Vào cuối những năm 80 của thế kỷ XX, tình hình thế giới có nhiều thay đổi lơn, đất nước ta rơi vào khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng. Nguyên nhân chủ quan của khủng hoảng kinh tế – xã hội ở nước ta là do những sai lầm nghiêm trọng trong chủ trương, chính sách cũng như trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện của Đảng và Nhà nước. Để đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, tại Đại hội lần thứ VI, Đảng đã nhấn mạnh vấn đề sống còn của đất nước là phải đổi mới toàn diện, đồng bộ, triệt để trên các lĩnh vực, từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và quốc phòng, an ninh, đối ngoại, nhằm mục tiêu từng bước xây dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện Việt Nam trên cơ sở đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong đó, đổi mới chính trị là một trong những nội dung quan trọng được Đảng ta xác định là kiên trì mục tiêu CNXH, tiếp tục con đường bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN, đi tới CNXH; đổi mới chính trị không có nghĩa là thay đổi hoặc từ bỏ chế độ XHCN, mà thực chất của đổi mới chính trị là đổi mới tư duy chính trị về CNXH và con đường đi lên CNXH.
Trang 1MỞ ĐẦU
Vào cuối những năm 80 của thế kỷ XX, tình hình thế giới có nhiều thayđổi lơn, đất nước ta rơi vào khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng Nguyênnhân chủ quan của khủng hoảng kinh tế – xã hội ở nước ta là do những sai lầmnghiêm trọng trong chủ trương, chính sách cũng như trong chỉ đạo, tổ chức thựchiện của Đảng và Nhà nước Để đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, tại Đạihội lần thứ VI, Đảng đã nhấn mạnh vấn đề sống còn của đất nước là phải đổimới toàn diện, đồng bộ, triệt để trên các lĩnh vực, từ kinh tế, chính trị, văn hóa,
xã hội và quốc phòng, an ninh, đối ngoại, nhằm mục tiêu từng bước xây dựngchủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện Việt Nam trên cơ sở đổi mới tư duy lýluận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội Trong đó, đổimới chính trị là một trong những nội dung quan trọng được Đảng ta xác định làkiên trì mục tiêu CNXH, tiếp tục con đường bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN,
đi tới CNXH; đổi mới chính trị không có nghĩa là thay đổi hoặc từ bỏ chế độXHCN, mà thực chất của đổi mới chính trị là đổi mới tư duy chính trị về CNXH
và con đường đi lên CNXH
Trang 2NỘI DUNG
I TÍNH TẤT TẤT YẾU VÀ QUÁ TRÌNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI
1 Tính tất yếu của đổi mới chính trị
- Xuất phát từ vai trò quan trọng của chính trị và mối quan hệ giữa kinh tếvới chính trị trong sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người
+ Chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định: Kinh tế là nhân tố suy đến cùngquyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội, trong đó có lĩnh vực chính trị
+ Chính trị có vai trò tác động trở lại rất lớn đối với kinh tế: chính trị là biểuhiện tập trung của kinh tế, định hướng cho kinh tế, nếu có định hướng chính trịđúng, có phương thức lãnh đạo, quản lý phù hợp sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển,đất nước giầu mạnh và ngược lại Do đó, đổi mới chính trị phải hướng đến pháthuy hiệu quả vai trò của chính trị trong đời sống xã hội
- Yêu cầu đổi mới chính trị gắn với đổi mới kinh tế
Trong điều kiện hòa bình xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủnghĩa; Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý toàn bộ sự phát triển kinh tế - xã hội,phải khơi dậy được tinh thần làm chủ và tính tích cực của nhân dân trong xâydựng, phát triển kinh tế Do đó, nếu không gắn đổi mới kinh tế với đổi mớichính trị sẽ gặp khó khăn, trở ngại; ngược lại, nếu đổi mới chính trị kịp thời, phùhợp sẽ là điều kiện quan trọng để thúc đẩy đổi mới và phát triển kinh tế
- Tình hình thế giới có những thay đổi sâu sắc
+ Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ thế giới phát triển mạnh mẽ đòihỏi mọi quốc gia phải đổi mới chính trị mới đáp ứng yêu cầu định hướng vàquản lý sự phát triển đó
+ Chủ nghĩa tư bản đã và đang điều chỉnh để thích nghi kéo dài sự tồn tạicủa nó
Về đối nội: Đồng thời với những điều chỉnh chính sách kinh tế, chủnghĩa tư bản, giai cấp tư sản đã cải cách hoạt động bộ máy nhà nước; về vai trò củatừng cơ quan trong bộ máy; về vai trò của người đứng đầu, đặc biệt là vai trò củatổng thống; về chính sách kinh tế - xã hội, nhất là chính sách xã hội
Trang 3 Đẩy mạnh cổ phần hoá, tư nhân hoá các thành phần kinh tế Cho
CN đóng góp cổ phần vào doanh nghiệp
GCTS dùng một phần lợi nhuận tăng lương, tăng mức thưởng, cải thiệnđiều kiện sống, làm việc của CN; đưa ra một số chính sách như: thămhỏi, tặng qùa lúc ốm đau, sinh nhật, cha mẹ già yếu; dùng một phầnngân sách để giải quyết các vấn đề xã hội; y tế, môi trường…
Về chính sách đối ngoại: Bản chất của chủ nghĩa tư bản, đế quốckhông thay đổi nhưng thủ đoạn của chúng thay đổi rất lớn để chống chủ nghĩa
xã hội và cách mạng thế giới Đây vừa là bài học, vừa là vấn đề đặt ra cho chúng
ta phải nghiên cứu để có đổi mới chính trị đúng đắn
- Thực tiễn quá trình cải tổ, cải cách và sự khủng khoảng, thoái trào ở cácnước xã hội chủ nghĩa
+ Quá trình tiến hành cải tổ, cải cách ở các nước xã hội chủ nghĩa nhữngnăm 70 và 80 của thế kỷ XX cho thấy ở đâu, lúc nào giữ vững ổn định chính trịthì kinh tế và đất nước phát triển (Trung Quốc, …); nếu không giữ vững ổn địnhchính trị thì đất nước không những không phát triển mà chế độ kinh tế, xã hội sẽsụp đổ: Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu là một minh chứng + Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở ĐÂ và các nước ở LX có nguyên nhânkhách quan và chủ quan Về khách quan là do kẻ thù của chủ nghĩa xã hội chốngphá quyết liệt Nhưng chủ yếu do nguyên nhân chủ quan, trong nhiều nguyênnhân đó, có nguyên nhân là giải quyết không đúng mối quan hệ giữa đổi mớikinh tế và đổi mới chính trị
- Thực tiễn vai trò của chính trị và đổi mới chính trị ở Việt Nam
+ Trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng,thắng lợi của cách mạng gắn liền với sự ổn định về chính trị và sự đoàn kết củatoàn dân tộc Thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ, có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân do chính trị, xã hội của nước
ta ổn định, toàn dân ta đoàn kết chiến đấu, xây dựng và phát triển đất nước
+ Trong 10 năm đầu cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1976-1986), mộttrong những nguyên nhân đưa đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội là
do hạn chế, bất cập trên lĩnh vực chính trị: Còn lạc hậu về tư duy lí luận tronghoạch định chính sách đối nội, đối ngoại; chức năng lãnh đạo của Đảng, quản lí
Trang 4của Nhà nước còn chồng chéo; quyền làm chủ của nhân dân bị vi phạm, niềm tincủa nhân dân đối với Đảng, Nhà nước bị giảm sút Những hạn chế trên đã tácđộng và ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của đất nước, trước hết là trên lĩnhvực kinh tế (kìm hãm, triệt tiêu nhiều động lực phát triển của đất nước).
+ Từ năm 1986 đến nay, đường lối đổi mới chính trị đúng đắn của Đảng đãthúc đẩy kinh tế phát triển, bộ mặt đất nước có nhiều đổi thay
2 Quá trình đổi mới về chính trị
* Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12-1986) của Đảng, mở đầu
công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ, trên các lĩnh vực, đổi mới vì độc lập dântộc và chủ nghĩa xã hội:
- Đổi mới toàn diện, đồng bộ mà trước hết và quan trọng nhất là đổi mới
tư duy về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
+ Vì sao: Sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta đồng thời cũng làmục tiêu của công cuộc đổi mới là để bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng thànhcông chủ nghĩa xã hội Song, trên thực tế chúng ta nhận thức chưa đầy đủ, thậmchí còn nhận thức sai lầm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xãhội Vì vậy, đây là vấn đề trước hết và quan trọng nhất trong công cuộc đổi mới
đó là đổi mới tư duy về CNXH và con đường đi lên CNXH
+ Nội dung:
Phải nhận rõ cách mạng xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp khó khăn, lâudài, phức tạp, phải tuân theo qui luật, không được nôn nóng chủ quan, duy ý chí
Nhận rõ khuyết điểm và tác hại của mô hình và cơ chế quản lý cũ
Nhận rõ vai trò của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và tậpthể trong phát triển sản xuất
Nhận thức mới về nội dung công nghiệp hoá trong những năm cònlại của chặng đường đầu tiên
Khẳng định dứt khoát xoá bỏ cơ chế quan liêu, bao cấp, thực hiện cơchế hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa; nhận thức rõ kết hợp hài hòa 3 lợi ích(Nhà nước, tập thể và cá nhân người lao động), coi trọng lợi ích người lao động…
- Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấydân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động” [VK
ĐH VI, tr.29]
Trang 5 Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, khi nào mối quan hệ giữa Đảng
và quần chúng nhân dân được thắt chặt, khi đó cách mạng giành thắng lợi; khinào mối quan hệ đó không được giải quyết tốt, cách mạng gặp khó khăn
Vì vậy, để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối vớicách mạng, trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng
“lấy dân làm gốc” và thực hiện có nền nếp phương châm “dân biết, dân bàn, dânlàm, dân kiểm tra” Mọi chủ trương, chính sách của Đảng phải xuất phát từ lợiích, nguyện vọng chính đáng và khả năng của nhân dân, phải khơi dậy được sựđồng tình, hưởng ứng của quần chúng
- Nhà nước ta là công cụ của chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa”[VKĐH VI, tr.117]
+ Tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước là công tác cấp bách, là điềukiện tất yếu bảo đảm huy động mọi lực lượng to lớn của quần chúng nhân dân
để hoàn thành mọi nhiệm vụ do Đảng đề ra
+ Phương hướng cải cách tổ chức bộ máy nhà nước là: “Xây dựng và thựchiện một cơ chế quản lý nhà nước thể hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dânlao động ở tất cả các cấp”, để Nhà nước có đủ năng lực thực hiện những nhiệm
vụ chủ yếu của đất nước
+ Tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước trước hết là Quốc hội, Hội đồngnhân dân, Hội đồng Bộ trưởng, Uỷ ban nhân dân các cấp; quản lý đất nước bằngpháp luật; đổi mới phong cách làm việc, nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ…
- Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể nhân dân có vai trò to lớn trong động viên cáctầng lớp nhân dân tham gia xây dựng, quản lý kinh tế và quản lý xã hội
Trang 6+ Các cấp, các ngành, chính quyền phải tôn trọng đoàn thể quần chúng vàMặt trận Các cấp uỷ Đảng phải lãnh đạo chặt chẽ các đoàn thể
+ Các đoàn thể phải chủ động, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ cáchmạng Đảng, Nhà nước phải có chính sách đúng đắn với từng giai cấp, tầng lớp,đối tượng trong xã hội
- Đảng phải đổi mới về nhiều mặt; phải chăm lo xây dựng vững mạnh về chínhtrị, tư tưởng, tổ chức, có tác động quyết định đến sự phát triển của cách mạng
+ Lý do: trên cơ sở nhận định tình hình thế giới, trong nước; cuộc đấu tranhdân tộc và giai cấp; tính chất phức tạp của những nhiệm vụ kinh tế - xã hội trongthời kỳ quá độ; thực trạng công tác xây dựng Đảng
+ Nội dung:
Đổi mới tư duy, nâng cao phẩm chất cách mạng của cán bộ, đảngviên và nhân dân là nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng
Đổi mới đội ngũ cán bộ, kiện toàn cơ quan lãnh đạo và quản lý
Đổi mới phong cách làm việc, giữ vững các nguyên tắc tổ chức vàsinh hoạt trong Đảng
Nâng cao chất lượng đảng viên, đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực
Nâng cao sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng; tăng cường đoànkết nhất trí trong Đảng
* Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 (3-1989)
- Chính thức đưa khái niệm hệ thống chính trị, đó là hệ thống các tổ chứcchính trị – xã hội trụ cột của nền chính trị xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng
Trươc năm 1986 và một số năm đầu đổi mới, chúng ta chưa dùng thuật ngữ
"Hệ thống chính trị", mà dùng thuật ngữ "Hệ thống chuyên chính vô sản", để chỉ
hệ thống cơ cấu tổ chức các cơ quan quyền lực lãnh đạo và quản lý, điều hành
xã hội
- Đề ra nhiệm vụ, nội dung đổi mới chính trị; xác định rõ mối quan hệđổi mới kinh tế với đổi mới chính trị có quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau,trong đó đổi mới kinh tế là trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới tổ chức
và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị
Trang 7* Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (6-1991) đã thông qua
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đây
là thành tựu quan trọng nhất của đổi mới chính trị mà trực tiếp là đổi mới tưduy lý luận
- Cương lĩnh xác định:
+ Khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nềntảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng và nhân dân ta.+ Nêu lên quan niệm về chủ nghĩa xã hội và chỉ ra con đường đi lên chủnghĩa xã hội ở nước ta
+ Mục tiêu đổi mới hệ thống chính trị: “Toàn bộ tổ chức và hoạt động của
hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bướchoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân”[VKĐH VII, tr.19]
- Văn kiện Đại hội VII của Đảng xác định, thực chất của việc đổi mới vàkiện toàn hệ thống chính trị là thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, đây vừa làmục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới” [VKKĐH VII, tr.90]
+ Đổi mới và chỉnh đốn Đảng gắn liền với nhau
+ Tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước theo hướng: Nhà nước thực sự là củadân, do dân và vì dân
+ Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân cần được đổi mới về tổ chức
và hoạt động để thực sự góp phần thực hiện dân chủ và đổi mới xã hội
+ Xây dựng cơ chế cụ thể để thực hiện phương châm dân biết, dân bàn, dânlàm, dân kiểm tra đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước
* Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 2/KVII (12-1991), đưa ra quan điểm và phương hướng sửa đổi Hiến pháp, cải cách một bước bộ máy Nhà nước Đây là cơ sở để Quốc hội khoá VIII kỳ họp thứ 11 (4-1992)
thông qua Hiến pháp sửa đổi, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Bầu cử
* Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng (1-1994):
- Tăng cường công tác tư tưởng; tăng cường đoàn kết thống nhất trongĐảng; củng cố mối quan hệ mật thiết Đảng – dân
- Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân và vì dân
Trang 8Đây là cơ sở để Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8, khoáVII (1-1995), xác định tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước trọng tâm là cảicách nền hành chính và đưa ra quan điểm chỉ đạo xây dựng, hoàn thiện Nhà nước.
* Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (6-1996) của Đảng (Sau 10 năm
đổi mới, đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội), Đại hội khẳng định:
“Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn”
[VKĐH VIII, tr.68]:
- Thực hiện tốt cơ chế làm chủ của nhân dân: Làm chủ thông qua đại diện;làm chủ trực tiếp phù hợp với luật pháp của Nhà nước Đảng và Nhà nước tiếptục đổi mới phong cách bảo đảm dân chủ trong quá trình chuẩn bị ra các quyếtđịnh và thực hiện các quyết định
- Tiếp tục đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc
và đoàn thể chính trị - xã hội
- Khẳng định: “Trong giai đoạn hiện nay lãnh đạo kinh tế là nhiệm vụ trọngtâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt” [VKĐH VIII, tr.75]
* Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (4-2001)
Trong bối cảnh loài người bước sang thế kỷ XXI; đất nước đã qua 15 nămđổi mới đạt được những thành tựu to lớn rất quan trọng Từ thực tiễn yêu cầucủa công cuộc đổi mới, Đại hội khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xâydựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủnghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” [VKĐH IX, tr.83] Đại hội tiếptục khẳng định:
- Nhà nước là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân,
là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân” [VKĐH IX, tr.131]
- Để xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh: Tiếp tục nâng cao chấtlượng đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp; Thực hiện tốt quy chếdân chủ; phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ luật, kỷ cương
- Tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
và đoàn thể nhân dân, mở rộng và đa dạng hoá các hình thức tập hợp nhân dân
- Đại hội xác định những công tác lớn trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng:
Trang 9+ Giáo dục tư tưởng chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủnghĩa cá nhân.
+ Tiếp tục đổi mới công tác cán bộ; xây dựng, củng cố các tổ chức cơ sởđảng; kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng
* Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (4-2006) của Đảng diễn ra trong
thời điểm lịch sử có ý nghĩa vô cùng quan trọng Sự nghiệp đổi mới ở nước ta đãtrải qua 20 năm và đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử Đạihội khẳng định: “Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội ngày càng sáng tỏ hơn” [VKDDHX, tr.68].
- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quantrọng trong việc tập hợp, vận động, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân[VKĐH X, tr.124]
+ Nhà nước phải ban hành cơ chế để Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thểnhân dân thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội
+ Đổi mới nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và cácđoàn thể nhân dân
- Phát huy dân chủ, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa
- Đối với nhiệm vụ đổi mới, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo
và sức chiến đấu của Đảng, Đại hội xác định: Nâng cao bản lĩnh chính trị vàtrình độ trí tuệ của Đảng; kiện toàn và đổi mới hoạt động của tổ chức cơ sởđảng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, thực hiện nghiêm túc nguyên tắctập trung trong Đảng, tăng cường quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân, nângcao chất lượng và hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát; đổi mới tổ chức bộ máy
và công tác cán bộ; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng
* Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (1 - 2011) của Đảng diễn ra trong
thời điểm có ý nghĩa rất quan trọng Sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước đã trảiqua 25 năm Đại hội đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011)
Trang 10- Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúngđắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thếphát triển của lịch sử [VKĐH XI, tr.70].
- Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tếphát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phùhợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm
no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồngViệt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do ĐảngCộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới
II NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ
Quá trình đổi mới hệ thống chính trị phải gắn liền với quá trình bảo đảm
quyền lực chính trị thực sự thuộc về nhân dân, từng bước hoàn thiện và nâng caotrình độ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Phải xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọngchính đáng về dân chủ của nhân dân; căn cứ vào trình độ giác ngộ và năng lựcthực hành dân chủ của nhân dân mà tiến hành đổi mới hệ thống chính trị Phải từ
sự tiến bộ trong việc nhân dân nắm và sử dụng quyền làm chủ của mình đối với
xã hội, cộng đồng mà đánh giá kết quả đổi mới hệ thống chính trị
Yêu cầu của đổi mới hệ thống chính trị trước hết là xác định rõ vị trí, chức
năng, nhiệm vụ của từng tổ chức chính trị – xã hội và mối quan hệ giữa các tổchức đó trong một thiết chế chung thống nhất, khắc phục tình trạng trùng lặp,
“lấn sân” hoặc đùn đẩy lẫn nhau, không thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình
Ở đây, Đảng là hạt nhân lãnh đạo toàn bộ hệ thống; Nhà nước có chức năng thểchế hoá, cụ thể hoá và tổ chức thực hiện đường lối của Đảng, quản lý toàn diện
xã hội; Mặt trận Tổ quốc là “liên minh chính trị của các đoàn thể nhân dân và cánhân tiêu biểu của các giai cấp và tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo, là cơ sởchính trị của chính quyền nhân dân” nhằm củng cố khối đại đoàn kết toàn dân,phản biện và giám sát xã hội, góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước, phát huyquyền làm chủ của nhân dân
Trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị là đổi mới tổ chức và phương
thức hoạt động của Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Trong đổi mới
Trang 11phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, vấn đề mấu chốt là đổi mới
phương thức lãnh đạo của Đảng Để lãnh đạo đạt kết quả cao, Đảng không chỉ
cần có đường lối đúng đắn mà còn “phải đổi mới phương thức lãnh đạo củaĐảng… để Đảng thật sự là lực lượng lãnh đạo ở tầm chiến lược, bao quát toàndiện nhưng không rơi vào bao biện làm thay Nhà nước, phải làm cho Nhà nướcmạnh lên, quản lý có hiệu lực, hiệu quả”, đồng thời làm cho “Mặt trận Tổquốc… thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội” [Nông Đức Mạnh
Cần có những đột phá về lý luận, tạo cơ sở vững chắc cho việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng trong thời kỳ đổi mới Tạp chí Cộng sản, số
774, tháng 4, 2007, tr.9]
1 Đổi mới tư duy chính trị trong hoạch định đường lối và các chính sách đối nội, đối ngoại
- Đây là việc làm cấp thiết, đầu tiên của công cuộc đổi mới
+ Tổng kết 10 năm thực hiện đường lối đổi mới Đại hội VIII của Đảng chỉrõ: “Xét trên tổng thể, Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới về tư duy chính trịtrong việc hoạch định đường lối và các chính sách đối nội, đối ngoại Không có
sự đổi mới đó thì không có mọi sự đổi khác” [VKĐH VIII, tr.71]
+ Như vậy, đổi mới tư duy chính trị được bắt nguồn từ vai trò của lý luậncách mạng và từ thực tiễn chúng ta đang lạc hậu về lý luận Đặc biệt, thực tiễncông cuộc đổi mới đang đòi hỏi cần phải có lý luận dẫn đường
- Tư duy chính trị trong hoạch định đường lối đối nội, đối ngoại là nội dung
rộng lớn bao trùm mọi lĩnh vực của đời sống xã hội (từ kinh tế; chính trị; văn
hoá; quốc phòng, an ninh và đối ngoại)
- Phạm vi đổi mới tư duy chính trị diễn ra ở cả tầm vi mô và vĩ mô, từ nhận
thức lại chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đến việc cụ thểhoá trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Từ chủ trương chiến lược đến cácchính sách và giải pháp cụ thể và đổi mới tư duy diễn ra ở cả Trung ương và địaphương, ở các cấp, các ngành, các tổ chức ở cơ sở…
+ Phương hướng đổi mới tư duy chính trị
Phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu lí luận và tổng kết thực tiễn
Phải “kiểm kê” hệ thống tri thức của chúng ta về chủ nghĩa xã hội
và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Để cái gì đúng phải tuân thủ; cái gì sai
Trang 12phải khắc phục; cái gì trừu tượng cần cụ thể hóa, làm phong phú thêm và cho sáthợp với thực tiễn
Phải nghiên cứu lịch sử truyền thống dân tộc, đúc rút kinh nghiệm
để vận dụng vào hiện tại và tương lai
Đổi mới công tác thông tin, tuyên truyền; thực hiên công khai; chốnmột chiều, tô hồng, bôi đen lịch sử
2 Xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa
- Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, là dânchủ cho hàng triệu người
+ Dân chủ là sản phẩm của những quan hệ giai cấp nhất định, gắn với mộtchế độ chính trị nhất định Dân chủ bao giờ cũng mang bản chất giai cấp, không
có dân chủ phi giai cấp
+ Dân chủ là tiêu chí quan trọng nhất để phân biệt xã hội này với xã hộikhác, xã hội xã hội chủ nghĩa với xã hội tư bản chủ nghĩa Dân chủ ở nước ta làdân chủ xã hội chủ nghĩa, bắt nguồn từ bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa
- Phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa là qui luật hình thành, phát triển và tựhoàn thiện hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa
+ Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã cho thấy, nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa thay thế nền dân chủ tư sản là phù hợp qui luật khách quan của lịch
sử Do đó, quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là phù hợp qui luậtphát triển khách quan của lịch sử
+ Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đánh dấu bước phát triển của xã hội loàingười vươn lên giành quyền làm chủ về mọi mặt Cách mạng dân chủ tư sản làbước nhảy vọt của loài người giành quyền làm chủ từ chế độ quân chủ chuyênchế chuyển sang chế độ dân chủ tư sản Song, chế độ dân chủ tư sản mới chỉ làdân chủ với giai cấp tư sản, chưa phải là dân chủ với nhân dân lao động Vì vậy,dưới chế độ tư bản, nhân dân lao động vẫn tiếp tục đấu tranh để giành quyền làmchủ của mình, thiết lập nền dân chủ mới, dân chủ xã hội chủ nghĩa Như vậy,dân chủ xã hội chủ nghĩa thay thế dân chủ tư sản là tất yếu, hợp qui luật
- Đối với nước ta xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là
phương hướng, mục tiêu vừa là động lực của sự nghiệp đổi mới
Trang 13+ Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa là phát huy yếu tố con người trongxây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa là tạođiều kiện cho mọi người có điều kiện vươn lên làm chủ mọi mặt đời sống kinh
tế xã hội, phát huy năng động, sáng tạo, tính tích cực trong hoạt động kinh tế
-xã hội của con người Vì vậy, xây dựng và phát huy dân chủ -xã hội chủ nghĩachính là phát huy động lực to lớn trong cách mạng xã hội chủ nghĩa
+ Xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa là mục tiêu, là bản chấtcủa chủ nghĩa xã hội Mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa xã hội là giải phóng conngười, mang lại tự do hạnh phúc cho con người
+ Đảng luôn xác định dân chủ XHCN là mục tiêu hướng tới trong côngcuộc đổi mới
Tại Đại hội VII, ngoài việc xác định mục tiêu của chặng đường
đầu, mục tiêu tổng quát phải đạt tới khi kết thúc thời kỳ quá độ, Đảng ta xác
định mục tiêu chung, bao trùm của tiến trình đổi mới là thực hiện dân giàu,
nước mạnh theo con đường XHCN; toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống
chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện
nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân Dân chủ gắn liềnvới công bằng xã hội phải được thực hiện trong thực tế cuộc sống trên tất cả cáclĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội thông qua hoạt động của Nhà nước donhân dân cử ra và bằng các hình thức dân chủ trực tiếp
Đến Đại hội VIII (1996), do nhận thức dân chủ gắn liền với công
bằng nên hệ mục tiêu của đổi mới và xây dựng CNXH được Đảng xác định là
“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh” Đại hội khẳng định: mục
tiêu chủ yếu của đổi mới hệ thống chính trị là nhằm thực hiện tốt dân chủXHCN, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân…
Đại hội IX (2001), Đảng ta xác định dân chủ là một trong nămthành tố làm nên hệ thống mục tiêu chung của CNXH ở Việt Nam: dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Dân chủ có nội dung riêng,
tương đối độc lập, không thể lồng ghép nó vào các khái niệm khác
Cương lĩnh năm 1991, đến Đại hội XI (2011) Đảng ta đã sắp xếp lại
vị trí của các thành tố trong hệ thống mục tiêu; theo đó, mục tiêu tổng quát của
Trang 14CNXH là: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Dân chủ được đưa lên trước công bằng, văn minh Đây không chỉ là vấn đề chữ nghĩa mà là
phản ánh logíc của sự vận động phát triển, phản ánh thứ tự ưu tiên trong thực hiệnmục tiêu Cả lý luận và thực tiễn đều chỉ rõ dân chủ là tiền đề, điều kiện quyếtđịnh đối với công bằng, văn minh và với dân giàu, nước mạnh Dân chủ là độnglực, bản chất của CNXH nên dân chủ ở vị trí trung tâm, là hạt nhân, cốt lõi, là
mục tiêu cơ bản nhất tronghệ mục tiêu Có dân chủ thật sự (đa số nhân dân là chủ,
làm chủ) mới có công bằng (về phân phối lợi ích và cơ hội phát triển), nhân dânmới giàu (số đông giàu có cả vật chất và tinh thần), nước mới mạnh (lòng dân,sức dân) và mới tạo được một xã hội thật sự văn minh
- Thực tiễn đã chứng minh, ở đâu, ở lĩnh vực nào phát huy được dân chủ xãhội chủ nghĩa thì ở đó phong trào cách mạng của quần chúng phát triển
+ Thời kỳ trước đổi mới, Đảng có Chỉ thị 100, khoán sản phẩm đến nhóm
và người lao động trong các hợp tác xã nông nghiệp Đó là phát huy dân chủtrong sản xuất, do đó đã làm cho sản xuất phát triển, hiệu quả cao, lương thựctăng nhanh…
+ Trong công cuộc đổi mới:
Động lực dân chủ trên lĩnh vực chính trị được thể hiện và thực hiệnbằng việc đổi mới, dân chủ hóa tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị;thực hiện dân chủ, tránh hình thức trong bầu cử, do đó nhân dân đã lựa chọn đượcnhững người có phẩm chất và năng lực vào các cơ quan Đảng, Nhà nước, làm cho
bộ máy Đảng, Nhà nước hoạt động năng động, có hiệu quả hơn; sự nêu gươngthực hành dân chủ, lãnh đạo bằng phương thức dân chủ của Đảng; thực hiện dânchủ gắn liền với đồng thuận xã hội, kết hợp dân chủ đại diện với dân chủ trựctiếp, kết hợp dân chủ từ dưới lên với dân chủ từ trên xuống, dân chủ trong Đảngvới dân chủ toàn xã hội
Động lực dân chủ trên lĩnh vực kinh tế được thể hiện và thực hiệnbằng việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Mọi người dânđược tự do, tự chủ sản xuất, kinh doanh theo pháp luật; mọi thành phần kinh tếđược bình đẳng về quyền lợi, nghĩa vụ và vai trò đối với quá trình phát triển đấtnước Đây là phương thức, động lực và là con đường tất yếu để phát triển nhanh,
Trang 15mạnh mẽ các lực lượng sản xuất và từng bước thiết lập các quan hệ sản xuất tiến
bộ phù hợp theo định hướng XHCN
Động lực dân chủ trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa được thể hiện vàthực hiện bằng việc bảo đảm quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận trên nềntảng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đó là nền tảng và động lựctinh thần to lớn của đổi mới và phát triển
Động lực dân chủ trên lĩnh vực xã hội được thể hiện và thực hiệnbằng việc kết hợp chặt chẽ, hợp lý phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xãhội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chínhsách; phát triển hài hòa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, không ngừngnâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội Chính sách xã hội đúng đắn
vì hạnh phúc con người là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của
nhân dân trong sự nghiệp xây dựng CNXH
- Thực trạng hạn chế nhận thức về dân chủ và thực hiện dân chủ XHCN+ Nhận thức về dân chủ trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dâncòn hạn chế Tình trạng tách rời, thậm chí đối lập giữa dân chủ và kỷ cươngpháp luật trong xây dựng và thực hiện dân chủ còn tồn tại ở nhiều nơi Quyềnlàm chủ của nhân dân ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực còn bị vi phạm Có lúc, cónơi, việc thực hiện dân chủ còn hạn chế hoặc mang tính hình thức; có tình trạnglợi dụng dân chủ gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ, gây rối, ảnh hưởng đến
an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội [VKĐH XII, tr.168]
+ Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên do nhiều nguyên nhân: Hệ thốngpháp luật, cơ chế, quy chế, tổ chức và các điều kiện để thực thi dân chủ, quyềnlàm chủ của nhân dân còn thiếu và chưa đồng bộ Không ít cấp ủy đảng, cơ quannhà nước, cán bộ, đảng viên chưa là tấm gương về phát huy dân chủ trong xã hội
- Phương hướng xây dựng, phát huy dân chủ XHCN [VKĐH XII, 170]
tr.169-+ Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước đều xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chínhđáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến Dân chủ phải được thực
Trang 16hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Bảo đảm đểnhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liênquan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân, từ nêu sáng kiến, tham gia thảo luận,tranh luận đến giám sát quá trình thực hiện
Dân chủ về chính trị là chế độ mà mọi quyền lực thuộc về nhân dân,
Nội dung: Dân chủ trong sinh hoạt chính trị của đất nước;dân chủ trong bầu cử, ứng cử; trong lựa chọn, bãi miễn những người trong các
cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể quần chúng nhân dân; dân chủ trong đề ra vàthực hiện các quyết định, chủ trương, chính sách; dân chủ trong kết hợp hài hoàgiữa quyền lợi và nghĩa vụ công dân…
Yêu cầu: phải xây dựng Nhà nước thực sự là của dân, do dân
và vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng; bảo đảm bình đẳng cho mọi công dân,chống áp bức, bất công; phải chuyên chính với những kẻ chống lại luật pháp, tạođiều kiện cho mọi công dân tham gia vào quản lý xã hội, quản lý đất nước…
Dân chủ về kinh tế là lĩnh vực rất quan trọng, là cơ sở bảo đảm chodân chủ trong các lĩnh vực khác
Nội dung: Bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân đốivới tư liệu sản xuất, trong tổ chức quản lý sản xuất và phân phối sản phẩm; dânchủ trong việc thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, các thành phầnkinh tế đều bình đẳng trước pháp luật; bảo đảm quyền tự chủ kinh doanh củamọi cá nhân và đơn vị theo pháp luật…
Yêu cầu: Phải thực hiện quyền bình đẳng của mọi công dân
đối với tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội; bảo đảm cho mọi người có quyền tự
do sản xuất, kinh doanh theo pháp luật; thực hiện dân chủ trong quá trình sản
xuất, kinh doanh, phân phối và làm nghĩa vụ với Nhà nước
Dân chủ trong lĩnh vực văn hoá - xã hội là lĩnh vực rất quan trọngtrong đời sống tinh thần của nhân dân
Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là giải phóng con người làmcho mọi thành viên trong xã hội phát triển toàn diện cả đời sống vật chất và đờisống tinh thần
Trang 17 Yêu cầu: Phải bảo đảm quyền được thôn tin, tự do ngôn luận,soạn thảo, nghiên cứu khoa học, văn học, nghệ thuật vì lợi ích của nhân dân vàtiến bộ xã hội; giải phóng con người khỏi những hủ tục, lạc hậu, đưa văn hoámới đến cho mọi người; bảo đảm quyền lao động, nghỉ ngơi, học hành; bảo đảmkết hợp hài hoà giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cống hiến và hưởng thụ…
+ Dân chủ phải được thể chế hoá bằng pháp luật và phải được pháp luật
bảo đảm
Dân chủ phải có sự quản lý của Nhà nước Cương lĩnh xây dựng đấtnước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), chỉrõ: Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hoá bằng pháp luật,được pháp luật bảo đảm Bởi vì, pháp luật là thể chế hoá đường lối của Đảng, phảnánh ý chí nguyện vọng của nhân dân, nhằm bảo vệ lợi ích cho nhân dân
Nhà nước của dân, do dân, và vì dân là biểu hiện nội dung, bản chấtcủa dân chủ xã hội chủ nghĩa Vì vậy, dân chủ phải có vai trò quản lý của Nhà nước.Nhà nước cần phải hoàn chỉnh hệ thống pháp luật để bảo đảm dân chủ cho nhân dân
Trong công cuộc đổi mới, Nhà nước ta đã xây dựng và sửa đổi hàngtrăm bộ luật và pháp lệnh là để bảo đảm quyền làm chủ thực sự cho nhân dân
+ Cụ thể hoá và nâng cao chất lượng các hình thức thực hiện dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện Thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản
của công dân, theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013; gắn quyền với tráchnhiệm, nghĩa vụ, đề cao đạo đức xã hội Tiếp tục thực hiện tốt Quy chế dân chủ
ở cơ sở và Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn Đảng và Nhànước có cơ chế, chính sách bảo vệ và bảo đảm thực hiện tốt quyền con người,quyền công dân Thể chế hóa và thực hiện tốt phương châm "Dân biết, dân bàn,dân làm, dân kiểm tra, giám sát"
+ Trước hết phải bảo đảm phát huy dân chủ trong Đảng là hạt nhân để phát huy đầy đủ dân chủ trong xã hội Đẩy mạnh dân chủ hóa xã hội để phát huy
quyền làm chủ của nhân dân, vai trò chủ động, sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc vàcác đoàn thể nhân dân Tổ chức thực hiện tốt Quy chế giám sát và phản biện xãhội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; Quy định về việc Mặttrận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân góp ý xây dựng Đảng,
Trang 18xây dựng chính quyền; Quy định về giám sát đảng viên là cán bộ thuộc diện BộChính trị, Ban Bí thư quản lý và các quy định, quy chế khác.
+ Thực hiện dân chủ XHCN là một quá trình phấn đấu lâu dài
Dân chủ xã hội chủ nghĩa không thể thực hiện đầy đủ ngayđược, mà phải là cả một quá trình phấn đấu tích cực của mọi thành viên trong xãhội, trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa
Dân chủ xã hội chủ nghĩa phải được thực hiện bằng phápluật, pháp chế, kỷ cương xã hội; phải giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo củaĐảng, có bước đi vững chắc, phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội; mở rộng dânchủ phải gắn liền với công bằng xã hội và nâng cao dân trí
+ Phát huy dân chủ phải đi liền với tăng cường pháp chế, đề cao trách
nhiệm công dân, giữ vững kỷ luật, kỷ cương và đề cao đạo đức xã hội
Phê phán những biểu hiện dân chủ cực đoan, dân chủ hình thức Xử
lý nghiêm những hành vi lợi dụng dân chủ để làm mất an ninh chính trị, trật tự,
an toàn xã hội và những hành vi vi phạm quyền dân chủ và quyền làm chủ củanhân dân
Dân chủ xã hội chủ nghĩa là chế độ dân chủ rộng rãi nhất trong lịch
sử, nhưng vẫn là dân chủ mang tính giai cấp Đó là dân chủ mang bản chất giaicấp công nhân, trên cơ sở liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và độingũ trí thức
Không hiểu dân chủ xã hội chủ nghĩa là thứ dân chủ thuần tuý, phi giaicấp, dân chủ chung chung Khi nói đến dân chủ, bất cứ nền dân chủ nào cũng phảinghĩ tới dân chủ như thế nào? Dân chủ với ai? Dân chủ phục vụ ai, trấn áp ai? Dânchủ xã hội chủ nghĩa là dân chủ với nhân dân, nhưng kiên quyết trấn áp kịp thờinhững thủ đoạn lợi dụng dân chủ để chống lại Đảng, Nhà nước và nhân dân
Dân chủ không đồng nhất với chế độ đa nguyên, đa đảng
Chế độ đa nguyên, đa đảng là phản ánh so sánh lực lượngtrong đấu tranh chính trị, đấu tranh giai cấp ở mỗi quốc gia trong từng thời điểm
cụ thể Chủ nghĩa tư bản, giai cấp tư sản cường điệu đa nguyên, đa đảng, coi đanguyên, đa đảng mới có dân chủ Họ coi đa nguyên, đa đảng là tiêu chuẩn cơ
Trang 19bản về một xã hội dân chủ, song thực chất chỉ là dân chủ với giai cấp tư sản chứkhông thể có dân chủ với nhân dân lao động
Thực tế hiện nay nhiều quốc gia trên thế giới đang thực hiệnchế độ đa nguyên, đa đảng nhưng thực chất là giai cấp tư sản nắm quyền, nhữngquốc gia đó người dân lao động không được hưởng đầy đủ quyền dân chủ
3 Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị
* Quan niệm về hệ thống chính trị
- Hệ thống chính trị nước ta là hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa bao gồm:Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặttrận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, hoạt động theo cơ chế Đảng lãnh đạo,Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ Mục đích hoạt động của hệ thống chính trịnước ta nhằm từng bước xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa,
bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân
- Mấu chốt của việc đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị ở nước ta là phânđịnh rõ chức năng, nhiệm vụ và làm rõ mối quan hệ giữa các tổ chức trong hệthống chính trị
* Nội dung đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay là:
- Đẩy mạnh cải cách bộ máy nhà nước, bảo đảm cho Nhà nước thực sự là
Nhà nước của dân, do dân và vì dân [VKĐH XII, tr.171-181]
+ Nhà nước là một thành tố trong hệ thống chính trị; là trụ cột của hệ thốngchính trị, giữ vai trò quản lý, điều hành mọi hoạt động xã hội, bảo đảm cho đấtnước phát triển theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng Sự mạnh, yếu củaNhà nước phản ánh sự mạnh, yếu của chế độ, ảnh hưởng trực tiếp đến sự pháttriển của đất nước, tác động trực tiếp đến lòng dân, sức dân
+ Thực trạng cải cách, hoạt động bộ máy Nhà nước
Thành tựu:
Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định: Nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhândân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và độingũ trí thức