Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử; là sự vận dụng, trung thành với lý luận chủ nghĩa Mác Lênin, đáp ứng thực tiễn đòi hỏi của cách mạng Việt Nam. 80 năm qua, cách mạng nước ta đã và đang đạt được những thành tựu rực rỡ. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định: “Nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới
Trang 1THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA VÀO THỰC TIỄN CÁCH MẠNG Ở VIỆT NAM
MỞ ĐẦU
Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọnđúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợpvới xu thế phát triển của lịch sử; là sự vận dụng, trung thành với lý luận chủnghĩa Mác - Lênin, đáp ứng thực tiễn đòi hỏi của cách mạng Việt Nam 80năm qua, cách mạng nước ta đã và đang đạt được những thành tựu rực rỡ Đạihội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định: “Nước ta từmột xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do,phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đãtrở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã ra khỏi tìnhtrạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đạihoá, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khuvực và trên thế giới”1 Với những thành tựu đó, ngày càng chứng tỏ conđường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là hoàn toàn đúng đắn Đại hội Đạibiểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định: “Theo quy luật tiếnhoá của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”2
Nước ta sau 30 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện do Đảng takhởi xướng và lãnh đạo, đã thu được những thành tựu hết sức to lớn trênnhiều lĩnh vực Tuy nhiên, hiện nay có nhiều vấn đề đặt ra cả lý luận và thựctiễn mà cần phải có sự tổng kết Bên cạnh đó, tình hình thế giới, trong nước
có hiều diễn biến phức tạp như Đảng ta đó nhận định “…Nước ta bước vàothời kỳ chiến lược mới trong bối cảnh thế giới đang thay đổi rất nhanh, phứctạp, khó lường…” 3 Do đó, vấn đề đặt lên hàng đầu là phải tích cực, chủ động
1 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2011, tr.64
2 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2011, tr.70
3 Đảng cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XI, Nxb CTQG, H , 2011, tr.27
Trang 2tranh thủ cơ hội, vượt qua thách thức tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện vàđồng bộ hơn, phát triển nhanh và bền vững hơn Thực tiễn đó đòi hỏi chúng taphải nhận thức đúng đắn và vận dụng sáng tạo lý luận về thời kỳ quá độ lênchủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin và sự vận dụng sáng tạo củaĐảng cộng sản Việt Nam vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, để đề rađường lối chiến lược sách lược đúng đắn cho tiến trình cách mạng nước ta,qua đó góp phần tích cực trong việc đấu tranh, bảo vệ và phát triển lý luận
về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin tronggiai đoạn cách mạng hiện nay
NỘI DUNG
1 Quan điểm Mác - Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin là mộthọc thuyết khoa học và cách mạng, chứng minh xã hội loài người phát triển từthấp đến cao thông qua sự kế tiếp nhau của các hình thái kinh tế - xã hội Lý luận
về hình thái kinh tế - xã hội ra đời là một bước chuyển biến cách mạng trongnhận thức về xã hội - lịch sử, đưa lại quan điểm duy vật về xã hội, chỉ ra sản xuấtvật chất là cơ sở của đời sống xã hội, phương thức sản xuất quyết định quá trìnhsinh hoạt chính trị và tinh thần nói chung
Trước Mác, chủ nghĩa duy tâm giữ vai trò chi phối trong việc giải thích vềđời sống xã hội, các nhà triết học duy tâm thường quan niệm xã hội một cáchchung chung, trừu tượng…chưa có sự nhìn nhận một cách hệ thống, khoa học.Mác đã vận dụng phép biện chứng duy vật vào nghiên cứu xã hội, nghiên cứuhoạt động sản xuất vật chất và phát hiện ra mối quan hệ giữa con người với conngười, mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Trong xã hội các yếu tố lựclượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng có mối quan hệ vớinhau và bao giờ cũng gắn với một kiểu xã hội nhất định, sự tác động qua lại
Trang 3của các yếu tố đó tạo thành các quy luật vận động, phát triển của xã hội Đó làquy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất, quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng
và các quy luật xã hội khác Chính sự tác động qua lại lẫn nhau của các quyluật khách quan đó mà các hình thái kinh tế - xã hội vận động và phát triển từthấp đến cao Trên cơ sở đó Mác đi đến kết luận sự vận động phát triển của xãhội loài người là một quá trình lịch sử tự nhiên Mác viết: “Tôi coi sự phát triểncủa những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên”4
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác - Ăngghen đã đáp ứngđược những nhu cầu của thời đại, không những chứng minh sự vận động pháttriển của xã hội loài người, mà còn giải thích rõ hình thái kinh tế - xã hội cộngsản chủ nghĩa sẽ thay thế hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa là vấn đềmang tính quy luật Đồng thời Mác - Ăngghen còn trình bày quan điểm củamình về sự vận động phát triển của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủnghĩa, trong đó có lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Trong quá trình hoạt động thực tiễn phong phú, sôi động của mình,Mác - Ăngghen đã áp dụng triệt để phép biện chứng duy vật vào nghiên cứu
xã hội và đã hình thành những tư tưởng hết sức cơ bản về thời kỳ quá độ lênchủ nghĩa xã hội Mác và Ăngghen không những phân chia lịch sử phát triểncủa xã hội loài người qua các hình thái kinh tế - xã hội, mà còn phân chiamỗi hình thái kinh tế - xã hội thành các giai đoạn phát triển nhất định TheoMác, mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có tính chất quá độ và tính chất lịch
sử Bằng cách phân tích khoa học quá trình phát sinh, phát triển và diệt vongcủa hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa và những vấn đề gắn liền vớicác giai đoạn của quá trình ấy, các ông đã chứng minh chủ nghĩa tư bản tấtyếu phải nhường chỗ cho chủ nghĩa cộng sản, đó là một quá trình lịch sử tự
4 C.Mác - Ph.Ăngghen to n t àn t ập, tập 23, Nxb CTQG H, 1995, tr.21.
Trang 4nhiên Mác và Ăngghen đã nhìn thấy xã hội mới phải trải qua nhiều giaiđoạn, nhiều thời kỳ trên con đường đi tới xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” Mác và Ăngghen đã nói rõ tínhkhách quan sự vận động phát triển của lịch sử xã hội loài người tất yếu sẽ
đi lên chủ nghĩa cộng sản, các ông gọi chủ nghĩa cộng sản là một trào lưuhiện thực Trong tác phẩm “Phê phán Cương lĩnh Gôta” Mác đã đưa ra
định nghĩa kinh điển về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội “ Là xã hội
vừa thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa do đó là một xã hội, về mọi phương diện - kinh tế, đạo đức, tinh thần còn mang những dấu vết của xã
của chính nó Mác - Ăngghen đã nêu tư tưởng về một thời kỳ hai giaiđoạn của chủ nghĩa cộng sản, giai đoạn thấp là xã hội xã hội chủ nghĩa, xãhội vừa thoát thai từ xã hội cũ, trong xã hội ấy tất yếu còn đấu tranh giaicấp và vì vậy còn cần đến nhà nước của giai cấp vô sản, nó tồn tại đến khixây dựng xong cơ sở vật chất cho chủ nghĩa cộng sản Giai đoạn cao làchủ nghĩa cộng sản, xã hội không còn phân biệt giữa lao động trí óc và laođộng chân tay, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu Như vậy thời kỳquá độ là thời kỳ sinh đẻ lâu dài và đau đớn để loại bỏ dần cái cũ, xâydựng và củng cố dần những cái mới, là thời kỳ tạo ra những tiền đề vậtchất và tinh thần để hình thành một xã hội mới cao hơn xã hội tư bản
Trong điều kiện mới, chủ nghĩa tư bản phát triển thành chủ nghĩa đếquốc, cách mạng xã hội chủ nghĩa đã trở thành vấn đề trực tiếp, Lênin đã kếthừa và phát triển tư tưởng của Mác và Ăngghen về phân kỳ hình thái kinh tế
- xã hội, về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Ông đã đề cập đến khả nănggiành thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở một số nước, kể cả nhữngnước tư bản phát triển trung bình, thậm chí còn lạc hậu nhiều mặt Cuộc Cách
5 C.Mác - Ph.Ăngghen to n t àn t ập, tập 19, Nxb CTQG H, 1995, tr33
Trang 5mạng tháng Mười Nga (1917), cùng với quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở nước Nga đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu về lý luận và thựctiễn của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, làm cho lý luận đó ngày càngsáng tỏ hơn Trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” Lênin đã phân chiahình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa qua ba giai đoạn: Giai đoạn một:
“những cơn đau đẻ kéo dài”, gọi là thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; Giaiđoạn hai: “giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa”, gọi là chủ nghĩa xãhội; Giai đoạn ba: “giai đoạn cao của xã hội cộng sản chủ nghĩa” gọi là chủnghĩa cộng sản, quá độ trực tiếp từ tư bản chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội, quá
độ gián tiếp các nước không qua tư bản chủ nghĩa tiến thẳng lên chủ nghĩa xãhội
Đồng thời Người cũng chỉ ra điều kiện của thời kỳ quá độ là có Đảnglãnh đạo, có liên minh công - nông Qua sự phân kỳ của Lênin, thời kỳ quá
độ có vị trí độc lập tương đối, không nằm trong giai đoạn đầu của xã hội cộngsản chủ nghĩa , nhận thức như vậy thì mới xác định được vị trí, phạm vi, đặcđiểm, tính chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Chủ nghĩa Mác -
Lênin còn chỉ rõ: “Những thời kỳ của lịch sử xã hội cũng giống như những
thời kỳ của lịch sử trái đất đều không có ranh giới trừu tượng nào thật rành
những cách phân giới hạn trong giới tự nhiên hoặc trong xã hội, đều chỉ có tính chất quy ước và không cố định, đều là tương đối chứ không phải là tuyệt đối”7 Qua đó ta thấy được tư tưởng biện chứng của Mác-Ăngghen và Lênin,khi nhận biết được vị trí, giới hạn của thời kỳ quá độ, thì ngay trong vị trí,giới hạn đó còn hàm chứa cả những đặc điểm, nội dung của thời kỳ quá độ vàcòn của cả giai đoạn xã hội chủ nghĩa
6 C.Mác - Ph.Ăngghen to n t àn t ập, tập 23, Nxb CTQG, H, 1995, tr 537.
7 Lênin to n t àn t ập, Nxb tiến bộ , Matxcơva, 1978, tập 23, tr 175.
Trang 6Như vậy, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, theo quan điểm của chủnghĩa Mác - Lênin là thời kỳ chuyển biến cách mạng từ xã hội cũ sang xã hộimới xã hội - xã hội chủ nghĩa, được bắt đầu khi giai cấp vô sản giành chínhquyền, thiết lập chuyên chính vô sản và kết thúc khi xây dựng xong cơ sở vậtchất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội.
Trong thời kỳ quá độ, theo quan điểm của Mác - Ăngghen, chính quyền tưbản chủ nghĩa đã bị đánh bại nhưng chế độ tư hữu vẫn còn tồn tại, việc cải tạo và
đi đến xoá bỏ nó phải tiến hành dần dần, đó là quá trình mà giai cấp vô sản phảitạo ra được khối lượng tư liệu sản xuất cần thiết, thì lúc đó mới xoá bỏ được chế
độ tư hữu Về quan hệ phân phối còn chưa thể bình đẳng Tóm lại, trong thời kỳquá độ không riêng gì lĩnh vực kinh tế mà các lĩnh vực khác của đời sống xã hộicòn mang những tàn dư, dấu vết của xã hội cũ chưa thể xoá bỏ ngay lập tức.Trong thời kỳ quá độ còn nhà nước, còn giai cấp và tất yếu còn đấu tranh giaicấp
Kế thừa quan điểm của Mác - Ăngghen, Lênin đã chỉ ra đặc điểm củathời kỳ quá độ là: sự cùng tồn tại, vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau củanhững yếu tố, thuộc tính của cả xã hội cũ và xã hội mới, là thời kỳ đan xen,thâm nhập vào nhau giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, là thời kỳ màcái cũ còn tồn tại và thậm chí còn phát triển lấn áp những mầm mống của cáimới Thời kỳ quá độ còn là thời kỳ lâu dài khó khăn, phức tạp, để vượt quanhững khó khăn phức tạp ấy giai cấp vô sản phải sẵn sàng đón đợi và phải trảiqua nhiều lần thử nghiệm, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, có như vậy mới tìm
ra được hướng đi đúng đắn, hiệu quả
Theo Lênin: “Thời kỳ đó không thể không bao gồm những đặc điểm
hoặc đặc trưng của cả hai kết cấu kinh tế xã hội ấy Gọi là thời kỳ quá độ ấy không thể nào lại không phải là thời kỳ đấu tranh giữa chủ nghĩa tư bản đang giãy chết và chủ nghĩa xã hội đang phát sinh, hay nói một cách khác, giữa
Trang 7chủ nghĩa tư bản đã bị đánh bại nhưng chưa bị tiêu diệt hẳn và chủ nghĩa
phương diện kinh tế, thời kỳ quá độ tồn tại những thành phần, những bộ phậncủa cả chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, các thành phần kinh tế cùng tồntại đan xen, thâm nhập lẫn nhau, vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau; vềchính trị - xã hội đây là thời kỳ đấu tranh giữa chủ nghĩa tư bản đã bị đánh bạinhưng chưa bị tiêu diệt tận gốc, chủ nghĩa xã hội đã phát sinh nhưng còn nonyếu, do đó nhất thiết phải thiết lập chuyên chính vô sản, củng cố nền dân chủcủa nhân dân; thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội còn tồn tại cơ cấu giai cấp
xã hội phức tạp, với các giai cấp và tầng lớp xã hội khác nhau mà lợi ích cơbản của họ khác nhau, thậm chí đối lập nhau Mặt khác, trong thời kỳ quá độcác thế lực phản động bên ngoài luôn luôn tìm cách móc nối phá hoại côngcuộc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội Vì vậy, thời kỳ quá độ là thời kỳđấu tranh giai cấp, dân tộc diễn ra gay go phức tạp, nội dung của cuộc đấutranh giai cấp trong thời kỳ quá độ diễn ra trên tất cả các lĩnh vực kinh tế,chính trị, văn hoá-xã hội, quốc phòng-an ninh…với nhiều hình thức phongphú, đa dạng
Khi lý giải về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, các nhà kinh điểncủa chủ nghĩa Mác - Lênin còn đề cập đến con đường phát triển không qua tưbản chủ nghĩa ở các nước chậm phát triển, tức là quá độ từ xã hội tiền tư bảnlên chủ nghĩa xã hội Mác - Ăngghen cho rằng: với sự giúp đỡ của giai cấp vôsản đã chiến thắng, các dân tộc lạc hậu có thể rút ngắn được rất nhiều quátrình phát triển của mình để tiến lên chủ nghĩa cộng sản “Một xã hội, ngay cảkhi đã phát hiện được quy luật tự nhiên của sự vận động của nó, cũng khôngthể nào nhảy qua các giai đoạn phát triển tự nhiên hay dùng sắc lệnh để xoá
bỏ những giai đoạn đó Nhưng nó có thể rút ngắn và làm dịu bớt được những
8 V.I.Lênin, to n t àn t ập, tập 39 Nxb tiến bộ, Matxcơva 1979, tr 309 - 310
Trang 8cơn đau đẻ”9 Như vậy, các nước tiền tư bản chủ nghĩa có thể đi lên chủ nghĩacộng sản bằng con đường bỏ qua sự phát triển tư bản chủ nghĩa với nhữngđiều kiện tiên quyết nhất định, một trong những điều kiện đó là các nước tiền
tư bản phải được sự giúp đỡ của giai cấp vô sản ở các nước tiên tiến
Trong điều kiện lịch sử mới, sau Cách mạng tháng Mười vĩ đại,Lênin khẳng định: “Với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nước tiên tiến,các nước lạc hậu có thể tiến lên tới chế độ Xô viết, và qua những giai đoạnphát triển nhất định, tiến tới chủ nghĩa cộng sản, không phải trải qua giaiđoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”10 Lênin đã đưa ra quan điểm hai hìnhthức quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đó là quá độ trực tiếp và quá độ gián tiếp.Theo Lênin, những nước chủ nghĩa tư bản phát triển cao, giai cấp côngnhân đã trưởng thành mới có đủ những tiền đề xã hội, kinh tế và chính trịcho sự chuyển tiếp lên chủ nghĩa xã hội Còn những nước lạc hậu chỉ cóthể đi lên chủ nghĩa xã hội bằng quá độ gián tiếp, điều kiện để quá độ giántiếp theo Lênin là: hình thái kinh tế - xã hội bỏ qua đã lỗi thời lạc hậu, hìnhthái kinh tế - xã hội mới ra đời đã thể hiện tính ưu việt của nó; Đảng cộngsản giữ vị trí lãnh đạo xã hội và luôn được củng cố vững mạnh; chínhquyền công nông đủ điều kiện để làm nhiệm vụ chuyên chính vô sản; liênminh công nông bền vững làm cơ sở xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân;phải có sự giúp đỡ của giai cấp vô sản ở các nước tiên tiến Lênin viết:
“Tính quy luật chung của sự phát triển trong lịch sử toàn thế giới đã khôngloại trừ mà trái lại, còn bao hàm một số giai đoạn phát triển mang nhữngđặc điểm hoặc về hình thức hoặc về trình tự của sự phát triển đó”11 Lênincòn chỉ rõ, đối với những nước tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tưbản chủ nghĩa phải trải qua những bước trung gian, quá độ, mới có thể xây
9 C Mác v Ph àn t Ăngghen, to n t àn t ập, Nxb CTQG, H, 1993, T.23, tr21.
10 V.I.Lênin to n t àn t ập , Nxb tiến bộ , Matxcơva, 1978, tập.41, tr 295.
11 V.I.Lênin To n t àn t ập, Nxb tiến bộ , Matxcơva, 1978, tập.45, tr.431.
Trang 9dựng thành công chủ nghĩa xã hội “Chúng ta phải hiểu đường lối, thể thức,thủ đoạn và phương sách trung gian cần thiết để chuyển từ quan hệ tiền tưbản chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội Đó là mấu chốt vấn đề”12.
Như vậy, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải biến cáchmạng sâu sắc, toàn diện trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, nhằm cảitạo xã hội cũ, tạo ra những tiền đề vật chất, tinh thần của xã hội mới, xã hội
xó hội chủ nghĩa Đó là quá trình đấu tranh để giải quyết vấn đề ai thắng aigiữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, là một quỏ trỡnh lõu dài khúkhăn, vỡ vậy mọi biểu hiện chủ quan duy ý chí, nôn nóng hoặc trì trệ bảothủ, thụ động đều gây hậu quả tiêu cực, ngăn cản quá trình đi lên chủ nghĩa
điểm tình hình đất nước, là nền sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu quá độ lên
chủ nghĩa xã hội Bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, là bỏ qua việcxác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bảnchủ nghĩa Kế thừa những thành tựu mà nhân loại đó đạt được dưới chế độ tưbản chủ nghĩa, đặc biệt là về khoa học công nghệ, cùng với quá trình đấutranh giành độc lập của dân tộc, Đảng ta khẳng định: độc lập dân tộc và chủnghĩa xã hội không tách rời nhau, đó là quy luật phát triển của cách mạngViệt Nam, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối của Đảng Kiên định conđường tiến lên chủ nghĩa xã hội của Đảng ta là phù hợp với xu thế của thời
12 V.I.Lênin.To n t àn t ập, Nxb tiến bộ , Matxcơva, 1978, tập 43, tr 274.
Trang 10đại và điều kiện cụ thể ở nước ta Trong Chính cương vắn tắt, Sách lượcvắn tắt Đảng ta khẳng định: làm cách mạng tư sản dân quyền và thổ địacách mạng để tiến đến xá hội cộng sản
Như vậy, con đường của Cách mạng Việt Nam là tiến hành giảiphóng dân tộc, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ, nhân dân quá độlên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Theo quan điểm củaĐảng, sau khi cơ bản hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ, nhân dân,dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, dựa trên nền nền tảng liên minh côngnhân, nông dân và trí thức đã được củng cố vững chắc, cách mạng ViệtNam chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội,
bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa
Vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, khiMiền Bắc hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, miền Nam còn bị đếquốc Mỹ chiếm đóng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta chủ trương, đồngthời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: tiến hành cách mạng xã hội chủnghĩa ở miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạnphát triển tư bản chủ nghĩa, miền Nam tiếp tục hoàn thành cách mạng dântộc dân chủ nhân dân Hai cuộc cách mạng này có quan hệ chặt chẽ thốngnhất với nhau là điều kiện thúc đẩy cách mạng Việt Nam phát triển Đườnglối vừa kháng chiến vừa kiến quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hoàncảnh có chiến tranh là một sáng tạo độc đáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh vàcủa Đảng ta, phản ánh đúng thực chất quy luật phát triển của cách mạngViệt Nam: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định chính xác những khó khăn phứctạp mà cách mạng Việt Nam phải trải qua Theo Người về phương diệnkinh tế “Miền Bắc nhất định tiến lên chủ nghĩa xã hội Mà đặc điểm to nhấtcủa ta trong thời kỳ quá độ là một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên
Trang 11chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủnghĩa”13 Chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện vừa có hoàbình, vừa có chiến tranh, bối cảnh quốc tế vừa có thuận lợi vừa có khókhăn, thuận lợi là chủ nghĩa xã hội đã ra đời ở nhiều nước, chúng ta nhậnđược sự hỗ trợ, hợp tác mạnh mẽ từ bên ngoài, theo tinh thần quốc tế vôsản chân chính; khó khăn của chúng ta là, luôn luôn bị chủ nghĩa đế quốctìm cách phá hoại Điều đó buộc chúng ta phải có ý thức độc lập, tự chủ, tựlực, tự cường, tranh thủ các điều kiện quốc tế thuận lợi, khắc phục nhữngkhó khăn để xây dựng chủ nghĩa xã hội Đảng ta chỉ rõ, quá độ lên chủnghĩa xã hội ở Việt Nam là quá trình khó khăn phức tạp, lâu dài Quá trình
đó bao gồm hai mặt cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới, trong đó xâydựng là nhiệm vụ chủ chốt, trung tâm Đồng thời Đảng ta nhấn mạnh đếntính chất phức tạp khó khăn của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đượcthể hiện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội…
Đảng ta chỉ rõ đây thực sự là một cuộc cách mạng làm đảo lộn mọimặt đời sống xã hội, cả lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, cả cơ sở hạtầng và kiến trúc thượng tầng Nó đặt ra và đòi hỏi đồng thời phải giảiquyết hàng loạt mâu thuẫn khác nhau Đồng thời, sự nghiệp xây dựng chủnghĩa xã hội là sự nghiệp mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta chưa có kinhnghiệm, là công việc hết sức mới mẻ, vừa làm vừa học, có thể sẽ vấp váp vàthiếu sót Xây dựng xã hội mới bao giờ cũng khó khăn, phức tạp hơn đánh đổ
xã hội cũ đã lỗi thời Bên cạnh đó, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hộiluôn luôn bị các thế lực phản động trong và ngoài nước tìm mọi cách chốngphá Vì vậy, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng phải thậntrọng, tránh nôn nóng, chủ quan, đốt cháy giai đoạn Vấn đề cơ bản là phảixác định đúng bước đi và hình thức phù hợp với trình độ của lực lượng sản
13 Hồ Chí Minh To n t àn t ập, tập10, Nxb CTQG, H, 2000, tr 13.
Trang 12xuất, biết kết hợp các khâu trung gian, quá độ, tuần tự từng bước, từ thấpđến cao
Nội dung phương hướng chuyển biến cách mạng trong thời kỳ quá độlên chủ nghĩa xã hội, được Đảng ta xác định đó là thời kỳ phải “cải biến cáchmạng” trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội trong quá trình đi lên chủnghĩa xã hội Nội dung chuyển biến cách mạng phải tiến hành cụ thể:
Thứ nhất, về chính trị xây dựng hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa,
xây dựng nhà nước mới của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của ĐảngCộng sản của giai cấp công nhân Củng cố và tăng cường sự lãnh đạo củaĐảng Cộng sản với mọi mặt đời sống xã hội Thực hiện dân chủ với nhân dân,chuyên chính với kẻ thù; xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệvững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
Thứ hai, về kinh tế, cải tạo và từng bước xoá bỏ dần quan hệ sản xuất
tư bản chủ nghĩa, xây dựng và xác lập dần quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.Giải phóng năng lực sản xuất, phát huy khả năng của các thành phần kinh tếtheo định hướng xã hội chủ nghĩa Tiếp thu các thành tựu khoa học côngnghệ, từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa để tăng năng suất lao độngxây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội và giải quyết các vấn đề xã hội
Thứ ba, về văn hoá, tư tưởng, tiến hành cách mạng văn hoá, tư tưởng
để xác lập hệ tư tưởng Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng của xã hội Xâydựng nền văn hoá mới, con người mới, lối sống mới xã hội chủ nghĩa Xoá bỏảnh hưởng của hệ tư tưởng và văn hoá tư sản phản động Kịp thời đấu tranhngăn chặn âm mưu chống phá của kẻ thù trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá
Thứ tư, về xã hội, xây dựng mối quan hệ giai cấp mới, từng bước xoá
bỏ giai cấp bóc lột Tăng cường mở rộng và phát huy vai trò động lực của liênminh công nhân - nông dân - trí thức Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân,mối quan hệ bình đẳng, hữu nghị giữa các dân tộc Xoá bỏ dần sự khác biệt
Trang 13giữa thành thị với nông thôn, đồng bằng với miền núi; giữa lao động chân tayvới lao động trí óc Đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc cực đoan: dân tộc lớn,
vị kỷ dân tộc và mọi âm mưu chống phá của kẻ thù
Như vậy, nội dung chuyển biến cách mạng trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội là cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, mà thực chất là cuộcđấu tranh giai cấp gay go quyết liệt giữa giai cấp công nhân và nhân dân laođộng với giai cấp tư sản và các thế lực thù địch trên mọi lĩnh vực đời sống xãhội
Thực tiễn cách mạng nước ta, sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứunước giành thắng lợi đất nước thống nhất, cách mạng Việt Nam bước sangmột giai đoạn mới quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua phát triển tư bảnchủ nghĩa Đại hội lần thứ IV của Đảng (1976) đã vạch ra đường lối xây
dựng chủ nghĩa xã hội: “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền
làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng tư tưởng văn hoá, trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây
cũng nhận rõ những khó khăn thách thức trong quá trình xây dựng chủnghĩa xã hội Chúng ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước thuộc địa nửaphong kiến, điểm xuất phát thấp, sản xuất nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua hìnhthái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa; đất nước lại trải qua hai cuộc chiếntranh với hậu quả để lại hết sức nặng nề, vì vậy thời kỳ quá độ là một quátrình đấu tranh giai cấp phức tạp lâu dài, phải tiến hành đồng thời hai
14 Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ IV, Nxb.St, H, 1977, tr 67.
Trang 14nhiệm vụ chiến lược, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xãhội chủ nghĩa, trong đó nhiệm vụ xây dựng là quan trọng hàng đầu
Những năm trước Đại hội VI (1986), do duy trì quá lâu cơ chế tậptrung quan liêu bao cấp, lối suy nghĩ và hành động đơn giản, chủ quan duy
ý chí, muốn xoá bỏ nhanh các thành phần kinh tế không cơ bản, không tôntrọng quy luật khách quan, áp dụng máy móc mô hình chủ nghĩa xã hội đãlàm cho nước ta rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế-xã hội Đại hội VIcủa Đảng với phương châm nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật,tổng kết những thành tựu đạt được, chỉ ra những mặt còn hạn chế, yếu kémcần phải khắc phục, trên cơ sở đó đề ra đường lối đổi mới toàn diện đấtnước nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xãhội
Chủ trương của Đảng là thực hiện mở cửa, đổi mới toàn diện, trướchết là đổi mới tư duy, tư duy về kinh tế, tư duy về chính trị, chú trọng đổimới kinh tế làm cơ sở tiền đề để từng bước đổi mới chính trị Đảng ta xácđịnh đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà là tìmcách thực hiện mục tiêu đó một cách có hiệu quả hơn
Trên cơ sở đó Đại hội đưa ra những nhận thức mới về cơ cấu kinh tế,
về công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường đầu tiên, thừanhận sự tồn tại khách quan của sản xuất hàng hoá và thị trường, xoá bỏ triệt
để cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp chuyển hẳn sang hạch toán kinhdoanh, coi trọng lợi ích cá nhân và tập thể, chăm lo phát triển nhân tố conngười, đổi mới cơ chế chính sách xã hội Đại hội VI là cột mốc đánh dấubước chuyển nhận thức của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độlên chủ nghĩa xã hội Trước đây nhấn mạnh cách mạng quan hệ sản xuất,trong đổi mới chúng ta đặt vấn đề một cách thực tế hơn, khẳng định rõ tư
Trang 15tưởng căn bản của đổi mới là giải phóng lực lượng sản xuất, trên cơ sở đótừng bước tạo lập xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa phù hợp Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII tiếp tục đổi mới tư duy lýluận, trên cơ sở lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của chủnghĩa Mác-Lênin, trong tình hình các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông âu sụp
đổ và Liên xô đang có nguy cơ đi đến tan rã Kiên định mục tiêu, conđường đã chọn Đảng ta khẳng định: Dẫu sự phát triển xã hội đang trải quanhững bước quanh co, phức tạp với những thăng trầm lịch sử, song loàingười cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội, vì đó là quy luậttiến hoá của lịch sử Đại hội cũng đã nêu lên sáu đặc trưng cơ bản của xãhội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng Đồng thời Đại hội xác định rõphương hướng mục tiêu, nhiệm vụ chặng đường đầu của thời kỳ quá độ:
“Thông qua đổi mới toàn diện, xã hội đạt tới trạng thái ổn định vững chắc,tạo thế phát triển nhanh ở chặng sau”15; xây dựng nhà nước xã hội chủnghĩa thực sự của dân, do dân, vì dân, lấy liên minh giai cấp công nhân vớigiai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng cộng sản lãnhđạo; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm nhằmphát triển lực lượng sản xuất; thiết lập từng bước quan hệ sản xuất xã hộichủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu, phù hợp vớitính chất, trình độ của lực lượng sản xuất; tiến hành cách mạng trên lĩnhvực tư tưởng văn hoá; thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc; kết hợpchặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thườngxuyên chăm lo xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tưtưởng và tổ chức ngang tầm với nhiệm vụ cách mạng Việc xác địnhphương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ chặng đường đầu của thời kỳ quá độlên chủ nghĩa xã hội thể hiện tư duy mới của Đảng về thời kỳ quá độ lên
15 Đảng cộng sản Việt Nam Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Nxbst,
H,1991.tr.11
Trang 16chủ nghĩa xã hội, tạo cơ sở, tiền đề để chúng ta bước vào chặng đường tiếptheo.
Trên cơ sở đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ đại hội Đảng VII,đại hội Đảng VIII nhận định: “Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước tangày càng được xác định rõ hơn; xét trên tổng thể, việc hoạch định và thựchiện đường lối đổi mới những năm qua về cơ bản là đúng đắn, đúng địnhhướng xã hội chủ nghĩa”16 Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội,
cơ bản hoàn thành nhiệm vụ chặng đường đầu của thời kỳ quá độ
Bước sang thời kỳ phát triển mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước, Đại hội IX, X của Đảng tiếp tục khẳng định: nhận thức về chủnghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ở nước ta ngày
càng sáng tỏ hơn, “Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên
chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập
vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát
Đại hội X của Đảng đã khái quát mô hình “xã hội chủ nghĩa mà Đảng,Nhà nước và nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, côngbằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao,dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độphát triển của lực lượng sản xuất; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắcdân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm
no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng ViệtNam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng tiến bộ; có Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự
16 Đảng cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ VIII, Nxb CTQG, H, 1996, tr 68.
17 Đảng cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ IX, Nxb CTQG, H 2001 tr.21.