1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÀI LIỆU THAM KHẢO NGUỒN gốc, bản CHẤT, CHỨC NĂNG và VAI TRÒ xã hội của tôn GIÁO

15 167 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôn giáo ra đời và phát triển gắn với xã hội loài người, nó là một hình thái ý thức xã hội, đồng thời là một thực thể xã hội luôn biến động cùng với sự biến thiên của lịch sử nhân loại. Tín ngưỡng, tôn giáo không chỉ là vấn đề tinh thần, tâm linh của một bộ phận nhân dân mà còn có liên quan, tác động đến các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, như: chính trị, đạo đức, văn hóa, kinh tế, xã hội, an ninh và quốc phòng. Vai trò của tôn giáo được thể hiện khác nhau qua từng thời kỳ lịch sử, và tôn giáo sẽ còn tồn tại lâu dài khi con người còn có nhu cầu về nó. Vì vậy, việc nghiên cứu về nguồn gốc, bản chất, chức năng, vai trò xã hội của tôn giáo có ý nghĩa rất quan trọng, làm cơ sở để xem xét các tôn giáo cụ thể đang tồn tại hiện nay, giúp chúng ta hiểu sâu sắc về nó, đồng thời góp phần thực hiện tốt quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta. Tài liệu biên soạn căn

Trang 1

thái ý thức xã hội, đồng thời là một thực thể xã hội luôn biến động cùng với

sự biến thiên của lịch sử nhân loại Tín ngưỡng, tôn giáo không chỉ là vấn đề tinh thần, tâm linh của một bộ phận nhân dân mà còn có liên quan, tác động đến các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, như: chính trị, đạo đức, văn hóa, kinh tế, xã hội, an ninh và quốc phòng Vai trò của tôn giáo được thể hiện khác nhau qua từng thời kỳ lịch sử, và tôn giáo sẽ còn tồn tại lâu dài khi con người còn có nhu cầu về nó Vì vậy, việc nghiên cứu về nguồn gốc, bản chất, chức năng, vai trò xã hội của tôn giáo có ý nghĩa rất quan trọng, làm cơ sở để xem xét các tôn giáo cụ thể đang tồn tại hiện nay, giúp chúng ta hiểu sâu sắc

về nó, đồng thời góp phần thực hiện tốt quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta

Tài liệu biên soạn căn cứ vào Giáo trình Chủ nghĩa vô thần khoa học, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 2008; Tìm hiểu về tôn giáo, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội năm 2005; Tìm hiểu về tôn giáo, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội năm 2010; Tôn giáo - quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị hành chính, Hà Nội năm 2011

Tài liệu biên soạn dùng cho đối tượng đào tạo đại học góp phần nâng cao giảng dạy môn Dân tộc học, Tôn giáo học hiện nay

Trang 2

NỘI DUNG

1 NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT CỦA TÔN GIÁO

1.1 Khái niệm và một số thuật ngữ về tôn giáo

- Khái niệm tôn giáo

Trong lịch sử đã có rất nhiều định nghĩa về tôn giáo Từ các góc độ tiếp cận khác nhau, một số học giả Tư sản coi “tôn giáo là lòng tin vào những vật linh”, “tôn giáo là niềm tin vào các vị thần”, “tôn giáo là một yếu tố của văn hóa, là một hiện tượng văn hóa”, ở đó con người cảm nhận những điều của thế giới vô hình được rút ra từ thực tiễn xã hội và tự nhiên đang chi phối cuộc sống của họ

Từ góc độ triết học, trong tác phẩm “Chống Đuy Rinh” Ăngghen viết:

“Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo - vào đầu óc con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế”.1

Luận điểm trên đã khẳng định bản chất tôn giáo, chỉ ra được tôn giáo là một hình thái đặc biệt của ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội Tôn giáo xuất hiện do con người bất lực trước những lực lượng, những sức mạnh thống trị

họ, đồng thời mong muốn khắc phục sự bất lực đó bằng các biện pháp hoang tưởng - Đó là sự bù đắp hư ảo

Tuy nhiên, từ góc độ bộ môn tôn giáo, cần định nghĩa tôn giáo với tính cách là một hiện tượng xã hội, bao gồm ý thức tôn giáo, tổ chức tôn giáo và hoạt động tôn giáo

Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh hư ảo sai lạc vào đầu óc con người những sức mạnh bên ngoài chi phối cuộc sống của họ;

là sự phản ánh mà trong đó sức mạnh ở trần thế đã mang hình thức sức mạnh siêu trần thế.

Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt Do tín ngưỡng tôn giáo thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần của con người và của xã hội, cho nên

nó thuộc ý thức xã hội, là một trong những yếu tố cấu thành ý thức xã hội, mà

Trang 3

bản chất của ý thức xã hội là phản ánh tồn tại xã hội, do vậy, tôn giáo cũng là

sự phản ánh tồn tại xã hội

Tôn giáo là mối liên hệ, sự ràng buộc giữa con người với một đấng siêu nhiên nào đó Các tôn giáo đều đưa ra những quan điểm của mình cho là vốn

có những lực lượng siêu nhiên, những đấng tối cao đã sinh ra và quyết định mọi vấn đề diễn ra trong tự nhiên và xã hội, do vậy các tôn giáo đã xây dựng lên những biểu tượng mang tính chất linh thiêng để họ tôn thờ: Chúa trời, Đức Phật, Đức thánh Ala… Từ đó các nhà tu hành cũng như các tín đồ cho rằng: mọi suy nghĩ và hành động của con người phải dựa vào ý chí của đấng tối cao

đó, và con người luôn có mối quan hệ tình cảm với đấng tối cao như: thành kính, yêu mến, hy vọng, vui mừng, sợ hãi

Tôn giáo là sản phẩm của xã hội, ra đời, tồn tại và phát triển gắn với những điều kiện lịch sử nhất định, nó thể hiện mối quan hệ giữa con người với con người và con người với tự nhiên

Tôn giáo với tư cách là một hiện tượng xã hội được hình thành trên cơ

sở thống nhất giữa các yếu tố cơ bản: ý thức tôn giáo, tổ chức tôn giáo và hoạt động tôn giáo

Theo “Pháp lệnh Tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam”, để công nhận tư

cách pháp nhân của một tổ chức tôn giáo phải có các điều kiện sau:

Một là, Tổ chức đó phải gồm những người cùng tín ngưỡng, có giáo lý, giáo luật, lễ nghi không trái với thuần phong mỹ tục và lợi ích dân tộc.

Hai là, có hiến chương, điều lệ, tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo gắn với dân tộc, không trái pháp luật.

Ba là, có đăng ký hoạt động và hoạt động tôn giáo ổn định.

Bốn là, có trụ sở, tổ chức và người đại diện hợp pháp.

Năm là, có tên gọi không trùng với tên gọi của tổ chức tôn giáo đã được công nhận.

Tôn giáo với tư cách là một tổ chức phải có đầy đủ 4 yếu tố: Có người sáng lập (giáo chủ); có giáo thuyết (giáo lý, giáo luật, giáo lễ); có người hành nghề chuyên nghiệp, có tổ chức giáo hội; có tín đồ và nơi thờ tự

- Một số thuật ngữ về tôn giáo

Trang 4

Đạo: Trong đời sống hàng ngày nhân dân ta thường dùng từ "đạo" để

chỉ một tập đoàn người nào đó có cùng một tín ngưỡng

Tuy nhiên đối với người theo đạo: từ đạo ở đây được chỉ là một tổ chức tôn giáo nhất định như: Đạo Kitô, Đạo Phật, Đạo Hồi…

Tín ngưỡng: Tín ngưỡng là niềm tin, sự ngưỡng mộ vào cái huyền bí,

thiêng liêng, siêu việt Tín ngưỡng là nền tảng để hình thành tôn giáo Khi tín ngưỡng được một cộng đồng người thể chế, quy phạm hoá cao độ thì trở thành tôn giáo

Khái niệm tôn giáo và khái niệm tín ngưỡng có quan hệ với nhau nhưng ở hai cấp độ khác nhau, trong đó tín ngưỡng cấp độ thấp hơn so với tôn giáo

Tín ngưỡng tôn giáo là khái niệm chỉ niềm tin vào cái “siêu nhiên”, thần thánh, không có thật (hẹp hơn tôn giáo, hẹp hơn tín ngưỡng)

Như vậy, tín ngưỡng chính là niềm tin của con người, nhưng niềm tin này là niềm tin đặc biệt Tín ngưỡng là cơ sở hình thành tôn giáo, đây chính là hạt nhân của ý thức tôn giáo, là yếu tố ban đầu không thể thiếu để hình thành nên một tôn giáo nào đó Và cái chung nhất của tín ngưỡng tôn giáo là thế giới bên kia, nó khác với thế giới hiện thực

Mê tín: Là lòng tin mê muội, viển vông, lỗi thời, trái ngược với khoa

học và lẽ phải thông thường của xã hội, là sự suy đoán nhảm nhí Gốc từ Hán

mê tín có nghĩa là không nhận ra thị phi mà mắt nhắm tin mù

Niềm tin mê muội, thường gắn với những hủ tục gây hậu quả xấu cho con người và xã hội Trong đời sống hàng ngày chúng ta thường gặp những hiện tượng mê tín, dị đoan, những hành vi lừa mị phản khoa học Những hành động như vậy nó ảnh hưởng tác hại đến đời sống vật chất và tinh thần, tính mạng của con người, đến an ninh, an toàn xã hội Yếu tố mê tín cũng đều có trong các tôn giáo

Mê tín là một hiện tượng xã hội mang tính toàn cầu, tồn tại dưới các hình thức khác nhau, “sống ký sinh” vào các hiện tượng thế giới, các sinh hoạt văn hóa… ranh giới có khi khó xác định và rất dễ chuyển hoá

Như vậy, hai yếu tố tín ngưỡng và mê tín nó gắn bó với nhau, đều là cơ

sở hình thành nên tôn giáo

Trang 5

1.2 Nguồn gốc ra đời của tôn giáo

Tôn giáo do chính con người sáng tạo ra và là một hình thái ý thức xã hội Sự ra đời của tôn giáo được bắt nguồn từ những điều kiện về kinh tế - xã hội, từ nhận thức và từ tình cảm tâm lý của con người khi giải quyết mối quan

hệ với tự nhiên và xã hội

- Nguồn gốc kinh tế - xã hội của tôn giáo.

Trong thời kỳ nguyên thuỷ, khi lực lượng sản xuất kém phát triển, xã hội chưa phân chia thành giai cấp, chưa có hiện tượng người bóc lột người, thì

sự bất lực của con người trong quá trình cải tạo các hiện tượng tự nhiên là nguồn gốc chủ yếu tạo nên tín ngưỡng, tôn giáo

Khi xã hội xuất hiện chế độ người bóc lột người thì sự bất lực của con người trong quá trình cải tạo các mối quan hệ xã hội trở thành nguồn gốc cơ bản, chủ yếu tạo nên tôn giáo Điều này được giải thích bởi những lý do sau:

Thứ nhất, khi xã hội có giai cấp, lực lượng sản xuất ngày càng phát

triển tạo điều kiện để con người giảm đi những bất lực trong quá trình cải tạo các hiện tượng tự nhiên Đồng thời, do chế độ tư hữu làm cho con người khai thác cạn kiệt tài nguyên, làm môi trường sinh thái ngày càng ô nhiễm Vì thế, thiên nhiên ngày càng "trả thù" con người với quy mô lớn hơn, cường độ mạnh hơn Do vậy, con người ngày càng bất lực nhiều hơn trong việc cải tạo thiên nhiên

Thứ hai, chế độ bóc lột là thủ phạm gây ra những tai hoạ ngày càng to

lớn, khủng khiếp hơn đối với nhân dân lao động

Chế độ bóc lột về thực chất là chế độ cướp bóc của kẻ mạnh đối với người yếu Với pháp luật, nhà tù, tòa án, quân đội cùng biết bao thủ đoạn xảo quyệt khác, nhà nước của giai cấp bóc lột không chỉ thống trị nhân dân lao động về kinh tế, mà còn áp bức về tinh thần tư tưởng, không chỉ bóc lột cá nhân từng người lao động mà còn áp bức bóc lột cả một giai cấp, một dân tộc Người lao động không chỉ bị một tên tư bản bóc lột mà còn bị cả giai cấp tư sản cướp bóc Chế độ bóc lột không chỉ đe doạ miếng cơm, manh áo hàng ngày, mà còn đe doạ cả sự sống còn của mỗi con người, cả cộng đồng người

và toàn thể nhân loại Đúng như Lênin nhận xét, giai cấp bóc lột "đang hàng ngày, hàng giờ gây ra cho những người lao động bình thường những nỗi

Trang 6

thống khổ cực kỳ ghê gớm, những sự đau thương thật là khủng khiếp, nhiều

gấp nghìn lần so với những biến cố phi thường như chiến tranh, động đất1"

Thứ ba, sự tồn tại và phát triển của chế độ bóc lột làm con người ngày

càng bị tha hoá, bần cùng hoá về mọi mặt

Dưới chế độ nô lệ, người nô lệ trở thành công cụ biết nói, trở thành một thứ hàng hóa có giá trị trong tay giai cấp chủ nô Nhưng dưới chế độ tư bản người công nhân không những bị coi như một công cụ vật chất khác, mà còn

bị biến thành nô lệ của những công cụ đó Cái thân phận "nô lệ của nô lệ" ấy

đã làm cho toàn thể nhân dân lao động cảm thấy "mình bị xúc phạm, bị bỏ rơi, bị đánh lừa, bị đánh cắp mất cái con người đích thực nơi họ"1 Điều đó, đã làm cho con người trong xã hội tư bản, mặc dù sống trong điều kiện dự thừa các phương tiện cơ sở vật chất hiện đại, nhưng vẫn thường xuyên khủng hoảng về tinh thần, mất hết niềm tin và sức mạnh trong quá trình đấu tranh cải tạo tự nhiên, xã hội

Như vậy, chế độ áp bức bóc lột một mặt ngày càng gây ra những tai hoạ khủng khiếp, đòi hỏi con người phải có sự nhảy vọt về chất cả về sức mạnh vật chất và tinh thần để cải tạo nó; mặt khác chế độ đó lại làm suy giảm không ngừng niềm tin, sức mạnh của họ Vì thế, chế độ bóc lột ngày càng chứng tỏ là thủ phạm tạo nên tình trạng bất lực ngày càng gia tăng của con người trong quá trình cải tạo tự nhiên và xã hội Chính trên ý nghĩa đó, Lênin khẳng định nguồn gốc xã hội luôn là nguồn gốc chủ yếu, nguồn gốc sâu xa nhất, nguồn gốc thật sự của tôn giáo

- Nguồn gốc nhận thức

Sự ra đời của tôn giáo bắt nguồn từ sự bất lực của con người trong quá trình nhận thức thế giới khách quan và từ chính tính phức tạp trong quá trình nhận thức của con người

Thứ nhất, do khả năng nhận thức chưa đầy đủ của con người về thế

giới

Sự bất lực trong nhận thức của con người được biểu hiện trước hết ở sự thiếu hiểu biết về tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình Ph.Ăng ghen viết:

1

Lªnin Toµn tËp, tËp 17, Nxb TB M1979.tr.515, 516.

Nxb CTQG, ST, H.1995, tr 445.

Trang 7

"bất cứ tôn giáo nào đều có gốc rễ trong các quan niệm thiển cận và ngu dốt của thời kỳ mông muội"1 "từ những khái niệm hết sức sai lầm, nguyên thủy của con người về bản chất của chính họ và về giới tự nhiên bên ngoài xung quanh họ"2 Nhưng sự thiếu hiểu biết tự nó chưa phải là nguồn gốc sinh ra tôn giáo, mà chỉ khi nào, trên cơ sở sự thiếu hiểu biết "sự ngu dốt" ấy con người không nhận thức đúng, không tìm ra được phương hướng, biện pháp khắc phục đúng sự thiếu hiểu biết đó, dẫn đến đồng nhất "cái chưa biết" thành cái

"không thể biết," thì những ảo ảnh và biểu tượng tôn giáo mới có điều kiện xuất hiện Nói khác đi, chỉ khi nào con người không thể giải quyết được mâu thuẫn giữa nhu cầu nhận thức thế giới, với khả năng hiện có của mình, dẫn tới bất lực, tuyệt vọng thì tôn giáo mới nảy sinh

Thứ hai, do sự tuyệt đối hoá, cường điệu hoá của chủ thể nhận thức,

làm cho nhận thức thiếu khách quan, mất dần cơ sở hiện thực và rơi vào ảo tưởng, thần thánh hoá đối tượng

Nhận thức của con người là sự thống nhất không thể tách rời giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, giữa phương pháp nhận thức gián tiếp và phương pháp nhận thức trực tiếp

Quá trình nhận thức gắn liền với sự hình thành các biểu tượng, phát triển trí tưởng tượng của con người Đây vừa là sự hơn hẳn, sự khác nhau về chất giữa tâm lý ý thức của con người so với tâm lý động vật, thể hiện rõ nhất sức mạnh của tư duy trí tuệ con người, vừa chứa đựng nhiều nhất những khả năng phản ánh sai lầm, ảo tưởng V.I Lênin chỉ rõ: " ngay trong sự khái quát đơn giản nhất, trong ý niệm chung sơ đẳng nhất cũng có một phần ảo tưởng"1 Vì thế, khi con người biến những hình ảnh ảo tưởng, sai lầm, chỉ tồn tại trong tư duy thành một cái gì tồn tại ngoài tư duy của mình, thì lúc đó sẽ xuất hiện các biểu tượng tôn giáo

Hơn nữa, quá trình nhận thức của con người là tổng thể một chuỗi dài các thao tác tư duy mà bên cạnh khả năng nhận thức đúng đắn còn bao gồm khả năng nhận thức sai lầm Ở đây, theo Lênin : "Bất cứ đoạn nào, khúc nào,

1

Trang 8

mảnh nào của đường cong ấy cũng có thể chuyển hoá thành một đường thẳng độc lập, đầy đủ,…dẫn đến vũng bùn, đến chủ nghĩa thày tu "1

- Nguồn gốc tâm lý, tình cảm của tôn giáo.

Ngày nay, các nhà khoa học đã chứng minh tâm trạng cô đơn, sợ hãi, tuyệt vọng đã từng có ở các động vật bậc cao Với con người; do có khả năng sinh sống, hoạt động trong nhiều môi trường, phức tạp và do trí tưởng tượng phong phú, nên trước những tai hoạ khủng khiếp như dịch bệnh, bão tố, động đất, núi lửa, chiến tranh; trước cảnh bao la, hùng vĩ của trời, biển, cảnh u tịch, lạnh lẽo của hang sâu, rừng thẳm họ càng dễ rơi vào trạng thái sợ hãi, cô đơn, tuyệt vọng "Đặc biệt là cái chết làm nảy sinh ra sự sợ hãi lòng tin vào Thượng đế"(1)

Bên cạnh những lực lượng xã hội, những hiện tượng thiên nhiên gieo tai hoạ, luôn tồn tại những hiện tượng tự nhiên tạo ra điều kiện thuận lợi, đáp ứng nhu cầu nguyện vọng con người và cả những lực lượng xã hội, những cá nhân anh hùng, dũng cảm xả thân cứu giúp đồng loại Những sự kiện đó là lý

do nảy sinh lòng biết ơn, kính trọng

Tâm trạng cô đơn, sợ hãi, tuyệt vọng và lòng biết ơn, kính trọng là những trạng thái tâm lý khác nhau, nhưng liên hệ mật thiết với nhau Tất cả đều trở thành nguồn gốc trực tiếp để hình thành ý thức tín ngưỡng, tôn giáo

Trong thực tế, những nguồn gốc dẫn đến sự ra đời, tồn tại của tôn giáo luôn quan hệ chặt chẽ, thành một thể thống nhất không tách rời nhau Song vai trò của chúng không ngang bằng nhau Vai trò đó phụ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể Tuy nhiên, ở bất cứ đâu, trong bất cứ thời điểm nào, nguồn gốc

xã hội, vẫn là cơ bản, chủ yếu nhất Nó quyết định xu hướng, nội dung, hình thức, tồn tại phát triển của nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc tâm lý; quyết định sự ra đời của tôn giáo Ngược lại, nguồn gốc nhận thức, nguồn gốc tâm

lý cũng tác động trở lại rất to lớn đến sự hình thành, phát triển của tôn giáo và góp phần làm sâu sắc, phong phú hơn nguồn gốc xã hội

Do đó, khi xem xét, đánh giá nguồn gốc tôn giáo phải toàn diện, trên cơ

sở nguồn gốc xã hội, phải chú ý đến các nguồn gốc khác, tránh tuyệt đối hoá, tách rời các nguồn gốc với nhau Đồng thời, kiên quyết phê phán quan điểm

Trang 9

phủ nhận nguồn gốc xã hội của tôn giáo trong các trào lưu tư tưởng phản diện hiện nay

1.3 Bản chất của tôn giáo

Tôn giáo là sản phẩm của con người, tôn giáo mang bản chất xã hội, phản ánh sự bất lực, bế tắc của con người trước tự nhiên và xã hội

Thế giới quan tôn giáo là thế giới quan duy tâm, phản khoa học và đối

lập với thế giới khoa học Sự phản ánh của tôn giáo đối với hiện thực khách quan không phải là sự phản ánh bình thường, phản ánh đúng đắn, trung thực,

mà là sự phản ánh "hư ảo", bịa đặt

Tôn giáo không chỉ đảo lộn, xem: "Bản chất khách quan coi như là chủ quan, bản chất của giới tự nhiên là khác với giới tự nhiên, coi như bản chất của con người, bản chất của con người như khác với người, coi như là bản chất không phải người"(1), mà còn phủ nhận mọi quy luật khách quan, mọi suy nghĩ và hành động sáng tạo của con người Mặt khác, tôn giáo còn quy mọi sự tồn tại, vận động, biến đổi của thế giới, từ hoạt động nhận thức của con người tới sự vận động của các thiên hà bao la đều phụ thuộc vào ý chí của đấng siêu nhiên, phục vụ đấng siêu nhiên Cho nên, tôn giáo không chỉ phản ánh xuyên tạc tình hình, khả năng khách quan mà còn phủ nhận quy luật khách quan, không chỉ xuyên tạc quy luật của tự nhiên, xã hội, mà còn xuyên tạc quy luật vận động của tư duy; tôn giáo không chỉ sai lầm trong cách đặt vấn đề, giải quyết vấn đề mà còn sai lầm trong kết thúc vấn đề Đó là chuỗi dài của những phản ánh sai lầm liên tiếp cả về nội dung và phương pháp Vì thế, những nội dung phản ánh của tôn giáo về cơ bản không có giá trị về lý luận và thực tiễn, thậm chí nó còn là nguồn gốc gây nên những tai hoạ to lớn cho sự phát triển của tự nhiên, xã hội và con người

Tôn giáo là một thực thể xã hội, là nhu cầu của một bộ phận quần chúng nhân dân, là cõi tâm linh, linh thiêng của con người

Nội dung phản ánh của tôn giáo luôn luôn là sự thống nhất giữa cái hư

và cái thực, trong đó cái hư ảo, cái bịa đặt giữ vai trò chủ đạo, lấn át, che lấp hầu như toàn bộ cái thực Cái thực, được hiện ra như một nhu cầu được bù đắp tình cảm, lý trí và sức mạnh để vươn tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc;

Trang 10

một khát vọng thoát ra và phản kháng lại cái xã hội buộc con người sinh ra tôn giáo, cần đến tôn giáo Tuy bị suy biến, bị phủ định và chiếm một tỉ lệ vô cùng nhỏ, song không bao giờ cái thực mất đi hoàn toàn, nó vẫn là điều kiện, tiền đề cho sự tồn tại của cái ảo, của tôn giáo Đúng như Phoiơbắc đã viết:

"Trong tôn giáo, ngoài ảo tưởng ra, mặt thực tế tìm tòi cái tốt hơn tìm sự che chở, sự giúp đỡ là cực kỳ quan trọng"(2) Hơn nữa, toàn bộ quá trình ra đời, tồn tại, vận động, phát triển của tôn giáo cũng như các hoạt động tôn giáo vừa

là sự biểu hiện, vừa là quá trình giải quyết mâu thuẫn giữa cái hư và cái thực

Vì thế, xem xét bản chất tôn giáo phải toàn diện, phải thấy không chỉ nội dung phản ánh mà cả trình độ phản ánh; phải nhận thức sâu sắc không chỉ tính chất duy tâm thần bí của cái hư, cái ảo mà còn phải thấy cái thực, trong néi dung phản ánh của tôn giáo

Tôn giáo là một phạm trù xã hội, văn hoá, đạo đức, có tính độc lập tương đối, là hình thái ý thức xã hội bảo thủ, lạc hậu nhất, nó còn tồn tại lâu dài khi điều kiện sinh ra nó đã thay đổi Khi xã hội phân chia giai cấp thì tôn giáo luôn mang tính chính trị

2 CHỨC NĂNG, VAI TRÒ XÃ HỘI CỦA TÔN GIÁO

1 Chức năng xã hội của tôn giáo

- Chức năng đền bù hư ảo

Đây là chức năng đặc thù, phản ánh tập trung bản chất tôn giáo; được sinh ra từ khả năng bất tử, tồn tại ngoài không gian, thời gian và sức mạnh không giới hạn của đấng siêu nhiên Cho nên, ngoài tôn giáo không có một hình thái ý thức xã hội, một lực lượng xã hội hay tự nhiên nào có được chức năng này Đồng thời, đây cũng là chức năng chủ yếu của tôn giáo Thông qua chức năng này các chức năng khác của tôn giáo được thực hiện, do đó, thiếu chức năng này, không có bất cứ tôn giáo nào có thể tồn tại, phát triển được

Tôn giáo đền bù hư ảo cho các tín đồ ở mọi lúc, mọi nơi, vượt lên trên mọi không gian và thời gian, bất chấp mọi quy luật khách quan Tôn giáo không chỉ đền bù "hư ảo", đáp ứng mọi mong muốn của các tín đồ một cách nhanh nhất, lớn nhất, cả về số lượng và chất lượng, cả về vật chất và tinh thần, cả những nhu cầu thiết yếu và những mong muốn kỳ quái nhất ngay khi

Ngày đăng: 03/08/2021, 08:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w