1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÀI LIỆU THAM KHẢO tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH về NHÀ nước PHÁP QUYỀN xã hội CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

56 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 271 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, chính quyền nhà n¬ước là vấn đề rất mấu chốt, rất cơ bản mà giai cấp vô sản cùng nhân dân lao động phải nhận thức sâu sắc và giải quyết chính xác trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng khỏi mọi ách áp bức, bóc lột giai cấp; cải tạo xã hội cũ và xây dựng thành công xã hội mới. Xây dựng nhà nước pháp quyền là một yêu cầu tất yếu, khách quan và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Thực hiện dân chủ là một trong những nội dung cơ bản của nhà nước pháp quyền, đặc biệt là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Không có nhà nước pháp quyền thực sự thì không có nền dân chủ rộng rãi và bền vững.

Trang 1

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

MỞ ĐẦU

Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, chính quyền nhà nước là vấn đề rấtmấu chốt, rất cơ bản mà giai cấp vô sản cùng nhân dân lao động phải nhậnthức sâu sắc và giải quyết chính xác trong cuộc đấu tranh để tự giải phóngkhỏi mọi ách áp bức, bóc lột giai cấp; cải tạo xã hội cũ và xây dựng thànhcông xã hội mới Xây dựng nhà nước pháp quyền là một yêu cầu tất yếu,khách quan và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại Thực hiện dân chủ

là một trong những nội dung cơ bản của nhà nước pháp quyền, đặc biệt làNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân Không có nhànước pháp quyền thực sự thì không có nền dân chủ rộng rãi và bền vững Dânchủ đóng vai trò cơ sở, động lực thúc đẩy sự phát triển của nhà nước phápquyền Đối với nước ta, dân chủ hoá xã hội vừa là điều kiện tiên quyết để xâydựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vừa là biện phápcăn bản để đẩy nhanh sự phát triển của đất nước

Xây dựng nhà nước pháp quyền là một đòi hỏi tất yếu, khách quan và phùhợp với xu thế phát triển lịch sử chung của xã hội loài người, bởi nhà nước phápquyền là một giá trị chung của nhân loại trên con đường phát triển tiến bộ Ởnước ta vẫn đang tồn tại quan niệm xem nhà nước pháp quyền như là một sảnphẩm của chủ nghĩa tư bản, do đó nó là cái đã lỗi thời, không tiến bộ, trái ngược

và không thích dụng với chủ nghĩa xã hội Cũng giống như thái độ không đúngtrước đây về kinh tế thị trường, quan niệm sai trái như vậy về nhà nước phápquyền đang gây cản trở đối với tiến trình phát triển xã hội nói chung, cho việcxây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân nói riêng

Tại Đại hội toàn quốc lần thứ IX, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định:

“Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là

Trang 2

Nhà nước phỏp quyền của dõn, do dõn, vỡ dõn”1 Như vậy, đối với nước ta hiệnnay, việc xõy dựng Nhà nước phỏp quyền xó hội chủ nghĩa của dõn, do dõn, vỡdõn đang trở thành vấn đề thời sự cấp bỏch Bởi vỡ nhà nước luụn là "một trongnhững vấn đề phức tạp nhất, khú khăn nhất"; đồng thời, là vấn đề "rất cơ bản, rấtmấu chốt trong toàn bộ hệ thống chớnh trị" Thậm chớ, ở một gúc độ nhất định,

cú thể núi, việc xõy dựng nhà nước phỏp quyền xó hội chủ nghĩa, của dõn, dodõn, vỡ dõn ở nước ta cú ảnh hưởng rất lớn đến sự thành bại của chế độ, củaĐảng Cộng sản Điều này thể hiện rừ trong thực tiễn đấu tranh chống thamnhũng, chống lại một trong bốn nguy cơ lớn của Đảng và chế độ suốt nhiều nămqua cũng như trong việc kiện toàn, hoàn thiện, nõng cao hiệu lực của bộ mỏy nhànước Cú thể núi rằng, nếu chỳng ta khụng tạo dựng được một nhà nước phỏpquyền thực sự của dõn, do dõn, vỡ dõn thỡ trong tương lai, xó hội ta, dõn tộc ta cúthể sẽ phải chịu những hậu quả mà hiện nay khú lường được

Đối với nước ta, việc xõy dựng Nhà nước phỏp quyền xó hội chủ nghĩacủa dõn, do dõn, vỡ dõn trong điều kiện xõy dựng và vận hành cơ chế thịtrường định hướng xó hội chủ nghĩa là nhiệm vụ mới mẻ, hiểu biết của chỳng

ta cũn ớt, cú nhiều việc vừa làm, vừa tỡm tũi, rỳt kinh nghiệm Do vậy, nhiệm

vụ xõy dựng nhà nước phỏp quyền trong điều kiện lịch sử cụ thể ở nước ta,đũi hỏi phải tiến hành nghiờn cứu cơ bản về lý luận; tổng kết kinh nghiệmthực tiễn 65 năm xõy dựng nhà nước (nhất là sau 20 năm thực hiện cương lĩnhchớnh trị 1991), nhằm xỏc định đỳng đắn, mục tiờu và cỏc giải phỏp cải cỏch

cú hiệu quả mụ hỡnh tổ chức và hoạt động của nhà nước ta hiện nay

Với tư cỏch là một trong những cơ sở lý luận để xõy dựng, hoàn thiệnnhà nước phỏp quyền Việt Nam xó hội chủ nghĩa; việc tỡm hiểu, nghiờn cứu

tư tưởng Hồ Chớ Minh về nhà nước phỏp quyền cú ý nghĩa đặc biệt quantrọng và cấp bỏch

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H, 2001, tr.131

Trang 3

1 Cơ sở lý luận và thực tiễn hình thành quan điểm của Chủ tịch

Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước kiểu mới

1.1 Chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ sở lý luận chủ yếu quyết định sự hình thành những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Nhà nước kiểu mới

Trong tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I Lênin, khái niệm nhà nướcpháp quyền chưa được sử dụng Nhưng những tư tưởng cốt lõi của nhà nướcpháp quyền thời đó được đề cập sâu sắc theo quan điểm khoa học và cáchmạng, đó là: một nhà nước kiểu mới hợp hiến, hợp pháp; một hệ thống phápluật dân chủ triệt để pháp chế nghiêm minh theo hướng giải phóng con người.Nói cách khác trong khi đặt vấn đề xây dựng một xã hội mới, một nhà nướckiểu mới C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I Lênin đã kế thừa phát triển tư tưởng nhànước pháp quyền trong điều kiện mới Các ông đã sử dụng những tính nguyêntắc về nhà nước pháp quyền của các nhà tư tưởng trước đó, đặc biệt là những

tư tưởng dân chủ, tư tưởng cộng hoà và cách mạng để hình thành, phát triển

Trang 4

những quan điểm của mình Đó là tư tưởng của Rút-xô, Mông-te-xki-ơ,những quan niệm của Can tơ, Hêghen về nhà nước và xã hội công dân củaXanh Ximông, của các nhà tư tưởng Pháp thời phục hưng, cận đại…

Trước hết, từ tiêu chí “đề cao dân chủ, pháp luật và tính nhân văn của phápluật” như là những gi trị cơ bản của nhà nước pháp quyền, C Mỏc, Ph.Ăngghen

đã nêu những tư tưởng sâu sắc về nhà nước pháp quyền trong các tác phẩm “giađình thần thánh”, “sự khốn cùng của triết học”, “Phê phán triết học pháp quyềncủa Hêghen”, và đặc biệt trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” C.Mác, Ph.Ăngghen đó đặt vấn đề xây dựng một xó hội mới, một xã hội mà trong

đó “tự do của mỗi người là điều kiện phát triển tự do của tất cả mọi người” Vàgiải phúng con người là mục tiêu của nhà nước pháp quyền kiểu mới; đó là mộtnhà nước tổ chức được đời sống chung của nhân dân, trong đó bảo đảm được sựphát triển tối đa và phát triển “toàn diện con người”

Về mặt nhà nước C.Mác chủ trương xây dựng một chế độ dân chủ triệt

để, dân chủ là do nhân dân tự quy định, là bước chuyển từ xã hội thần dânsang xã hội công dân, là từ “nhân dân của nhà nước” sang “ Nhà nước củanhân dân” Dân chủ là xuất phát từ con người và pháp luật cũng vì con người.Trong xã hội mới sẽ tạo ra điều kiện cơ bản để giải phóng các cá nhân; “bởi lẽ

xã hội sẽ không thể giải phóng cho mình được, nếu không giải phóng một cánhân riêng biệt” Do vậy, xã hội phải được xây dựng trên cơ sở pháp luật.Trong tác phẩm phê phán “ Cương lĩnh Gôta” C.Mác chỉ ra rằng: Việcduy trì pháp luật xã hội chủ nghĩa là điều cần thiết, vì rằng, pháp luật ở đâyđóng vai trò quan trọng trong sự tổ chức những quan hệ xã hội mới Phápluật ở khía cạnh này, không chỉ là một công cụ trừng trị, trấn áp và cưỡngbức Mặc dù đôi khi nó đóng vai trò đó Cái chính ở đây là vai trò tổ chứccác quá trình kinh tế trong xã hội nhằm bảo đảm cho sự thắng lợi của chủnghĩa xã hội và xã hội cộng sản chủ nghĩa

Trang 5

Những tư tưởng cơ bản của C.Mác, Ph.Ăngghen đã được V.I Lênin tiếpthu và phát triển trong quá trình xây dựng một nhà nước kiểu mới, trong đó xácđịnh rõ mục đích của chính quyền Xô Viết là thu hút những người lao động thamgia vào quản lý nhà nước, thực hiện một nền dân chủ rộng rãi nhằm giải phóngcon người và phát triển toàn diện con người trong xã hội mới Người cho rằngkhông có chế độ dân chủ thì chủ nghĩa xã hội sẽ không thực hiện được theo hainghĩa sau đây:

Thứ nhất, giai cấp vô sản không thể hoàn thành được cuộc cách mạng xã

hội chủ nghĩa, nếu họ không được chuẩn bị cho cuộc cách mạng đó thông quacuộc đấu tranh cho chế độ dân chủ

Thứ hai, Chủ nghĩa xã hội chiến thắng sẽ không giữ được thắng lợi của

mình và sẽ không dẫn được nhân loại đi đến thủ tiêu nhà nước, nếu khôngthực hiện đầy đủ chế độ dân chủ

Về mặt nhà nước, từ chỗ xác định “mục đích của chính quyền Xô Viết là

sự tham gia của những người lao động vào chính quyền và việc thu hút đượcmọi người lao động tham gia vào quản lý là một trong những ưu thế quyếtđịnh của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa” V.I Lênin đã xác lập hàng loạt quanđiểm về xây dựng nhà nước kiểu mới, “Nhà nước không còn nguyên nghĩa”,

“Nhà nước nửa nhà nước”, “Nhà nước quá độ” để rồi chuyển dần tới một chế

độ tự quản Muốn vậy, trước mắt phải thực hiện chế độ dân chủ theo cáchướng cơ bản

Quyền bầu cử được thực hiện ngay sau cách mạng tháng Mười Ngathành công và dần dần được mở rộng Bầu cử theo nguyên tắc “ Phổ thôngbình đẳng, trực tiếp, bỏ phiếu kín” là nguyên tắc tiến bộ nhất của nền dân chủhiện đại Qua đó, những người lao động tự lựa chọn được người xứng đángthay mặt mình giải quyết và quản lý công việc của nhà nước và xã hội

Trang 6

Quyền tham gia quản lý nhà nước của những người lao động Theo V.ILênin, những người lao động phải “thay nhau” tham gia vào tổ chức nhà nước

và quản lý nhà nước Theo đó mỗi lần bầu cử nhất thiết phải đổi mới thànhphần đại biểu để có thêm nhiều đại biểu mới Người còn coi đây là mộttrường học, một phương thức đào tạo các bộ quản lý để họ có kinh nghiệm, cóđiều kiện tham gia quản lý nhà nước Qua đó ngày càng có nhiều ngườitrưởng thành, thật sự trở thành cán bộ quản lý nhà nước kiểu mới

Quyền bãi miễn là quyền có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiệnchế độ dân chủ Lênin nhấn mạnh: mọi cơ quan được bầu ra đều có thể coi

là có tính chất dân chủ chân chính và đại biểu thực sự cho ý chí của nhândân, khi nào quyền bãi miễn của cử tri đối với những người trúng cử đượcthừa nhận và áp dụng từ chối không chịu áp dụng quyền bãi miễn, trì hoãnthi hành quyền đó, hạn chế nó, thì như thế tức là phản lại dân chủ và hoàntoàn từ bỏ nguyên tắc chủ yếu và nhiệm vụ của cuộc cách mạng xã hội chủnghĩa đã bắt đầu ở nước Nga

Về mặt pháp luật V.I Lênin khẳng định rõ vai trò của pháp luật về phápchế trong quản lý xã hội mới, coi đó là một trong những điều kiện cơ bản đểxây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, nhà nước xã hội chủ nghĩa phải “căn

cứ vào luật lệ của mình là điều kiện cần và đủ cho chủ nghĩa xã hội thắng lợitriệt để” Đặc biệt khi chuyển sang chính sách kinh tế mới (NEP), Người nhấnmạnh những hình thức quan hệ mới được xác lập trong quá trình cách mạng

và trên cơ sở của chính sách kinh tế do chính quyền thực hiện, phải được thểhiện trong pháp luật mà được bảo vệ về mặt tư pháp Có thể nói ở đây Lênin

là người đã sáng tạo ra khái niệm pháp chế xã hội chủ nghĩa và là người trựctiếp chỉ đạo xây dựng tổ chức viện kiểm sát nhân dân nhằm bảo đảm phápchế nghiêm minh và thống nhất

Trang 7

Chủ nghĩa Mác - Lênin mà trực tiếp là học thuyết về nhà nước chuyênchính vô sản, nhà nước XHCN là cơ sở lý luận có vai trò quyết định hình thànhnhững quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam.

1.2 Truyền thống dân chủ, tư tưởng thân dân trong lịch sử Việt Nam

Suốt chiều dài của lịch sử dân tộc, nhân dân ta đã tiến hành cuộc đấutranh trường kỳ, bền bỉ để dựng nước và giữ nước, hun đúc nên truyền thốngyêu nước, tinh thần nhân ái, đoàn kết, kiên cường bất khuất, tự lực tự cường,thông minh, sáng tạo Trong đó, tinh thần yêu nước đã trở thành đạo lý sống và

là một nhân tố cơ bản đứng đầu trong bảng giá trị tinh thần của con người ViệtNam Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam hàm chứa những tư tưởng đặc sắc và tiến

bộ như truyền thống dân chủ, tư tưởng thân dân…

Chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, nhất là truyền thống dânchủ, sự cố kết cộng đồng quốc gia dân tộc, tư tưởng thân dân… cùng vớinhững truyền thống tốt đẹp của dân tộc đã có tác động sâu sắc đến tư tưởngchính trị của Hồ Chí Minh Đó cũng là cơ sở tư tưởng để Người tiếp thu tinhhoa văn hoá Đông - Tây và đến với chủ nghĩa Mác - Lênin

1.3 Tư tưởng trọng dân trong văn hoá nhân loại

Ngay từ tuổi hình thành nhân cách, Hồ Chí Minh đã được tiếp thu triết

lý, đạo đức, chính trị của các nhà tư tưởng cổ đại Trung Hoa như thuyết Nhân

trị, thuyết Pháp trị, thuyết Đức trị Chủ tịch Hồ Chí Minh còn coi trọng tư

tưởng nhân ái của đạo Phật, muốn xây dựng một cuộc sống “thẩm mỹ, chíthiện, bình đẳng, yên vui, no ấm cho chúng sinh, xây dựng một xã hội hạnhphúc và an lạc”, xoá bỏ nỗi đau khổ của con người trên trái đất

Những năm lao động và dừng chân ở Mỹ (1912 - 1913), Người đã đọc

bản Tuyên ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ, trong đó đề cập đến "quyền bình

đẳng, quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của con người" Thếnhưng, Người đã phát hiện ra những nghịch lý ngay tại nước Mỹ: đằng sau

Trang 8

những lời hoa mỹ về nhân quyền kia là sự bất bình đẳng và nghèo đói của hàngtriệu người lao động, là sự phân biệt chủng tộc sâu sắc cùng với những điềukiện sống khủng khiếp của người da đen

Thời gian hoạt động ở Pháp (1917 - 1923), Người được trực tiếp tiếp xúcvới các tác phẩm của các nhà tư tưởng khai sáng như Rútxô, Môngtétxkiơ… và

Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền 1791 Các nhà khai sáng Pháp đã chỉ rõ:

“quyền lực tối cao được thiết lập từ những cá thể thành viên hợp lại tạo ra nó”2;

“Những người được uỷ thác nắm quyền hành pháp không phải là ông chủ của

nhân dân mà chỉ là những công chức” Tuyên ngôn 1791 tại các điều 6, điều 12,

điều 13, điều 14, điều 15 đã nêu: luật pháp là sự biểu hiện ý chí chung; mọi côngdân đều có quyền tham gia trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu của mình vàoviệc xây dựng luật pháp; để đảm bảo quyền con người và công dân đòi hỏi phải

có một lực lượng công cộng (bộ máy nhà nước), lực lượng này được lập ra vì lợiích của tất cả mọi người chứ không phải do lợi ích riêng của những người đượcgiao sử dụng nó; để nuôi dưỡng lực lượng công cộng và để trang trải nhữngkhoản chi phí hành chính, việc đóng góp chung là cần thiết và phải được phân bổcho các công dân tuỳ theo khả năng từng người; mọi công dân đều có quyềnhoặc trực tiếp, hoặc thông qua các đại diện của mình được xem xét sự cần thiếtcủa sự đóng góp chung, được theo dõi việc sử dụng đóng góp; xã hội có quyềnbắt buộc mọi công chức phải báo cáo về công việc quản lý của họ Đề cập đến

sự uỷ thác quyền hành pháp của nhân dân cho chính phủ, Rútxô chỉ rõ: “Dânchúng có thể cất nhắc hay bãi miễn họ; họ không được phản kháng mà chỉ cóphục tùng Các hình thức chính phủ đó chỉ là hình thức nhất thời do dân chúnglựa chọn; khi nào dân chúng thích một hình thức khác thì họ sẽ thay đổi đi” Cácnhà khai sáng còn bàn đến lý thuyết phân chia quyền lực: “Mỗi quốc gia đều có

2 J.J Rousseau (1762) “Quyển thứ nhất - Chương VII Quyền lực tối cao”, J.J Rousseau Bàn về khế ước xã

hội, Hoàng Thanh Đạm dịch, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2004, tr 71.

Trang 9

ba thứ quyền lực là: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp”3 Đểchống độc đoán, lạm quyền thì ba thứ quyền này phải được tổ chức sao cho cótính độc lập có thể kiểm soát và kiềm chế lẫn nhau

Khi nghiên cứu chủ nghĩa tam dân, Người thấy chủ nghĩa Tam dân vàchính sách mới của Tôn Trung Sơn có những tư tưởng tiến bộ có thể vận dụngvào cách mạng Việt Nam Khẩu hiệu “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” mà Chủtịch Hồ Chí Minh đề ra năm 1945 có phần vận dụng từ chủ nghĩa Tam dânnhưng đã được phát triển với nội dung và trình độ mới của cuộc cách mạng dântộc dân chủ nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản

Trong khi tiếp thu những giá trị tư tưởng chân chính, những nhân tố nhânvăn tiến bộ của cách mạng dân chủ tư sản: khẳng định con người, nâng con ngườiđứng thẳng dậy giải phóng mình khỏi thần quyền và sự thống trị của những quan

hệ phong kiến, thì đồng thời Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đánh giá đúng nhữnghạn chế của nó Chính vì không thoả mãn với con đường cách mạng tư sản, Người

đã tìm ra con đường cách mạng mới và đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin

1.4 Thực tiễn xã hội và chính quyền, nhà nước Việt Nam

Giữa thế kỷ XIX, Việt Nam bị đế quốc Pháp xâm lược và thống trị.Chúng cấu kết chặt chẽ với bọn phong kiến tay sai, thiết lập bộ máy bạo lựcphản cách mạng đồ sộ để duy trì ách áp bức bóc lột, biến nước ta từ mộtnước phong kiến độc lập thành nước thuộc địa nửa phong kiến, từ một quốcgia độc lập, thống nhất thành ba kỳ với ba chế độ thống trị khác nhau để dễ

bề cai trị và đàn áp Các phong trào chống Pháp nổ ra liên tiếp, nhưng cuốicùng đều thất bại, vì thiếu đường lối đúng Trước lúc ra đi tìm đường cứunước, Hồ Chí Minh đã phê phán chế độ Nhà nước thực dân - phong kiến ởViệt Nam lúc bấy giờ, lên án hệ thống cai trị hà khắc của thực dân - phongkiến Người khẳng định, Nhà nước thực dân - phong kiến đã lỗi thời, không

3 Montesquieu (1748), “Quyển thứ mười một - Chương VI Hiến pháp nước Anh”, Montesquieu Bàn về tinh thần

pháp luật, Hoàng Thanh Đạm dịch, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2004, tr 105.

Trang 10

còn đủ khả năng điều hành đất nước, ngăn cản sự phát triển xã hội, cần phảixóa bỏ Nhưng Người chưa hình dung được con đường và chế độ mới là gì.

Vì thế, Người quyết định ra nước ngoài tìm đường cứu nước với một quyếttâm cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất

cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”

Những năm đầu hoạt động ở nước ngoài, quan điểm về Nhà nước kiểu mớicủa Chủ tịch Hồ chí Minh được hình thành và phát triển thể hiện qua một loạt tác

phẩm của Người như Yêu sách của nhân dân An Nam (1919), Đông Dương và

Triều Tiên (1921), Lời phát biểu tại Đại hội Tua (1920), Bản án chế độ thực dân Pháp (1925)… Thông qua các tác phẩm đó, Người tố cáo và lên án những tội ác tày

trời của chế độ thực dân nói chung, chế độ thực dân Pháp nói riêng trên mọi lĩnhvực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, và bóc trần bản chất của nhà nước thực dâncai trị thuộc địa, cách thức tổ chức của nhà nước thực dân - phong kiến nhằm bóclột đến tận xương tuỷ dân tộc Việt Nam; đồng thời, Người đã suy nghĩ về Nhà nướccách mạng, về chế độ mới sẽ thành lập để thay thế chế độ cũ

Tháng 6.1923, Người đến Liên Xô, được trực tiếp tìm hiểu về Cách mạngTháng Mười, về chế độ XHCN và Nhà nước Xôviết Lúc này Liên Xô đang thựchiện chính sách Kinh tế mới và đạt được nhiều thành tựu lớn về kinh tế-xã hội

Hồ Chí Minh ấn tượng sâu sắc và khát khao xây dựng ở Việt Nam một Nhànước kiểu mới như ở nước Nga Xôviết Sau này, đánh giá về Nhà nước Xôviết,Người viết: “Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Lênin vĩ đại, nhà chiến lược và nhàsách lược thiên tài, Đảng Cộng sản đã dìu dắt giai cấp vô sản Nga giành chínhquyền và xây dựng Nhà nước đầu tiên của quần chúng lao động; sự ra đời củaNhà nước đó mở đầu thời đại mới trong lịch sử loài người”4

Trên thực tế, hình thức nhà nước Xôviết đã xuất hiện ở Việt Nam ngaytrong Cao trào cách mạng 1930 - 1931 Nhiều nơi ở hai tỉnh Nghệ An và Hà

4 Hồ Chí Minh (1955), “Chủ nghĩa Lênin và công cuộc giải phóng các dân tộc bị áp bức”, Hồ Chí Minh

Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002, tr 514.

Trang 11

Tĩnh đã đánh đổ chính quyền thực dân phong kiến và lập ra Chính quyền Xôviếtcông nông Tuy mới chỉ là hình thức manh nha của một chính quyền cách mạng

nhưng các Xôviết đã thực hiện được rất nhiều việc Về chính trị: xoá bỏ bộ máy

của chính quyền thực dân phong kiến, xoá bỏ các luật lệ do chúng đặt ra; lập các

toà án cách mạng để trấn áp bọn phản cách mạng, giữ gìn trật tự xã hội Về kinh

tế: tịch thu ruộng đất công và ruộng đất của đế quốc chia cho dân cày nghèo;

bước đầu hình thành các hình thức “tổ sản xuất” để tương trợ lẫn nhau trong sản

xuất và giúp đỡ nhau trong đời sống Về văn hoá-xã hội: bãi bỏ các hủ tục lạc

hậu, xây dựng lối sống mới; thực hiện nam nữ bình quyền; tổ chức dạy chữ quốcngữ Tất cả các quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội đều chịu sự giám sát, điều tiếtcủa Chính quyền Xôviết, do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, dựa trên

“Nông hội đỏ” - nòng cốt của quần chúng nông dân

Mặc dù đánh giá cao truyền thống cách mạng của công nông Nghệ Tĩnh, songxuất phát từ tình hình cụ thể lúc bấy giờ, Hồ Chí Minh cũng thấy rằng, nhiệm vụtrước mắt của Đảng chưa phải là khởi nghĩa giành chính quyền Sự thất bại củaXôviết Nghệ Tĩnh đã đòi hỏi Người phải suy ngẫm về một hình thức chính quyềnnhà nước khác cho thích hợp với Việt Nam Nhà nước đó phải thể hiện được lợi íchtoàn dân tộc, đại diện cho khối đại đoàn kết toàn dân, lấy công nông làm nền tảng

Để giành được chính quyền về tay nhân dân, theo sáng kiến của lãnh tụ

Hồ Chí Minh, Hội nghị BCHTW lần thứ tám chủ trương thành lập mặt trận dântộc thống nhất rộng rãi, lấy tên là Việt Nam độc lập Đồng Minh, gọi tắt là ViệtMinh và đã làm thí điểm trước ở Cao Bằng Ngày 25.10.1941, Việt Minh chính

thức ra Tuyên ngôn, Chương trình và Điều lệ Chủ trương của Việt Minh sẽ liên

hiệp tất cả các tầng lớp nhân dân, các đảng phái cách mạng, các đoàn thể dânchúng yêu nước, cùng nhau đánh đuổi Nhật - Pháp, giành độc lập cho dân tộc,lập nên “Chính phủ cách mạng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, theo tinhthần tân dân chủ, lấy cờ đỏ giữa có ngôi sao vàng năm cánh làm lá cờ chung của

Trang 12

nước”5 Chương trình của Việt minh đã đề cập đến việc thành lập Chính phủ

nhân dân: “Chính phủ nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Quốc

dân đại hội cử lên” và hình thức Phổ thông đầu phiếu: “Hễ ai là người Việt

Nam, vô luận nam nữ, từ 18 tuổi trở lên đều có quyền tuyển cử và ứng cử, trừbọn Việt gian phản quốc”

Từ sau khi Nhật đảo chính Pháp, phong trào khởi nghĩa từng phần pháttriển rầm rộ Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương, nhân dân Ba Tơ(Quảng Ngãi) đã tiến hành khởi nghĩa (11.3.1945) Lực lượng khởi nghĩa đã tổchức xây dựng một hình thức chính quyền sơ khai và tuyên cáo trước nhân dân:Chính quyền Ba Tơ là một bộ phận khăng khít của Chính quyền cách mạngtoàn quốc Hoạt động của Chính quyền cách mạng đã tạo điều kiện cho đội dukích Ba Tơ hoạt động, đẩy phong trào cách mạng của tỉnh Quảng Ngãi pháttriển Đặc biệt, ở Việt Bắc, ngày 4.6.1945, khu giải phóng Việt Bắc ra đời gồm

6 tỉnh với dân số xấp xỉ một triệu người Nhân dân các dân tộc Việt Bắc đã bầu

ra chính quyền của mình dưới hình thức UBND các cấp, từ xã, châu, quận(huyện) đến tỉnh theo lối phổ thông đầu phiếu Chính quyền khu Việt Bắc từngbước thực hiện 10 chính sách của Mặt trận Việt Minh Các quyền tự do dân chủcủa nhân dân được tôn trọng Nền kinh tế và đời sống nhân dân được Chínhquyền chú trọng phát triển Khu giải phóng Việt Bắc thực sự là hình ảnh thunhỏ của nước Việt Nam mới Mô hình chính quyền ở Việt Bắc được áp dụngrộng rãi cho các vùng khởi nghĩa từng phần giành thắng lợi

Khi thời cơ cách mạng xuất hiện, sau Hội nghị toàn quốc của Đảng, HồChí Minh chủ trì Đại hội đại biểu quốc dân, họp tại Tân Trào (16, 17.8.1945).Các đại biểu nhiệt liệt tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng Đạihội cử ra Uỷ ban Dân tộc giải phóng xem như Chính phủ lâm thời của nướcViệt Nam, gồm 15 vị do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Uỷ ban Dân tộc giải

5Hồ Chí Minh (1945), “Chương trình Việt Minh”, Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002,

tr 583.

Trang 13

phóng thay mặt quốc dân giao thiệp với các nước và chủ trì mọi công việctrong nước Đại hội cũng đã thông qua Chương trình 10 điểm giao cho Uỷban Giải phóng thi hành Có thể thấy, Quốc dân đại hội Tân Trào có ý nghĩanhư là một Quốc hội lâm thời, hay một tiền Quốc hội và Chương trình 10điểm này như là Hiến pháp lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà

Như vậy, trước khi Tổng khởi nghĩa nổ ra, mô hình Nhà nước kiểumới theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được xây dựng ở khugiải phóng và nó nhân rộng nhanh chóng khắp cả nước ngay khi Cáchmạng Tháng Tám giành được thắng lợi

1.5 Trí tuệ và phẩm chất chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Quan điểm, tư tưởng là sản phẩm của con người, do con người sáng tạo ratrên cơ sở những nhân tố khách quan và chủ quan nhất định Do đó, quan điểm,

tư tưởng còn phụ thuộc vào các yếu tố của trí tuệ, phẩm chất tinh thần con người

đã sản sinh ra nó, như tư chất, tính cách, bản lĩnh, tình cảm, tư duy…

Chủ tịch Hồ Chí Minh có phẩm chất chính trị, phẩm chất cá nhân tiêubiểu, đặc sắc Người sống có hoài bão lý tưởng, yêu nước thương dân sâu sắc,

có bản lĩnh kiên định, có khí tiết kiên cường trong đấu tranh thực hiện mụctiêu lý tưởng Lẽ sống của Người là suốt đời đấu tranh cho nước ta được hoàntoàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áomặc, ai cũng được học hành Người lịch thiệp, tế nhị, giàu lòng nhân ái lại rấtthông minh, sắc sảo, nhạy bén về chính trị, ham học hỏi, có tư duy độc lậpsáng tạo, có trí tuệ uyên bác, kiến thức sâu rộng Người là hiện thân của phẩmchất cao quý: toàn tâm, toàn ý phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân, luônluôn khắc phục và vượt qua mọi khó khăn thử thách, vững vàng trong lậptrường cách mạng, sáng suốt trong đường lối chính sách, dũng cảm tronghành động, thắng không kiêu, bại không nản

Trang 14

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà chính trị mácxít tiêu biểu của thời đạichúng ta về tài năng và đức độ Người sống mẫu mực trong cuộc sống hàngngày, khiêm tốn, giản dị, gần gũi mọi người, hoà đồng với quần chúng, vì nhândân, vì dân tộc, vì sự nghiệp hoà bình tiến bộ của loài người Nét đặc biệt trongphong cách chính trị Hồ Chí Minh là luôn luôn gần gũi với nhân dân, lắng nghe

ý kiến của quần chúng, quan tâm đến nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân.Người thương yêu, kính trọng, tin tưởng vào con người nên có sức mạnh cảmhoá lớn Nhà báo Liên Xô Ôxíp Manđenxtam đã nhận xét: “Nguyễn ái Quốchiện là người An Nam duy nhất ở Mátxcơva, đại diện của chủng tộc Mã Lai cổxưa Đồng chí nói tiếng Pháp - tiếng của những kẻ áp bức, nhưng mà nhữngchữ Pháp từ miệng đồng chí Nguyễn ái Quốc nghe trầm trầm, lắng xuống nhưhồi âm của tiếng mẹ đẻ quê hương đồng chí Dáng dấp của con người đangngồi trước mặt tôi đây, Nguyễn ái Quốc, cũng đang toả ra một cái gì thật lịchthiệp và tế nhị một thứ văn hoá, không phải là văn hoá Âu châu, mà có lẽ làmột nền văn hoá tương lai Qua phong thái thanh cao, trong giọng nói trầm

ấm của Nguyễn ái Quốc, chúng ta như nghe thấy ngày mai, như thấy sự yêntĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới”6

Là một bậc đại nhân, đại trí, đại dũng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho tamột ý niệm đầy đủ nhất về phẩm chất chính trị nhân văn hết sức tiêu biểu củamột con người Phẩm chất đó được phát huy trong suốt cuộc đời hoạt độngcủa Người Nhờ vậy, giữa vô vàn lý thuyết, học thuyết khác nhau, đối lậpnhau, đúng và sai, thật và giả đan xen lẫn lộn, Người vẫn tìm ra được mụctiêu lý tưởng, con đường cách mạng đúng đắn, đó là lựa chọn Đảng kiểu mới,Nhà nước kiểu mới, lựa chọn lực lượng và phương thức đấu tranh, lựa chọnchế độ mới theo con đường cách mạng XHCN, phấn đấu vì độc lập của dântộc, vì hạnh phúc của nhân dân

6 Ô Manđenxtam (1923), “Thăm một chiến sỹ Quốc tế cộng sản - Nguyễn ái Quốc”, Hồ Chí Minh Toàn tập,

tập 1, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002, tr 476 - 479.

Trang 15

2 Những quan điểm cơ bản về nhà nước pháp quyền dân chủ nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Từ thực tiễn và nhu cầu phát triển khách quan của cách mạng Việt Nam,

xu thế vận động của lịch sử nhân loại, trên cơ sở khảo cứu các loại hình nhànước đương thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên những quan điểm cơ bản vềxây dựng Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam Đây cũng là một đóng góp lý luậnquan trọng vào phát triển sáng tạo học thuyết Mác - Lênin về nhà nước nóichung, về nhà nước chuyên chính vô sản, nhà nước XHCN nói riêng

2.1 Nhà nước dân chủ nhân dân phải là nhà nước có nền dân chủ thật

sự và toàn diện.

Nhờ phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, nhờ học tậpkinh nghiệm cách mạng thế giới, kế thừa tinh hoa văn hóa dân tộc Việt Nam,tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây, nhất là thời kỳ khai sáng, HồChia Minh đã nhìn ra vai trò to lớn của quần chúng nhân dân Cụ thể hóaquan điểm của C.Mác “Gia đình là cơ sở tự nhiên của nhà nước, còn xã hộidân sự là cơ sở nhân tạo của nhà nước”, Hồ Chí Minh phát triển, cơ sở xã hộicủa nhà nước Việt Nam là dân tộc

Theo Hồ Chí Minh, cơ sở tồn tại và phát triển của nhà nước là dân tộc,đại đoàn kết và hòa hợp dân tộc Tại Hội nghị của toàn thể Ban trung ươngcủa Đảng Cộng sản Đông Dương họp tháng 9-1937, Người nói: “Các đồngchí mắc phải cái bệnh thiên về thợ thuyền lao động quá, có khi chỉ biết đámngười ấy thôi mà quên hết cả quyền lợi của các từng lớp, các giai cấp khác,quyền lợi chung của dân tộc cần phải bênh vực Các đồng chí trong Đảng cầnphải hiểu rằng Đảng ta chẳng những là kẻ bênh vực và lãnh đạo cho giai cấp

vô sản mà thôi mà cũng là kẻ bênh vực và lãnh đạo cho cả toàn thể dân chúngnữa Đảng phải làm tròn vai trò ấy”7 Cơ sở xã hội của nhà nước trong Hồ Chí

7 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t6, tr.285

Trang 16

Minh không những rộng lớn mà còn không thay đổi phạm vi trong quá trìnhcách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Hồ Chí Minh cho rằng dân là quý nhất, lực lượng to lớn nhất, “trongbầu trời không gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không gì mạnh bằng lựclượng ddaonf kết của nhân dân Trong xã hội không gì tốt đẹp, vẻ vang bằngphục vụ cho lị ích của nhân dân” Trí tuệ của nhân dân là cực kỳ to lớn, “dânchúng biết giải quyết hiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mànhững người tài giỏi, những đoàn thể to lớn nghĩ mãi không ra”8 Từ vị thế tolớn của nhân dân khi xá định chính thể Việt Nam là dân chủ cộng hòa, trên

báo Sự thật, số 120, ngày 15-10-1949, với đầu đề Dân vận, Hồ Chí Minh

khẳng định:

“Nước ta là nước dân chủ

Bao nhiêu lợi ích đều vì dân

Bao nhiêu quyền hạn đều của dân

Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân

Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân

Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra

Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên

Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”9

Hồ Chí Minh luôn luôn có lòng tin tuyệt đối vào nhân dân, vào dân tộc

vì lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết, “không có ai chiến thắngđược lực lượng đó”10 Từ quan điểm, lực lượng của nhân dân là vô địch, ngay

từ ngày đầu của chính quyền nhân dân, Người đã chỉ rõ: “không có nhân dânthì Chính phủ không đủ lực lượng Nếu không có Chính phủ, thì nhân dân

8 Hồ chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t5, tr.295.

9 Hồ chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t5, tr.698.

10 Hồ chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t4, tr.20.

Trang 17

không ai dẫn đường Vậy nên Chính phủ với nhân dân phải đoàn kết thànhmột khối ”11.

Nhà nước từ nhân dân mà ra, nhưng nhà nước muốn làm bất cứ việc gìđều phải thật sự dựa vào dân thông qua việc huy động nhân tài, vật lực của dân

Tư tưởng nhà nước của dân, do dân, vì dân của Hồ Chí Minh được thể hiệntrong nhiều tác phẩm: Sửa đổi lối làm việc (1947), Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ(1947) Tư tưởng Hồ Chí minh đã thể hiện tính “do dân” phải dựa trên việc nhànước phục vụ cho lợi ích của ai Vì vậy trên thực tế tính “do dân” của nhà nướcphải gắn bó chặt chẽ với tính “vì dân” của nhà nước Trong Thư gửi Ủy bannhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, Hồ Chia Minh chỉ rõ: “Ngày nay, chúng ta

đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nhưng nếu nước độc lập

mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lýgì”12 Trong thư đó, Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh, chính phủ của nước độc lập,dân chủ cộng hòa việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm; việc gì đến dân ta phảihết sức tránh Người còn nhắc nhở các nhân viên nhà nước không được phép cậythế, hủ hóa, tư túi, lãng phí, chia rẽ, kiêu ngạo

Tư tưởng đầu tiên về nhà nước pháp quyền của Hồ Chí Minh là vấn đềdân chủ hóa Hồ Chí Minh không những rất quan tâm đến vấn đề dân chủ chonhân dân, mà còn làm sao cho nhân dân được hưởng quyền dân chủ Ngườinói: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”, “Dânchủ là của quý nhất của nhân dân” Trong Đường cách mệnh (1927), khi phântích kinh nghiệm cuộc cách mạng ở Pháp, Mỹ, Nga, Hồ Chí Minh chỉ rõ: cáchmạng Pháp cũng như cách mạng Mỹ là cuộc cách mạng không đến nơi, tiếng

là dân chủ và cộng hòa, kỳ thực trong thì bóc lột công nông, ngoài thì áp bứcthuộc địa Cách mạng Pháp đã ba lần rồi (1789,1848,1871) mà nay công nôngPháp vẫn còn phải muốn cách mạng lần nữa Cách mạng Nga (1917) là “Cách

11 Hồ chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t4, tr.56.

12 Hồ chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t4, tr.56.

Trang 18

mạng đến nơi”, cách mạng mang lại dân chủ thực sự cho nhân dân Cáchmạng An Nam nên nhớ những điều ấy13.

Hồ Chí minh cho rằng dân chủ ở phương Tây không chỉ là dân chủhình thức, giả hiệu mà trong đó còn có phần dân chủ thực sự Tuy nhiên, đó lànền dân chủ chưa đầy đủ, còn ở mức độ thấp, có phần tô vẽ Chính vì thế, HồChí Minh đã tiếp thu những điểm tích cực của nền dân chủ Tây – Mỹ Người

đã đưa cả những đoạn quan trọng trong Tuyên ngôn Đọc lập của Mỹ “Quyềnđược sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” là quyền “không ai cóthể xâm phạm được”, Tuyên ngôn Nhân quyền và dân quyền Pháp “người tasinh ra tự do và bình đẳng và luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”vào trong Tuyên ngôn Đọc lập của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945.Điều đặc biệt, Hồ Chí Minh đã tiếp thu nền dân chủ phương Tây – Mỹ mấythế kỷ để nhìn nhận ra được ba quyền mà nhầ nước phải bảo đảm cho côngdân: quyền chính trị, quyền kinh tế và quyền xã hội

Với tư tưởng dân chủ đó, Người đã triển khai trong quá trình xác lậpquyền dân chủ ở Việt Nam thông qua các bản Hiến pháp như: Hiến pháp

1946, Hiến pháp 1959 và chính sách cụ thể của Chính phủ Nói đến dân chủ,trước hết dân chủ chính trị, nghĩa là dân chủ gắn lienf với thiết chế nhà nước,

là mối quan hệ giữa nhà nước và dân Nhà nước là cơ quan đại diện đượcnhân dân trao quyền Nhân dân là người quyết định cuối cùng Nói đến nhànước là nói đến quyền lực Kế thừa truyền thống dân tộc, tinh hoa văn hóanhân loại, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh khẳng định:trong nhà nước dân chủ nhân dân, quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân làchủ thể của quyền lực nhà nước

Trong một nhà nước dân chủ với tư cách cơ quan quyền lực công, cán bộnhà nước đương nhiên phải là “công bộc của dân” Hồ Chí Minh viết: “Chính

13 Hồ chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t2, tr.280.

Trang 19

phủ Cộng hòa Dân chủ là gì? là đầy tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốcđến làng Dân là chủ thì Chính phủ phải là đày tớ Làm việc ngày nay khôngphải để thăng quan, phát tài Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổiChính phủ”14 Quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể quyền lực nhànước, thì phải được thể hiện trực tiếp ở thiết chế tổ chức bộ máy nhà nước.Theo Hồ Chí Minh, phương thức cơ bản thiết lập bộ máy nhà nước phải là bầu

cử trực tiếp., “chính quyền từ xã đến chính phủ trung ương do dân cử ra” Theonguyên tắc “phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín” Trên cơ sở quanđiểm “dân chủ triệt để”, “dân chủ đến cùng”, Hồ Chí Minh cho rằng trong xãhội dân chủ phải thật sự, nhân dân phải được thực hiện trên thực tế quyền bãimiễn đói với các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, rằng “nhân dân cóquyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu ngữngđại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”15

Tư tưởng về chế độ bầu cứ của Hồ Chí Minh bảo đảm hai quyền cơ bảncủa công dân trong xã hội dân chủ: quyền ứng cử và quyền bầu cử để chọnđược những người có, đức có tài Sự sáng tạo đặc sắc của hồ Chí Minh ở chỗ,khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa thành lập, chỉ sau một thời gianngắn, Người đã lãnh đạo Nhà nước tổ chức thành công Tổng tuyển cử bằngphổ thông đầu phiếu trong cả nước (6-11-1946) Ở Liên Xô trước đây, 20 nămsau Cách mạng Tháng Mười Nga (1917), năm 1936 mới thực hiện được chế

độ bầu cử phổ thông, bình đẳng, trực tiếp, bỏ phiếu kín

Theo quan điểm của C.Mác: chủ quyền của nhân dân không phải là cáiphát sinh ra từ chủ quyền nhà vua mà ngược lại, chủ quyền của vua dựa trênchủ quyền của nhân dân16, các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp chỉ làngười thừa hành quyền của nhân dân Thế nhưng trong thực tế, dân chủ của ta

14 Hồ chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t5, tr.60.

15 Hồ chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t9, tr.591.

16 C.Mác và Ph.Ănghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t1, tr.347

Trang 20

xuất hiện những “vị đại biểu” đã nhầm lẫn sự ủy quyền với quyền lực Hồ ChíMinh cho rằng chủ nghĩa cá nhân đã dẫn đến tùy tiện, lộng quyền và cửaquyền Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, khi xây dựng chính quyền Xôviết,Lênin đã thẳng thắn chỉ ra những “bệnh tật” ngay chính trong bộ máy và hệthống pháp luật của nhà nước cách mạng kiểu mới: bộ máy quan liêu, cồngkềnh, đông người, nề mề; nạn hối lộ đang tồn tại phổ biến trên cơ sở trình độvăn hóa còn rất thấp; bộ máy rất hạn chế về trình độ, năng lực nhưng lại mắcbệnh kiêu ngạo Đó là “bộ máy nhã nước của ta rất đáng buồn, nếu khôngmuốn nói là rất tồi tệ”17 Hồ Chí Minh không những nhận ra, mà còn phê phánnghiêm khắc những hiện tượng “cậy thế mình trong ban này ban nọ, rồi ngangtàng phóng túng, muốn sao được vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân.Quên rằng dân bầu mình ra là để làm việc cho dân, chứ không phải cậy thếvới dân”18.

Theo Hồ Chí Minh, dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp phải toàndiện Dân chủ trực tiếp là dân chủ mà nó thể hiện vai trò chủ động của dântộc, của nhân dân trong nhà nước Chính hoàn cảnh cụ thể của Việt Namtrong kháng chiến phải thực hiện cuộc chiến tranh nhân dân, mới phát huy hếtđược vai trò chủ động của cả khối dân tộc, của từng người dân, từng thanhniên, từng ông già, từng phụ nữ, từng em bé thiếu nhi mới có thể thắng giặc.Sonh Hồ Chí Minh không lý tưởng hóa viển vông dân chủ trực tiếp ngay ởmức cao, mà phải từng bước từ thấp đến cao Một mặt, Hồ Chí Minh khôngthể lấy nguồn gốc quyền lực nhà nước ở nhân dân, không chỉ chịu sự kiểm trathường xuyên của dân, không chỉ có một tinh thần hoạt động là gần dân, thândân nhằm phục vụ lợi ích của dân, xuất phát từ nguyện vọng của nhân dân;đối với Hồ chí Minh, nhà nước còn có chức năng phát hiện và hoàn chỉnhnhững sáng kiến của dân để làn thành những luật và chính sách

17 V.I.Leenin: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t.45, tr.442.

18 Hồ chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t4, tr.57.

Trang 21

Một nhà nước biết lắng nghe và học dân, biết bồi dưỡng và nâng caodân trí, thì dân sẽ nói lên điều mong muốn, gợi ý và chỉ ra cần luật gì, nộidung luật ra sao, cơ quan nhà nước cần giải quyết quốc kế, dân sinh ra sao.Thực tế Hồ Chí Minh đã làm được và thành công.

Chỉ có phát huy dân chủ mới tạo nên sức mạnh to lớn, bền vững chonhà nước cách mạng “Nhà nước ta phải phát huy dân chủ đến cao độ,( ) Cóphát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả các lực lượng củanhân dân”19 Dân chủ xã hội, dân chủ chính trị gắn với pháp luật dân chủ làbản chất của nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân Trong quá trìnhđiều hành đất nước, Hồ Chí Minh nhắc đi nhắc lại nhiều lần dân chủ thực sự,

“chúng ta phải ra sức thực hiện những cải cách xã hội để nâng cao đời sốngcủa nhân dân, thực hiện dân chủ thực sự”20

Dân chủ là điều kiện không thể thiếu được trong nhà nước pháp quyền

Để đảm bảo cho hoạt động bình thường, phát huy tính tích cực của mọi ngườidân, không có “dân chủ triệt để”, “dân chủ đến cùng”, “dân chủ thực sự” thìkhông thể xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủnghĩa Hồ Chí Minh cũng chỉ ra dân chủ phải đi liền với kỷ luật, với chuyênchính, vì nếu chỉ phát huy dân chủ mà không tăng cường kỷ luật thì dân chủ

sẽ trở thành vô chính phủ Về kỷ luật (hay chuyên chính), Hồ Chí Minh quanniệm kỷ luật chỉ là phương tiện Dân chủ, đoàn kết mới là mục tiêu và độnglực Kỷ luật cũng chỉ nhằm phát triển dân chủ, phát triển đoàn kết Theo HồChí Minh, dân chủ là của cái quý nhất của nhân dân, chuyên chính là cáikhóa, cái cửa để phòng kẻ phá hoại chuyên chính để giữ dân chủ

Trong tư tưởng và thực tế hoạt động xây dựng nhà nước dân chủ nhândân, Hồ Chia Minh đã lựa chọ những hạt nhân hợp lý của cả hai hình thức dânchủ: dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp Vấn đề dân chủ đại diện chủ yếu

19 Hồ chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t9, tr.592.

20 Hồ chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t7, tr.323.

Trang 22

theo kinh nghiệm của nước Anh, nước Pháp, nước Mỹ mà Hobbes, Locketổng kết, Montesquier và Rousseau tiếp nhận và bổ sung, Tocqueville (Mỹ)phát triển Sự lựa chọn của Hồ Chí Minh trong xây dựng nhà nước hiện đạikhông chỉ chọn duy nhất dân chủ đại diện, cũng không chỉ chọn dân chủ trựtiếp Người đã kết hợp cả hai hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếptrong xây dựng nhà nước hiện đại.

2.2 Nhà nước pháp quyền dân chủ nhân dân phải là nhà nước thực hiện quản lý xã hội bằng hệ thống pháp luật dân chủ.

Nhà nước pháp quyền phải là nhà nước “dân chủ triệt để”, “dân chủđến cùng”, “dân chủ toàn diện”, “dân chủ thực sự”, đồng thời phải là nhànước hợp hiến, hợp pháp, quản lý xã hội bằng hệ thống pháp luật dân chủ

Trong Bản yêu sách của nhân dân An Nam (1919), Nguyễn Ái Quốc đã đòi

“Thay chế độ ra sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật”, và điều đó cũng được

viết trong Việt Nam yêu cầu ca:

“Bảy xin hiến pháp ban hành,

Trăm đều phải có thần linh pháp quyền”

Trong thư gửi Hội Vạn Quốc, Người viết: “Nếu nước được độc lậpngay thì nước chúng tôi sẽ sắp đặt một hiến pháp về phương diện chính trị và

xã hội theo lý tưởng dân quyền’

Hồ Chí Minh có quan niệm mới về nhà nước pháp quyền, đó là nhànước quản lý bằng hệ thống pháp luật, nhưng không phải là hệ thống phápluật bất kỳ mà là hệ thống pháp luật dân chủ Tư tưởng về hệ thống pháp luậtdân chủ của hồ Chí Minh cũng đã được thể hiện trong nghị quyết Trung ươngĐảng lần thứ bảy (11-1940), đó là yêu cầu phải ban bố hiến pháp dân chủ, ban

bố những quyền tự do cho nhân dân, tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tự do tínngưỡng, tự do hội họp “Trăm đều”, “thần linh pháp quyền” trong tư tưởng

Hồ Chí Minh bao hàm mọi người, mọi hành vi, mọi hoạt động ở mọi nơi, mọi

Trang 23

lúc, kể cả các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp và nhân viên của nhànước từ xã đến Trung ương do nhân dân cử ra đều phải có ý thức đặt mìnhdưới “thần linh pháp quyền” Tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện trong Việt Namyêu cầu ca ra đời từ 1920 đến nay vẫn còn phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhànước pháp quyền Việt Nam thực sự của dân, do dân, vì dân hiện nay.

Kế thừa quan điểm của C.Mác: “Dưới chế độ dân chủ, không phải conngười tồn tại vì pháp luật, mà pháp luật tồn tại vì con người’21, trong tác phẩmĐường cách mệnh, Hồ Chí Minh đã viết: “Tụi tư bản và đế quốc chủ nghĩa nólấy rôn giáo và văn hóa làm cho dân ngu, lấy phép luật buộc dân lại”22, vàngười khẳng định: “pháp luật Nhà nước ta là pháp luật thực sự dân chủ, vì nóbảo vệ quyền tự do dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động”23 Sau Cách mạngTháng Tám thành công, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ (3-9-1945), HồChí Minh đã nêu 2 trong 6 nhiệm vụ cấp bách liên quan đến xây dựng chínhquyền: tổng tuyển cử và xây dựng Hiến Pháp dân chủ Người viết: “trướcchúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dânkhông kém phần chuyên chế nên nước ta không có Hiến pháp Nhân dân takhông được hưởng quyền tự do dân chủ Chúng ta phải có một hiến pháp dânchủ, Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử vớichế đọ phổ thông đầu phiếu Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều cóquyền ứng cử và đề cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống”24

Theo Hồ Chí Minh, tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự

do lựa chọn những người có tài, có đủ đức để gánh vác công việc nhà nước,ngày bầu cở là ngày hội mà nhân dân “được hưởng quyền dân chủ của mình”.Còn đối với chính quyền thì do “tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội, Quốc

21 C.Mác và Ph.Ănghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t1, tr.350.

22 Hồ chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t2, tr.267.

23 Viện Khoa học pháp lý (Bộ tư pháp): Hồ Chí Minh bàn về nhà nước và pháp luật, Nxb Pháp lý, Hà Nội, tr.187

24 Hồ chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t4, tr.8.

Trang 24

hội sẽ bầu ra chính phủ Chính phủ đó thực sự là chính phủ của toàn dân chứkhông phải chỉ của riêng Đảng Tức là tạo ra nền tảng dân chủ cho nhà nướckiểu mới” Kết quả là tổng tuyển cử bằng phổ thông đầu phiếu đã diễn ra ởViệt Nam, và sau đó Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam dân chủ cộng hòa đãđược thông qua.

Nhà nước quản lý bằng pháp luật, song đó phải là pháp luật mang tínhdân chủ, thể hiện được lợi ích của số đông Người cho rằng pháp luật củachúng ta là ý chí của giai cấp công nhân Pháp luật của chúng ta hiện nay bảo

vệ quyền lợi cho hàng triệu người lao động Pháp luật của chúng ta là phápluật thật sự dân chủ, vì nó bảo vệ quyền tự do dân chủ rộng rãi cho nhân dânlao động Nhân dân ta hiện nay có tự do nhưng tự do trong kỷ luật Mỗi người

có tự do của mình, nhưng phải tôn trọng tự do của người khác “Người nào sửdụng quyền tự do của mình quá mức mà phậm đến tự do của người khác làphạm pháp”25

Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về pháp luật, Hồ ChíMinh vận dụng sáng tạo và phát triển đề cao tính nghiêm minh của pháp luậtphải gắn với đạo dức, với tình thương và sự khoan dung Người viết, “nghĩcho cùng vấn đề tư pháp cũng như mọi vấn đề khác trong lúc này là vấn đề ởđời và làm người”26

Tư tưởng về pháp luật của Hồ Chí Minh không chỉ đề cao pháp luật dânchủ mà còn mang đậm tính nhân văn Hồ Chí Minh đã kết hợp nhuần nhuyễngiữa pháp luật và đạo đức trong quản lý xã hội Kế thừa văn hóa phươngĐông nhưng không tuyệt đối hóa dẫn đến đức trị như Khổn Tử, hoặc pháp trịnhư Hàn Phi Tử, dùng cái nọ loại trừ cái kia, mà Hồ Chí Minhkeets hợp

25 Viện Khoa học pháp lý (Bộ tư pháp): Hồ Chí Minh bàn về nhà nước và pháp luật, Nxb Pháp lý, Hà Nội, tr.186

26 Viện Khoa học pháp lý (Bộ tư pháp): Hồ Chí Minh bàn về nhà nước và pháp luật, Nxb Pháp lý, Hà Nội, tr.8.

Trang 25

nhuẫn nhuyễn giữa pháp luật và đạo đức trong quản lý của nhà nước, quản lý

xã hội: “Chính phủ phải hết sức làm gương, nếu làm gương không xong thìdùng pháp luật đẻ trừng trị hững kẻ hối lộ, đã trị và sẽ trị cho kỳ hết”

Trong suốt 24 năm, trên cơ sở tư tưởng pháp quyền dân chủ, Chủ tịch

Hồ chí Minh thường xuyên quan tâm đến xây dựng, hoàn thiện hệ thống phápluật Từ năm 1950, khi nói chuyện với cán bộ tư pháp, Hồ Chí Minh đã chỉ ra:luật pháp của chúng ta hiện nay chưa đầy đủ Chính các chú có trách nhiệmphải góp phần làm cho luật pháp của ta tốt hơn, càng ngày càng phong phúhơn Phải cố gắng làm theo pháp luật ngày càng nhiều hơn, tốt hơn

Trên cơ sở kế thừa và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ chí Minhhết sức đề cao nguyên tắc pháp chế Hiến pháp 1946, đã giành hai điều quyđịnh nghĩa vụ công dân trong đó nghĩa vụ tôn trọng Hiến pháp, tuân thủ phápluật được đặt ngay sau nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc Tiếp thu và đổi mới chủnghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh các Hiến pháp 1980, Hiến pháp

1992 và Hiến pháp 1992 sửa đổi (2001) đều quy định rõ vấn đề này

Tôn trọng Hiến pháp, tuân thủ pháp luật là nghĩa vụ, trách nhiệm củamọi công dân, nhân viên các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp nhất làđảng viên giữ vai trò chủ chốt phải gương mẫu đi đầu Hồ Chí Minh chỉ rõ:Đảng viên chẳng những phải giữ kỷ luật sắt mà còn phải giữ gìn kỷ luật chínhquyền của cơ quan, đoàn thể của nhân dân Hồ Chí Minh đòi hỏi đảng viên,cán bộ, đặc biệt là cán bộ cấp cao phải nêu gương thực hiện pháp luật Ngườinghiêm khắc phê bình những cán bộ, đảng viên “Cậy thế mình là người củaĐảng, phớt lờ cả kỷ luật và cả cấp trên trong các đoàn thể nhân dân hoặc cơquan Chính phủ Những đồng chí mắc bệnh ấy không hiểu rằng: mỗi đảngviên cần phải làm kiểu mẫu phục tùng kỷ luật của Đảng, mà cả kỷ luật củacác đoàn thể nhân dân và của cơ quan chính quyền cách mạng”27 Nếu đảng

27 Hồ chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t6, tr.167.

Trang 26

viên, nhất là đảng viên giữ vai trò chủ chốt không xung phong gương mẫu, thìviệc gì cũng sẽ khó thực hiện Hồ Chí Minh cho rằng: “Cán bộ phải ra sứctuyên truyền giải thích và làm gương mẫu”28.

Hồ Chí minh cũng rất quan tâm đến thưởng phạt Người nói: “trongmột nước thưởng phạt phải mghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn”29 “Nếukhông thưởng thì không có khuyến khích; nếu không có phạt, thì không giữvững kỷ luật”30 Người cảnh báo, “Từ trước đến nay thưởng phạt chưa đượcđầy đủ, đó là một khuyế điểm to”, “phải thưởng phạt cho công minh Chớ vì

ưa ai mà thưởng, ghét ai mà phạt”31

Hồ chí Minh đã xác định khái niệm về nhà nước đân chủ nhân dân, thểhiện rõ trong hệ thống luật mà Hồ Chí Minh chỉ đạo xây dựng, trong hànhđộng và trong những lời nói Nhà nước, theo Hồ Chí Minh, quản lý xã hộitheo hệ thống pháp luật dân chủ cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốcphòng – an ninh, đối nội, đối ngoại nhưng độ sâu của hoạt động Nhà nướcphải có chừng mực nhất định Nhà nước hoàn toàn không thể là “chủ tịch –Tổng giám đốc” của nền kinh tế quốc dân, nhà nước không phải là nhà nướcsản xuất, nhà nước con buôn

Trong việc giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước, xã hội dân sự và cánhân, Hồ chí Minh đã phát huy được truyền thống cộng đồng dân tộc ViệtNam và Châu Á, đồng thời đã vận dụng sáng tạo thành quả tư tưởng cá nhânphương Tây

Về phương thức hoạt động nhà nước, Hồ Chí Minh đã nhận thức sâusắc từ nhiều nhà tư tưởng lớn của nhân loại và được nhấn mạnh rằng, “nhànước phải là đầy tớ của nhân dân” Ở một nước nông nghiệp lạc hậu, tâm lýtiểu nông chi phối xã hội như Việt Nam, Hồ Chí Minh đề ra một nhà nước

28 Hồ chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t8, tr.349.

29 Hồ chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t4, tr.163.

30 Hồ chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t7, tr.466.

31 Hồ chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t5, tr.480.

Trang 27

“đầy tớ” của nhân dân là điều rất hiếm trên thế giới Nhà nước “đầy tớ” hoạtđộng tốt phải có một hệ thống pháp luật dân chủ Để thực hiện điều này, theo

Hồ Chí Minh phải làm ba điều:

Một là, nhà nước phải tránh được “luật rừng” và tránh “luật rừng”.

Người rất coi trọng pháp luật và giữ nghiêm phép nước, nhưng không bao giờsính làm luật để “gọi là có luật”

Hai là, phải xử lý đúng đắn giữa lập pháp và lập quy.

Ba là, nhà nước quản lý bằng pháp luật, đồng thời quản lý bằng toàn bộ

các biện pháp hoạt động cách mạng, đặc biệt bằng vận động quần chúng

2.3 Nhà nước pháp quyền dân chủ nhân dân phải là công cụ bảo vệ và phát triển con người và quyền con người.

Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, trong điều kện ViệtNam và thời đại mới, Hồ Chí Minh có cách tiếp cận rất sâu sắc về vấn đề congười và quyền con người được thẻ hiện ở các mặt chủ yếu sau:

Một là, Hồ Chí Minh có cái nhìn sâu sắc vào bản chất bên trong của con

người Con người từ khi biết làm người đã nghĩ đến “trách nhiệm và bổn phậnđối với nhau” Hồ Chí Minh biết gạt bỏ mọi hình thức bên ngoài để nhìn sâuvào bản chất vốn có bên trong của mỗi người Hồ Chí Minh cho rằng, “conngười dù là xấu, tốt, văn minh hay dã man đều có tình”32

Từ quan điểm “con người không chỉ là thực thể tự nhiên, nó là thực thể tựnhiên có tính chất người, nghĩa là thực thể tồn tại cho bản thân mình và do đó làthực thể loài”, Hồ Chí Minh có nhận định các học thuyết ra đời trong lịch sử, dùkhác nhau đến mấy cũng có một điểm chung là “đều mưu cầu hạnh cho loàingười, mưu cầu hạnh phúc cho xã hội” Người viết: “Học thuyết Khổng Tử có ưuđiểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân Tôn giáo của Gieesssu có ưu điểmcủa nó là lòng nhân ái cao cả Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp

32 Hồ chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t7, tr.60.

Trang 28

làm việc biện chứng Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nóphù hợp với nước ta Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Giật Tiên chẳng phải có ưuđiểm chung đó sao? Họ đều mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầu phúc lợicho xã hội Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họ hợp lại một chỗ tôi tinrằng họ nhất định sẽ ngồi lại với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thânthiết, tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”33.

Từ khi con người còn là “công cụ biết nói” thì vấn đề quyền sống củacon người đã được nêu ra và đấu tranh để thực hiện Đến xã hội tư bản, giaicấp tư sản dùng vấn đề giải phóng con người, quyền con người để chống

phong kiến, giành quyền thống trị Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền

(1789) đã công khai thừa nhận về mặt pháp lý các quyền tự do ngôn luận, tự

do tín ngưỡng, quyền bình đẳng của mọi người trước pháp luật, quyền phảnkháng trước áp bức Với quan điểm cách mạng và khoa học, chủ nghĩa Mác –Lênin cho rằng: quần chúng nhân dân là người sáng tạo mọi giá trị vật chất,tinh thần và nhận thấy vai trò lịch sử của giai cấp công nhân trong cuộc đấutranh chống lại chế độ áp bức, thực hiện sự nghiệp giải phóng con người, xâydựng xã hội mới cho con người, vì con người

Hai là,bảo đảm quyền con người là ham muốn tột bậc của Hồ Chí Minh.

Trên cơ sở các học thuyết Đông – Tây, Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu sắc vềbản chất con người, từ đó dẫn đến sự cảm thông sâu sắc đối với con người,nhất là thân phận người nô lệ Chính những điều đó đã khơi dậy trong Hồ ChíMinh khát vọng giải phóng con người, giải phóng xã hội, giành lại độc lập tự

do cho dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam: “Tự do cho đồng bào tôi, độclập cho Tổ quốc tôi Đấy là tất cả những gì tôi muốn, đấy là tất cả những gìtôi hiểu”34 Trong một lần trả lời phỏng vấn một nhà báo nước ngoài, người đã

33 Tư tưởng đạo đức Hồ chí Minh Truyền thống dân tộc và hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, tr.227.

34 Phan Ngọc Liên, Đinh Xuân Lâm: Hoạt động của Bác Hồ ở nước ngoài, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

1958, tr.34.

Ngày đăng: 03/08/2021, 11:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w