Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức và lãnh đạo QĐNDVN là một tất yếu khách quan, là nguyên tắc cơ bản, quyết định nhất đối với sự nghiệp xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân Việt Nam. Trong quá trình xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, một nội dung then chốt, đồng thời là điều kiện cơ bản có ý nghĩa quyết định là phải thường xuyên chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị những người chịu trách nhiệm chính và trực tiếp hoạt động trên lĩnh vực tư tưởng và tổ chức của Đảng trong quân đội .
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức và lãnh đạo QĐNDVN là một tất yếu khách quan,
là nguyên tắc cơ bản, quyết định nhất đối với sự nghiệp xây dựng quân đội kiểu mới củagiai cấp công nhân Việt Nam Trong quá trình xây dựng quân đội vững mạnh về chínhtrị, một nội dung then chốt, đồng thời là điều kiện cơ bản có ý nghĩa quyết định là phảithường xuyên chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị - những người chịu tráchnhiệm chính và trực tiếp hoạt động trên lĩnh vực tư tưởng và tổ chức của Đảng trongquân đội
Đội ngũ CBCTPĐ là một bộ phận rất quan trọng trong đội ngũ cán bộ chính trị củaQĐNĐVN Thực tiễn xây dựng trưởng thành và chiến thắng của quân đội ta hơn nửathế kỷ qua đã khẳng định và chứng minh ý nghĩa to lớn và giá trị bền vững của tư tưởng
Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ chính trị viên Tư tưởng đó không chỉ đặt nền tảngdẫn đến sự ra đời của đột ngũ chính trị viên mà còn chỉ đạo xuyên suốt quá trình xâydựng, bảo đảm cho sự phát triển nhanh chóng và vững chắc của các thế hệ cán bộ chínhtrị, ngay cả trong những điều kiện thử thách nặng nề, nghiêm trọng nhất của chiến tranhcách mạng Hình ảnh chính trị viên “Bộ đội Cụ Hồ” trong các cuộc kháng chiến đã inđậm, khắc sâu trong tư tưởng, tình cảm bộ đội và nhân dân ta, trở thành những giá trị tốtđẹp mà hôm nay chúng ta cần trân trọng và phát huy
Trong tình hình hiện nay, cuộc đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp trên mặt trậnchính trị, tư tưởng ngày càng gay go quyết liệt và phức tạp; nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc cóbước phát triển mới và hết sức nặng nề; phương hướng xây dựng quân đội cách mạng,chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại trên cơ sở vững mạnh về chính trị đã và đangđặt ra những yêu cầu rất cao, rất bức thiết về chất lượng toàn diện của đội ngũ CBCTPĐ
- lực lượng nòng cốt trong xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố trận địa tư tưởng, xâydựng tổ chức, xây dựng con người ở đơn vị cơ sở Song, đội ngũ cán bộ chính trị nóichung, đội ngũ CBCTPĐ nói riêng chưa ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ mới Xét trêntổng thể, đội ngũ CBCTPĐ đã mỏng lại luôn trong trạng thái thiếu hụt; cơ cấu còn nhiềubất cập và đặc biệt là chất lượng còn có khoảng cách khá xa so với đòi hỏi của tình hìnhnhiệm vụ Trong những năm gần đây công tác xây dựng đội ngũ CBCTPĐ tuy có đượccoi trọng hơn, nhưng nhìn chung các giải pháp xây dựng đội ngũ CBCTPĐ còn thiếuđồng bộ, kiên quyết, chưa có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa công tác tư tưởng với côngtác tổ chức và chính sách Quy trình tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng và
Trang 2phát triển của cán bộ chính trị nói chung, CBCTPĐ nói riêng còn có điểm chưa hợp lýnhưng chậm được nghiên cứu để bổ sung sửa đổi.
Để kế thừa và phát huy những truyền thống, kinh nghiệm xây dựng đội ngũ chính trị
viên trước đây và kịp thời khắc phục những hạn chế, bất cập của đội ngũ CBCTPĐ
hiện nay đòi hỏi phải đi sâu nghiên cứu lý luận và thực tiễn một cách toàn diện, đặc biệt
là tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ chính trị viên Trên cơ sở đó làm sáng tỏnhững tài học kinh nghiệm và lý giải kịp thời những nguyên nhân dẫn đến sự hạn chếcủa đội ngũ CBCTPĐ trong thời gian qua; đề ra những giải pháp phù hợp làm cơ sởkhoa học cho xây dựng đội ngũ CBCTPĐ hiện nay, nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình
và nhiệm vụ trong thời kỳ mới
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, tư tưởng Hồ Chí Minh được các cấp, các ngành và nhiềunhà khoa học dầy công nghiên cứu Vấn đề xây dựng, củng cố kiện toàn đội ngũ cán bộchính trị cũng được đề cập đến trong nhiều cuộc hội thảo, với nhiều bài viết của cácđồng chí lãnh đạo cùng các nhà khoa học trong và ngoài quân đội Có nhiều công trìnhnghiên cứu có giá trị: "Nâng cao chất lượng đội ngũ phó trung đoàn trưởng về chính trịcủa quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ mới", luận án tiến sĩ của Vũ Quang Đạo;
"Nâng cao chất lượng người cán bộ chính trị phân đội trong giai đoạn hiện nay theo tư
tưởng Hồ Chí Minh", luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Hiệp; "xây dựng đội ngũ cán bộ
chính trị phân đội của quân đội ta giai đoạn hiện nay", luận văn thạc sĩ của Nguyễn TiếnQuốc Tuy nhiên do đối tượng và phạm vi đề cập nên các đề tài chưa đi sâu nghiên cứumột cách toàn diện những vấn đề có liên quan đến xây dựng đội ngũ CBCTPĐ Quátrình xây dựng đội ngũ CBCTPĐ qua các thời kỳ cách mạng cũng chưa được tổng kết
để tìm ra những bài học kinh nghiệm Việc xác định phương hướng và giải pháp để xâydựng đội ngũ CBCTPĐ trước tình hình và nhiệm vụ mới còn nhiều điểm hoặc chưađược làm sáng tỏ, hoặc chưa đi đến thống nhất Cho đến nay chưa có một đề tài nàonghiên cứu có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ chính trị viên, làm
cơ sở cho quán triệt và thực hiện chiến lược cán bộ trong thời kỳ mới vào xây dựng độingũ CBCTPĐ của QĐNDVN
3 Mục đích, nhiệm vụ đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án
Mục đích:
Trên cơ sở nghiên cứu luận giải, làm sáng tỏ tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng độingũ chính trị viên và việc quán triệt vận dụng tư tưởng đó qua các thời kỳ cách mạng,
Trang 3luận án phân tích luận chứng một cách khoa học phương hướng và những giải pháp cơbản để xây dựng đội ngũ CBCTPĐ giai đoạn hiện nay, góp phần xây dựng lực lượng vũtrang về chính trị trong thời kỳ mới.
- Đề xuất phương hướng và những giải pháp cơ bản xây dựng đội ngũ CBCTPĐ đápứng yêu cầu nhiệm vụ mới
Đối tượng nghiên cứu:
Xây dựng đội ngũ CBCTPĐ hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh là đối tượng nghiêncứu của luận án
Phạm vi nghiên cứu:
Để tài tập trung nghiên cứu công tác xây dựng đội ngũ CBCTPĐ chủ yếu ở các đơn
vị thuộc binh chủng hợp thành trong quân đội; phân tích thực trạng trong phạm vi thờigian từ 1996 đến 2001, nhưng chủ yếu là từ khi có Nghị quyết 94 của ĐUQSTW, từ
1998 đến nay
4 Những đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án góp phần làm sáng tỏ cơ sở hình thành phát triển và những nội dung cơ bảncủa tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ chính trị viên
- Bước đầu làm rõ kinh nghiệm xây dựng đội ngũ CBCTPĐ qua các thời kỳ cáchmạng và những vấn đề đặt ra với công tác xây dựng đội ngũ này trước tình hình nhiệm
vụ mới
- Đề xuất những giải pháp cơ bản xây dựng đội ngũ CBCI'PĐ của QĐNDVN tronggiai đoạn hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về chính trị, về cán bộ, về công tác cán bộ, về xâydựng quân đội cách mạng của giai cấp công nhân là thế giới quan và phương pháp luậnkhoa học để nghiên cứu đề tài
Trang 4Các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh, trực tiếp là những nội dung về xây dựng đảng,xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng đội ngũ cán bộ là những căn cứ quan trọng địnhhướng cho nghiên cứu.
Các văn kiện nghị quyết của Đảng, Nhà nước, nghị quyết của ĐUQSTW, chỉ thịhướng dẫn, báo cáo tổng kết của Bộ Quốc phòng, TCCT, của các cơ quan chức năng vềcán bộ và công tác cán bộ là những tài liệu cơ bản - chỗ dựa vững chắc của đề tài
Đề tài sử dụng và kết hợp chặt chẽ các phương pháp lôgíc với phương pháp lịch sử,gắn chặt giữa nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn đồng thời còn sử dụng phươngpháp toạ đàm trao đổi, quan sát, điều tra, so sánh, phương pháp chuyên gia
6 Ý nghĩa lý luận và thực liễn của luận án
- Đề tài góp phần cung cấp một số luận cứ khoa học cho các cấp, các ngành và cơquan chức năng trong xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị nói chung, trực tiếp là đội ngũCBCTPĐ trong giai đoạn hiện nay
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiêncứu, giảng dạy, học tập trong các nhà trường quân đội
7 Kết cấu của luận án
Luận án gồm: Phần mở đầu, 3 chương (6 tiết), danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH SOI SÁNG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHÍNH TRỊ PHÂN ĐỘI CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM 1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ chính trị viên - cơ sở hình thành phát triển và những nội dung cơ bản
CBCTPĐ (chữ dùng của Hồ Chí Mình là chính trị viên) là người chủ trì về CTĐ,CTCT, đảm nhiệm chuyên sâu công tác tư tưởng, công tác tổ chức ở các tiểu đoàn, đạiđội và đơn vị tương đương trong QĐNĐVN Quá trình xây dựng, trưởng thành và chiếnthắng của Quân đội ta hơn nửa thế kỷ qua đã khẳng định, chứng minh vai trò nổi bật củanhững người chịu trách nhiệm chính và trực tiếp hoạt động trên lĩnh vực tư tưởng, tổchức của Đảng trong các phân đội vũ trang cách mạng Hình ảnh chính trị viên "Bộ đội
Cụ Hồ" trong các cuộc kháng chiến đã in đậm, khắc sâu trong tư tưởng, tình cảm của bộđội và nhân dân ta, trở thành những biểu tượng cao đẹp về lòng nhân ái, đức hy sinh vàtinh thần chiến đấu quên mình cho sự nghiệp cách mạng Vì vậy, đi sâu nghiên cứu tưtưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ chính trị viên làm cơ sở cho quán triệt và vận
Trang 5dụng vào xây dựng đội ngũ CBCTPĐ trong giai đoạn hiện nay là việc làm có ý nghĩathiết thực về lý luận và thực tiễn.
1.1.1 Cơ sở hình thành, phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ chính trị viên
Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ: mọi học thuyết, tư tưởng trong xãhội bao giờ cũng có nguồn gốc, cơ sở hình thành, phát triển của nó Việc xác định đúngnguồn gốc nói chung, cơ sở lý luận - tư tưởng nói riêng đối với sự hình thành, phát triển
tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ chính trị viên là vấn đề có ý nghĩa quantrọng Đó chính là cơ sở, điều kiện giúp ta hiểu rõ bản chất, nội dung tư tưởng Hồ ChíMinh đồng thời thấy được sự phát triển sáng tạo của Người trong tiếp thu, kế thừa cáchọc thuyết, tư tưởng khác Nghiên cứu nguồn gốc nói chung, cơ sở lý luận tư tưởng nóiriêng đối với sự hình thành phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ chínhtrị viên có thể chỉ ra những điểm sau:
Thứ nhất: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ chính trị viên là kết qủa của
quá trình nghiên có và vận dụng đúng đắn, sáng tạo lý luận chú nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện Việt Nam
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin xem xét vấn đề chiến tranh, quân độitrong mối quan hệ chặt chẽ với chính trị và giai cấp Quân đội xuất hiện, tồn tại gắn liềnvới chính trị, bị chi phối bởi chính trị, phụ thuộc vào chính trị và trở thành lực lượngchính trị đặc biệt của nhà nước để tiến hành đấu tranh vũ trang, nhằm thực hiện đườnglối chính trị của một giai cấp nhất định Lênin còn chỉ ra những nguyên lý xây dựngquân đội kiểu mới của giai cấp vô sản: xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sảncần đặc biệt chăm lo xây dựng quân đội về chính trị, nhất là củng cố tăng cường bảnchất giai cấp công nhân; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quânđội; thiết lập mối quan hệ máu thịt với nhân dân, thấm nhuần chủ nghĩa yêu nước, chủnghĩa quốc tế vô sản chân chính; tiến hành tích cực, thường xuyên có hiệu quả hoạtđộng CTĐ, CTCT; Chăm lo xây dựng và phát huy tốt vai trò của hệ thống cán bộ chínhtrị trong quân đội Đây cũng là những quan điểm cơ bản được Hồ Chí Minh tiếp thu vàvận dụng đúng đắn, sáng tạo Đến với chủ nghĩa Mác-lênin, Hồ Chí Minh còn tiếp thuđược “phương pháp làm việc biện chứng” Phương pháp đó đã giúp cho Hồ Chí Minhxem xét, đánh giá đúng những giá trị của truyền thống văn hoá dân tộc và tinh hoa vănhoá nhân loại; xem xét và giải quyết đúng đắn các mối quan hệ giữa chính trị và quânsự; giữa chính trị viên "với bộ đội, với nhân dân và đối với quân địch"
Trang 6Quá trình tiếp thu, vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin của Hồ Chí Minh bao giờcũng gắn liền với hoạt động thực tiễn, từ yêu cầu của thực tiễn Trên cơ sở đó, Hồ ChíMinh đã có bước phát triển mới, làm phong phú thêm lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin từhình mẫu cán bộ chính trị đến vai trò, nhiệm vụ và con đường biện pháp xây dựng, làmcho đội ngũ này được hình thành trên thực tế phù hợp với điều kiện hoàn cảnh ViệtNam Người cán bộ chính trị theo Hồ Chí Minh vừa có những phẩm chất chung của
người đảng viên cộng sản trong thời đại mới vừa có những đức tính tốt đẹp thực sự tiêu
biểu cho cốt cách của con người phương Đông Hồ Chí Minh khẳng định: “Nói chungthì các dân tộc phương Đông đều giầu tình cảm, và đối với họ một tấm gương sáng còn
có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” [53, 262] Trong mối quan hệ giữacán bộ chính trị với chiến sĩ không chỉ có tình đoàn kết của những người cùng giai cấp,
mà còn có nghĩa tình sâu nặng như những người thân thiết trong một gia đình Ngườicán bộ chính trị được coi như người chị, người anh, người bạn của đội viên Cũng giốngnhư Lênin, Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò, vị trí của đội ngũ chính uỷ, chính trịviên trong xây dựng Quân đội cách mạng; song Người còn nhấn mạnh tầm quan trọngcủa đội ngũ này trong tuyên truyền giác ngộ quần chúng, tham gia xây dựng cơ sở chínhtrị của cách mạng Trung thành với những quan điểm, nguyên tắc của Lênin trong xâydựng đội ngũ cán bộ, Hồ Chí Minh còn đặc biệt coi trọng đến tính khoa học và nghệthuật trên tất cả các khâu, các bước của công tác cán bộ Về biện pháp, cách thức xâydựng đội ngũ cán bộ cách mạng nóí chung cán bộ chính trị của quân đội nói riêng,Người luôn nhắc nhở phải "khéo đánh giá", "khéo tuyển chọn", “khéo huấn luyện",
"khéo cất nhắc", "khéo sắp xếp", “khéo dùng tài năng” v.v Chính vì vậy mà công táccán bộ vừa giữ được nguyên tắc, vừa bảo đảm được hiệu quả trên thực tế, phù hợp vớiđặc điểm tâm lý con người phương Đông Đội ngũ cán bộ chính trị của QĐNĐVN ngay
từ khi mới ra đời đã từng bước trưởng thành và phát triển vững chắc là bằng chứng sinhđộng, phản ánh tính đúng đắn, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong vận dụng, bổsung, phát triển lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin cho phù hợp với điều kiện cụ thể ở ViệtNam một nước vốn là thuộc địa nửa phong kiến, giai cấp công nhân còn nhỏ bé, lựclượng vũ trang đi từ không đến có, từ nhỏ đến lớn
Thứ hai: Tư tưởng Hồ Chí Minhvrề xây dựng đội ngũ chính trị viên còn là kết quả
của quá trình nghiên cứu, tiếp thu và phát triển những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hoá dân tộc, nổi bật chủ nghĩa yêu nước, lòng nhân ái Việt Nam.
Trang 7Là một người thông minh, hiếu học, lại có tình cảm sâu nặng với đất nước và conngười Việt Nam, Hồ Chí Minh rất chú trọng nghiên cứu, tìm hiểu về truyền thống vănhoá của dân tộc, nhất là chủ nghĩa yêu nước và lòng nhân ái Việt Nam Tư tưởng củaNgười về xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung, đội ngũ cán bộ chính trị củaquân đội nói riêng đã thể hiện một bản lĩnh thâu hoá và tiếp biến rất sáng tạo, rất độcđáo những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hoá của dân tộc Người cán bộ cáchmạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh, không chỉ là hiện thân của chủ nghĩa yêu nước truyềnthống mà còn là biểu tượng cho trí tuệ, lương tâm, danh dự của dân tộc Việt Nam trongthời đại mới Những phẩm chất, đức tính tiêu biểu cho tâm hồn khí phách của dân tộcViệt Nam trong chiến đấu, lao động và học tập được quy tụ ở người chính trị viên:
"Chính trị viên phải làm người kiểu mẫu trong mọi việc" [68, 393] Yêu nước, thươngdân và "sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của tổ quốc, vì CNXH" là động lực
tư tưởng, tình cảm chi phối mọi suy nghĩ và hành động của người cán bộ chính trị trongquân đội cách mạng Nền tảng của chủ nghĩa nhân văn, giá trị tinh thần truyền thốngcủa dân tộc ta là sự hoà đồng, hoà mục với lòng yêu thương và tinh thần đoàn kết rấtcao Kế thừa những giá trị do Hồ Chí Minh căn dặn chính trị viên phải “là linh hồn củađội”, là hạt nhân đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân Người nhắc nhở cán bộ chính trịphải sâu sát, gắn bó với bộ đội, “đối với binh sĩ, thì từ lời ăn tiếng nói, niềm vui, nỗibuồn, quần áo, nhất nhất phải biết rõ và hết sức chăm nom" [67- 480] Trong truyềnthống dựng nước và giữ nước, nhân dân ta luôn coi trọng làm việc thiện, gắn liền vớichống cái ác Tiếp thu tinh thần đó, Hồ Chí Minh thường yêu cầu người chính trị viên:trước quân địch phải có thái độ kiên quyết, luôn tỉnh táo, cảnh giác, "biết cách tuyêntruyền khôn khéo, thiết thực, để giác ngộ họ, lôi kéo họ về phía ta” [68, 393]; và phải cólòng nhân ái, khoan dung, độ lượng, thực hiện chính sách nhân đạo đối với tù binh “để
tỏ cho thế giới biết ta là một dân tộc văn minh” [62, 418]
Hồ Chi Minh luôn đề cao những tinh hoa văn hoá của dân tộc đã được kết đọng lại ởnhững tư tưởng lớn, nổi bật là tư tưởng của Nguyễn Trãi Nguyễn Trãi rất coi trọng xâydựng mối quan hệ nội bộ trong quân đội “tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chénrượu ngọt ngào”, Trong “Thư gửi Hội nghị chính trị viên” Hồ Chí Minh ân cần chỉ bảo:
“Đối với bộ đội, chính trị viên phải thân thiết như một người chị, công bình như mộtngười anh, hiểu biết như một người bạn” [68, 392] Nguyễn Trãi không chỉ giáo dụclòng tự hoà dân tộc mà còn thường xuyên giáo dục cho tướng sĩ trong quân đội hiểuđược sức mạnh to lớn của nhân dân Theo Nguyễn Trãi: “đẩy thuyền là dân, lật thuyền
Trang 8cũng là dân” Với nhân dân, Hồ Chí Minh còn dành cho tình cảm cao quý và niềm tinyêu sâu sắc hơn: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không
gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” [84, 276] Trong “Thư gửi hội nghịchính trị viên”, Người viết: “Nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội Chính trị viênphải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu bộ đội Phải làm sao cho bộ đội được dân tin,dân phục, dân yêu” [68, 393]
Thứ ba: Quá trình hình thành, phát triển những quan điểm về xây dựng đội ngũ cán
bộ cách mạng nói chung, đội ngũ chính trị viên của quân đội ta nói riêng, Hồ Chí Minh luôn có thái độ đúng đắn và phương pháp khoa học trong nghiên cứu các trào lưu tư tưởng từ nhiều ngọn nguồn khác nhau của nhân loại và tiếp thu những nhân tố có giá trị ở các tư tưởng đó.
Nghiên cứu về Khổng Tử, Hồ Chí Minh viết “Khổng Tử sống ở thời chiến quốc Đạođức của ông, học vấn của ông và những kiến thức của ông làm cho những người cùngthời và hậu thế phải cảm phục” [56,452] Hồ Chí Minh tìm thấy trong mô hình conngười lý tưởng theo tư tưởng Khổng - Mạnh chứa đựng những nhân tố hợp lý, tiêu biểucho cốt cách phương Đông, tập trung trong các phẩm chất đạo đức Khổng Tử nói “quân
tử đạt giả tam” (người quân tử phải đạt ba điều: nhân, trí, dũng) Theo quan điểm Khổng
- Mạnh, có nhân, có trí, có dũng giúp cho người quân tử đạt được phong thái ung dung
tự tại, không ham tiền tài, danh vị Tiếp thu tinh thần trên, khi bàn về đạo đức người cán
bộ cách mạng, Hồ Chí Minh nói: Người cách mạng phải khiêm tốn, khoan hoà, lượngthứ, can đảm khi sa cơ, bình tĩnh khi thắng thế, không ham giầu sang, không e cực khổ,không sợ oai quyền Theo Khổng Tử, để thực hiện điều nhân, trí, dũng, người quân tửphải "khắc phục kỷ lễ", nghĩa là phải nghiêm khắc với bản thân mình để tuân theo điều
lễ Hồ Chí Minh khái quát nhân cách người cán bộ cách mạng ở hai mặt "đức", “tài" vàcũng luôn đòi hỏi người cán bộ phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức ở mọilúc mọi nơi Những khái niệm "trung", "hiếu', "nhân", "nghĩa", "dũng" của Nho giáođược Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng với ý nghĩa, nội dung mới, hướng tới sự nghiệpchung, cho Tổ quốc, nhân dân và nhân loại Nếu ở người quân tử theo tư tưởng KhổngMạnh, dân là đối tượng để chăn dắt; thì ở người cán bộ cách mạng theo tư tưởng Hồ ChíMinh, dân là đối tượng phục vụ với thái độ thành kính: "trong xã hội không có gì tốtđẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân [85, 276]
Ngoài tư tưởng của Nho giáo, Hồ Chí Minh còn nghiên cứu những tư tưởng của Phậtgiáo Theo Hồ Chí Minh "Đức Phật là đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn" [65, 197] Nghiên
Trang 9cứu tôn giáo của Giê su, Người thấy: "Tôn giáo của Giê su có ưu điểm là lòng nhân áicao cả" Người chính trị viên trong tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là người có lòng nhân áicao cả Tuy vậy, những tư tưởng trong các tôn giáo chỉ khuyên con người làm điều thiệnnhưng chưa chỉ ra phương hướng đấu tranh chống cái ác; hướng con người lên thiênđường nhưng lại lờ đi những lo toan, vất vả của con người trong thực tại; xem conngười là trung tâm nhưng lại đề cao thần thánh, tuyệt đối hoá vai trò của cá nhân Chínhtrị viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh là người giàu lòng nhân ái, bao dung, nhân từ, độlượng, nhưng đó là sự khoan dung có nguyên tắc theo hướng tích cực, cùng với mọingười đấu tranh không mệt mỏi vì tự do, bình đẳng thực sự và hạnh phúc trọn vẹn củanhân dân, mà trước hết là những người lao động.
Hồ Chí Minh luôn để cao tư tường của Tôn Tử và Khổng Minh về dùng binh và dùngngười Trong tác phẩm “Binh pháp Tôn Tử” Hồ Chí Minh viết: "Chiến tranh về mặt vănhoá, hay tư tưởng so với những mặt khác cũng không kém phần quan trọng Mục đíchcủa nó là làm ly gián quân địch, làm nhụt ý chí chiến đấu của bên địch" do đó "phải vậndụng phương pháp tuyên truyền cho địch quân trước quân sau không đồng lòng, trêndưới, không bảo được nhau, không muốn tập trung, không cứu giúp nhau trong khinguy hiểm" [61, 319-320] Trong "Thư gửi hội nghị chính trị viên" Hồ Chí Minh căndặn: "Đối với quân địch, gồm cả binh lính Pháp cùng những người ngoại quốc và ngườiViệt Nam trong quân đội Pháp, chính trị viên phải biết cách tuyên truyền khôn khéothiết thực để giác ngộ họ, lôi kéo họ về phía ta" [68, 393]
Không chỉ nghiên cứu, tiếp thu tinh hoa văn hoá phương Đông, Hồ Chí Minh cònnghiên cứu, tiếp thu những tư tưởng về nhân đạo, nhân quyền, dân chủ, tự do, bìnhđẳng, bác ái trong các trào lưu triết học và văn học nghệ thuật phương Tây Những yếu
tố này chiếm vị trí như thế nào đối với sự hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh
về xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị còn là vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu Tuynhiên, điều dễ nhận thấy trong hình mẫu người chính trị viên của QĐNDVN theo tưtưởng Hồ Chí Minh những phẩm chất đặc trưng cho cốt cách của người phương Đông
đã được hoà quyện với những phẩm chất tiêu biểu của người phương Tây: biết quan tâmđến công việc trong thực tế hàng ngày, thẳng thắn, trung thực trong đấu tranh tự phêbình và phê bình; có ý thức tổ chức kỷ luật cao, tôn trọng công bằng lẽ phải, thưởngphạt nghiêm minh Chủ tịch Hồ Chí Minh khuyên cán bộ chính trị: "Thấy việc phải thìlàm, thấy việc phải thì nói Không sợ người ta phê bình mình, mà phê bình người khác
Trang 10cũng luôn luôn đúng đắn" [63, 252]; "Khen thưởng người tốt, trừng phạt người xấucũng là trách nhiệm của chính trị viên [68, 392].
Như vậy, nghiên cứu cơ sở hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựngđội ngũ chính trị viên, nhận thấy chủ nghĩa Mác - Lênin là nguồn gốc cơ bản quyết địnhđến bản chất giai cấp, nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác -Lênin, truyền thống văn hoá dân tộc và tinh hoa nhân loại không tác động riêng rẽ màtác động trong mối quan hệ biện chứng, thông qua sự thâu hoá, tiếp biến rất sáng tạocủa Hồ Chí Minh trước đòi hỏi của thực tiễn đấu tranh cách mạng ở Việt Nam, nhằmgóp phần xây dựng lực lượng vũ trang QĐND vững mạnh về chính trị, đủ sức hoànthành thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó
1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đội ngũ chính trị viên và nội dung biện pháp xây dựng đội ngũ chính trị viên
Cán bộ chính trị gắn liền với lĩnh vực chính trị, đấu tranh chính trị Lênin đã kháiquát: "Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu nókhông đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểutiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào" [40, 473] Lịch sử ra đời,phát triển của quân đội trên thế giới cho thấy, bất cứ giai cấp Nhà nước nào khi tổ chức
ra quân đội cũng đều chú trọng xây dựng đội ngũ lãnh đạo, chỉ huy nhằm làm cho quânđội ấy phục tùng và bảo vệ quyền lợi chính trị, kinh tế của giai cấp mình Tuy vậy, chỉ
từ khi quân đội kiểu mới, quân đội của giai cấp vô sản ra đời thì trong hệ thống lãnh đạochỉ huy mới có một loại cán bộ đặc thù - đội ngũ chính uỷ, chính trị viên Lênin, lãnh tụ
vĩ đại của giai cấp vô sản toàn thế giới, người sáng lập, lãnh đạo giáo dục và rèn luyệnHồng quân công nông - quân đội kiểu mới đầu tiên của giai cấp vô sản đã khẳng định:
"Không có các chính uỷ chúng ta sẽ không có Hồng quân" [41, 179] Theo Lênin, độingũ chính uỷ, chính trị viên trong Hồng quân công nông chẳng những là người đại biểuthực sự và trực tiếp của chính quyền Xôviết mà trước hết là những người nắm vững vàkiên định tinh thần của Đảng, thể hiện tính kỷ luật tính kiên quyết trong cuộc đấu tranhnhằm thực hiện mục đích đã định Thấu hiểu những bài học kinh nghiệm trong xâydựng Hồng Quân công nông, đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, xuất phát
từ điều kiện của một nước thuộc địa nửa phong kiến, Hồ Chí Minh đã phát triển làmphong phú thêm lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về đội ngũ cán bộ chính trị của quân độicách mạng Tư tưởng Hồ Chí Minh về đội ngũ chính trị viên hàm chứa nhiều vấn đề sâu
sắc, với những luận điểm chủ yếu sau :
Trang 11Thứ nhất: Đội ngũ chính trị viên là một bộ phận cán bộ chính trị của Đảng Cộng
sản Việt Nam, đó là những cán bộ, đảng viên tiêu biểu được tổ chức lựa chọn làm đại biểu của Đảng bên cạnh người chỉ huy trong các phân đội vũ trang cách mạng.
Để xây dựng quân đội kiểu mới ở Việt Nam, ngay từ những ngày đầu của cách mạngChủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã đặc biệt quan tâm đến xây dựng đội ngũ cán bộchính trị trong những tổ chức mầm mống của lực lượng vũ trang cách mạng Trong
"Nghị quyết về đội tự vệ" Đảng đã chủ trương "đem những đảng viên và đoàn viêncương quyết nhất vào tự vệ và các cấp bộ chỉ huy của tự vệ" để luôn luôn giữ vững
"quyền chỉ huy nghiêm ngặt của Đảng trong tự vệ thường trực" [19, 118] và mỗi trungđội, đại đội bên cạnh người chánh đội trưởng, phó đội trưởng có một đại biểu của Đảngcùng chỉ huy Trong cuốn "Chiến thuật du kích" Hồ Chi Minh xác định: về mặt chính trịcấp nào cũng có một người chính trị phái viên do đoàn thể cách mạng chọn trong bộ đội
ấy hoặc phái người ngoài đến làm" [58, 472] Từ đó đến nay, ở các đơn vị trong lựclượng vũ trang cách mạng (lúc đầu từ cấp trung đội, sau là từ cấp đại đội trở lên) bêncạnh người chỉ huy quân sự bao giờ cũng có người cán bộ chính trị - người tiêu biểu chođường lối chính trị, quân sự của Đảng; được tổ chức Đảng lựa chọn và giao nhiệm vụchịu trách nhiệm chủ yếu trước Đảng về bản chất cách mạng của phân đội vũ trang màmình được phân công đảm nhiệm Trong các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh cán bộchính trị trong các phân đội vũ trang cách mạng được gọị là chính trị phái viên" "chínhtrị chỉ đạo viên" và sau đó là "chính trị viên" Bởi vì theo Người, đội ngũ này là một bộphận cán bộ chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực sự tiêu biểu cho ngọn cờchính trị, tư tưởng của Đảng, vững vàng trên lập trường giai cấp công nhân, thấu suốt vàkiên định chủ nghĩa Mác-lênin, kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH Làđại biểu của Đảng bên cạnh người chỉ huy, hơn ai hết, họ là người giữ nghiêm kỷ luậtĐảng, nắm vững và thực hiện tốt các nguyên tắc của Đảng, thật sự tiêu biểu cho sự đoànkết thống nhất trong tổ chức Đảng và trong toàn đơn vị
Luận điểm trên của Hồ Chí Minh đã chỉ ra đặc trưng bản chất của đội ngũ chính trịviên - đội ngũ cán bộ Đảng trong các phân đội vũ trang cách mạng, những đại biểutrung thành của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp đấutranh giải phóng dân tộc giải phóng xã hội, giải phóng con người Đây là điểm cơ bản
để phân biệt với những người lãnh đạo chỉ huy của quân đội phong kiến, tư sản Sự rađời, phát triển của đội ngũ chính trị viên gắn liền với vai trò lãnh đạo của Đảng đối vớilực lượng vũ trang, nhằm bảo đảm cho các đơn vị thực sự chiến đấu dưới ngọn cờ của
Trang 12Đảng, không ngừng giữ vững và phát huy bản chất giai cấp công nhân, góp phần bảođảm cho lực lượng vũ trang, QĐND xứng đáng là công cụ vũ trang sắc bén của Đảng, làlực lượng chính trị tin cậy của Đảng và nhân dân.
Thứ hai: Đội ngũ chính trị viên là những người chủ trì về chính trị ở các phân đội vũ
trang đồng thời có chức năng, nhiệm vụ quan trọng trong giải quyết các mối quan hệ chính trị - xã hội trong nội bộ, với nhân dân và với quân địch.
Sự ra đời, phát triển của đội ngũ cán bộ chính trị gắn bó với quá trình hình thành pháttriển của các phân đội vũ trang cách mạng Trong các đơn vị đó, chính trị viên được xácđịnh là người chủ trì về chính trị, người chịu trách nhiệm chủ yếu chăm lo cơ sở chínhtrị, tinh thần, chăm lo xây dựng tổ chức Đảng, quán triệt sự lãnh đạo của Đảng trongmọi hoạt động của đơn vị
Theo Hồ Chí Minh, "Chính trị viên là linh hồn của đội Công việc chính trị viên rấtnhiều và nặng" [133, 52-53], “chính trị viên phải nhúng tay vào mọi việc để do đó dìuđắt người khác" [133, 56] Chức năng, nhiệm vụ quan trọng của chính trị viên là giữvững phương hướng chính trị, quán triệt và thực hiện sự lãnh đạo của Đảng; thườngxuyên chăm lo xây dựng con người, xây dựng tổ chức; khơi dậy và phát huy cao độ tínhchủ động sáng tạo của cả tập thể trong thực hiện nhiệm vụ Trong "Cuốn sách của chínhtrị viên", có viết: "Người chính trị viên phải ở trước mặt trận để trông nom bộ đội thihành đúng kế hoạch đã định Trong lúc chiến đấu nếu không may người chỉ huy quân
sự bị thiệt mạng thì người chính trị viên chỉ định người thay, hay tự mình đứng lên thaycũng được" [133, 51] Như vậy, chính trị viên là cán bộ lãnh đạo đồng thời là thành viêncủa bộ máy chỉ huy Chính trị viên phải tham gia công tác chỉ huy, quản lý, điều hành,duy trì kỷ luật, kiểm tra đôn đốc mọi hoạt động của đơn vị Tuy nhiên chính trị viêntham gia công tác chỉ huy, quản lý chủ yếu và trước hết với tư cách người cán bộ Đảng,người chủ trì về chính trị, người đảm nhiệm chuyên trách công tác tư tưởng, công tác tổchức của Đảng ở các phân đội Trên cương vị của mình, chính trị viên phải hướng mọihoạt động của đơn vị đi đúng đường lối, quan điểm của Đảng, bảo đảm cho mọi người,mọi tổ chức trong đơn vị không ngừng trưởng thành vững mạnh, đủ sức hoàn thành mọinhiệm vụ cả trước mắt và lâu dài
Điểm đáng lưu ý là phạm vi lãnh đạo, quản lý của đội ngũ chính trị viên tuy được xácđịnh là ở các phân đội, những vai trò và nhiệm vụ của họ không khuôn lại trong giảiquyết mối quan hệ nội bộ, mà còn có chức năng, nhiệm vụ quan trọng trong giải quyết
Trang 13mối quan hệ với nhân dân và với quân địch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Vô luận ở cấp bậcnào, chính trị viên có ba nhiệm vụ chính:
Đối với bộ đội
Đối với nhân dân
Đối với quân địch" [ 68, 392]
Sự khái quát đó không chỉ khẳng đinh vị trí xã hội to lớn của đội ngũ chính trị viên
mà còn là cơ sở đúng đắn để hiểu rõ và phân định đúng chức năng, nhiệm vụ của họtrong sự nghiệp đấu tranh cách mạng
Thứ ba: Đội ngũ chính trị viên không chỉ là người lãnh đạo, quản lý, chỉ huy mà còn
là "người anh, người chị, người bạn của đội viên" Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm xây
dựng mối quan hệ đoàn kết gắn bó giữa cán bộ với chiến sĩ Sự đoàn kết gắn bó đó có
cơ sở ở sự thống nhất mục tiêu lý tưởng Người ví cán bộ như "đầu óc", đội viên như
“chân tay” trong một cơ thể thống nhất Bên cạnh sự thống nhất, giữa cán bộ và chiến sĩ
có điểm khác nhau: cán bộ là chủ thể lãnh đạo, quản lý, chỉ huy; chiến sĩ là đối tượng
của sự lãnh đạo, quản lý, chỉ huy đó Vì vậy, giữ gìn và tăng cường mối quan hệ đoànkết là một quá trình phấn đấu liên tục, bền bỉ của cả cán bộ và chiến sĩ Song, trong mốiquan hệ đó, cán bộ có trách nhiệm chính Người cán bộ, nhất là cán bộ chính trị phải ýthức rõ vai trò chân chính của chiến sĩ Hồ Chí Minh dạy rằng: "Cán bộ không có độiviên, lãnh tụ không có quần chúng thì không làm gì được" [74, 207], cán bộ dù ở cương
vị nào "cũng chỉ là người đặt kế hoạch và điều khiển đánh trận Lúc ra trận việc đặt mìnphá lô cốt đều do tay anh em đội viên làm" [73, 320]; do vậy, "cán bộ có thân đội viênnhư chân tay, đội viên mới thân cán bộ như ruột thịt" [72 l09]
Bằng sự hiểu biết sâu sắc và trên cơ sở thực tiễn phong phú trong tổ chức, chỉ đạoxây dựng quân đội, Người phát hiện ra rằng, ở một đất nước vốn là thuộc địa nửa phongkiến, thói quen lạc hậu và tư tưởng gia trưởng còn ảnh hưởng nặng nề, nhất là trong môitrường quân sự càng dễ nẩy sinh bệnh quan liêu, chuyên quyền, độc đoán, quân phiệt trong đội ngũ cán bộ, đảng viên Vì thế, Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ chính trị:
“đối với bộ đội, chính trị viên phải thân thiết như một người chị, công bình như mộtngười anh, hiểu biết như một người bạn" Phong cách ứng xử của người cán bộ chính trịvới chiến sĩ không chỉ thể hiện tinh thần trách nhiệm cao mà còn biểu lộ thái độ tìnhcảm chân tình cởi mở như những người thân thiết trong một gia đình
Là người lãnh đạo, quản lý, chỉ huy, đương nhiên chính trị viên phải là người có bảnlĩnh và trí tuệ ngang tầm nhiệm vụ, thực sự tiền phong về tư tưởng và hành động; luôn
Trang 14nắm vững quan điểm giai cấp, quan điểm quần chúng của Đảng, có phương pháp tácphong công tác khoa học, dân chủ, sâu sát, tỷ mỉ; thực sự thấu hiểu tâm tư nguyện vọng,hoàn cảnh của mỗi người, hết lòng hết sức quan tâm chăm lo đến đời sống vật chất, tinhthần của mọi người; không độc đoán chuyên quyền, không thiên tư thiên vị, giầu lòngyêu thương đồng chí đồng đội Là "người anh", “người chị”, "người bạn" của đội viên,chính trị viên phải là người có tư cách đạo đức trong sáng, có phong cách ứng xử tinh
tế, sống hết mực thuỷ chung, son sắt, xứng đáng là tấm gương mẫu mực về lòng nhân ái
và đức hy sinh để mọi người noi gương học tập
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh vai trò của đội ngũ chính trị viên được đề cập ở nhiều
góc độ khác nhau, trong đó vai trò nổi bật và xuyên suối là giữ vững phương hướng chính trị của Đảng, làm cho các phân đội vũ trang “đi đúng con đường chính trị, tự giác tuân theo kỷ luật của cách mạng”.
Trong "Cuốn sách của chính trị viên", ở chương “địa vị quan trọng của chính trịviên” đã xác định: "Con đường chính trị là cái kim chỉ nam của đội, chính trị viên làngười nắm cái kim chỉ nam ấy"[133, 53] Con đường chính trị của cách mạng Việt Namđược Hồ Chí Minh và Đảng ta lựa chọn là "con đường cách mạng vô sản" Chính trị củacách mạng Việt Nam là chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam mà Đảng Cộng sảnViệt Nam là đội tiền phong Là những cán bộ đảng trong các phân đội vũ trang cáchmạng, đội ngũ cán bộ chính trị có vai trò quan trọng hàng đầu đối với việc giữ vữngphương hướng chính trị của Đảng, làm cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị luôn kiên định,vững vàng và tuyệt đối trung thành với mục tiêu lý tưởng cách mạng "sẵn sàng chiếnđấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì CNXH" "Là người nắm cái kim chỉ namcủa đội", chính trị viên phải bảo đảm cho phân đội của mình đi đúng đường lối chính trịcủa Đảng, làm cho hệ tư tưởng của giai cấp công nhân giữ địa vị thống trị trong đờisống tinh thần, chi phối mọi suy nghĩ và hành động của cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị.Sớm thấy những khuynh hướng lệch lạc có thể tự phát trong quá trình xây dựng lựclượng vũ trang ở một nước có nền kinh tế chậm phát triển, còn mang nặng những tàn dưphong kiến, những thói hư, tật xấu của người sản xuất nhỏ, Hồ Chí Minh đã chỉ ra: "giữcon đường chính trị cho đúng nghĩa là phải hành động thế nào cho lợi, cho hợp với côngcuộc cách mạng dân tộc giải phóng chúng ta, không làm điều gì trái với công cuộc ấyhay hại đến công cuộc ấy Đặc biệt nhất là phải tránh ba khuynh hướng nguy hại: một làlàm liều, hai là hoá ra quân phiệt, ba là hoá ra thổ phỉ" [133, 48] Trên cương vị lãnhđạo, người chính trị viên phải có tầm nhìn xa, trông rộng, luôn tỉnh táo sáng suốt, sớm
Trang 15phát hiện những khuynh hướng lệch lạc, có thái độ và phương pháp đấu tranh đúng đắn,kịp thời ngăn chặn và khắc phục mọi biểu hiện sai trái với bản chất giai cấp công nhân,góp phần bảo đảm cho lực lượng vũ trang không ngừng trưởng thành vững mạnh, xứngđáng là công cụ sắc bén của Đảng, là lực lượng chính trị đáng tin cậy của Đảng và nhândân.
Giữ vàng và tăng cường bản chất giai cấp công nhân là vấn đề cốt lõi trong xây dựng
quân đội về chính trị Trong quá trình đó, theo Hồ Chí Minh, đội ngũ chính trị viên có vai trò quan trọng hàng đầu đối với việc quán triệt đường lối, nhiệm vụ chính trị của Đảng, của quân đội, của đơn vị, làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ thấu suốt với nhiệm vụ,
có quyết tâm cao, hăng hái, tích cực, chủ động, sáng tạo hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao Trong "Cuốn sách của chính trị viên" đã xác định: "Về mặt chính
trị việc chuẩn bị tinh thần là quan trọng nhất, trong phạm vi không lộ bí mật, ngườichính trị phái viên phải chuẩn bị cho mọi đội viên hiểu rõ nhiệm vụ của mình" [133.50] Khi về thăm trường Chính trị trung cấp quân đội (năm 1951), điều đầu tiên Hồ ChíMinh nói với cán bộ, giáo viên và học viên là những quan điểm cơ bản của đường lốicách mạng trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp Người nhắc nhở “Cuộc khángchiến của ta là trường kỳ gian khổ nhưng nhất định thắng lợi Các chú phải thấm nhuần
và làm cho toàn thể bộ đội, đồng bào thấm nhuần như vậy, có thế mới tin tưởng và vượtqua khó khăn để giành thắng lợi cuối cùng” [73, 31] Người còn nhắc nhở: “Chính trịcủa các chú phải được biểu hiện ra trong lúc đánh giặc” [73, 319] Sẵn sàng chiến đấu
và chiến đấu thắng lợi là nhiệm vu chính trị quan trọng hàng đầu của quân đội Trongnhiệm vụ đó, đội ngũ chính trị viên có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc củng cốquyết tâm xây dựng và duy trì tinh thần chiến đấu của bộ đội Theo Hồ Chí Minh: "tinhthần chiến đấu chiếm một phần trọng yếu hạng nhất cho nên trước khi chiếu đấu ngườichính trị viên phải chuẩn bị tinh thần chiến đấu cho bộ đội" [133, 50] Trong quá trìnhthực hiện nhiệm vụ, nhất là trong những thời điểm khó khăn, phức tạp, trước những tìnhhuống gian nguy, thì chính trị viên lại càng có vai trò nổi bật, đúng như chỉ dẫn củaNgười "Nhất là gặp bước gay go nguy hiểm, người chính trị phái viên phải hết sức ngăncản sự hoảng hốt, chán nản, nâng cao tinh thần chiến đấu của bộ đội để chiến thắngquân thù" [133, 50-51] Trong khoảnh khắc ác liệt đó, sự tỉnh táo sáng suốt của chính trịviên có ảnh hưởng to lớn đến việc nâng cao tinh thần và ý chí chiến đấu của bộ đội,giúp mọi người ổn định trạng thái tâm lý Mỗi lời nói và hành động của chính trị viên cótác dụng cổ vũ mạnh mẽ đối với toàn đơn vị làm tăng thêm khả năng chịu đựng khó
Trang 16khăn, nâng cao tinh thần chiến đấu dũng cảm, kiên cường của cả tập thể trong thực hànhchiến đấu Nhờ đó mỗi thành viên trong đơn vị chẳng những phát huy cao độ tư duy độclập sáng tạo, có thể tìm ra cách đánh, cách giải quyết hợp lý nhất mà còn sẵn sàng chiếnđấu quên mình vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì CNXH.
Theo Hồ Chí Minh, đội ngũ chính trị viên có vai trò quan trọng đối với việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội, xây dựng, bồi dưỡng cán bộ, chiến sĩ thành những con người mới XHCN.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Đối với bộ đội, chính trị viên phải săn sóc luôn
luôn đến sinh hoạt vật chất của họ: ăn mặc ở nghỉ, luyện tập công tác Về mặt tinh thần,phải săn sóc để nâng cao kỷ luật, bài trừ hủ hoá, phát triển văn hoá và đường lối chínhtrị trong bộ đội" [68, 392] Với tư cách là người lãnh đạo, đội ngũ chính trị viên có vaitrò đặc biệt quan trọng trong quán triệt sâu sắc và đầy đủ các chủ trương, đường lối củaĐảng, đưa các quan điểm của Đảng vào các lĩnh vực, các mặt công tác và các nhiệm vụcủa quân đội, của đơn vị Đồng thời trong quá trình đó, đội ngũ này đóng vai trò quantrọng, làm cho văn hoá thấm sâu vào lĩnh vực quân sự, vào các hoạt động của lực lượng
vũ trang, QĐND, vừa bảo đảm cho văn hoá thể hiện rõ trong các tổ chức và hoạt độngquân sự, vừa góp phần định hướng thúc đẩy các tổ chức và hoạt động quân sự phát huytốt vai trò xây dựng, bảo vệ và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bảnsắc dân tộc Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở đội ngũ chính trị viên phải thường xuyên chútrọng đến nâng cao đời sống vật chất tinh thần của bộ đội, làm cho mỗi người và mọingười có đời sống vật chất ngày càng đầy đủ, đời sống tinh thần ngày càng phong phú.Theo Hồ Chí Minh, đội ngũ chính trị viên không những có nhiệm vụ nâng cao đời sốngvật chất tinh thần, tạo nên sự chuyển biến về nhận thức, tư tưởng, tình cảm của mỗingười, khơi dậy và phát huy được tiềm năng sáng tạo của mọi người, tạo nên sự phấnkhởi đoàn kết thống nhất trong đơn vị, mà phải làm cho mọi người có ý thức cao trongxây dựng nếp sống văn hoá, biết chân trọng, giữ gìn và phát huy những truyền thống giátrị tốt đẹp của dân tộc, của quân đội và mỗi đơn vị; biết phân biệt và đấu tranh vớinhững biểu hiện tiêu cực trái với đạo lý truyền thống văn hoá của dân tộc Việt Nam.Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát “Tư cách của chính trị viên có ảnh hưởng rấtquan trọng đến bộ đội Người chính trị viên tốt thì bộ đội ấy tốt Người chính trị viênkhông làm tròn nhiệm vụ, thì bộ đội ấy không tốt” [68, 392] Là người chủ trì CTĐ,CTCT, hàng ngày trực tiếp tiếp xúc với chiến sĩ, đội ngũ chính trị viên có vai trò nổi bậttrong xây dựng bồi dưỡng cán bộ, chiến sĩ thành những con người mới: có tinh thần yêu
Trang 17nước, tự cường dân tộc; có ý chí phấn đấu dũng cảm “vì nhân dân quên mình”; có ýthức tổ chức kỷ luật, dân chủ và đoàn kết; có lối sống trong sạch lành mạnh, biết đặt lợiích chung lên trên hết, có nếp sống văn minh, trọng nghĩa tình đạo lý, trung thực, khiêmtốn, giản dị.
Quá trình xây dựng con người mới trong quân đội gắn bó chặt chẽ với quá trình xây
dựng tổ chức trong sạch vững mạnh Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò của đội ngũ chính trị viên trong xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức, đặc biệt là tổ chức Đảng
ở các phân đội vũ trang cách mạng
Khi đề cập đến vị trí, vai trò của chi bộ trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và trongcông tác xây dựng Đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "chi bộ là nền móng củaĐảng, chi bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt" [93, 210] Vị trí, vai trò của chi bộ, đảng bộ cơ sởnhư vậy nên người chính trị viên bao giờ cũng phải coi nhiệm vụ xây dựng tổ chứcĐảng ở phân đội mình là một nhiệm vụ hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định đốivới việc nâng cao sức mạnh toàn diện của đơn vị Là cán bộ đảng hoạt động trong quânđội, trong bất cứ hoàn cảnh nào chính trị viên cũng phải chú trọng giữ vững nguyên tắc,chế độ sinh hoạt nội bộ Đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình, tăng cường công táckiểm tra, củng cố kỷ luật và đoàn kết nội bộ, làm tốt công tác giáo dục, rèn luyện đảngviên, chăm lo phát triển đảng viên mới để chi bộ, đảng bộ cơ sở luôn TSVM, đáp ứngyêu cầu lãnh đạo Chính trị viên không chỉ có vai trò quan trọng trong xây dựng tổ chứcđảng mà còn có vai trò nổi bật trong xây dựng tổ chức chỉ huy Theo Hồ Chí Minh:
“trách nhiệm của người chỉ huy quân sự và người chính trị viên phải định rõ ràng.Chính trị viên phải làm người kiểu mẫu trong mọi việc” [68, 393] Là thành viên trong
tổ chức chỉ huy, nhưng là cán bộ Đảng, được Đảng lựa chọn và giao nhiệm vụ chuyêntrách công tác tư tưởng, công tác tổ chức của Đảng trong các phân đội vũ trang cáchmạng, cho nên người cán bộ chính trị phải là người mẫu mực về mọi mặt, luôn dànhnhiều thời gian và tâm huyết để xây dựng mối quan hệ đoàn kết thống nhất trong tổchức chỉ huy Người cán bộ chính trị phải điềm đạm, chân tình, cởi mở trong ứng xử,biết phát huy ưu điểm và thế mạnh của mỗi người đồng thời biết hạn chế và khắc phụcnhững nhược điểm của mỗi thành viên Người khuyên nhủ chính trị viên: "Khó hơn nữa
là không may gặp người đội trưởng khó tính hoặc có tính ương ngạnh, hoặc có tính haylàm bừa, mình phải hết sức ăn ở rất khéo làm cho người ta tín nhiệm và do đó sửa chữadần cho người ta" [133, 56]
Trang 18Nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí về CTĐ, CTCT là sự kết hợp chặt chẽ công tácxây dựng đảng và công tác vận động quần chúng: "công tác Đảng phải là linh hồn củacông tác chính trị, làm cốt cán cho công tác chính trị” [115, 126] Xây dựng củng cố các
tổ chức quần chúng và phát huy vai trò của quần chúng nhân dân là một nhiệm vụ hếtsức quan trọng của hoạt động CTĐ, CTCT trong lực lượng vũ trang Uy tín của quânđội đối với nhân dân phụ thuộc rất lớn vào tư cách của mỗi quân nhân và hiệu quả công
tác dân vận ở đơn vị cơ sở Do vậy, Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của đội ngũ chính trị viên trong tuyên truyền và vận động nhân dân.
Quân đội ta từ nhân dân mà ra vì nhân dân mà chiến đấu Cán bộ, chiến sĩ trong quânđội đều là con em của nhân dân, gắn bó với mọi tầng lớp nhân dân Quân đội ta khôngchỉ là đội quân chiến đấu mà còn là đội quân công tác, đội quân sản xuất Do vậy theo
Hồ Chí Minh “chính trị viên phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu bộ đội, làm saocho bộ đội được dân tin, dân phục, dân yêu” [68, 393] Vai trò trách nhiệm của đội ngũchính trị viên là phải “dạy cho đội viên biết kính trọng dân, thương yêu dân, giúp đỡdân, làm cho đội viên thành một người tuyên truyền bằng công việc thực tế” [73, 320]
Đó chính là cơ sở, là nền tảng xây đắp nên mối quan hệ máu thịt giữa quân đội và nhândân, là nguồn gốc tạo nên sức mạnh của quân đội ta
Để chiến thắng quân thù, chúng ta không chỉ dùng sức mạnh quân sự với ý chí chiếnđấu dũng cảm, kiên cường mà còn phải mưu trí, sáng tạo, biết tiến công địch về chínhtrị tư tưởng nhằm tuyên tuyền vận động nhân dân và binh sĩ nước đối phương, làm cho
kẻ địch luôn bị phân hoá, bị cô lập dẫn đến rệu rã về tư tưởng, nhụt ý trí chiến đấu, tạo
điều kiện để chúng ta giành thắng lợi hoàn toàn Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh
ý nghĩa quan trọng của công tác địch vận và đề cao vai trò đội ngũ chính trị viên trong mặt công tác này Đội ngũ cán bộ chính trị mà trực tiếp là chính trị viên phải thường
xuyên giáo dục cho bộ đội lòng căm thù giặc sâu sắc, nắm vững bản chất, âm mưu thủđoạn của chúng, luôn cảnh giác sẵn sàng chiến đấu, đồng thời nắm vững đường lốichính sách đối ngoại của Đảng và chính sách đối với tù hàng binh, biết tuyên truyềnkhôn khéo, thiết thực để giác ngộ họ, lôi kéo họ về phía ta
Có thể nói, nội dung CTĐ, CTCT trong quân đội mà đội ngũ chính trị viên phải trực
tiếp đảm nhiệm hết sức phong phú rộng lớn với nhiều đối tượng trong các mối quan hệ
khác nhau Điều đó cũng nói lên rằng, đội ngũ chính trị viên có vai trò rất quan trọng ởmọi lĩnh vực, trên các mặt công tác và trong mọi nhiệm vụ
Trang 19Trong quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị của các phân đội vũ trang cách
mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ chú trọng đến việc xác định vai trò nhiệm vụ của đội ngũ này mà còn đặc biệt quan tâm đến việc xác định những yêu cầu cần phải có của người chính trị viên tạo thành một hình mẫu hoàn chỉnh, coi đó là những chuẩn
mực định hướng cho công tác đào tạo, bồi dưỡng; là căn cứ để xem xét đánh giá bố trí
sử dụng cán bộ; đồng thời là tiêu chí để mỗi người rèn luyện phấn đấu Trong hình mẫungười chính trị viên vừa có những điểm riêng, vừa có những điểm chung như nhiều cán
bộ khác, rất khó phân biệt một cách rạch ròi Nghiên cứu về hình mẫu người chính trịviên không chỉ đi tìm những cái riêng biệt chỉ có ở loại cán bộ này mà còn phải pháthiện ra những nét chung trong các hình mẫu cán bộ mà Hồ Chí Minh đã xác định để cócách nhìn nhận đầy đủ hơn , đúng đắn hơn
Từ định hướng trên, có thể chỉ ra những điểm cơ bản trong hình mẫu người chính trị viên của QĐNDVN đó là:
Trước hết, theo Hồ Chí Minh, chính trị viên phải là người thật sự tiêu biểu về đạo
đức cách mạng.
Trong bài nói chuyện tại trường chính trị trung cấp quân đội, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã khái quát: “Đạo đức cũ như đầu ngược xuống đất, chân chổng lên trời Đạo đức mớinhư người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngẩng lên trời" [73, 320-321] Đạođức mới, theo Hồ Chí Minh là đạo đức cách mạng, đạo đức được gắn liền với cuộc đấutranh cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã khái quát “Đạo đức cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh choĐảng cho cách mạng Đó là điều chủ chốt nhất” [86, 284] "Điều chủ chốt nhất" trongđạo đức cách mạng cũng là nét đặc trưng bản chất nhất và tiêu chuẩn hàng đầu củangười cán bộ chính trị là sự kiên định vững vàng về chính trị Với người chính trị viêncủa QĐNDVN, sự kiên định vững vàng về chính trị chính là sự kiên định vững vàng
mục tiêu lý tưởng con đường cách mạng Việt Nam; kiên định vững vàng lập trường giai
cấp công nhân, có sự giác ngộ sâu sắc lý luận chủ nghĩa Mác-lênin, tuyệt đối trung
thành với Đảng, với Tổ quốc với nhân dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do
của Tổ quốc vì CNXH" Theo Hồ Chí Minh "chính trị viên phải là người giác ngộ cáchmạng sâu sắc, nhận thức cách mạng vững vàng, lý luận cách mạng khá Đồng thời phải
là người có kinh nghiệm chính trị dồi dào" [133, 53] Sự kiên định vững vàng về chínhtrị của người chính trị viên còn thể hiện ở sự chủ động, nhanh nhậy, tỉnh táo, sáng suốttrước những diễn biến phức tạp của tình hình, nhậy bén, sắc sảo, sáng tạo trong xem xét
Trang 20và giải quyết mọi vấn đề theo đúng đường lối, quan điểm của Đảng, không hữu khuynhgiao động, không mơ hồ thoả hiệp, kiên quyết đấu tranh với những khuynh hướng lệchlạc, sai trái.
Ý thức tổ chức kỷ luật là một nội dung cơ bản trong đạo đức của người cán bộ chínhtrị Theo Hồ Chí Minh: “đạo đức cách mạng gồm trong mười điều kỷ luật” [71, 723].Người chính trị viên không chỉ chấp hành nghiêm túc và triệt để mọi chủ trương, đườnglối, điều lệ nguyên tắc của Đảng, điều lệnh điều lệ của quân đội, mệnh lệnh, chỉ thị củacấp trên, mà còn phải thường xuyên chăm lo củng cố, tăng cường đoàn kết thống nhấttrong nội bộ đơn vị và đoàn kết quân dân, luôn xứng đáng là hạt nhân đoàn kết Hồ ChíMinh đã chỉ rõ: "Đội quân của cách mạng bao giờ cũng thế, gặp việc gì cũng thế phảithống nhất, phải đoàn kết, người chính trị viên phải làm thế nào cho ý chí mình thành ýchí của toàn đội, hành động của mình thành hành động của toàn đội, toàn đội đoàn kếtxung quanh mình như một người" [133, 56]
Ham học tập, cầu tiến bộ cũng là một nội dung quan trọng trong đạo đức cách mạngcủa người cán bộ chính trị Theo Hồ Chí Minh: "học hỏi là một việc phải tiếp tục suốtđời Phải gắn liền lý luận với công tác thực tế Không ai có thể tự cho mình đã biết đủrồi biết hết rồi Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nênchúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân” [83, 215] Sự nỗ lực học tậpvươn lên là một đòi hỏi tất yếu khách quan phù hợp với quy luật phát triển của xã hội.Với người cán bộ chính trị, người làm công tác lãnh đạo, công tác giáo dục xây dựngcon người, "hướng dẫn dìu dắt quần chúng trên đường đấu tranh" càng đòi hỏi phải họctập và phấn đấu để không ngừng tiến bộ Ngại học tập, lười nghiên cứu “không chịu họchỏi, cứ đứng một chỗ thì nhất định lạc hậu” [67, 480]
Một yêu cầu rất quan trọng trong đạo đức cách mạng của người chính trị viên là sựtrong sáng, kiểu mẫu về đạo đức lối sống Là người lãnh đạo, quản lý chỉ huy hàng ngàytiếp xúc trực tiếp với bộ đội, đạo đức lối sống của người chính trị viên có ảnh hưởngtrực tiếp đến nhân cách bộ đội: "người chính trị viên tốt thì bộ đội ấy tốt" Chính vì vậy,
Hồ Chí Minh luôn yêu cầu người cán bộ chính trị phải biết đặt lợi ích của Đảng, củacách mạng, của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân; sống có hoài bão, có lý tưởng; cóniềm tin yêu mãnh liệt đối với bộ đội, đối với nhân dân; lạc quan tin tưởng vào tương laitươi sáng; sống trong sạch, lành mạnh, chân thành, thẳng thắn, trung thực với mọingười; đi đầu trong gian khổ, sung sướng hưởng sau, "giầu sang không thể quyến rũnghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục"; kiên quyết đấu tranh
Trang 21khắc phục mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, để luôn luôn xứng đáng với lời dạy:
"Chính trị viên phải làm người kiểu mẫu trong mọi việc"
Thứ hai: Người chính trị viên phải có năng lực toàn diện, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo,
chỉ huy mọi mặt ở đơn vị cơ sở.
Theo HồChí Minh, người cán bộ phải đủ đức đủ tài: “có đức không có tài như ôngbụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì được ai" [82, 184] Là người có vị trí, vai tròquan trọng trên các mặt công tác, trên nhiều lĩnh vực trong các hoạt động với nhiều đốitượng khác nhau, do đó hơn ai hết người cán bộ chính trị phải có năng lực toàn diện.Năng lực của người cán bộ chính trị bao hàm cả năng lực nhận thức và năng lực hànhđộng thể hiện trình độ trí tuệ cao và trình độ tổ chức thực tiễn giỏi Hồ Chí Minh đã chỉra: người chính trị viên phải có rất nhiều tư cách lãnh đạo, rất nhiều năng lực Công việcchính trị viên phức tạp chừng nào thì cần họ có đủ năng lực chừng ấy" [133, 561 Làngười có vai trò rất quan trọng trong xây dựng thế giới quan, niềm tin cách mạng khoahọc cho cán bộ, chiến sĩ ở đơn vị, vì vậy, người cán bộ chính trị phải có trình độ hiểubiết sâu sắc lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin Theo Hồ Chí Minh: "lý luận như cái kim chỉnam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế Không có lý luận thìlúng túng như nhắm mắt mà đi" [63, 233-234] Nắm vững lý luận chủ nghĩa Mác -
Lênin không những giúp người cán bộ có "tầm nhìn sáng suốt", có "phương pháp làm
việc biện chứng" mà còn là cơ sở để nhận thức đúng đắn, sâu sắc đường lối, chủ trươngchính sách của Đảng Người chính trị viên không chỉ hiểu sâu, nắm chắc những quanđiểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin mà còn phải thường xuyên nghiên cứu nắmvững đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, phương hướng nhiệm vụ CTĐ, CTCTđồng thời có năng lực nắm bắt những vấn đề thực tiễn nẩy sinh trong quá trình thực hiệnnhiệm vụ
Người cán bộ chính trị không chỉ quan tâm chăm lo về mặt tinh thần của bộ đội màcòn "phải săn sóc luôn luôn đến sinh hoạt vật chất của họ: ăn, mặc, ở, nghỉ, tập luyện,công tác, sức chiến đấu” [68, 392] Khi chiến đấu "người chính trị viên phải ở trước mặttrận" [133, 51] để lãnh đạo chỉ huy Điều đó đòi hỏi người chính trị viên phải có kiếnthức về quân sự và khả năng tổ chức chỉ huy các hoạt động quân sự Chủ tịch Hồ ChíMinh căn dặn: các chú phải học tư tưởng chiến lược, chiến thuật, học cách dạy bộ độiđánh giặc, học phương pháp chỉ huy chiến đấu tóm lại là học để nâng cao trình độ củangười chỉ huy" [73, 319] Đồng thời Người yêu cầu: "cán bộ chính trị phải biết kỹ thuậtkhông biết, chỉ chính trị suông, không lãnh đạo được" [92, 22] Người chính trị viên có
Trang 22kiến thức toàn diện về chính trị, quân sự, về khoa học kỹ thuật, về văn hoá, giáo dụcmới có cơ sở giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chính trị với quân sự, giữa conngười với vũ khí, giữa tư tưởng tinh thần với kỹ thuật quân sự.
CTĐ, CTCT là một trong những hoạt động lãnh đạo của Đảng, thường xuyên đòi hỏiphải gắn chặt giữa lý luận với thực tiễn Là người chủ trì CTĐ, CTCT trong các phânđội vũ trang, có vị trí, vai trò quan trọng trong giải quyết các mối quan hệ chính trị - xãhội, do đó người chính trị viên không những cần có năng lực trí tuệ ngang tầm mà cònphải có năng lực lãnh đạo, tổ chức thực tiễn giỏi Hồ Chí Minh đã chỉ ra: "Người chínhtrị viên phải có nhiều năng lực lãnh đạo, năng lực này phải đủ mọi mặt quân sự lẫnchính trị, năng lực về tuyên truyền, tổ chức, xếp đặt kế hoạch, năng lực giải quyết vấn
đề cấp bách cũng như vấn đề sinh hoạt hàng ngày về chính trị hay vật chất" [133, 55]
Là người đảm nhiệm công tác tư tưởng, công tác tổ chức, chính trị viên phải chủ độngsáng tạo trong giải quyết mối quan hệ giữa lãnh đạo với chỉ huy, tập thể với cá nhân,
phát huy tốt tính tích cực của mỗi thành viên, tạo nên sự vững vàng thường xuyên của
tổ chức, của đơn vị cả trước mắt và lâu dài, cả trong lúc thuận lợi cũng như lúc khókhăn, gian khổ
Thứ ba: Người chính trị viên phải thật sự mẫu mực về phong cách, tác phong công
tác, lời nói đi đôi với việc làm.
Theo Hồ Chí Minh: “Người chính trị viên không phải một ông quan suốt ngày ngồi
bàn giấy viết thông báo và chỉ thị" [133, 55] mà phải "nhúng tay vào mọi việc để do đódìu dắt người khác" [133, 56] Người cán bộ chính trị với hoạt động chủ yếu là hoạtđộng lãnh đạo, phương pháp công tác chủ yếu là giáo dục thuyết phục, thông qua hoạtđộng trực tiếp hàng ngày mà tác động và xây dựng nhân cách từng con người và tập thểquân nhân, bảo đảm cho mỗi quân nhân và tập thể quân nhân "đi đúng con đường chínhtrị" hăng hái thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ Do đó phong cách, tác phong của ngườichính trị viên có ảnh hưởng rất quan trọng đến bộ đội và tác động rất lớn đến hiệu quảthực hiện nhiệm vụ của đơn vị Theo Hồ Chí Minh, chính trị viên phải làm người kiểumẫu trong mọi việc Làm kiểu mẫu với tư cách là người đại diện cho tinh thần, trí tuệcủa Đảng, do vậy, người chính trị viên trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải nắm vữngnguyên tắc, giữ nghiêm kỷ luật, dân chủ bàn bạc trong tập thể, xây dựng bầu không khídân chủ, tin tưởng và đoàn kết, tạo ra sự giao hoà, đồng cảm giữa cán bộ và chiến sĩ.Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ chính trị “phải biết rõ và báo cáo cho cấp trên rõ
số lượng và chất lượng của bộ đội mình”; kịp thời “khen thưởng người tốt, trừng phạt
Trang 23người xấu”; “luôn săn sóc đến sinh hoạt vật chất” và chăm lo đến đời sống tinh thần của
bộ đội; tỷ mỷ, thận trọng, trong công việc; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm,thực hiện cho được sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn Người yêu cầu trong phongcách, tác phong của chính trị viên có sự thống nhất giữa lời nói với việc làm: “chính trịviên lãnh đạo đội vũ trang hay đội du kích bằng lời nói chưa đủ, phải lãnh đạo bằnghành động nữa Mình chủ trương cho đội làm việc gì thì mình phải làm trước, làm đúnghết sức Từ công việc nhỏ đến công việc to đều như thế, gặp lúc gay go, nguy hiểmchừng nào thì người lãnh đạo càng xông pha bước trước chừng ấy mới kéo được ngườikhác theo mình” [73, 57]
Xây dựng đội ngũ chính trị viên là quá trình phải tiến hành nhiều khâu, nhiều bước
nhằm thực hiện mục tiêu đã định Những nội dung, biện pháp cơ bản mà Hồ Chí Minh
đề cập bao gồm:
Thứ nhất: Tuyển chọn chính trị viên phải chặt chẽ qua hoạt động thực tiễn và phong
trào cách mạnh của nhân dân
Để có được một đội ngũ “cốt cán đủ đông đủ mạnh” đáp ứng yêu cầu xây dựng lựclượng vũ trang cách mạng trong điều kiện Việt Nam, ngay từ những ngày đầu, Chủ tịch
Hồ Chí Minh và Đảng ta đã có quan điểm và phương pháp đúng đắn về tuyển chọn độingũ cán bộ chính trị Trong “Cuốn sách của chính trị viên” do Chủ tịch Hồ Chí Minhtrực tiếp chỉ đạo biên soạn từ trước cách mạng tháng Tám đã chỉ ra rằng: “Lãnh đạo đội
du kích là đoàn thể chúng ta” (Đảng ta lúc đó thường được gọi là Đoàn thể cách mạng)
“Nhưng Đoàn thể sẽ phái ai để làm việc ấy; cố nhiên Đoàn thể sẽ đặc biệt phái nhữngngười từ nay đã tham gia vào đội ngũ vũ trang, và tiểu tổ du kích, nghĩa là, những người
đã trải qua sinh hoạt quân sự Đã có ít nhiều kinh nghiệm chiến đấu, đã được đào luyện”[133, 47] Trong lãnh đạo chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang, Người luôn yêu cầuphải thông qua hoạt động của các tổ chức quần chúng mà lựa chọn những người ưu túnhất để thành lập đội tự vệ, đội du kích Thông qua hoạt động của đội tự vệ, đội du kích
mà chọn "số cán bộ, đội viên kiên quyết nhất, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phầnlớn vũ khí để lập ra đội chủ lực”, [57, 507] Theo Hồ Chí Minh, lựa chọn cán bộ phảihướng vào:
a- Những người đã tỏ ra rất trung thành và hăng hái trong công việc trong đấu tranh.b- Những người liên lạc mật thiết với dân chúng, hiểu biết dân chúng Luôn luôn chú
ý đến lợi ích của dân chúng Như thế thì dân chúng mới tin cậy cán bộ và nhận cán bộ
đó là người lãnh đạo của họ
Trang 24c- Những người có thể phụ trách giải quyết các vấn đề, trong những hoàn cảnh khókhăn Ai sợ phụ trách và không có sáng kiến thì không phải là người lãnh đạo Ngườilãnh đạo đúng đắn cần phải: Khi thất bại không hoang mang, khi thắng lợi không kiêu
ngạo Khi thi hành các nghị quyết kiên quyết, gan góc không sợ khó khăn
d- Những người luôn luôn giữ đúng kỷ luật
Đó là những khuôn khổ để lựa chọn cán bộ, chúng ta phải theo cho đúng [63, 275].Theo Hồ Chí Minh, "toàn quốc nhân dân đều nhằm vào con đường do đội du kíchvạch ra mà tiến tới Vì vậy tác dụng mô phạm của đội du kích đối với quần chúng rất làquan trọng" [133, 48] Người cán bộ chính trị lại là "linh hồn của đội du kích", "ngườinắm cái kim chỉ nam của đội", do đó quá trình tuyển chọn những người này phải côngphu, tỷ mỷ, thận trọng: phải từng bước thử thách và rèn luyện họ trong thực tiễn đấutranh cách mạng, thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào đấu tranh cách mạng củaquần chúng nhân dân để tuyển chọn Quá trình tuyển chọn phải dựa vào các tổ chứcđoàn thể quần chúng để phát hiện kịp thời Nguồn để tuyển chọn cán bộ chính trị chocác đơn vị vũ trang có thể từ những cán bộ, chiến sĩ ưu tú trong quân đội, cũng có thể là
từ những cán bộ lãnh đạo có nhiều thành tích từ các địa phương Tuy nhiên, đây là cán
bộ đảng trong lực lượng vũ trang cách mạng cho nên công tác tuyển chọn phải do tổchức đảng trực tiếp tiến hành, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: "Về mặt chínhtrị, cấp nào cũng có một người chính trị phái viên do đoàn thể cách mạng chọn trong bộđội ấy hoặc phái người ngoài đến làm"
Thứ hai: Đào tạo bồi dưỡng chính trị viên phải toàn diện, thường xuyên chú trọng
nâng cao đạo đức cách mạng
Theo Hồ Chí Minh, "đã lựa chọn đúng cán bộ còn cần phải dạy bảo lý luận cho cánbộ" [63, 276] Người cho rằng: "huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng" [63,269] Trong chương mở đầu "Cuốn sách của chính trị viên".Người nhấn mạnh: "nếu từnay chúng ta chuyên tâm đào tạo những cốt cán của đội du kích mai kia cho đông, chovững thì mai kia đội du kích cũng được noi theo con đường tốt mà tiến tới vì vậy nênđoàn thể từ nay phải rất chú ý đào tạo cán bộ du kích và những đồng chí trong đội vũtrang ngày nay cũng phải hết sức tự đào tạo lấy mình" [133, 47] Khi về thăm TrườngChính trị trung cấp quân đội, Bác căn dặn mọi người: "phải cố gắng học tập về mọi mặtchính trị quân sự”, học lý luận Mác - Lênin phải gắn liền với "học tập chính cương,chính sách của Đảng cho hiểu mà làm cho đúng", “học tư tưởng chiến lược chiến thuật,học cách dạy bộ đội đánh giặc, học phương pháp chỉ huy chiến đấu, [73, 319] Theo
Trang 25Người, huấn luyện, đào tạo cán bộ phải nhằm tạo ra những cán bộ có khả năng độc lậpđảm nhiệm những công việc được giao, chủ động sáng tạo trong hoạt động thực tiễn.Người luôn yêu cầu trong huấn luyện, đào tạo phải biết khuyến khích và tạo điều kiệnphát triển tư duy độc lập sáng tạo của người học, biến quá trình đào tạo thành tự đàotạo, học phải đi đôi với hành, lý luận phải gắn với thực tiễn Theo Hồ Chí Minh cáchhuấn luyện tốt là "trong lúc học lý luận, phải nghiên cứu công việc thực tế, kinh nghiệmthực tế Lúc học rồi, họ có thể tự mình tìm ra phương hướng chính trị có thể làm nhữngcông việc thực tế, có thể trở nên người tổ chức và lãnh đạo" [63, 272] Người đặc biệtchú trọng đến đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở nhà trường đồng thời luôn quan tâm đến cáchình thức bồi dưỡng thông qua các đợt sinh hoạt chính trị như chỉnh huấn, chỉnh quân;các phong trào "luyện quân lập công", “rèn cán chỉnh quân"; các hội nghị tổng kết CTĐ,CTCT như hội nghị chính trị viên, hội nghị tuyên huấn, tổ chức toàn quân, hội nghị bíthư chi bộ v.v Người luôn yêu cầu cán bộ chính trị không chỉ học trong sách vở màcòn phải có thái độ đúng đắn và phương pháp tiếp thu khoa học những bài học kinhnghiệm phong phú trong nhân dân, biết tổng kết thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm đểkhông ngừng trưởng thành, tiến bộ Trong học tập, Người luôn yêu cầu chính trị viênphải có ý chí và nghị lực cao, nội dung, chương trình học tập dù khó đến đâu "nhưngchúng ta là người cách mạng, hơn nữa chúng ta là chính trị viên, chúng ta phải học chođược" [133, 58] Trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính trị, Hồ Chí Minh đặcbiệt coi trọng bồi dưỡng nâng cao đạo đức cách mạng Trong khi không xem nhẹ tàinăng, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vị trí, ý nghĩa của đạo đức trong nhân cách ngườicán bộ cách mạng nói chung, người cán bộ chính trị nói riêng Theo Hồ Chí Minh, đạođức người cán bộ cách mạng là điểm mấu chốt ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của Đảng,
là nhân tố quan trọng hàng đầu có tác dụng lôi cuốn cổ vũ mạnh mẽ đối với quần chúngnhân dân Hồ Chí Minh đã xem xét và lý giải rất sáng tạo mối quan hệ giữa quần chúngnhân dân - cái gốc của sự nghiệp cách mạng, với đội ngũ cán bộ - cái gốc của mọi côngviệc và đạo đức cách mạng - cái gốc của người cán bộ cách mạng Theo Người, "mọiviệc thành hay là bại chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng hay làkhông" [81, 480] Hồ Chí Minh còn luận giải rất sâu sắc về mối quan hệ giữa đức và tài
để làm nổi bật vị trí, vai trò của đức trong quá trình hình thành nhân cách người cán bộcách mạng Đức vừa là cơ sở nền tảng, vừa giữ vai trò định hướng, vừa là động lực thúcđẩy quá trình phấn đấu nâng cao trình độ mọi mặt của người cán bộ Sự nghiệp cáchmạng đòi hỏi người cán bộ phải không ngừng tu dưỡng rèn luyện phấn đấu để có đủ
Trang 26đức, đủ tài Những tài năng chỉ có thể hình thành và phát triển trên cái nền tảng vữngchắc là đạo đức cách mạng, và chỉ khi nào giữ vững được đạo đức cách mạng thì tàinăng đó mới thực sự có ý nghĩa, có giá trị đối với sự nghiệp cách mạng Đạo đức đốivới người cách mạng được Hồ Chí Minh ví như "mạch nguồn" của dòng sông, như "gốcrễ" của cây cối Có đạo đức, được xem như có "nguồn sức mạnh" để "gánh nặng và đixa" Khi về thăm trường Chính trị trung cấp quân đội, Người đã dành nhiều thời gian đểnói về đạo đức cách mạng và yêu cầu các cấp lãnh đạo phải thường xuyên coi trọng bồidưỡng nâng cao đạo đức cách mạng, luôn đề cao và phát huy tốt vai trò tiền phonggương mẫu của người cán bộ chính trị trong tu dưỡng, rèn luyện Theo Hồ Chí Minh
"cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt [55, 263] Trong sựnghiệp đó, không ít những công việc mới mẻ, phức tạp, đã vậy phải có sự giác ngộ cáchmạng sâu sắc, có tình cảm cách mạng trong sáng, có động cơ phấn đấu đúng đắn, liêntục bền bỉ thì người cán bộ chính trị mới đủ sức vượt qua những khó khăn, thử thách đểvươn lên chiếm lĩnh tri thức mới, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ cáchmạng
Thứ ba: Có phương pháp đánh giá đúng, khéo bố tri sử dụng, luôn quan tâm chăm
lo đời sống vật chất, tinh thần, tạo điều kiện thuận lợi nhất để chính trị viên phát huy hết khả năng của mình.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Biết rõ ràng cán bộ mới có thể cất nhắc cán bộ mộtcách đúng mực" [63, 282] Hiểu biết, đánh giá cán bộ cho đúng là một công việc rấtphức tạp, liên quan đến nhiều mặt Người lý giải: “Trong thế giới cái gì cũng biến hoá
Tư tưởng của người cũng biến hoá Vì vậy cách xem xét cán bộ quyết không nên chấpnhất, vì nó cũng phải biến hoá" [63, 282] Người căn dặn: "xem xét cán bộ, không chỉxem ngoài mặt mà còn phải xem tính chất của họ Không chỉ xem một việc, một lúc màphải xem toàn cả lịch sử, toàn cả công việc của họ" [63, 282] Khi xem xét, đánh giá cán
bộ phải căn cứ vào những chuẩn mực nhất định, chú trọng cả đức và tài, cả phẩm chất
và năng lực, lấy hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ làm thước đo Đối với chính trị viên phảicăn cứ vào sự chuyển biến mọi mặt của bộ đội trong đơn vị để đánh giá Bởi vì, theo HồChí Minh: "chính trị viên tốt thì bộ đội ấy tốt, chính trị viên không hoàn thành nhiệm vụthì bộ đội ấy không tốt" Hồ Chí Minh còn nói đến tư cách của những người được giaotrọng trách đánh giá cán bộ, Người viết: “đã không tự biết mình thì khó mà biết người
Vì vậy muốn biết đúng sự phải trái của người ta, thì trước hết phải biết đúng sự phải tráicủa mình” [63, 277] Người rút ra kết luận: "Muốn biết rõ cán bộ, muốn đối đãi một
Trang 27cách đúng đắn các hạng người, trước hết phải sửa chữa những khuyết điểm của mình.Mình càng ít khuyết điểm thì cách xem xét cán bộ càng đúng" [63, 278].
Khi đề cập đến bố trí, sử dụng cán bộ, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở: phải khéo dùngngười, khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo cất nhắc Người nói: "Nhân tài nước ta dùchưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thìnhân tài càng ngày càng phát triển càng thêm nhiều [60, 99] Người lý giải: "không có
ai cái gì cũng tốt cái gì cũng hay Vì vậy chúng ta phải khéo dùng người, sửa chữanhững khuyết điểm cho họ, giúp đỡ ưu điểm của họ" [63, 274]; “trong quân đội cónhiều người khác nhau, phải khéo dùng tài năng của từng người dùng đúng thì thànhcông, dùng sai thì hỏng việc” [l11,21] Bố trí sử dụng cán bộ phải xuất phát từ yêu cầunhiệm vụ, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Mục đích khéodùng cán bộ, cốt để thực hành đầy đủ chính sách của Đảng và Chính phủ [63, 279] Đềbạt cất nhắc cán bộ phải trên cơ sở khả năng của từng người, đồng thời hướng mọingười hăng hái tích cực phấn đấu Bác dạy: "cất nhắc cán bộ phải vì công tác, tài năng,
vì cổ động cho đồng chí khác thêm hăng hái Như thế công việc nhất định chạy" [63,281] Trong bố trí, sử dụng cán bộ cần khéo kết hợp giữa các loại cán bộ, nhằm pháthuy khả năng của từng người đồng thời phát huy được sức mạnh chung của cả đội ngũ,tạo nên sự vững vàng trong mỗi tổ chức, mỗi đơn vị cả trước mắt và lâu dài
Theo Hồ Chí Minh, trong đội ngũ cán bộ có nhiều người trưởng thành nhanh, uy tíntăng, cũng có người thoái hoá dần, uy tín giảm Vì vậy Người yêu cầu phải thườngxuyên rà soát, sàng lọc, kịp thời thay thế những cán bộ không đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ Người dạy: "nhóm trung kiên lãnh đạo trong mỗi cuộc chiến đấu không nên luônluôn y nguyên như cũ Trong mỗi giai đoạn cần luôn luôn cất nhắc những người hănghái trong giai đoạn đó để thay thế cho những người cũ bị đào thải vì tài không xứngchức, hoặc hủ hoá" [63, 290]
Theo Hồ Chí Minh "mỗi người đều có tính cách riêng sở trường riêng, đời sống riêngcủa từng bản thân và của gia đình mình" [63, 291] , do đó, các cấp lãnh đạo chỉ huy phảithường xuyên quan tâm chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần, tạo điều kiện tốt nhất
để người cán bộ chính trị phát huy hết khả năng của mình Trong đội ngũ chính trị viênhầu hết tuổi đời còn trẻ, do đó vừa phải yêu cầu cao về phẩm chất, năng lực vừa phảibiết quan tâm tạo điều kiện để họ nhanh chóng trưởng thành Người ân cần chỉ bảo:
"phải cho họ điều kiện sinh sống đầy đủ mà làm việc Khi họ đau ốm phải có thuốcthang, tuỳ theo hoàn cảnh mà giúp họ giải quyết vấn đề gia đình Những điều đó rất
Trang 28quan hệ với tinh thần của cán bộ và sự thân ái đoàn kết trong đảng" [63, 277] Hồ ChíMinh còn nhắc nhở: quan tâm đến lợi ích cá nhân, song phải biết đặt lợi ích cá nhântrong lợi ích chung Cán bộ chính trị phải là người thấu hiểu điều kiện của đất nước,cảm thông sâu sắc với hoàn cảnh của nhân dân, có tinh thần chịu đựng khó khăn, khôngkêu ca đòi hỏi, biết "lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ".
Xây dựng đội ngũ cán bộ là quá trình kết hợp chặt chẽ và thống nhất giữa xác địnhphương hướng, thiết kế mô hình với tiến hành các khâu các bước từ tuyển chọn đến đàotạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ chính trị
viên là sự phản ánh những vấn đề đó trên bình diện của tư duy lý luận, mà tư tưởng nổi bật là gắn chặt giữa xây dựng đội ngũ cán bộ với xây dựng đội ngũ đảng viên Gắn chặt
giữa xây dựng đội ngũ cán bộ với xây dựng đội ngũ đảng viên thể hiện rất rõ trong xemxét và giải quyết mối quan hệ giữa vai trò đội ngũ cán bộ với với vai trò đội ngũ đảngviên, trên cơ sở nhận thức sâu sắc vai trò của quần chúng nhân dân trong đấu tranh cáchmạng Trong mối quan hệ với chính trị viên thì những cán bộ, chiến sĩ trong phân độivừa là đối tượng của sự chỉ huy, quản lý vừa là những quần chúng ưu tú của Đảng - chủthể sáng tạo, có tiềm năng, sức mạnh to lớn Do đó, xây dựng đội ngũ chính trị viênkhông chỉ là quá trình tạo ra những người biết chỉ huy, quản lý và “điều khiển đánhtrận”, mà cái chính là tạo dựng nên một đội ngũ giỏi lãnh đạo, giỏi giáo dục, thuyếtphục, giỏi tuyên truyền, vận động và tổ chức quần chúng, hướng sự nỗ lực cao nhất củamỗi người và mọi người phấn đấu hy sinh cho sự nghiệp cách mạng Gắn chặt giữa xâydựng đội ngũ cán bộ với xây dựng đội ngũ đảng viên trong tư tưởng Hồ Chí Minh cònbắt nguồn từ xác định đúng đắn, sáng tạo hình mẫu người chính trị viên Những đòi hỏi
về đức, tài người cán bộ và những yêu cầu về phẩm chất, năng lực người đảng viên cómối quan hệ chặt chẽ thống nhất, trong đó phẩm chất, tư cách người đảng viên cộng sản
là cái lõi Theo Hồ Chí Minh, người chính trị viên phải đủ đức, đủ tài, có tín nhiệm caovới tổ chức, đồng thời có uy tín thực sự với bộ đội và nhân dân Nhân cách người chínhtrị viên phải không ngừng toả sáng, ảnh hưởng sâu nặng đến tư cách, lối sống của cán
bộ, chiến sĩ Mặt khác, sự tin tưởng của tổ chức, sự tín nhiệm của bộ đội và nhân dân là
sự cổ vũ lớn lao đối vớí người chính trị viên để họ vững bước đi lên đạt tới những đỉnhcao về nhân cách
Gắn chặt giữa xây dựng đội ngũ cán bộ với xây dựng đội ngũ đảng viên theo tưtưởng Hồ Chí Minh thể hiện rõ nét nhất ở sự kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo, bồi dưỡngcán bộ với giáo dục, rèn luyện đảng viên Hồ Chí Minh chỉ rõ: "mỗi cán bộ, mỗi đảng
Trang 29viên cần phải có tính đảng mới làm được việc Kém tính đảng thì việc gì cũng khônglàm nên" [63, 266] Kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo, bồi dưỡng cán bộ với giáo dục, rènluyện đảng viên, một mặt nhằm phát huy tốt vai trò của các tổ chức đảng trong đào tạo,bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ, mặt khác đòi hỏi người cán bộ phải đề cao vai trò tiềnphong gương mẫu trước nhân dân, đề cao ý thức trách nhiệm trước Đảng, thường xuyên
tu dưỡng, rèn luyện, học tập ở mọi lúc mọi nơi để nâng cao trình độ mọi mặt nhằm đápứng đòi hỏi của tình hình nhiệm vụ Kết hợp chặt chế giữa đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
với giáo dục, rên luyện đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ nhằm giải
quyết tốt mối quan hệ giữa tổ chức với cán bộ, giữa đào tạo bồi dưỡng với tự đào tạo,bồi dưỡng, mà còn góp phần giải quyết tốt mối quan hệ giữa đức và tài, để các yếu tố đó
tác động chuyển hoá cho nhau theo hướng tích cực nhất, thúc đẩy sự vươn tới ngày càng
hoàn thiện về nhân cách của người cán bộ đảng trong phân đội vũ trang cách mạng.Theo Hồ Chí Minh, khi người cán bộ chính trị có sự giác ngộ chính trị sâu sắc, lạithường xuyên tu dưỡng rèn luyện trau dồi đạo đức cách mạng thì mới có "nguồn sứcmạnh" để vượt qua khó khăn, thử thách; đạt tới sự say mê, sáng tạo trong chiếm lĩnh trithức mới, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ cách mạng Mặt khác, càng họcsâu, hiểu rộng thì bản lĩnh chính trị càng được củng cố, tình cảm cách mạng càng trongsáng, ý chí cách mạng càng sâu sắc, ý thức tổ chức, kỷ luật và tinh thần đoàn kết càngđược nâng cao
Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ chính trị viên bao gồm nhiềunội dung phong phú gắn bó chặt chẽ với nhau Tư tưởng đó không ngừng được bổ sung,phát triển ngày một hoàn thiện, trở thành nhân tố quan trọng hàng đầu định hướng chomọi hoạt động xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị của QĐNDVN
1.2 Quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị phân đội của Quân đội nhân dân Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng
Quá trình hình thành phát triển của đội ngũ CBCTPĐ hơn nửa thế kỷ qua gắn bó hữu
cơ với quá trình xây dựng trưởng thành và chiến thắng của QĐNDVN Sự phát triểnnhanh chóng và vững chắc của đội ngũ này trong giai đoạn lịch sử vẻ vang của dân tộc
đã khẳng định ý nghĩa và giá trị to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũchính trị viên, đồng thời phản ánh sự nỗ lực, sáng tạo của các cấp các ngành, các cơquan, đơn vị trong quán triệt và thực hiện tư tưởng của Người Do đó, đi sâu nghiên cứuquá trình xây dựng đội ngũ CBCTPĐ qua các thời kỳ cách mạng, tìm ra được những bài
Trang 30học kinh nghiệm là một việc làm có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với xây dựng đội ngũnày trong giai đoạn hiện nay.
Thời kỳ trước cách mạng Tháng Tám và trong kháng chiến chống Pháp
Ngay từ khi quân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, nhân dân ta đã anh dũng đứng lênchống xâm lược, nhưng các phong trào yêu nước, các cuộc khởi nghĩa đều lần lượt thấtbại và bị đàn áp khốc liệt Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cho đến đầu thế kỷ XXgặp bế tắc về đường lối Nguyễn Ái Quốc, sau nhiều năm bôn ba tìm đường cứu nước
đã đến với chủ nghĩa Mác-lênin Từ đó, Người thấy rõ: "muốn cứu nước và giải phóngdân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản" [87, 314] Kết luận
ấy đã tạo ra một bước ngoặt quyết định đối với con đường cứu nước của dân tộc ViệtNam Từ đây bắt đầu một giai đoạn mới, giai đoạn chủ nghĩa Mác - Lênin từng bước trởthành ngọn cờ tư tưởng của phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam Tháng 6 năm 1923, khi mới rời nước Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã nêu rõ mục tiêu phấnđấu trước mắt là: "trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ,huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh dành tự do độc lập” [51, 192] Trong tham luận tạiĐại hội lần thứ V Quốc tế cộng sản, Người cho rằng: "nếu hiện nay nông dân vẫn còn ởtrong tình trạng tiêu cực thì nguyên nhân là vì họ còn thiếu tổ chức, thiếu người lãnhđạo" [203, 289].Trong tác phẩm "Bản án chế độ thực dân Pháp", Người chỉ rõ: "ở ĐôngDương chúng ta có đủ tất cả những cái mà một dân tộc mong muốn nhưng chúng tathiếu tổ chức và thiếu người tổ chức" [54, 132] Với suy nghĩ đó, Người đã dành nhiềucông sức để chuẩn bị cơ sở lý luận cho cách mạng Việt Nam và đào tạo một đội ngũ cán
bộ chính trị tương xứng với nhiệm vụ cách mạng đặt ra Trong thời kỳ này, Ngườikhông chỉ tích cực chuẩn bị về chính trị tư tưởng, tổ chức cho sự ra đời của một Đảngmác-xít ở Việt Nam mà còn chủ động chuẩn bị các yếu tố cho sự ra đời của lực lượng
vũ trang cách mạng Cuốn sách "Công tác quân sự của Đảng trong nông dân" được HồChí Minh viết trong thời gian từ Quảng Châu trở lại Matxcơva, "chứa đựng những tưtưởng quan trọng về vai trò của giai cấp nông dân trong cách mạng, về tổ chức, cấu trúc
và hoạt động du kích trong tiến trình cách mạng” [134, 528] Trong thời gian ở QuảngChâu, Nguyễn Aí Quốc đã lựa chọn những thanh niên ưu tú gửi đi học trường quân sựHoàng Phố Người đã trực tiếp giới thiệu và chịu trách nhiệm đối với học sinh ngườiViệt Nam cho đến vụ chính biến tháng 4 năm 1927 Cùng với việc đào tạo đội ngũ cán
bộ quân sự cách mạng, Nguyễn Ái Quốc cho xuất bản bán nguyệt san "Lính cáchmạng", nhằm chuẩn bị tiến tới thành lập lực lượng vũ trang cách mạng
Trang 31Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đánh dấu bước ngoặtquyết định của cách mạng Việt Nam Trong chính cương vắn tắt của Đảng do Nguyễn
Ái Quốc trình bày, lần đầu tiên vấn đề tổ chức quân đội công nông được nêu ra Tháng
3 năm 1935, Đại hội lần thứ nhất của Đảng được tiến hành tại Ma Cao (Trung Quốc).Ngoài nghị quyết về đường lối cách mạng, Đại hội đã có riêng "Nghị quyết về đội tựvệ" Trong nghị quyết này, Đảng ta đã chủ trương "đem những đảng viên và đoàn viêncương quyết nhất vào tự vệ và các cấp bộ chỉ huy của tự vệ Trong các ban chỉ huy ở cấptrung đội, đại đội, bên cạnh đội trưởng và phó đội trưởng có “một người đại biểu củaĐảng cộng sản” [19, 118] Năm 1940, tình hình ở Việt Nam và Đông Dương có sựchuyển biến mạnh mẽ Dưới sự lãnh đạo của đảng bộ địa phương, quần chúng nhân dân
ở Bắc Sơn nổi dậy khởi nghĩa, và đội du kích Bắc Sơn đã ra đời Sau đó không lâu cuộckhởi nghĩa của nhân dân Nam Kỳ lại bùng nổ Tình hình ngày một khẩn trương, tháng 1năm 1941, Nguyễn ái Quốc về nước Tháng 5 năm 1941, Người triệu tập Hội nghị lầnthứ tám của Trung ương Đảng Từ sự phát triển nhanh chóng của lực lượng vũ trang ởcác địa phương, hội nghị đã định ra “điều lệ của Việt Nam tiểu tổ du kích cứu quốc”trong đó xác định: mỗi trung đội, đại đội và liên tiểu tổ du kích có đội trưởng, đội phóchỉ huy quân sự, còn về mặt chính trị có "một uỷ viên chính trị chỉ huy" [19, 213] Cuốinăm 1941, tại Cao Bằng đội du kích thoát ly tập trung đầu tiên được thành lập Hồ ChíMinh trực tiếp chỉ đạo xây dựng chi bộ, lựa chọn cấp uỷ, lựa chọn đội trưởng, đội phó
và chính trị viên Người thảo ra 10 điều kỷ luật và những nguyên tắc xây dựng, nguyêntắc hoạt động của đội Những nguyên tắc đó xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ chính trị,bản chất cách mạng, chức năng chính trị xã hội của đội du kích Trong thời gian này,Người còn biên soạn một số tài liệu để huấn luyện cho đội du kích như "Kinh nghiệm
du kích Trung Hoa"; "Kinh nghiệm du kích Pháp"; "Phép dùng binh của Tôn Tử”;
"Cách huấn luyện cán bộ của Khổng Minh" Trong tác phẩm "chiến thuật du kích", ở
phần cơ quan chỉ huy, Người viết "về mặt chính trị cấp nào cũng có một người chính trị
phái viên do đoàn thể cách mạng chọn trong bộ đội ấy hoặc phái người ngoài đến làm".Tháng 12 năm 1944 Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ra đời Trong chỉ thịthành lập Đội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ chức năng nhiệm vụ của đội lúc này là
"chính trị trọng hơn quân sự" [57, 507] Người còn căn dặn: "Tổ chức của đội phải lấychi bộ Đảng làm hạt nhân lãnh đạo" [32, 141] Chỉ sau một tuần khi thành lập, Đội ViệtNam tuyên truyền giải phóng quân đã phát triển thành một đại đội Ban công tác chính
Trang 32trị được thành lập do chính trị viên đại đội phụ trách, có ba chính trị viên trung đội vàmột đội viên có năng lực chính trị tham gia [5, 120].
Trước sự phát triển mạnh mẽ của các đơn vị vũ trang trong cao trào kháng Nhật, Hộinghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ đã ra nghị quyết: "Kiến lập công tác chính trị trong bộđội, trau dồi kỷ luật chỉ định các chính trị uỷ viên, các chi đội trưởng và chính trị viênchi đội Trong mỗi chiến khu có một Bộ tư lệnh, một hay nhiều chính trị uỷ viên hoặcđại biểu hay phái viên của uỷ ban quân sự cách mạng" [19, 284-285] Ngày 4 tháng 6năm 1945, trong nghị quyết "lập khu giải phóng", Trung ương Đảng đã quyết định: "đặtchính trị viên trong quân đội" [19, 294]
Thi hành nghị quyết Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, đầu tháng 7 năm 1945,trường "Quân chính kháng Nhật" được thành lập Trường có nhiệm vụ đào tạo trung độitrưởng và chính trị viên trung đội Học viên gồm "đội viên hoặc cán bộ đã được thửthách trong Giải phóng quân và một số thanh niên ở miền xuôi do các đoàn thể cứuquốc giới thiệu lên Mỗi khoá có khoảng 100 học viên" [5 141] Để có tài liệu phục vụcho công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh trựctiếp bồi dưỡng và chỉ đạo các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp biên soạn
"Cuốn sách của chính trị viên" trong quân đội Đây là cuốn sách đầu tiên xác định rõ vịtrí, vai trò, nhiệm vụ của người chính trị viên, đồng thời chỉ ra những phương hướng cơbản về công tác chính trị trong lực lượng vũ trang cách mạng
Cách mạng tháng Tám thắng lợi, ngày 2 tháng 9 năm 1945, nước Việt Nam dân chủcộng hoà ra đời Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị: phải nhanh chóng chấn chỉnh, mở rộngGiải phóng quân Việt Nam và đổi tên là Vệ quốc đoàn Ngày 23 tháng 9 năm 1945, thựcdân Pháp nổ súng tấn công Sài Gòn Cuộc kháng chiến ở Nam Bộ bùng nổ Trong caotrào toàn dân đứng lên bảo vệ chính quyền nhân dân, chủ quyền dân tộc, trên cơ sở lựclượng chính trị rộng rãi của quần chúng và phong trào toàn dân vũ trang, trong một thờigian ngắn các lực tung vũ trang cách mạng đã phát triển một bước nhẩy vọt Đội ngũcán bộ chính trị trong các đơn vị đó phần đông là cán bộ lãnh đạo ở các địa phươngđược điều động vào quân đội, số còn lại được chọn lọc từ các đơn vị Vệ quốc quân.Ngày 25 tháng 3 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh xác định rõ nhiệm vụcủa chính trị cục, Bộ Quốc phòng: "Đào tạo các chính trị viên phái đi các bộ đội để giữvững và nâng cao tinh thần chiến đấu, tinh thần ái quốc và sự tôn trọng kỷ luật trongquân đội"[118, 30] Bên cạnh trường Quân chính Bắc Sơn, trường võ bị Trần QuốcTuấn, trường Lục quân Quảng Ngãi, các chiến khu cũng tổ chức các trường quân chính,
Trang 33bổ túc và đào tạo cán bộ quân sự và chính trị cấp trung đội Phương hướng tuyển lựahọc viên chủ yếu là lấy cán bộ chính trị trong các đoàn thể cứu quốc, cán bộ, chiến sĩtrong các đơn vị bộ đội và tự vệ có thành tích công tác và chiến đấu [5, 232] Phươngthức đào tạo cán bộ chính trị lúc này là đào tạo, bồi dưỡng hỗn hợp với cán bộ quân sự
và cán bộ khác Thời gian bồi dưỡng không dài, có tính chất bổ túc ngắn hạn là chủ yếu.Đến đây đội ngũ cán bộ chính trị đã khá đông đảo Tuy vậy, việc lựa chọn, đào tạo cán
bộ chính trị còn gặp nhiều khó khăn, có nơi còn thiếu chặt chẽ trong công tác tuyểnchọn , nên đã đưa vào một số người không đủ tiêu chuẩn chính tri Trước tình hình đó,Hội nghị quân sự toàn quốc của Đảng đã đề ra nhiệm vụ: "chỉnh đốn các chính trị viênbằng cách đưa người có năng lực vào"; "mở trường huấn luyện chính trị viên"; "quyđịnh rõ chế độ chính trị viên và cơ quan chính trị trong bộ đội" [118, 34-35], "một mặtcần phải đặt chế độ khảo sát cán bộ chính trị trong bộ đội" [l18, 87]
Quán triệt nghị quyết trên, Cục Chính trị, Bộ Quốc phòng tổ chức trường NguyễnTrãi để đào tạo cán bộ chính trị sơ cấp cho quân đội Trong thời gian ngắn, với hai khoáđào tạo (khoá I khai giảng ngày 1 tháng 8 năm 1947, khoá II khai giảng ngày 5 tháng 11năm 1947) đã kịp thời cung cấp hàng trăm cán bộ chính trị cho toàn quân Cũng trongthời gian này, hàng nghìn chính trị viên trung đội, đại đội lần lượt được dự các lớp bồidưỡng về nhiệm vụ công tác chính trị tổ chức ngay ở chiến khu, một lớp từ 5 đến 10ngày [5, 309]
Để bàn bạc, tháo gỡ nhiều vấn đề về nhiệm vụ công tác chính trị, nhiệm vụ và quyềnhạn của chính trị viên Quân uỷ triệu tập các hội nghị chính trị viên toàn quốc Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã gửi thư chúc mừng và định hướng những vấn đề cơ bản về vai trò,nhiệm vụ của chính trị viên để hội nghị thảo luận Trên cơ sở những định hướng đó, hộinghị bàn bạc thống nhất về nhiệm vụ, quyền hạn cơ quan chính trị các cấp, chỉ ra nhữngnội dung, biện pháp về công tác đào tạo, bồi dưỡng chính trị viên và bổ túc về chính trịcho cán bộ quân sự Thành công của các hội nghị này đánh dấu bước trưởng thành mớitrong quá trình xây dựng, phát triển của đội ngũ cán bộ chính trị trong quân đội nóichung, CBCTPĐ nói riêng
Tiếp theo các hội nghị chính trị viên, Tổng chính uỷ triệu tập hội nghị bí thư chi bộ,hội nghị tuyên huấn, tổ chức toàn quân để bồi dưỡng kiến thức về CTĐ, CTCT vànghiên cứu mở rộng dân chủ, đề cao kỷ luật trong quân đội
Trong quá trình tổ chức, xây dựng lực lượng và tiến hành các chiến dịch lớn năm
1950 - 1951, các đại đoàn 308, 312, 320, 351 đã được thành tập Trước sự phát triển
Trang 34đó, nhiều đồng chí cán bộ có uy tín trong các cấp uỷ đảng ở các địa phương được điềuđộng và bổ nhiệm làm chính trị viên tiểu đoàn chính trị viên đại đội Việc nâng cao chấtlượng chính trị các đơn vị trước tình hình và nhiệm vụ mới đã đặt ra yêu cầu rất cao vềchất lượng đội ngũ cán bộ Tháng 7 năm 1951 Tổng quân uỷ mở trường chính trị trungcấp Ngay khoá học đầu tiên, ngày 25 tháng 10 năm 1951, nhà trường đã vinh dự đượcđón Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và huấn thị Sau chỉnh huấn chính trị Quân đội tabước vào chỉnh huấn quân sự Kết quả của hai cuộc chỉnh huấn chính trị và quân sự,chấn chỉnh tổ chức, biên chế, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng trong bộ đội chủ lực,không chỉ trực tiếp bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, quân sự cho đội ngũ cán bộcác cấp mà còn bảo đảm cho CTĐ,CTCT trong quân đội nói chung, công tác xây dựngđội ngũ cán bộ chính trị nói riêng có cơ sở vững chắc để thực hiện tốt mục tiêu, nhiệmvụ.
Trước khi bước vào Đông xuân 1953 - 1954, Tổng cục Chính trị có chỉ thị hướng dẫncác đơn vị đề bạt cán bộ cùng các văn bản chỉ thị về công tác địch vận, công tác tuyêntruyền cổ động, công tác thi đua khen thưởng, công tác chính sách, công tác bảo vệ v.v qua đó bồi dưỡng, hướng dẫn, nâng cao năng lực tiến hành CTĐ, CTCT cho đội ngũcán bộ chính trị các cấp
Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, sự chỉ đạo hướngdẫn đúng đắn kịp thời của TCCT, công tác xây dựng, củng cố, kiện toàn đội ngũ cán bộnói chung, CBCTPĐ nói riêng được tiến hành một cách tích cực và toàn diện trong hầuhết các đơn vị Cùng với việc bồi dưỡng, quản lý sử dụng của cấp uỷ, chỉ huy, công tácgiáo dục, rèn luyện bồi dưỡng, đề bạt cán bộ còn thông qua sinh hoạt dân chủ của quầnchúng trong sơ kết, tổng kết sau mỗi chiến dịch để đánh giá cán bộ chính xác hơn, thấy
cả mặt mạnh và mặt yếu mà đặt kế hoạch bồi dưỡng cán bộ chuẩn bị cho chiến dịch sautốt hơn Nhờ đó, chỉ trong một thời gian không lâu, đội ngũ CBCTPĐ đã có sự trưởngthành về mọi mặt và phát triển ngày càng vững chắc, góp phần quan trọng vào sựtrưởng thành của Quân đội ta, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi
Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ
Thắng lợi của quân và dân ta ở chiến dịch Điện Biên Phủ đã mở ra một giai đoạnphát triển mới của cách mạng Việt Nam Giữa tháng 7 năm 1954, khi Hội nghi Giơnevơchưa kết thúc, tại Hội nghị lần sáu BCHTW Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:
“Mỹ không những là kẻ thù của nhân dân thế giới mà Mỹ đang biến thành kẻ thù chính
Trang 35và trực tiếp của nhân dân Việt, Miên, Lào” [79, 314] Người kêu gọi “tập trung lựclượng chống đế quốc Mỹ”.
Trước tình hình nhiệm vụ mới, Bộ Chính trị ra quyết định xây dựng QĐND thànhmột quân đội cách mạng, chính quy tương đối hiện đại Trong nghị quyết nhấn mạnh:
“xây dựng quân đội là một nhiệm vụ trường kỳ và phức tạp, trong đó công tác quantrọng nhất và thường xuyên nhất là huấn luyện quân đội, đặc biệt là huấn luyện cán bộ”[116, 11] Phương châm xây dựng quân đội cũng được xác định: “chính quy hoá phải từ
cơ sở chính trị của một quân đội cách mạng” [116, 19] Do đó, phải coi trọng “kiện toàncác cấp uỷ đảng, chuẩn bị chi bộ ra công khai” [116, 20] Nói chuyện với các đơn vịquân đội chuẩn bị cuộc duyệt binh ngày 1 tháng 1 năm 1955, Chủ tịch Hồ Chí Minhdạy: “nhiệm vụ của quân đội hiện nay là phải cố gắng tiến lên chính quy Đây là nhiệm
vụ mới Không nên vì hoà bình mà xao lãng học tập… cần học chính trị để nắm vữngchính sách của Đảng và Chính phủ, để đi đúng đường lối của nhân dân” [80, 425] Vớiđội ngũ cán bộ, Người căn dặn: “từ bước đi từ cái chào đều phải chính quy hoá, cán bộphải tiến trước và làm gương mẫu cho chiến sĩ” [80, 426]
Tháng 12 năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh ban hành chế độ phục vụ sĩquan, chế độ phong quân hàm, chế độ tiền lương và chế độ khen thưởng của QĐND.Đây là những sự kiện có ý nghĩa quan trọng tạo điều kiện thuận lợi mới để nâng caomột bước chất lượng đội ngũ cán bộ quân đội nói chung, cán bộ chính trị nói riêng.Quá trình xây dựng quân đội chính quy, hiện đại, bên cạnh những ưu điểm, thành tựucũng đã xuất hiện khuynh hướng tư tưởng: “hạ thấp vai trò Đảng, vai trò công tác chínhtrị xuống địa vị bảo đảm cho mệnh lệnh của thủ trưởng" [120, 313]; "chế độ hai thủtrưởng cũng bị giảm sút, xem nhẹ vai trò của chính trị viên nhất là ở tiểu đoàn đại đội,
có ý kiến đề nghị bỏ chính trị viên từ tiểu đoàn trở xuống, không ít cán cán bộ chính trị
muốn chuyển sang cán bộ quân sự [120, 315] Để góp phần khắc phục những khuynh
hướng tư tưởng lệch lạc, Tổng Quân uỷ đã đi sâu phân tích làm rõ mục đích, ý nghĩacủa công tác chính trị: "công tác chính trị là mạch máu là linh hồn của quân đội, 'nó
cũng là vấn đề phân biệt giữa quân đội cách mạng và quân đội phản cách mạng trong giai đoạn mới công tác chính trị lại càng phải được giữ vững và củng cố, bảo đảm cho
quân đội làm tròn được nhiệm vụ chính qui và hiện đại" [116, 36-37]; "chiến tranh hiệnđại lại ác liệt và gian khổ, đòi hỏi ở mỗi chiến sĩ trong quân đội một trình độ giác ngộchính trị thật cao và một ý chí chiến đấu mạnh mẽ bởi vậy, việc tăng cường sự lãnh
Trang 36đạo của Đảng và công tác chính trị trong việc xây dựng chính quy hoá, hiện đại hoá có ýnghĩa quan trọng vào bậc nhất, có một tác dụng quyết định" [116, 51].
Quán triệt các Nghị quyết của Trung ương, chỉ thị hướng dẫn của TCCT, các đơn vị
đã tiến hành chuyển một số cán bộ ra các cơ quan bên ngoài Trong số CBCTPĐ chuyển
ra có không ít đồng chí giữ cương vị chủ chốt trong các tổ chức Đảng ở các nhà máy, xínghiệp, nông trường, bệnh viện Số cán bộ trưởng thành qua thực tế chiến đấu chưa cóđiều kiện học tập được luân chuyển về các nhà trường để học tập Các nhà trường quânđội được củng cố một bước, nhiều trường được mở rộng để tăng cường lưu lượng họcviên Tháng 9 năm 1959, khoa CTĐ, CTCT của trường Chính trị trung cao cấpQĐNĐVN được thành lập Nội dung CTĐ, CTCT được biên soạn lại và có bổ sungnhững bài học kinh nghiệm qua tổng kết cuộc kháng chiến chống Pháp và những nămđầu xây dựng quân đội trong hoà bình, tỷ lệ giáo dục lý luận chính trị đối với các trườngđào tạo CBCTPĐ cũng được tăng lên phương pháp giảng dạy đã có nhiều cải tiến.Song song với việc nâng cao chất lượng dạy và học trong các nhà trường, ở các đơn vịcũng đã động viên và tổ chức được một phong trào sôi nổi và có nề nếp việc học tập tạichức về chính trị, quân sự nhằm nâng cao trình độ giác ngộ XHCN, quán triệt đường lốinhiệm vụ chính trị và quân sự của Đảng Nhờ hiểu biết lý luận và phương pháp tư tưởngđúng đắn, trình độ giác ngộ chính trị và năng lực tiến hành CTĐ, CTCT của cán bộphân đội được nâng lên một bước rõ rệt
Hội nghị lần thứ 15 BCHTW khẳng định con đường giải phóng miền Nam là conđường cách mạng bạo lực Kết luận hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Nhiệm vụcứu nước là của toàn Đảng, toàn dân nếu ta tổ chức lực lượng chính trị cho tốt, khi cần
"công tác bí thư đảng uỷ" và "công tác chính trị đại đội" được biên soạn khá công phu
và lưu hành rộng rãi ở hầu khắp các đơn vị Các đợt sinh hoạt đẩy mạnh tự phê bình và
phê bình trong sinh hoạt đảng; thực hiện cuộc vận động xây dựng chi hộ 4 tốt; thiết lập
Trang 37tổ chức đoàn thanh niên ở đơn vị cơ sở v.v đã tạo điều kiện thuận lợi để đội ngũCBCTPĐ nâng cao kiến thức và kinh nghiệm tiến hành CTĐ, CTCT.
Bị thất bạt trong chiến lược "chiến tranh đặc biệt", đế quốc Mỹ chuyển sang chiếnlược "chiến tranh cục bộ" ồ ạt đưa quân viễn chinh vào miền Nam, đẩy mạnh chiếntranh phá hoại bằng không quân và hải quân ra miền Bắc
Trước tình hình, nhiệm vụ mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: “phải kiện toàn sựlãnh đạo của các cấp, các ngành, phải mạnh dạn giao việc cho những cán bộ trẻ đã đượcrèn luyện thử thách, phải rất coi trọng việc củng cố các chi bộ và chi đoàn cơ sở" [92,21] Để có đủ cán bộ kịp đáp ứng theo yêu cầu thời chiến, Quân uỷ Trung ương chủtrương chuyển hướng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, với phương châm lấy bồidưỡng ngắn ngày, kèm cặp trong thực tế chiến đấu, công tác là chủ yếu; đồng thời mởrộng quyền hạn trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính trị cho cấp quân khu, sưđoàn Thực hiện động viên sĩ quan dự bị và rút bớt cán bộ các nhà trường, các cơ quanđơn vị đưa xuống chiến đấu nên đã đáp ứng một phần về số lượng và tăng cường chấtlượng cho đơn vị, đồng thời tạo điều kiện cho cán bộ rèn luyện trưởng thành Tuy vậy
số CBCTPĐ vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu nên Đảng, Nhà nước đã điều động thêmnhiều cán bộ dân, chính, Đảng bổ sung vào quân đội TCCT có chỉ thị hướng dẫn: “Vớinhững đồng chí huyện uỷ viên, bí thư Đảng uỷ xí nghiệp, công trường, cán bộ có trình
độ lãnh đạo tương đương huyện uỷ viên thì xếp chính trị viên đại đội Với những đồngchí có trình độ lãnh đạo tương đương bí thư Đảng uỷ xã thì xếp chính trị viên phó đạiđội” [121, 34] Việc bố trí sắp xếp CBCTPĐ được gắn chặt với công cuộc xây dựng
“chi bộ 4 tốt” và rèn luyện đảng viên Các cấp uỷ được củng cố kiện toàn, hầu hết cácđại đội có chi uỷ, tiểu đoàn có đảng uỷ
Đối với quân giải phòng miền Nam, trước yêu cầu khẩn trương phát triển lựclượng và đòi hỏi của cuộc chiến đấu ngày càng gay go quyết liệt, nhưng “hệ thống cán
bộ chính trị và cán bộ đại đội thiếu nhiều, yếu, ít kinh nghiệm, nhất là công tác chính trịtrong chiến đấu” [120, 678] Tháng 1 năm 1965, Quân uỷ Trung ương thông qua kếhoạch của TCCT về công tác cán bộ với phương hướng: “tích cực bổ sung cán bộ miềnNam, phải lấy việc tăng cường chất lượng là chính, phải mau chóng xây dựng đội ngũ giáo viên cho miền Nam để tự miền Nam đào tạo trung đội trưởng và cán bộ chính trị sơcấp” [120, 635] Các trường quân chính Miền được kiện toàn để đào tạo cán bộ tại chỗ
và tiến hành bồi dưỡng kiến thức, kinh nghiệm chiến trường cho số cán bộ mới ở miềnBắc vào Trong chỉ thị “về vấn đề nâng cao chất lượng cán bộ”, TCCT chỉ rõ những yêu
Trang 38cầu cụ thể về phẩm chất, năng lực của cán bộ chính trị: “Có lập trường tư tưởng kiênđịnh, tích cực tận tuỵ trong công tác; giỏi công tác xây dựng đảng; quản lý tốt bộ đội vềmặt chính trị tư tưởng và tổ chức Có năng lực chỉ đạo thực hiện tốt công tác chính trịtrong huấn luyện quân sự, trú quân, hành quân và chiến đấu [121, 195] Bước vào chiếndịch Tổng tiến công mùa xuân 1968 Quân uỷ Trung ương và TCCT yêu cầu các đơn vị:
"phải có nhiều biện pháp thường xuyên liên tục bồi dưỡng cán bộ, hết sức chú trọng bồidưỡng nguồn kế tiếp"; "chủ động đề bạt cán bộ trong chiến đấu, mạnh dạn đưa từ dướilên, không để thiếu cán bộ trong bất kể tình huống nào, nhất là cán bộ chủ trì, cán bộchính trị" [121, 227] Nhờ có chủ trương biện pháp đúng đắn và sự chấp hành tích cực,nghiêm chỉnh của các cấp nên đội ngũ CBCTPĐ thời kỳ này đã có sự phát triển nhanhchóng cả về số lượng và chất lượng, góp phần cùng toàn quân, toàn dân đánh bại chiếnlược chiến tranh cục bộ và chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đếquốc Mỹ"
Ngày 2 tháng 9 năm 1969, thủ tịch Hồ Chí Minh từ trần Trước anh linh của Người,toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã thề: "đi theo con đường của Người, tiếp tục sự nghiệp
vĩ đại của Người" BCHTW Đảng mở đợt sinh hoạt chính trị lớn trong Đảng, trong nhândân và các lực lượng vũ trang: "học tập và làm theo Di chúc của Hồ Chủ tịch" Chươngtrình học tập lý luận cơ bản của cán bộ tại chức và tại trường sau mấy năm tạm dừng vìhoàn cảnh chiến đấu ác liệt đã được khôi phục trở lại Đội ngũ cán bộ chính trị hầu hếtđược bổ túc (một năm) hoặc đào tạo ba năm [6, 373] Song song với công tác đào tại bồidưỡng cán bộ, Quân uỷ Trung ương và TCCT còn tổ chức nhiều hội nghị sơ kết, tổngkết CTĐ, CTCT Một trong những vấn đề được nhấn mạnh trong các hội nghị là phảibám sát cơ sở, coi trọng xây dựng chi bộ, "có chi bộ mạnh mới có đơn vị cơ sở vữngmạnh và có điều kiện xây dựng Đảng bộ, xây dựng trung, sư đoàn mạnh" [121, 747].Một số kinh nghiệm về công tác cán bộ được rút ra là: “bồi dưỡng nâng cao trình độtoàn diện của cán bộ các cấp phải gắn với quản lý và sử dụng tốt cán bộ trong quá trìnhchiến đấu”; "ra sức phát huy bồi dưỡng tốt đội ngũ cán bộ lâu năm, có kinh nghiệmđồng thời phải hết sức tích cực đào tạo đội ngũ cán bộ trẻ để đảm bảo đáp ứng yêu cầunhiệm vụ xây dựng, chiến đấu của quân đội trước mắt và lâu dài" [121, 424]
Ngay sau khi Hiệp định Pari được ký kết, Quân uỷ Trung ương đã chỉ rõ: “bất kểtrong tình hình nào cũng giữ vững phát triển lực lượng ta về mọi mặt" Về công tác cán
bộ, Quân uỷ Trung ương chủ trương: phải nâng cao chất tượng toàn diện, vừa tập trungbồi dưỡng, phát huy tốt số cán bộ hiện có vừa tích cực đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ kế
Trang 39tiếp Các trường của Bộ được củng cố, các trường quân khu được thành lập thêm để đàotạo cán bộ tại chỗ Biện pháp luân phiên đi chiến trường cũng được áp dụng rộng rãi vớiCBCTPĐ ở các đơn vị phía sau Theo chủ trương của Quân uỷ Trung ương và sự chỉđạo hướng dẫn của TCCT , các đơn vị trong toàn quân đã tiến hành tuyển lựa và điềuđộng những cán bộ chính trị trẻ, khoẻ, có nhiều triển vọng đến các đơn vị thuộc cácbinh đoàn cơ động mới thành lập và đáp ứng nhu cầu phát triển của các binh chủng kỹthuật hiện đại.
Quán triệt các nghị quyết của Trung ương Đảng và Bộ Chính trị về hoàn thành cáchmạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, giành thắng lợi hoàn toàn cho cuộc khángchiến chống Mỹ của nước, ĐUQSTW và TCCT vừa tập trung lãnh đạo, chỉ đạo làmthông suốt quyết tâm lịch sử vừa chỉ đạo hướng dẫn các đơn vị củng cố kiện toàn tổchức và sắp xếp điều động cán bộ Các quân đoàn, sư đoàn đã tiến hành tập huấn chocán bộ trước khi mở chiến dịch và ngay giữa các đợt của chiến dịch Các cấp uỷ Đảngthông qua kế hoạch và có quy định chặt chẽ số lượng cán bộ tham gia tăng trận đánh.Đối với cán bộ chính trị tiểu đoàn, đại đội đều có dự kiến người sẵn sàng thay thế theođội hình ba thê đội Việc bồi dưỡng cán bộ phân đội cũng được coi trọng với phươngchâm: trên bồi dưỡng dưới, cũ bồi dưỡng mới, cán bộ đương nhiệm trực tiếp bồi dưỡngnhững người dự kiến thay thế Nhờ đó, trong suốt các chiến dịch vẫn duy trì được sựlãnh đạo giữ vững được sức mạnh chiến đấu của các đơn vị, góp phần đưa cuộc khángchiến chống Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn
Thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Sau ngày giải phóng miền Nam, nhân dân ta đang ra sức xây dựng lại đất nước,nhưng chưa được bao lâu, lại phải tiếp tục chiến đấu ở Tây Nam và biên giới phía Bắc.Trước tình hình đó, Quân đội ta vừa phải xây dựng củng cố, nâng cao sức mạnh chiếnđấu đánh bại âm mưu phá hoại của kẻ thù, bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc vừa phảithực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả, đồng thời triển khai thực hiện nhiệm vụ xây dựngkinh tế trên quy mô lớn Ngay từ khi chuyển sang giai đoạn mới Quân uỷ Trung ương
đã chỉ đạo các đơn vị "kiện toàn tổ chức, ổn định sắp xếp cán bộ để bảo đảm các nhiệm
vụ mới, đồng thời thực hiện một bước việc giảm số lượng cán bộ theo quy định chung
về tổng quân số trong thời bình, đẩy mạnh công tác bồi dưỡng học tập cả tại trường vàtại chức, nâng cao một bước trình độ cán bộ hiện có lên đồng đều; triển khai thực hiệnviệc đào tạo cán bộ một cách cơ bản theo kế hoạch dài hạn" [23, 20] Ngày 14 tháng 1năm 1976 trường Sĩ quan Chính trị được thành lập trên cơ sở hệ đào tạo sơ cấp của Học
Trang 40viện Chính trị với nhiệm vụ đào tạo chính trị viên đại đội cho toàn quân Song song vớiviệc nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ tại trường, các hình thức bồi dưỡng nâng caotrình độ mọi mặt cho cán bộ cơ sở cũng được xác định là một nội dung chủ yếu để thựchiện cuộc vận động “Phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu của cáclực lượng vũ trang".
Tháng 5 năm 1979, Thường vụ Quân uỷ Trung ương ra nghị quyết về “tổ chức thựchiện chế độ một thủ trưởng trong QĐNDVN" Theo nghị quyết, ở các đại đội tiểu đoàn
có chỉ huy trưởng và các phó chỉ huy về chính trị, hậu cần kỹ thuật Về phương hướngnhiệm vụ công tác nhà trường quân đội thời kỳ này Quân uỷ Trung ương xác định: “rasức phát huy kinh nghiệm công tác nhà trường những năm qua, tích cực học lập nhữngkinh nghiệm tiên tiến về công tác nhà trường của Liên Xô, trong hai kế hoạch 5 năm tới,chấn chỉnh, củng cố kiện toàn hệ thống nhà trường theo trình độ học vấn đạt 5 tiêuchuẩn chính quy hiện đại cơ bản 3 năm Từ đây, trường sĩ quan Chính trị - quân sự thựchiện chế độ tuyển sinh và chiêu sinh mới, tiếp nhận những quân nhân và học sinh đã tốtnghiệp phổ thông trung học vào đào tạo theo quy chế của Bộ Đại học
Tháng 12 năm 1982, Bộ Chính trị BCHTW Đảng ra Nghị quyết 07 về "Đổi mới,hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với QĐNDVN, sự nghiệp quốc phòng và thựchiện chế độ một người chỉ huy trong quân đội" Sau một thời gian thực hiện, nhận thấyviệc bỏ hệ thống cấp uỷ từ Quân uỷ Trung ương đến cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sởĐảng, bỏ chế độ chính uỷ, chính trị viên trong quân đội ta đã làm cho chất lượng độingũ cán bộ chính trị, chất lượng hiệu quả CTĐ, CTCT bị giảm sút nghiêm trọng nêntháng 7 năm 1985 Bộ Chính trị ra Nghị quyết 27, khôi phục lại hệ thống tổ chức Đảng
từ cơ sở đến toàn quân.Trong Nghị quyết 246 "về quy hoạch sắp xếp cán bộ chủ trì đếnnăm 1995 và chuẩn bị cho năm 2000", ĐUQSTW đã chỉ ra những hạn chế: từ khi thựchiện chế độ một người chỉ huy và cơ chế lãnh đạo theo Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị,
số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ chính trị giảm sút trong đội ngũ cán bộ chủ trìlớp cán bộ đương chức, nguồn kế cận và nguồn dự bị lâu dài đều khó khăn hơn các loạicán bộ khác" [14, 53] Trong báo cáo trình ĐUQSTW, TCCT cũng nhận thấy nhữngkhuyết điểm, hạn chế: “chưa quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị nên số lượngthiếu, chất lượng yếu, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới Các biệnpháp tạo nguồn đào tạo, bồi dưỡng chưa được nghiên cứu đầy đủ” [16, 98] Về phưnghướng nhiệm vụ công tác cán bộ, TCCT xác định: "tập trung quy hoạch lại đội ngũ cán
bộ chính trị, đảm bảo cả số lượng và chất lượng đáp ứng với nhiệm vụ chính trị của