người bị nhiễm giun móc/mỏ, 150 triệu người bị bệnh và tử vong hàng năm do giun móc/mỏ lên tới 65.000 người [10] Ngược lại với bệnh giun đũa và giun tóc, tỷ lệ và cường độ nhiễm giun
móc cao nhất ở người lớn, mặc dù trẻ em cũng thường bị nhiễm Giun mỏ N
americanus phổ biến nhất, phân bố ở châu Phi cận Sahara, Châu Mỹ và Châu
Á, trong khi giun móc A duodenale tập trung ở vùng hẹp hơn Cả hai loài có
thể cùng tồn tại trong cùng một khu vực và nhiễm ở cùng một bệnh nhân [17,
18]
Tỷ lệ nhiễm GTQĐ khác nhau tuỳ từng vùng, từng khu vực và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như khí hậu, tập quán vệ sinh, tập quán canh tác, điều kiện kinh tế Tỷ lệ nhiễm giun móc và giun tóc rất khác nhau giữa và trong các khu vực [19] Trên toàn cầu, tỷ lệ nhiễm giun móc cao hơn nhiễm giun tóc; tuy nhiên, ở Mỹ Latinh và Caribbean, tỷ lệ nhiễm giun tóc dường như cao hơn nhiễm giun móc Cũng cần lưu ý rằng trong hai loài giun móc ở người,
loài A duodenale có phân bố hạn chế về mặt địa lý chủ yếu ở khu vực Châu Phi và Châu Á, trong khi giun mỏ N americanus phân bố phổ biến rộng [20] Nhiễm giun móc A ceylanicum ở người gần như chỉ được tìm thấy ở Đông
Nam Á [21] Ở châu Á, tỷ lệ nhiễm giun móc trung bình 7,5% (6,7-8,7%), giun tóc là 7,6% (6,6-8.7%), trong đó ở một số nước Đông Nam Á tỷ lệ nhiễm giun còn ở mức cao: tại Philippines có tỷ lệ nhiễm giun đũa, giun tóc, giun móc/mỏ lần lượt là 36,5%, 61,8% và 28,4% [22], tại Malaysia là 43,3%, 9,5%
và 13,1% [23] Châu Mỹ Latinh và Caribbean nhiễm giun móc là 5,2% 6,1%), giun tóc là 12,3% (11,3-13,7%) Ở các nước Châu Phi, do điều kiện sống thấp, vệ sinh môi trường kém, kinh tế kém phát triển cùng với khí hậu nóng ẩm là điều kiện thuận lợi cho giun phát triển, tỷ lệ nhiễm giun truyền qua đất thường cao Tỷ lệ nhiễm trung bình đối với giun móc là 13,6% (12,9-
Trang 26(4,4-14,6%), giun tóc là 11,6% (10,9-12,6%), ở một số vùng thuộc Nigeria lên tới
30,1% và 53,3% [24, 25]
Các nhóm dân số có nguy cơ mắc bệnh GTQĐ cao bao gồm trẻ em mẫu giáo (1-4 tuổi), trẻ em ở độ tuổi đi học (5-14) và phụ nữ trong độ tuổi sinh sản (15-49) [3, 26] Ước tính năm 2003, số người nhiễm giun đũa, giun tóc, giun móc trên toàn cầu tương ứng là 1221 triệu, 795 triệu, 740 triệu, trong số đó trẻ
em dưới 5 tuổi chiếm tỷ lệ đáng kể với số lượng nhiễm 3 loài giun tương ứng
là 122 triệu, 86 triệu, 21 triệu [26]
Tổng hợp các nghiên cứu trước năm 2004 cho thấy nhiễm GTQĐ ở trẻ
em ở các nước tương đối cao, khác nhau giữa các vùng địa lý, nhưng có thể tới 100% (Bảng 1)
Bảng 1.1 Tổng hợp một số nghiên cứu về giun truyền qua đất
[28]
Tanzania 467 0.5-6 40 68 51 Stoltzfus et al [34]
Madagascar 864 0-10 88 43 19 Kightlinger et al [40] South Africa 200 4-6 82 96 44 Taylor et al [41]
Các nghiên cứu gần đây ở một số nước cho thấy tỷ lệ nhiễm GTQĐ ở trẻ vẫn còn cao Kounnavong et al (2011) [44] nghiên cứu tỷ lệ nhiễm GTQĐ
Trang 27cũng như các yếu tố liên quan ở trẻ mẫu giáo (đến 60 tháng tuổi) ở miền nam Lào cho thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa, móc/mỏ và giun tóc tương ứng là 27,4%, 10,9% và 10,9% Trong số những đứa trẻ được nghiên cứu, 28,4% bị nhiễm một loài giun và 9,3% bị nhiễm hơn một loài giun Trẻ lớn hơn có nguy cơ nhiễm giun móc cao hơn và nhiễm nhiều loài hơn Điều kiện kinh tế xã hội thấp liên quan đến nhiễm GTQĐ Ở một số nước châu Á khác, đặc biệt là Đông Nam Á, tỷ lệ nhiễm GTQĐ ở trẻ em tại một số nước còn khá cao Ở Ấn
Độ, tỷ lệ trẻ học đường nhiễm giun đũa là 51,9%, giun móc/mỏ là 41,8% và giun tóc là 4,7% [45] Trẻ 1 - 5 tuổi ở Srilanka, tỷ lệ nhiễm giun đũa là 9,7% [46] Ở Manufahi Timor – Leste tỷ lệ trẻ em nhiễm giun đũa là 30% và giun móc/mỏ là 55,3% [47]
Điều tra GTQĐ ở trẻ trước tuổi đi học (PSAC) và trẻ đã đi học (SAC) tại Nairobi cho thấy trẻ trước tuổi đến trường có tỷ lệ nhiễm GTQĐ tương tự như trẻ đã đi học, vì vậy nên cần được tẩy giun [48] Trái lại, Alelign et al [49] nghiên cứu đánh giá tỷ lệ nhiễm GTQĐ và các yếu tố liên quan ở học sinh ở thị trấn Durbete, tây bắc Ethiopia cho thấy nhiễm GTQĐ phổ biến hơn
ở trẻ em trong độ tuổi đi học Giun móc được phát hiện với tỷ lệ cao nhất Tỷ
lệ nhiễm GTQĐ cao hơn ở trẻ em không thực hành đi giày và rửa tay trước
khi ăn
Ngangnang Ghislain et al [50] nghiên cứu mức độ nhiễm GTQĐ ở trẻ
em trong độ tuổi đi học ở Cameroon Kết quả cho thấy tỷ lệ hiện nhiễm thấp nhất ở lứa tuổi trường mầm non Giun đũa và giun tóc phổ biến nhất ở trường mầm non và Trung học cơ sở, trong khi giun móc phổ biến nhất ở bậc tiểu
học
Ethiopia là một nước Đông Phi có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu chậm phát triển, khả năng chăm sóc y tế và vệ sinh môi trường còn yếu, nghiên cứu năm 2016 thấy tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ ở trẻ em còn cao, tỷ lệ nhiễm ở trẻ 5 – 10 tuổi là 50% và trẻ 11- 15 tuổi là 45,1% [51] Đối với giun đũa và giun tóc, nghiên cứu năm 2017 trên nhóm trẻ dưới 5 tuổi thấy tỷ lệ nhiễm hai loài giun này lần lượt ở mức 10,8% và 1,4% [52] Trên nhóm trẻ 6 – 10 tuổi ở Nigeria có tỷ lệ nhiễm giun đũa là 34%, giun tóc là 32% và giun móc/mỏ là 1% [25] Oswald et al [53] xem xét mối liên quan giữa tỷ lệ hộ gia đình trong cộng đồng có sử dụng nhà tiêu và tỷ lệ nhiễm GTQĐ ở trẻ em
Trang 28trong độ tuổi đi học ở Ethiopia cho thấy tỷ lệ nhiễm giun móc, giun đũa và giun tóc tương ứng là 22%, 14% và 4%, nhưng không thấy mối liên hệ giữa
việc sử dụng nhà vệ sinh cộng đồng và tỷ lệ nhiễm nhiễm GTQĐ
Trái lại, Asfaw et al [54] nghiên cứu ở trẻ em trước tuổi đi học ở Ethiopia cho thấy phổ biến nhất là giun đũa, tiếp theo là giun tóc, và giun móc Hầu hết các trường hợp có cường độ nhiễm thấp, trong khi 15,1% trường hợp nhiễm giun đũa với cường độ nhiễm trung bình Ngoài ra, số liệu cho thấy 39,4% hộ gia đình sử dụng nước giếng đào thủ công; 52,5% xa nguồn nước, cần đi lại ≥30 phút để lấy nước; 77,5% không xử lý nước và 48,9% không có thiết bị rửa tay Gần 93% bà mẹ có kiến thức và thực hành trung bình về phòng ngừa GTQĐ Nghiên cứu của nhóm tác giả này ở miền nam Ethiopia cũng cho thấy tỷ lệ nhiễm GTQĐ thấp nhất ở trẻ trước tuổi đi học sống ở khu vực thành thị, ở những hộ gia đình có nguồn nước an toàn và
ở các hộ gia đình gần nguồn nước Trái lại, tỷ lệ nhiễm GTQĐ cao nhất trong nhóm trẻ từ các hộ gia đình không có thiết bị rửa tay, các hộ gia đình có nhà tiêu không sạch và trong số những trẻ được chăm sóc bởi những bà mẹ có
kiến thức thực hành thấp hơn về lây truyền GTQĐ [55]
Tương tự, Ryan et al [56] điều tra GTQĐ ở trẻ trong độ tuổi đi học ở Philippines, đánh giá mức độ nhận thức của họ về GTQĐ Kết quả cho thấy tỷ
lệ nhiễm ít nhất một loài giun là 19,40% - 25,99% Tất cả trẻ nhiễm giun móc
có cường độ nhiễm nhẹ, tỷ lệ nhiễm nặng là 7,11% đối với giun đũa và 1,67% đối với giun tóc Đa số trẻ em trong độ tuổi đi học có kiến thức thực hành
thấp
Tóm lại, GTQĐ có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và phát triển của trẻ
em, đặc biệt là trẻ trước tuổi đến trường Điều tra ở các nước trên thế giới cho thấy tỷ lệ nhiễm GTQĐ ở trẻ khác nhau giữa các vùng, ở những nước đang phát triển có điều kiện vệ sinh kém thì tỷ lệ nhiễm ở một số vùng đã từng lên tới 100% Những nghiên cứu gần đây ở một số nước cho thấy tỷ lệ nhiễm GTQĐ ở trẻ vẫn còn tương đối cao, kiến thức và thực hành phòng tránh
nhiễm GTQĐ ở một số nước nhìn chung là thấp
Trang 291.5.2 Tình hình nghiên cứu bệnh giun truyền qua đất ở Việt Nam
Việt Nam nằm ở khu vực nhiệt đới, có khí hậu nóng và ẩm là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của trứng các loại GTQĐ ở ngoại cảnh Mặt khác, đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, ý thức vệ sinh phòng bệnh còn hạn chế Nhiều vùng vẫn còn duy trì các tập quán canh tác, sinh hoạt lạc hậu, nhất là khu vực nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh còn thấp, thói quen phóng uế bừa bãi, là điều kiện thuận lợi để bệnh GTQĐ lan truyền rộng rãi trong cộng đồng Tỷ lệ và cường độ nhiễm GTQĐ cao, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng đặc biệt
là tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em và thiếu máu ở phụ nữ tuổi sinh sản [57,
58]
Trong những năm qua, đã có nhiều cuộc điều tra, nghiên cứu về tình hình bệnh GTQĐ, đặc biệt ở phụ nữa tuổi sinh sản và học sinh tiểu học, tại
nhiều vùng, miền trên cả nước cho thấy:
Bệnh giun đũa khá phổ biến, với tỷ lệ nhiễm cao Theo các điều tra của Hoàng Thị Kim và cs [59] tỷ lệ nhiễm phân bố không đều giữa các vùng: vùng đồng bằng tỷ lệ nhiễm cao hơn miền núi, do miền núi mật độ dân cư thưa hơn và nhiều vùng thường không dùng phân tươi để bón cây trồng Tỷ lệ nhiễm ở miền Bắc cao hơn ở miền Nam cũng do nguyên nhân miền Nam thường ít có tập quán sử dụng phân người để bón cây và có thể do trứng giun
ở đất chịu tác dụng của ánh nắng mặt trời nhiều hơn, nhiệt độ cao hơn nên dễ
bị hủy hoại hơn
- Miền Bắc: tỷ lệ nhiễm ở vùng đồng bằng 80-95%; vùng trung du: 80- 90%; vùng núi: 50-70%; vùng ven biển: 70%
- Miền Trung: vùng đồng bằng: 70,5%; miền núi: 38,4%; ven biển: 12,5%; Tây Nguyên: 10-25%
- Miền Nam: vùng đồng bằng: 45-60%
Tuy tỷ lệ nhiễm giun đũa cao nhưng cường độ nhiễm thấp, tại đa số các vùng điều tra số trứng trung bình trên một gam phân < 10.000 trứng Tình trạng nhiễm giun đũa phối hợp với nhiều loại giun khác khá phổ biến: 89% số
người nhiễm có từ 2 loại giun trở lên
Trang 30Nghiên cứu về nhiễm GTQĐ ở trẻ em, tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam, tỷ lệ dao động tùy theo địa điểm và thời gian nghiên cứu, thường dao động từ 5,7% đến 23,5%, nhưng có thể lên tới 62,8% ở Lào Cai [8, 60-64] Tại một số tỉnh miền Trung, tỷ lệ nhiễm cũng tương đối cao, dao động 15,1% đến 52,53% [65-67] Ở miền Nam, nghiên cứu ở trẻ em tại Kiên Giang và
Ninh Thuận cho thấy tỷ lệ nhiễm dao động từ 6,4% đến 22,1% [68, 69]
Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa và giun tóc cao hơn so với nhiễm giun móc [63, 64, 70] Một số nghiên cứu cho thấy không có sự
khác biệt về tỷ lệ nhiễm các loại GTQĐ giữa bé trai và bé gái [61, 62, 71]
Các nghiên cứu đều thông báo rằng phần lớn trẻ bị nhiễm 1 loài GTQĐ,
tỷ lệ thấp nhiễm phối hợp 2 loài và rất ít trẻ bị nhiễm cả 3 loài GTQĐ [63-65]
Các nghiên cứu cũng cho thấy đa số trẻ em bị nhiễm giun với cường độ nhiễm nhẹ, số ít nhiễm trùng bình và rất ít trẻ bị nhiễm cường độ nặng [63,
Trang 31Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Trẻ em 1 - 6 tuổi không phân biệt dân tộc, sinh sống trong địa bàn được
lựa chọn để nghiên cứu Bà mẹ của trẻ cũng tham gia vào nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: năm 2018
Địa điểm nghiên cứu: tại 03 xã Bản Giang, Bản Bo, Sơn Bình thuộc
huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu (Hình 2.1)
Hình 2.1 Địa điểm nghiên cứu thuộc 3 xã trên bản đồ huyện Tam
Đường, tỉnh Lai Châu 2.3 Nội dung nghiên cứu
- Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm GTQĐ ở trẻ em 1 – 6 tuổi tại 3 xã
thuộc huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu
- Điều tra thái độ phòng tránh nhiễm GTQĐ bởi bà mẹ tại địa điểm
nghiên cứu
Trang 32- Xác định các yếu tố liên quan đến nhiễm GTQĐ ở trẻ em tại địa điểm
nghiên cứu
2.4 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang về tình hình nhiễm GTQĐ ở trẻ em
2.4.1 Cỡ mẫu nghiên cứu
Cỡ mẫu được tính theo công thức của Tổ chức Y tế Thế giới [72]
n = Z 2
(1 - α/2) P (1 - P)
d2
Trong đó:
- n: là số mẫu nghiên cứu tối thiểu cần có
- p: là ước tính tỷ lệ nhiễm GTQĐ ở trẻ em tại thời điểm nghiên cứu
- d: là sai số cho phép, chọn d = 5% = 0,05
- Z2(1- α/2) là hệ số tin cậy, ứng với độ tin cậy 95% (α =0,05), ta có
Z2(1- α/2) = 1,96
Theo Báo cáo tổng kết công tác phòng chống bệnh ký sinh trùng tại
Việt Nam giai đoạn 2011-2016 của Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng
Trung ương [8] tỷ lệ nhiễm GTQĐ 25,0% Do vậy chúng tôi ước tính p =
0,25, thay vào công thức ta có:
n = Z 2 (1 - α/2) P (1 - P) = 1,962 0,25 x (1 - 0,25) = 288
d2 (0,05)2
Vậy số trẻ em tối thiểu để tham gia nghiên cứu tại 03 xã 3 xã: Bản Bo,
Bản Giang, Sơn Bình, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu là 288, làm tròn
bằng 300, mỗi xã kiểm tra ít nhất 100 em
2.4.2 Phương pháp chọn mẫu
Chọn chủ đích huyện Tam Đường, bốc thăm chọn 03 xã Bản Bo, Bản
Giang, Sơn Bình, tại mỗi xã lập danh sách trẻ em 1 – 6 tuổi, chọn ngẫu nhiên
dựa vào khoảng cách trên danh sách đã lập để lấy được ít nhất 300 em tham
gia nghiên cứu
Trang 332.5 Các kỹ thuật được sử dụng trong nghiên cứu
2.5.1 Kỹ thuật xét nghiệm phân
Sử dụng kỹ thuật xét nghiệm Kato-Katz theo tài liệu hướng dẫn của WHO [72] Về cơ bản đây là phương pháp Kato được Katz cải tiến năm 1972
để định lượng trứng giun trong mẫu phân bằng cách đong phân vào hố đong làm bằng plastic hay bìa carton Hố đong phân dày 1,5 mm chứa được 41,7
mg phân [72], phương pháp này có nhiều ưu điểm
- Thuận lợi, đơn giản hơn, nhanh hơn so với các kỹ thuật khác
- Kỹ thuật có độ chính xác cao, có thể áp dụng tại cộng đồng
- Định lượng được trứng giun trong mẫu phân
- Hẹn cha mẹ trẻ sáng hôm sau mang phân tới trạm y tế để làm xét nghiệm và phỏng vấn bộ câu hỏi KAP
Các dụng cụ sử dụng trong nghiên cứu:
- Lam kính có kích thước 2,5 x 7,5 cm
- Lọ đựng phân; Que tre dài 15 cm
- Giấy cellophane có kích thước 25 x 35 mm, được ngâm trong dung dịch xanh malachite 24 giờ (xanhmethylen 3%, 100ml glyxerin, 100
ml nước cất)
- Pank không mấu
- Giá đựng tiêu bản
- Bộ Kato-Katz gồm (lưới lọc bằng sắt không rỉ hoặc bằng nhựa có lỗ
250 μm, que gạt phân và hố đong)
- Găng tay, khẩu trang, bút viết kính, túi để rác
Trang 34- Kính hiển vi quang học
Quy trình xét nghiệm được tiến hành (hai tiêu bản) như sau:
- Dùng que tre lấy khoảng 150 mg phân, đặt lên giấy thấm hoặc giấy báo
- Đặt lưới lọc bằng thép không gỉ hay plastic có kích thước mắt lưới
250 µm lên trên mẫu phân (mục đích lọc phân), dùng pank và que tre đầu bằng, ấn nhẹ để phân đùn lên trên lưới, rồi gạt lấy phân cho vào lỗ tấm đong đặt sẵn trên lam kính Sau khi cho phân đầy lỗ đong, dùng que gạt ngang lỗ đong, cẩn thận nhấc tấm đong ra khỏi lam kính, ta được một lượng phân cần thiết trên tiêu bản
- Đặt một mảnh giấy cellophane có kích thước 25 x 35 mm lên mẫu phân Giấy cellophane đã được ngâm 24 giờ trong dung dịch hỗn hợp gồm xanh methylen 3%, 100 ml glycerin và 100 ml nước cất, dùng nút cao su ấn nhẹ cho phân dàn đều ra rìa của mảnh cellophan
- Để tiêu bản khô tự nhiên ở nhiệt độ phòng thí nghiệm sau 10 - 30 phút, nếu nhiệt độ 25○C, độ ẩm 70% thì để 20-30 phút rồi soi tiêu bản dưới kính hiển vi có độ phóng đại 10x, nếu trường hợp nghi ngờ thì xem ở vật kính độ phóng đại 40x
2.5.2 Kỹ thuật phỏng vấn, thu thập thông tin bộ câu hỏi KAP
Đối tượng là cha mẹ của trẻ đã mang mẫu phân của trẻ làm xét nghiệm
thì được phỏng vấn bộ câu hỏi KAP (phụ lục 1)
Các bà mẹ có trẻ đã lấy mẫu phân làm xét nghiệm, trường hợp mẹ trẻ
làm xa lâu ngày thì phỏng vấn bố của trẻ hoặc người trực tiếp chăm sóc trẻ
Dựa theo số trẻ lấy mẫu phân xét nghiệm để phỏng vẫn bà mẹ Số mẫu
có thể thấp hơn số mẫu trẻ xét nghiệm phân nếu trong gia đình có 2 - 3 trẻ
trong độ tuổi nghiên cứu đã lấy mẫu phân làm xét nghiệm
Phỏng vấn trực tiếp bà mẹ về:
- Đặc điểm chung về xã hội học: dân tộc, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, số con
Trang 35- Điều kiện sinh hoạt của hộ gia đình đối tượng nghiên cứu: nguồn nước, cách sử dụng nhà tiêu
- Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống nhiễm giun truyền qua đất của bà mẹ tại điểm nghiên cứu
- Kiến thức về phòng chống nhiễm GTQĐ của bà mẹ: mẹ có biết nguồn thông tin về bệnh giun, nguyên nhân nhiễm giun, tác hại của nhiễm giun, biết đối tượng hay bị nhiễm giun nhất, biết tên các loại giun, biết loại giun trẻ em hay bị nhiễm, biết cách phòng tránh nhiễm giun
- Thực hành phòng chống nhiễm GTQĐ của bà me: thời điểm rửa tay cho con, để con nghịch đất và mút tay, cắt móng tay cho con, cách rửa rau sống, mục đích sử dụng phân tươi, tẩy giun cho con
- Thái độ phòng chống GTQĐ của bà mẹ: có cần thiết tẩy giun cho trẻ không, có tự mua thuốc tẩy giun cho trẻ
- Sai số có thể gặp trong phỏng vấn kiến thức, thái độ, thực hành do ngôn ngữ bất đồng giữa người phỏng vấn và người được phỏng vấn Hạn chế sai số bằng cách chọn người địa phương là cán bộ y tế xã, y
tế thôn, huyện hoặc phụ nữ xã cùng đi phỏng vấn làm phiên dịch khi cần
- Tập huấn thành thạo các kỹ năng phỏng vấn và dùng từ ngữ đơn giản, dễ hiểu
2.5.3 Các chỉ số đánh giá trong nghiên cứu
Chỉ số đánh giá tỷ lệ nhiễm giun bằng xét nghiệm phân
Tổng số mẫu xét nghiệm dương tính
(1 loại, 2 loại hoặc 3 loại giun)
TL nhiễm giun (%) = x 100 (nhiễm chung) Tổng số trẻ được xét nghiệm
Tổng số trẻ nhiễm 1 loại giun
(giun đũa, giun tóc hoặc giun móc)
TL đơn nhiễm (%) = x 100 (nhiễm 1 loại giun) Tổng số trẻ nhiễm giun