1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÀI LIỆU THAM KHẢO cải CÁCH tư PHÁP và một số vấn đề xây DỰNG NHÀ nước PHÁP QUYỀN ở nước TA HIỆN NAY

36 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 174 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở nước ta, quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Do đó, quyền tư pháp được hiểu là hoạt động xét xử của tòa án và những hoạt động của các cơ quan nhà nước hoặc các tổ chức khác trực tiếp liên quan đến hoạt động xét xử của tòa án, nhằm bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, pháp chế, trật tự pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích của Nhà nước và xã hội. Vì vậy, cơ quan tư pháp bao gồm: tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan điều tra và các cơ quan, tổ chức tư pháp bổ trợ như: luật sư, công chứng, giám định, tư vấn pháp luật...

Trang 1

CẢI CÁCH TƯ PHÁP VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP

QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Ở nước ta, quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công vàphối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền:lập pháp, hành pháp và tư pháp Do đó, quyền tư pháp được hiểu là hoạt độngxét xử của tòa án và những hoạt động của các cơ quan nhà nước hoặc các tổchức khác trực tiếp liên quan đến hoạt động xét xử của tòa án, nhằm bảo vệ chế

độ xã hội chủ nghĩa, pháp chế, trật tự pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp củacông dân, lợi ích của Nhà nước và xã hội Vì vậy, cơ quan tư pháp bao gồm: tòa

án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan điều tra và các cơ quan, tổchức tư pháp bổ trợ như: luật sư, công chứng, giám định, tư vấn pháp luật

Với quan niệm tư pháp là các cơ quan nhà nước trực tiếp thực hiệnquyền tư pháp, trong đó tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân và các cơquan điều tra là các cơ quan quan trọng nhất Sau khi Cách mạng Tháng Támnăm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời Một nền tưpháp kiểu mới - nền tư pháp nhân dân đã từng bước được thiết lập Gần 60 nămqua, các cơ quan tư pháp đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, nỗ lực phấnđấu để hoàn thành trọng trách mà Đảng và nhân dân giao phó, đã đóng gópkhông nhỏ vào thắng lợi chung của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ViệtNam xã hội chủ nghĩa, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dânchủ, công bằng, văn minh

Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước, yêu cầu khách quan đặt ra là phải tiến hành cải cách bộ máy nhà nước,điều chỉnh phạm vi nội dung và phương thức hoạt động của Nhà nước cho phùhợp Nguyên tắc quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cườngpháp chế xã hội chủ nghĩa phải được đề cao hơn bao giờ hết Trong cải cách bộ

Trang 2

máy nhà nước, cải cách tư pháp có vị trí rất quan trọng Bởi vì, các cơ quan tưpháp là công cụ quan trọng của Đảng và Nhà nước để thực hiện quyền làm chủcủa nhân dân, bảo vệ nhân dân, các quyền và lợi ích hợp pháp và chính đángcủa người dân, bảo đảm kỷ cương xã hội Từ khi công cuộc đổi mới bắt đầu,thực hiện chủ trương cải cách bộ máy nhà nước, các cơ quan tư pháp đã thamgia tích cực và chủ động vào việc soạn thảo văn bản pháp luật, xây dựng vàhoàn thiện hệ thống pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật, từng bước nâng cao

ý thức pháp luật cho cán bộ và nhân dân

1 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc đẩy mạnh cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay

Trong lý luận và thực tiễn pháp lý ở Việt Nam, cải cách tư pháp luônđược hiểu với ý nghĩa chung nhất là sự thay đổi đem lại những điều mới có íchcho việc xây dựng nhà nước và bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp củacông dân Vào đầu những năm 1950, Bộ Tư pháp đã trình lên Chủ tịch Hồ ChíMinh dự án Sắc lệnh Cải cách bộ máy tư pháp và Luật Tố tụng với những mụcđích rất rõ ràng là bộ máy tư pháp cần được dân chủ hoá “Để công việc xét xửđược nhanh chóng và gần dân hơn”, “thủ tục tố tụng cần được hợp lý và giản dịhơn” (1) Với ý nghĩa đó, ngày 22/5/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh

số 85 về cải cách bộ máy tư pháp, xây dựng nên những nguyên tắc tiến bộ đầutiên cho nền tư pháp non trẻ của nước ta Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh vàxuất phát từ yêu cầu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền, ngày 2/6/2005,

Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 49 về Chiến lược cải cách tư pháp đếnnăm 2020 (sau đây gọi là Nghị quyết 49) Mục đích của việc xây dựng Chiếnlược cải cách tư pháp nhằm : xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dânchủ, hiện đại, bảo vệ công lý Tuy nhiên, trong điều kiện mới, để thể chế thànhpháp luật theo các định hướng của Đảng, vấn đề đặt ra là cần có sự nhận thức

Trang 3

thống nhất về khái niệm cơ quan tư pháp Vì chỉ có thể xác định đúng đắn

phạm vi cải cách tư pháp khi có sự nhận thức thống nhất về cơ quan tư pháp

Trong hệ thống pháp luật của nước ta hiện nay không có quy định nào về

cơ quan tư pháp Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) tuy có quy định về quyền lậppháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp nhưng không quy định rõ cơ quan nào

là cơ quan thực hiện quyền tư pháp Vậy cơ quan tư pháp là gì? Trong khoa họcpháp lý, cơ quan tư pháp được hiểu theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng

Trong các tác phẩm kinh điển, nhiều luật gia đã không có gì khó khăn đểtìm ra ý nghĩa đích thực của cơ quan tư pháp theo nghĩa hẹp Montesquieungười được coi là “cha đẻ” của học thuyết phân quyền trong tác phẩm “Tinhthần pháp luật” xuất bản năm 1748 đã quan niệm “Với quyền lực thứ ba, nhàvua hay pháp quan trừng trị tội phạm, phân xử tranh chấp giữa các cá nhân.Người ta gọi đây là quyền tư pháp” (2) Ông còn viết: “Quyền phán xét khôngnên giao cho một Viện Nguyên lão thường trực mà phải do những người trongđoàn thể dân chúng được cử ra từng thời gian trong một năm, do luật quy địnhthành toà án, làm việc kéo dài bao lâu tuỳ theo sự cần thiết” (3) Như vậy, theoMontesquieu, cơ quan tư pháp là toà án, là cơ quan xét xử, cơ quan thực hiệnnhánh quyền lực tư pháp

Mười bốn năm sau, trong tác phẩm “Bàn về khế ước xã hội” xuất bảnnăm 1762, Rousseau viết: “Khi người ta không thể định rõ một tỷ lệ chính xácgiữa các bộ phận cấu thành của nhà nước, hoặc khi mà những nguyên nhânkhách quan làm suy yếu không ngừng mối quan hệ giữa các bộ phận ấy, thìngười ta phải đặt một cơ quan đặc biệt, không tham dự vào bất cứ một bộ phậnnào Cơ quan này đặt mỗi bộ phận vào đúng vị trí của nó, làm mối dây liên lạc

và yếu tố trung gian giữa Chính phủ với nhân dân, hoặc giữa Chính phủ với cơquan quyền lực tối cao, hoặc giữa cả ba vế ấy khi cần Cơ quan này tôi gọi là

cơ quan tư pháp” (4) Khi bàn về chức quan tư pháp, Rousseau còn nói rõ hơn:

Trang 4

“Luật pháp công bố ý chí của toàn dân; chức quan tư pháp nói lên lời phán xétcông cộng… toà án tư pháp không phải là người trọng tài xét xử dư luận côngchúng, nó chỉ là người công bố dư luận công cộng Xa rời chức năng đó thì mọiquyết định của toà án đều là điều vớ vẩn và vô hiệu” (5) Xem thế, quan niệmcủa Rousseau về cơ quan tư pháp không có gì khác biệt với Montesquieu, theo

đó nói đến cơ quan tư pháp phải hiểu đó là toà án, là hoạt động xét xử

Chịu ảnh hưởng tư tưởng của các luật gia thời Khai sáng, khi làm bảnHiến pháp năm 1787, các nhà lập hiến Hoa Kỳ đã quy định ở Điều III, khoản 1như sau: Quyền lực tư pháp Hoa Kỳ sẽ được trao cho Toà án tối cao và nhữngtoà án cấp dưới mà Quốc hội có thể thiết lập trong một số trường hợp Và hầuhết các hiến pháp của các nước tư bản như Nhật, Pháp, Đức, Thuỵ Điển… saunày khi quy định về cơ quan tư pháp đều coi đó là các toà án Như vậy, quanniệm có tính chung nhất theo nghĩa hẹp về về cơ quan tư pháp từ học thuyếtđến xây dựng hiến pháp thành văn của các nước có lịch sử lập hiến lâu nămđược hiểu là các toà án

Ở Việt Nam cũng có các quan niệm khác nhau về cơ quan tư pháp tuỳtheo cách tiếp cận của người nghiên cứu Quan niệm thứ nhất, liên quan đếnviệc xem xét cơ quan tư pháp theo nghĩa hẹp, có tác giả đã đưa ra khái niệm về

tư pháp hình sự như sau: “Tư pháp hình sự trong Nhà nước pháp quyền là dạngthực hiện quyền lực nhà nước của hệ thống cơ quan có thẩm quyền nhân danhcông lý (cơ quan tài phán – Toà án) để xét xử và đưa ra phán quyết đối với vụ

án hình sự nhằm mục đích bảo vệ chế độ hiến định, nhân thân, các quyền và tự

do của con người và của công dân, cũng như hoà bình và an ninh của loại, hỗtrợ cho cuộc đấu tranh chống tội phạm, góp phần đưa các nguyên tắc được thừanhận chung của Nhà nước pháp quyền vào đời sống thực tế” (6) Hoặc “Quyền

tư pháp là khả năng và năng lực riêng có của các cơ quan Toà án chiếm vị tríđặc biệt trong bộ máy nhà nước thực hiện để tác động đến hành vi của con

Trang 5

người, đến các quá trình xã hội” (7) Từ các định nghĩa này có thể thấy, cơ quan

tư pháp chỉ là toà án

Quan niệm thứ hai tiếp cận cơ quan tư pháp theo nghĩa rộng có tính hệthống, theo đó “Khái niệm tư pháp không chỉ được dùng cho Toà án, mà còn cảcác cơ quan nhà nước khác thực hiện chức năng có liện quan đến xét xử Trướchết đó là Viện kiểm sát, rồi đến các cơ quan điều tra, thi hành án” (8) Quanniệm thứ hai này phản ánh nhận thức khá phổ biến trong giới nghiên cứu khoahọc pháp lý hiện nay

Cũng có thể tiếp cận khái niệm cơ quan tư pháp từ Hiến pháp và các đạoluật Khác với các nước, ở Việt Nam các bản Hiến pháp năm 1959, năm 1980,năm 1992 không có quy định cụ thể về cơ quan tư pháp Riêng Hiến pháp năm

1946 có chương VI quy định riêng về cơ quan tư pháp bao gồm Toà án tối cao,các Toà án phúc thẩm, các Toà án đệ nhị cấp và sơ cấp Cũng có ý kiến chorằng, Hiến pháp năm 1946 là khá điển hình cho việc vận dụng hạt nhân hợp lýcủa học thuyết phân quyền mà một trong những biểu hiện là có chương quyđịnh riêng về cơ quan tư pháp và không chịu sự giám sát của Nghị viện Cáchiến pháp sau này đã có sự thay đổi về cấu trúc, theo đó không còn chương quyđịnh riêng về cơ quan tư pháp mà thay vào đó là chương quy định về Toà ánnhân dân và Viện kiểm sát nhân dân Tuy nhiên, tìm hiểu kỹ về Toà án quy địnhtrong Hiến pháp năm 1946 thì thấy rằng, cơ cấu của Toà án nước ta thời kỳ này

có những điểm khá đặc thù, không hoàn toàn giống như quan niệm về cơ quan

tư pháp theo nghĩa hẹp ở trên Theo Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946 về tổ chứccác Toà án và các ngạch thẩm phán, Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946 ấn địnhthẩm quyền các Toà án và sự phân công giữa các nhân viên trong Toà án, Sắclệnh số 31 ngày 19/3/1947 sửa đổi Sắc lệnh số 131 ngày 20/7/1946 về tổ chức

Tư pháp công an, Sắc lệnh số 258-SL quy định cách tổ chức Công an quânpháp trong thời kỳ kháng chiến, thì trong cơ cấu tổ chức của Toà án không chỉ

Trang 6

có thẩm phán xét xử (thẩm phán ngồi) mà còn có thẩm phán buộc tội (thẩmphán đứng) được gọi là Chưởng lý, Biện lý, Phó Biện lý giữ vai trò công tốviên Trong cơ cấu tổ chức của Tư pháp công an có cả Biện lý, Phó Biện lý,Thẩm phán sơ cấp Biện lý có nhiệm vụ thi hành những bản án có hiệu lực.Trong quân đội, công an quân pháp được giao thẩm quyền thi hành bản án củaToà án binh Như vậy, ngay từ những năm tháng đầu tiên xây dựng nền tư phápnon trẻ thì nội hàm khái niệm cơ quan tư pháp theo Hiến pháp năm 1946 đãđược thu nhận thêm những thành tố khác như cơ quan công tố, điều tra, thihành án Cùng với sự phát triển của hệ thống pháp luật về tư pháp, ngày 21/12/

1999 Quốc hội đã ban hành Bộ luật Hình sự (mới) thường được gọi là Bộ luậtHình sự năm 1999 Trong Bộ luật này có một chương riêng quy định về các tộixâm phạm hoạt động tư pháp Điều 292 quy định khái niệm tội xâm phạm hoạtđộng tư pháp như sau: Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là những hành vixâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử và thihành án trong việc bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp phápcủa tổ chức, công dân Trong chương các tội xâm phạm hoạt động tư pháp cónhiều điều luật quy định về các tội phạm cụ thể như Điều 293 – tội truy cứutrách nhiệm người không có tội; Điều 295 – tội ra bản án trái pháp luật; Điều

298 – tội dùng nhục hình; Điều 300 – tội làm sai lệch hồ sơ vụ án; Điều 305 –tội không thi hành án, Điều 306 – tội cản trở việc thi hành án… Như vậy, bằngviệc thông qua Bộ luật Hình sự năm 1999, cơ quan quyền lực nhà nước caonhất đã công nhận khái niệm cơ quan tư pháp theo nghĩa rộng, theo đó cơ quan

tư pháp bao gồm Toà án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra và Cơ quan thi hành

án Phạm vi cải cách tư pháp vì vậy cũng phải được xem xét toàn diện đối vớicác cơ quan này Ngoài ra, để cải cách tư pháp thành công, không thể khônghoàn thiện các cơ quan khác được gọi là cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp như

Trang 7

luật sư, công chứng, giám định Đây cũng là những thành tố có ảnh hưởng khánhiều tới chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp.

2 Cải cách Toà án – trọng tâm của cải cách tư pháp

Quốc hội có ưu thế trong việc thực hiện Nghị quyết 49 thông qua hoạtđộng lập pháp Sau ba năm thực hiện nghị quyết 49 (từ tháng 6/2005 đến nay),Quốc hội đã ban hành nhiều luật, bộ luật, pháp lệnh quan trọng về lĩnh vực tưpháp, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động của các cơ quan tư pháp như đã sửa đổi

Bộ luật Dân sự năm 2005, ban hành Luật Luật sư, Luật Trợ giúp pháp lý, LuậtCông chứng, Luật Tương trợ tư pháp, Luật Phòng, chống tham nhũng Tại kỳhọp thứ tư, Quốc hội khoá XII, Quốc hội sẽ thông qua Luật Thi hành án dân sự,cho ý kiến Dự án Luật Lý lịch tư pháp, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Bộluật Hình sự Quốc hội cũng đã phê chuẩn Công ước của Liên hiệp quốc vềchống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, Hiệp định thương mại Việt Nam –Hoa Kỳ, Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thếgiới (WTO) của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Ủy ban thường vụQuốc hội (UBTVQH) ban hành Pháp lệnh Thủ tục bắt giữ tàu biển, Pháp lệnhsửa đổi một số điều của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính,Pháp lệnh sửa đổi Điều 9 Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự, Pháp lệnh sửađổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thi hành án phạt tù, Nghị quyết số1037/2006/NQ-UBTVQH11 ngày17/7/2006 của UBTVQH về giao dịch dân sự

về nhà ở được xác lập trước ngày 1/7/1991 có người Việt Nam định cư ở nướcngoài tham gia, Nghị quyết số 1039/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 28/8/2006 củaUBTVQH về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và quy chế hoạt động của Ban Chỉđạo trung ương về phòng, chống tham nhũng; Nghị quyết số294A/2007/UBTVQH12 ngày 27/9/2007 của UBTVQH về tổ chức, nhiệm vụ

và quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương vềphòng, chống tham nhũng… Nhìn chung, khối lượng văn bản quy phạm pháp

Trang 8

luật được Quốc hội, UBTVQH thông qua khá nhiều Quá trình thể chế Nghịquyết 49 có những dự án luật gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp, như Bộ LuậtThi hành án đã phải nhiều lần trình ra Quốc hội, thay đổi cấu trúc tách ra thànhhai luật: Luật Thi hành án dân sự và Luật Thi hành án phạt tù.

Trên cơ sở các quy định của các bộ luật, luật, pháp lệnh, hoạt động củacác cơ quan tư pháp đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm

vụ được giao; kịp thời đấu tranh phát hiện, xử lý nghiêm minh các hành vi viphạm pháp luật và tội phạm; tích cực giải quyết các vụ án dân sự, hành chính

và thi hành án, góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự,

an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổchức, công dân Tuy nhiên, hoạt động của các cơ quan tư pháp vẫn còn nhiềuhạn chế, như còn để xảy ra tình trạng oan sai trong điều tra, truy tố, xét xử,công dân khiếu nại, tố cáo nhiều Số lượng án chờ xét xử để quá hạn luật địnhcòn khá lớn Kết quả thi hành án hình sự, thi hành án phạt tù còn gặp nhiều khókhăn, vướng mắc Nguyên nhân có nhiều, nhưng điều có thể dễ nhận thấy làviệc thể chế những chủ trương, quyết sách theo Nghị quyết 49 còn chậm, chưađạt được được yêu cầu, mục tiêu cải cách đề ra

Để tạo chuyển biến căn bản trong cải cách tư pháp, đã đến lúc cầnnghiên cứu tìm giải pháp đột phá về vấn đề này, đó là tiến hành cải cách ở khâuthen chốt nhất, cải cách tổ chức Toà án Lựa chọn vấn đề này vì xét đến cùng,Toà án là nơi giám sát kết quả hoạt động của cả hệ thống tư pháp Ngay cả việcthi hành án ở khâu cuối cùng của tố tụng hình sự cũng như tố tụng dân sự còngặp nhiều khó khăn cũng phải xem xét từ cội nguồn của vấn đề là chất lượngbản án Bản án công bằng, vô tư luôn tạo ra sức mạnh và tính chính đáng của

hệ thống cơ quan tư pháp vì nó được người dân tin tưởng “tâm phục, khẩuphục” Thông qua hoạt động của Toà án, các cơ quan điều tra, Viện kiểm sátcũng phải không ngừng nâng cao năng lực của mình bởi lẽ theo tinh thần pháp

Trang 9

quyền và pháp luật thực định nếu Toà án tuyên vô tội, ắt hẳn các Cơ quan điềutra, Viện kiểm sát hoặc Toà án cấp dưới phải thực hiện việc bồi thường nếu cólỗi để xảy ra oan trong quá trình tố tụng Theo Nghị quyết 49: Tổ chức hệ thốngtoà án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính cấphuyện; toà án sơ thẩm khu vực được tổ chức ở một hoặc một số đơn vị hànhchính cấp huyện; toà án phúc thẩm có nhiệm vụ chủ yếu xét xử phúc thẩm vàxét xử sơ thẩm một số vụ án; Toà thượng thẩm được tổ chức theo khu vực cónhiệm vụ xét xử phúc thẩm; Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinhnghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét

xử giám đốc thẩm, tái thẩm Việc nghiên cứu cải cách Toà án theo định hướngNghị quyết 49 cần thực hiện theo các nguyên tắc sau:

Một là, phải xuất phát từ yêu cầu cơ bản của việc xây dựng Nhà nước

pháp quyền là đảm bảo tính độc lập của Toà án Trong hệ thống các cơ quan tưpháp hiện nay, Cơ quan điều tra tuy hoạt động độc lập theo quy định của phápluật tố tụng hình sự nhưng do do cơ chế tổ chức cán bộ, Thủ trưởng cơ quanđiều tra có thể kiêm nhiệm một chức vụ hành chính như Tổng cục trưởng, Phógiám đốc Công an tỉnh, Phó trưởng Công an huyện nên hoạt động điều tra khótránh khỏi sự chỉ đạo mang tính hành chính Ở ngành Kiểm sát, do đặc thù củangành về tính tập trung thống nhất, kiểm sát viên ngoài việc thực hiện thẩmquyền và chịu trách nhiệm trước pháp luật, còn bị chỉ đạo mang tính hànhchính của Viện trưởng Viện kiểm sát Vì vậy, cần xây dựng tính độc lập của Toà

án như một thành luỹ cuối cùng để giảm thiểu tối đa sự can thiệp từ bên ngoàivào hoạt động của Toà án

Hai là, xây dựng mô hình Toà án một mặt tạo thuận lợi cho việc thực

hiện quyền lực nhà nước nhưng cũng cần quan tâm đến lợi ích của công dânkhi có việc phải hệ luỵ đến chốn pháp đình Quan điểm của Chủ tịch Hồ ChíMinh về xây dựng cơ quan tư pháp phải “Gần dân, hiểu dân, giúp dân, học

Trang 10

dân”[13] vẫn cần được quán triệt khi thiết kế phạm vi quản hạt của Toà án Mộtngười dân khi tham gia tố tụng ở toà án cấp sơ thẩm có phạm vi quản hạt quálớn là không thích hợp, nhất là ở những nơi còn khó khăn về giao thông.

Ba là, cải cách tổ chức toà án phải đặt ra mục tiêu góp phần làm cho

công tác xét xử được “công bằng, liêm khiết” như lời dạy của Chủ tịch Hồ ChíMinh, đồng thời phải tiết kiệm cho ngân sách nhà nước

Về đổi mới tổ chức và hoạt động của tòa án, Đại hội Đảng toàn quốc lầnthứ IX đã chỉ rõ là phải sắp xếp lại hệ thống tòa án nhân dân, phân định hợp lýthẩm quyền của tòa án nhân dân các cấp Tăng cường đội ngũ thẩm phán và hộithẩm nhân dân cả về số lượng và chất lượng Đây là nhiệm vụ vừa có tính cấpbách, vừa có tính lâu dài Quốc hội khóa X trong kỳ họp thứ 11 sẽ thể chế hóanhững vấn đề này trong Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) Còn về lâudài, cần tiếp tục nghiên cứu phân định lại thẩm quyền cho tòa án nhân dân theohướng tăng thẩm quyền cho tòa án nhân dân cấp huyện trên cơ sở bảo đảm tổchức tòa án theo nguyên tắc hai cấp xét xử Thực hiện đổi mới Tòa án nhân dântối cao để tập trung làm tốt nhiệm vụ giám đốc thẩm, tổng kết thực tiễn xét xử,hướng dẫn tòa án áp dụng pháp luật thống nhất và quản lý tòa án địa phương về

tổ chức Nghiên cứu để quy định và thực hiện các thủ tục tố tụng đa dạngnhưng thống nhất trong tố tụng hình sự Riêng về Tòa Hành chính, cần nghiêncứu để mở rộng thẩm quyền cho tòa án trong việc giải quyết các khiếu kiệnhành chính Làm thế nào để mọi người dân đều thấy rằng, cuộc sống bình yêncủa họ, tính mạng, tài sản của họ, danh dự và nhân phẩm của họ luôn luôn đượcđặt dưới sự bảo vệ đáng tin cậy của pháp luật

Đội ngũ thẩm phán theo đánh giá chung hiện nay vẫn còn thiếu và yếu.Rồi đây, các quan hệ kinh tế, dân sự, lao động ngày càng đa dạng, phức tạp,nhất là những quan hệ có liên quan đến yếu tố nước ngoài Việc giải quyết cáctranh chấp phát sinh từ những quan hệ đó đòi hỏi thẩm phán phải có trình độ

Trang 11

chính trị, chuyên môn và nghiệp vụ cao Do vậy, ngay từ bây giờ phải chăm loxây dựng đội ngũ thẩm phán ngày càng vững về chính trị, giỏi về chuyên môn,nghiệp vụ, ngang tầm nhiệm vụ trong tình hình mới Về đạo đức của cán bộ tòa

án, nhân dân vẫn còn phàn nàn, nghi ngại về phẩm chất đạo đức của một số cán

bộ tư pháp, trong đó có các thẩm phán Do vậy, cần kiên quyết hơn nữa trongviệc rà soát lại đội ngũ thẩm phán, đấu tranh và xử lý kiên quyết với nhữnghành vi phạm pháp của thẩm phán, làm cho đội ngũ cán bộ tòa án ngày càngtrong sạch, vững mạnh, xứng đáng là chỗ dựa tin cậy của nhân dân

Đội ngũ Hội thẩm nhân dân là một lực lượng đông đảo đại diện của nhândân tham gia xét xử Hiện nay trong cả nước đã bầu được hơn 11 000 Hội thẩmnhân dân Các cơ quan, đoàn thể như : Hội đồng nhân dân, Tòa án, Mặt trận Tổquốc cần có những biện pháp thiết thực bồi dưỡng nghiệp vụ cho Hội thẩmnhân dân để họ tham gia có hiệu quả hơn vào công tác xét xử, tránh hình thứckhi tham gia vào phiên tòa, gây tâm lý không bình thường cho bị cáo, cácđương sự và công chúng Một nền tư pháp nhân dân không thể thiếu đại diệncủa nhân dân tham gia xét xử, nhưng cũng không thể chấp nhận sự tham giamang tính hình thức của những người đại diện đó Vì vậy, chất lượng Hội thẩmnhân dân cần được quan tâm đúng mức hơn từ khâu giới thiệu người để bầu,đến khâu huấn luyện, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ và quản lý đội ngũHội thẩm nhân dân Đây là một trong những việc cần làm và làm càng sớmcàng tốt

Trong hệ thống tư pháp hình sự, điều tra và công tố luôn là mắt xíchquan trọng, phục vụ đắc lực cho mục đích phát hiện chính xác, kịp thời, xử lýnghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oanngười vô tội Luật pháp nước ta quy định mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa cáckhâu phát hiện tội phạm, điều tra và luận tội (công tố) nhằm mục đích truy tốchính xác tội phạm và người phạm tội ra trước tòa án để tòa án xét xử

Trang 12

Những thay đổi cơ bản trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước thờigian qua đặt ra trước cơ quan đảm nhiệm nhiệm vụ điều tra, công tố yêu cầu rấtcao Đó là, các cơ quan này, một mặt phải đấu tranh có hiệu quả với các loại tộiphạm, nhưng mặt khác, không để xảy ra oan sai, làm tổn hại đến danh dự, nhânphẩm, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân với bất cứ lý do gì Ở đâykhông thể lấy mục đích biện hộ cho hành vi bất hợp pháp, lấy chỉ số các vụ án,các can phạm bị truy tố xét xử để biện hộ cho việc vi phạm các nguyên tắc củanền tư pháp xã hội chủ nghĩa ; bởi vì, điều đó chỉ làm giảm sút uy tín của cơquan tư pháp và giảm lòng tin của nhân dân đối với pháp luật.

Thi hành án là một vấn đề phức tạp hiện nay Do những điều kiện lịch sửnhất định, công tác thi hành án của nước ta chưa tập trung vào một đầu mối màcòn phân tán giữa thi hành án hình sự với thi hành án dân sự và các loại ánkhác Tới đây, trước mắt cần giải quyết vấn đề án tồn đọng, đồng thời tiếp tụcnghiên cứu đưa ra một mô hình quản lý thống nhất công tác thi hành án Trongtác nghiệp thi hành án, cần kết hợp giữa hoạt động có tính chất chuyên mônnghiệp vụ của các cơ quan thi hành án với việc từng bước xã hội hóa một sốcông việc trong thi hành án, nhất là thi hành án dân sự, giảm tải cho Nhà nướcmột số công việc mà lẽ ra lâu nay người dân phải làm và có thể làm được màkhông cần đến sự can thiệp của cơ quan chính quyền Đối với các vụ án hình sự

có liên quan đến kinh tế (tài sản, tài chính), các vụ án hình sự khác có hình phạt

bổ sung về tiền và tài sản, các cơ quan tiến hành tố tụng cần chú trọng áp dụngđầy đủ các chế tài về kiểm kê, kiểm soát theo quy định của pháp luật ngay từkhi vụ án được khởi tố điều tra cho đến khi tuyên án Có như vậy mới bảo đảmcho mọi bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật được thi hànhnghiêm chỉnh và đầy đủ

Công chứng, luật sư và giám định tư pháp là những lĩnh vực hoạt độngnhằm mục đích hỗ trợ đắc lực cho hệ thống tư pháp Về phương diện nhà nước,

Trang 13

hoạt động công chứng, luật sư và giám định tư pháp sẽ góp phần quan trọnglàm cho các hoạt động của hệ thống tư pháp được khách quan, nhanh chóng vàđúng pháp luật (đặc biệt là đối với hệ thống xét xử) Xét trên phương diệnquyền công dân, hoạt động công chứng, luật sư và giám định tư pháp góp phầnbảo vệ một cách hữu hiệu các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân thôngqua tư vấn pháp luật, bào chữa ; hoặc đại diện trước tòa án hay trọng tài kinh tế

để bênh vực quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và tổ chức, cũng như tạo lập

và cung cấp những chứng cứ không thể phản bác, bảo đảm an toàn cho côngdân trong các quan hệ mà họ tham gia, đặc biệt là các quan hệ tài sản và kinhdoanh Ở Việt Nam, công chứng, luật sư và giám định tư pháp là các lĩnh vựchoạt động mới được phát triển mạnh trong thời gian gần đây Tuy chưa đáp ứngđược yêu cầu của thực tiễn, song đã thể hiện tầm quan trọng đối với hệ thống tưpháp nói riêng và hoạt động quản lý nhà nước nói chung

Thực tế đã và đang đòi hỏi phải thành lập lực lượng cảnh sát tư pháp đểchuyên làm nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa, dẫn giải bị can, bị cáo, bảo vệ trại giam,trại tạm giam, nhà tạm giữ, hỗ trợ trong công tác thi hành án và thực hiện một

số nhiệm vụ khác, góp phần hiệu quả hơn nữa vào các hoạt động tư pháp Việctriển khai tổ chức và hoạt động của lực lượng cảnh sát tư pháp trong điều kiệnViệt Nam cần được nghiên cứu kỹ lưỡng trước khi tiến hành

Một vấn đề có ý nghĩa rất lớn là tăng cường cơ sở vật chất và cácphương tiện kỹ thuật hiện đại cho các cơ quan tư pháp để các cơ quan này đủkhả năng đấu tranh chống tội phạm Ngân sách nhà nước hàng năm cần dànhmột khoản thích đáng để đầu tư cơ sở vật chất, trụ sở, phương tiện và các trang

bị kỹ thuật hiện đại cho các cơ quan tư pháp

Tiếp tục sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp luật về tổ chức, hoạt độngcủa các cơ quan tư pháp cũng như các thủ tục tố tụng để tạo cơ sở pháp lý cầnthiết cho hoạt động của các cơ quan này Những quy định của pháp luật tố tụng

Trang 14

tuy chỉ là những quy định về thủ tục và cách thức giải quyết các vụ án, nhưngchúng lại thể hiện rất rõ bản chất giai cấp của nền tư pháp Một nền tư pháp dânchủ, mang đậm tính nhân dân sẽ không chấp nhận những thủ tục tư pháp rườm

rà, nhiều tầng nấc, quan liêu và bất lợi cho các bên tham gia tố tụng Các thủtục này phụ thuộc nhiều vào mô hình tổ chức các cơ quan tư pháp Mô hình tưpháp được tổ chức theo cách thức dân chủ như thế nào thì các thủ tục tố tụng sẽbảo đảm dân chủ đến chừng ấy Trong thời gian trước mắt, cần sớm sửa đổi Bộluật Tố tụng hình sự theo hướng bảo đảm để các thủ tục tố tụng dân chủ hơn,chặt chẽ hơn và hiệu quả hơn Cần tăng cường vai trò của luật sư trong tố tụnghình sự để bảo đảm tranh tụng dân chủ trước phiên tòa Bộ luật Tố tụng dân sựcũng cần sớm được ban hành để đáp ứng kịp thời việc giải quyết các tranh chấpdân sự, kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việcxác định phạm vi và đối tượng điều chỉnh của Bộ luật Tố tụng dân sự cần phảidựa vào những kết quả nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn thi hành Pháplệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989 và Pháp lệnh Thủ tục giải quyếtcác vụ án kinh tế, hành chính ; Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp laođộng Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan trực tiếp đến các thủ tục tốtụng như Luật Thi hành án, Pháp lệnh về giám định tư pháp cũng cần sớmđược ban hành để tạo được sự đồng bộ và thống nhất của pháp luật tố tụng, bảođảm việc giải quyết các vụ án một cách kịp thời, công minh và đúng pháp luật

Như vậy, toàn bộ tiến trình thực hiện cải cách tòa án nói riêng và cảicách tư pháp nói chung không thể tách rời sự lãnh đạo của Đảng Nghị quyết08-NQ/TƯ của Bộ Chính trị đã xác định: Đảng lãnh đạo các cơ quan tư phápchặt chẽ về chính trị, tổ chức và cán bộ, bảo đảm cho hoạt động tư pháp thựchiện đúng quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước Tiếp tục hoàn thiệnnội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp, khắc phụctình trạng cấp ủy buông lỏng lãnh đạo hoặc cấp ủy viên can thiệp không đúng

Trang 15

vào hoạt động tư pháp Việc thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TƯ của Bộ Chính trịkhông thể có kết quả nếu thiếu sự phối hợp đồng bộ và chặt chẽ giữa các cơquan tư pháp Sự phối hợp đó là một trong những điều kiện quan trọng, bảođảm cho Nghị quyết đi vào thực tiễn của hoạt động tư pháp hiện nay.

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, đã đề ra đường lối và chiến lượcphát triển kinh tế - xã hội những năm tới Trong kế hoạch phát triển kinh tế - xãhội 5 năm 2001 - 2005, bên cạnh những nhiệm vụ kinh tế - xã hội, văn hóa,giáo dục, khoa học, công nghệ là nhiệm vụ :giữ vững ổn định chính trị và trật

tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và anninh quốc gia, vai trò của các cơ quan tư pháp cần được củng cố và tăng cường.Đại hội cũng đã đề ra nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa của dân, do dân, vì dân Nói một cách khái quát, nhà nước pháp quyền là

hệ thống các tư tưởng, quan điểm đề cao pháp luật, pháp chế trong tổ chức hoạtđộng của bộ máy nhà nước và trong đời sống xã hội Nhà nước pháp quyền lànhà nước được tổ chức và quản lý theo pháp luật và đề cao các giá trị nhân văn,tôn trọng và bảo đảm quyền của con người, quyền công dân Căn cứ vào nhữngđặc trưng đó của Nhà nước pháp quyền, có thể thấy nhiệm vụ cấp bách hàngđầu hiện nay là phải tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực thipháp luật nghiêm minh Do đó yêu cầu cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng

và hoạt động của các cơ quan tư pháp, là một trong những đòi hỏi bức xúc hiệnnay, là một đòi hỏi tự thân của nền công lý và dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước

ta hiện nay

Trong báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X,tại Đại hội đại biểu toàn quốc khóa XI, đánh giá: "Cải cách tư pháp còn chậm,chưa đồng bộ Công tác điều tra, giam giữ, truy tố, xét xử trong một số trườnghợp chưa chính xác; án tồn đọng, án bị hủy, bị cải sửa còn nhiều" (9) Đồngthời trong mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm (2011- 2015) Đảng

Trang 16

khẳng định: "Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động củaQuốc hội, Chính phủ, chính quyền địa phương; đẩy mạnh cải cách hành chính

và cải cách tư pháp" (10) Như vậy có thể khẳng định rằng Đảng và Nhà nước

ta rất coi trọng cải cách tư pháp trong xây dựng và hoàn thiện nhà nước phápquyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa

3 Quan điểm chỉ đạo, nội dung phương hướng cải cách tư pháp ở Việt Nam

3.1 Những quan điểm chỉ đạo cải cách tư pháp ở Việt Nam

Thứ nhất, Cải cách tư pháp phải dựa trên quan điểm xây dựng Nhà nước

pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân

Đây là quan điểm bao trùm, xuyên suốt quá trình đổi mới tổ chức vàhoạt động của các cơ quan nhà nước nói chung và cải cách tư pháp nói riêng.Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp nhằm xây dựng Nhànước pháp quyền (NNPQ) xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, bảo đảmcho Nhà nước có đủ khả năng thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đạihoá và đổi mới toàn diện đất nước, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Với ý nghĩa đó, tổ chức và hoạtđộng của các cơ quan tư pháp được đổi mới phải mang đầy đủ bản chất vànhững đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

* Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, bảo đảm thực sự chủ quyền của nhân dân

Điều 2 của Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) quyđịnh: Nhà nước CHXHCN Việt Nam là NNPQ xã hội chủ nghĩa của nhân dân,

do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Vềbản chất, Nhà nước pháp quyền là một Nhà nước dân chủ Trong NNPQ, chủquyền của nhân dân là hình thức thể hiện cao nhất của dân chủ Tất cả quyềnlực nhà nước là thống nhất và thuộc về nhân dân, bởi nhân dân là chủ và là cội

Trang 17

nguồn của quyền lực nhà nước Nhà nước là công cụ để bảo đảm thực sự chủquyền của nhân dân, bảo vệ pháp luật và phục vụ nhân dân Trong NNPQ, hệthống các cơ quan tư pháp là công cụ hữu hiệu để bảo vệ các quyền và tự docủa nhân dân, hạn chế đến mức thấp nhất những mầm mống sinh ra bệnh quanliêu, độc đoán, chuyên quyền và nạn tham nhũng xâm phạm quyền và lợi íchhợp pháp của công dân, làm giảm uy tín của pháp luật và pháp chế Cải cách tưpháp phải bảo đảm cho hệ thống các cơ quan tư pháp thể hiện và giữ vững bảnchất của Nhà nước của dân, do dân, vì dân.

* Nhà nước mà trong đó “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”

Ở nước ta, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phốihợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hànhpháp và tư pháp Quan điểm này được khẳng định tại Cương lĩnh xây dựng đấtnước, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, các Văn kiện của Đảng và đã đượcthể chế hoá trong Hiến pháp năm 1992

Bản chất pháp lý của nguyên tắc phân công quyền lực này là sự thể hiệnquyền lực nhà nước là thống nhất, không phân chia vì nó bắt nguồn từ chủquyền của nhân dân, thể hiện đầy đủ nhất ý chí của nhân dân trong việc tổ chứcquyền lực nhà nước Nguyên tắc phân công quyền lực trong NNPQ tạo ra cơchế pháp lý hữu hiệu, bảo đảm quyền giám sát của cơ quan lập pháp đối với cơquan hành pháp, tư pháp và quyền kiểm tra của cơ quan tư pháp đối với quyềnlập pháp và quyền hành pháp (thông qua hoạt động của các cơ quan tư pháp sẽphát hiện ra những bất cập của hệ thống pháp luật để kiến nghị với cơ quan lậppháp sửa đổi, bổ sung và hoạt động xét xử của tòa án đối với các hành vi, quyếtđịnh hành chính của cơ quan hành pháp xâm phạm đến quyền và lợi ích củacông dân) Nguyên tắc này cũng tạo điều kiện cho cơ quan tư pháp hoạt động

Trang 18

độc lập và chỉ tuân theo pháp luật nhằm bảo đảm cho quyền lực nhà nướcthống nhất thuộc về nhân dân, hay nói cách khác, nguyên tắc này tạo ra cơ chếpháp lý hữu hiệu để ý chí và quyền lực của nhân dân được thực hiện trong cuộcsống.

* Nhà nước bảo đảm địa vị thống trị của pháp luật trong đời sống xã hội hay Nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã hội chủ yếu bằng pháp luật

Điều 12 của Hiến pháp năm 1992 quy định: Nhà nước quản lý xã hộibằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Nguyêntắc này thể hiện mối quan hệ giữa NNPQ và pháp luật trong đời sống xã hội, đó

là mối quan hệ hữu cơ và chặt chẽ, tương hỗ và bổ sung cho nhau của hai bộphận cấu thành quan trọng nhất thuộc thượng tầng kiến trúc, chúng phụ thuộcvào nhau và không thể tồn tại nếu thiếu nhau

Nhà nước pháp quyền quản lý xã hội chủ yếu bằng pháp luật, bởi phápluật có giá trị xã hội to lớn, mang tính phổ biến, tính chuẩn mực, tính ổn định,tính bắt buộc chung và được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế củaNhà nước Chức năng của NNPQ là phải xây dựng một hệ thống pháp luậtthống nhất, toàn diện, đồng bộ, thể hiện ý chí, nguyện vọng của đông đảo quầnchúng nhân dân và phù hợp với thực tiễn khách quan, đồng thời bảo đảm chopháp luật thực sự trở thành công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội và chiếm địa

vị thống trị so với các quy phạm xã hội khác

Mặc dù NNPQ ban hành pháp luật, nhưng pháp luật có vai trò quyết địnhđối với sự hình thành và phát triển của NNPQ, nên pháp luật trong NNPQ phảiphù hợp với quy luật phát triển của xã hội, phản ánh thực tiễn khách quan, làđại lượng công bằng và bình đẳng, chứ không phải là thứ pháp luật chủ quan,duy ý chí Nhà nước phải ở dưới quyền lực pháp luật, bị hạn chế và ràng buộcbởi pháp luật… Hệ thống các cơ quan tư pháp trong NNPQ thực hiện áp dụng

Ngày đăng: 03/08/2021, 08:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
(12) Trần Đức Lương, “Đẩy mạnh cải cách tư pháp đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Báo nhân dân ngày 26/3/2002, tr. 1, 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh cải cách tư pháp đáp ứng yêu cầu xâydựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
(1) Xem Bộ Tư pháp - Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Tập Sắc lệnh do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký về Nhà nước và pháp luật, Tờ trình dự án Sắc lệnh cải cách bộ máy tư pháp và Luật Tố tụng, xuất bản năm 1992, trang 514-515 Khác
(2) Montesquieu, Tinh thần pháp luật, NXB Giáo dục, Trường đại học KHXHVNV-Khoa Luật, Hà Nội, 1996, tr. 100 Khác
(3) Montesquieu, Tinh thần pháp luật, NXB Giáo dục, Trường đại học KHXHVNV-Khoa Luật, Hà Nội, 1996, tr.102 Khác
(4) Jean-Jacques Rousseau, Bàn về khế ước xã hội, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội, 2004, tr 218 Khác
(5) Jean-Jacques Rousseau, Bàn về khế ước xã hội, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội, 2004, tr 226 Khác
(6) PGS.TSKH. Lê Cảm, Các bộ phận cấu thành cơ bản của hệ thống tư pháp hình sự, Tạp chí Toà án nhân dân, số 20, tháng 10/2008, trang 2 Khác
(7) PGS.TS Võ Khánh Vinh, Về quyền tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước ta, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 8/2003, tr 5 Khác
(8) PGS.TS Nguyễn Đăng Dung, Khái niệm quyền lực tư pháp và hệ thống tư pháp trong Nhà nước pháp quyền, in trong Kỷ yếu hội thảo Vai trò của hệ thống tư pháp trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền, Văn phòng Quốc hội tổ chức ngàỳ 28 – 29/08/2008 tại Nghệ An Khác
(9) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 172 Khác
(10) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 190 Khác
(11) Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, tr. 2 Khác
(13) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 71 Khác
(14) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 66 Khác
(15) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996 tr. 31 Khác
(16) Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, tr. 6, 7,8 Khác
(17) Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, tr. 7 Khác
(18) Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Khoá VIII, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 58 Khác
(19) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, 1996, tr 132 – 133 Khác
(20) Đảng Cộng sản Việt Nam,. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, 1996, tr 73 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w