1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÀI LIỆU THAM KHẢO bài GIẢNG LỊCH sử ĐẢNG, CHUYÊN đề sự PHÁT TRIỂN tư DUY lý LUẬN của ĐẢNG TRÊN LĨNH vực CHÍNH TRỊ

23 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 150 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Toàn diện là từ nhận thức, tư duy đến tổ chức và hành động. Toàn diện là từ Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân và cả xã hội, từ trung ương đến cơ sở, trong tất cả các cấp, các ngành. Tuy nhiên, đổi mới phải có bước đi và cách làm thích hợp. Nóng vội, chủ quan duy ý chí đã từng là một trong những nguyên nhân dẫn đến những sai lầm trong chủ trương, đường lối trước đổi mới, vì vậy bước vào đổi mới phải tránh cho được sai lầm còn nóng hổi này. Vả lại, nhu cầu đổi mới là một việc còn việc thực hành đổi mới có kết quả lại là việc khác, nhất là lúc đầu trong điều kiện chưa chuẩn bị đầy đủ hệ thống lý luận đổi mới cho nước ta, trong khi cải tổ, cải cách ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu mới được triển khai, đã có vấp váp. Vì vậy, vấn đề thiết yếu ngay sau khi hạ quyết tâm đổi mới là xác định đúng quan hệ giữa đổi mới kinh tế với giữ vững ổn định và đổi mới chính trị hai lĩnh vực cơ bản nhất của đời sống xã hội.

Trang 1

TRÊN LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ

A MỤC TIÊU

- Kiến thức:Trang bị cho học viên những kiến thức cơ bản về quá trình

nhận thức của Đảng về đổi mới tư duy lý luận trên lĩnh vực chính trị, trọngtâm là vấn đề phát huy dân chủ, đổi mới hệ thống chính trị và xây dựng Nhànước pháp quyền ở Việt Nam

- Kỹ năng:Chuyên đề góp phần hình thành cho học viên phương pháp

tư duy khoa học trong nhận thức, đánh giá về quá trình nhận thức của Đảng

về đổi mới tư duy lý luận trên lĩnh vực chính trị trong thời kỳ đổi mới; biếtvận dụng kiến thức được trang bị để phân tích, đánh giá quá trình thực hiệnphát huy dân chủ, xây dựng hệ thống chính trị và Nhà nước pháp quyền ởViệt Nam hiện nay

-Về tư tưởng: Giúp học viên củng cố niềm tin với những căn cứ khoa

học về vai trò của Đảng đối với cách mạng Việt Nam; tích cực đấu tranhchống lại các quan điểm, nhận thức sai trái

là từ Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân và cả xã hội, từ trung ương đến

cơ sở, trong tất cả các cấp, các ngành Tuy nhiên, đổi mới phải có bước đi vàcách làm thích hợp Nóng vội, chủ quan duy ý chí đã từng là một trong nhữngnguyên nhân dẫn đến những sai lầm trong chủ trương, đường lối trước đổimới, vì vậy bước vào đổi mới phải tránh cho được sai lầm còn nóng hổi này

Vả lại, nhu cầu đổi mới là một việc còn việc thực hành đổi mới có kết quả lại

là việc khác, nhất là lúc đầu trong điều kiện chưa chuẩn bị đầy đủ hệ thống lýluận đổi mới cho nước ta, trong khi cải tổ, cải cách ở Liên Xô và các nước xãhội chủ nghĩa Đông Âu mới được triển khai, đã có vấp váp Vì vậy, vấn đềthiết yếu ngay sau khi hạ quyết tâm đổi mới là xác định đúng quan hệ giữa đổi

Trang 2

mới kinh tế với giữ vững ổn định và đổi mới chính trị - hai lĩnh vực cơ bảnnhất của đời sống xã hội.

Tổng kết bước đầu 5 năm đầu tiên đổi mới (1986 - 1991), Đại hội VII

của Đảng rút ra một trong những kinh nghiệm là: “Đổi mớitoàn diện, đồng bộ

và triệt để, nhưng phải có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp Về quan

hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, phải tập trung sức làm tốt đổi

mới kinh tế Đồng thời với đổi mới kinh tế, phải từng bước đổi mới tổ chức

và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị , việc đổi mới trong hệthống chính trị nhất thiết phải trên cơ sở nghiên cứu và chuẩn bị rất nghiêmtúc, không cho phép gây mất ổn định chính trị, dẫn đến sự rối loạn Nhưngkhông vì vậy mà tiến hành chậm trễ đổi mới hệ thông chính trị, nhất là về tổchức bộ máy và cán bộ,mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các đoàn thểnhân dân”1

Phải tập trung đổi mới kinh tế trước hết, vì khủng hoảng kinh tế - xãhội lúc bấy giờ đã đến mức cực kỳ nghiêm trọng, thể hiện rõ nhất là sản xuấtđình đốn, lạm phát phi mã, đồng tiền mất giá nhanh chóng, đời sống nhândân, nhất là những người làm công ăn lương, ngày càng khó khăn.Về khảnăng thực hiện, cho đến năm 1986 Đảng ta đã có quá trình tìm tòi đổi mớinhất định về cơ chế kinh tế và quản lý kinh tế, khởi đầu từ Hội nghị Trungương 6 khóa IV (tháng 8-1979) đến Hội nghị Trung ương 8 khóa V (tháng 6-1985) và Hội nghị Bộ Chính trị tháng 8-1986 trước thềm Đại hội VI với bakết luận cơ bản, cực kỳ quan trọng, có tính chất bước ngoặt trong quan điểmkinh tế Tập trung đổi mới cả tư duy và chỉ đạo phát triển kinh tế còn là quántriệt nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử: xét đến cùng, kinh tế lànhân tố quyết định Có đổi mới mạnh mẽ về kinh tế mới tạo được các điềukiện cơ bản để giữ vững ổn định chính trị - xã hội và tiến hành đổi mới chínhtrị thuận lợi, thậm chí mới biết rõ trong chính trị cần đổi mới những gì, đổimới theo hướng nào

Mặt khác, không thể không đổi mới chính trị Trước hết, về lôgíc, chínhtrị gắn rất chặt với kinh tế, chính trị là kinh tế “cô đọng lại” Trong điều kiệnhòa bình xây dựng, Đảng phải lãnh đạo, Nhà nước phải quản lý toàn bộ quátrình phát triển kinh tế - xã hội, phải khơi dậy và phát huy cho được tinh thần

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Sđd, 1991, tr.

53-54.

Trang 3

làm chủ và tính tích cực chính trị của nhân dân trong xây dựng kinh tế Nếukhông đổi mới chính trị, đổi mới kinh tế sẽ gặp trở ngại; ngược lại, nếu đổimới chính trị kịp thời, phù hợp sẽ là điều kiện quan trọng để thúc đẩy đổi mới

và phát triển kinh tế Tuy nhiên, chính trị là lĩnh vực rộng lớn, đụng chạm đếncác mối quan hệ đặc biệt phức tạp và nhạy cảm, nên phải có sự cân nhắc,nghiên cứu và chuẩn bị rất nghiêm túc, thận trọng, không thể vội vàng, để các

sự kiện tuột ra khởi tầm kiểm soát, hoặc - theo cách nói của V.I.Lênin: “cỗ xekhông tuân theo tay lái” Trên tinh thần đó, trong những năm đầu đổi mới,Đảng ta chủ trương trước hết và cũng tiến hành từng bước đổi mới tổchức vàphương thức hoạt động của hệ thống chính trị - hai khâu đang có nhiều vướngmắc, bất cập Nếu xét kỹ hơn, bản thân việc đổi mới về tư duy chính trị trongviệc hoạch định đường lối, chính sách của Đại hội VI cũng đã là đổi mớichính trị Như vậy, Đảng không đặt vấn đề đổi mới hệ tư tưởng chính trị vàthể chế chính trị; trái lại, phải kiên quyết bảo vệ, kiên trì hệ tư tưởng Mác -Lênin, mục tiêu chính trị, thể chế nhất nguyên, không chấp nhận đa nguyênchính trị và đa đảng đối lập Về mức độ, chúng ta chủ trương đổi mới chứkhông phải là cải cách.Về mục tiêu, Đảng ta nói rõ: đổi mới tổ chức vàphương thức hoạt động của hệ thống chính trị là nhằm nâng cao chất lượng,hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị phục vụ phát triển kinh tế - xã hội

và thực hiện dân chủ, tuyệt nhiên không có mục tiêu nào khác Kiên định giữvững những vấn đề thuộc nguyên tắc bất di bất dịch, đồng thời quyết tâm đổimới những khâu cấp bách và đã chín muồi, đổi mới phải không làm thay đổibản chất, đặc trưng của hệ thống chính trị - đó là sự lựa chọn chính trị đúngđắn và sắc sảo của Đảng khi khởi động công cuộc đổi mới Thực tiễn đổi mớikinh tế và ổn định, đổi mới chính trị 10 năm đầu đổi mới đã được Đại hội VIII

của Đảng đúc kết thành một trong sáu bài học là: “Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị” 2

Kết luận của Đại hội VIII định hướng cho việc đổi mới kinh tế, đổi mớichính trị và kết hợp chặt chẽ hai quá trình đổi mới này trong gần 10 năm qua

Đó là hàng loạt đổi mới trong nhận thức và thực tiễn đổi mới về xây dựng thểchế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về quan hệ giữa tăngtrưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, về chủ động hội nhập kinh tế

2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Sđd, tr 71.

Trang 4

quốc tế Đó là những đổi mới trong nhận thức về xây dựng Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa, về quy chế dân chủ ở cơ sở, về đổi mới phương thứclãnh đạo của Đảng Sự kết hợp giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trịđược thực hiện đồng bộ, tương đối ăn khớp, vừa đòi hỏi, vừa thúc đẩy lẫnnhau Những đổi mới đó thể hiện nhận thức mới và cụ thể hóa con đường,bước đi quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước tavới nội dung ngày càng sáng rõ: đó là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị củaquan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu,

kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản, để pháttriển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại và nền chính trị,nền dân chủ tiến bộ Một biểu hiện điển hình cho sự kết hợp chặt chẽ giữa đổimới kinh tế và đổi mới chính trị là việc Hội nghị Trung ương 5 khóa IX(tháng 2-2002) thảo luận ra đồng thời 5 nghị quyết, trong đó có 3 nghị quyết

về kinh tế (Nghị quyết về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quảkinh tế tập thể; Nghị quyết về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyếnkhích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết về đẩy nhanhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 - 2010)

và 2 nghị quyết về lĩnh vực chính trị, tư tưởng (Nghị quyết về đổi mới vànâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn; Nghịquyết về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hìnhmới)

Một phương diện khác khó tránh khởi của vấn đề là trong quá trìnhthực hiện sự kết hợp giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị nảy sinh “độvênh” nhất định, hoặc muốn đẩy nhanh đổi mới kinh tế nên cho rằng các đổimới chính trị quá chậm chạp, không căn bản, cần được đấy nhanh hơn; hoặccho rằng đổi mới kinh tế quá chậm, đổi mới kinh tế đang đi chệch hướngchính trị Những mâu thuẫn này nếu không được xử lý kịp thời và thỏa đángthì sẽ không có đổi mới, chờ đợi lẫn nhau, sẽ dẫn đến tình trạng đổi mớitrong lĩnh vực này cản trở, kìm hãm đổi mới trong lĩnh vực kia Thực tế

là, trong quá trình đổi mới, Đảng ta đã kịp thời phát hiện, nhìn thẳng vào

sự thật, tập trung trí tuệ nghiên cứu và đưa ra lý luận xác đáng xử lý cácnhận thức lệch lạc trên vấn đề này Tiêu biểu cho điều này là việc Hộinghị Trung ương 6 khóa VI (tháng 3-1989) nêu ra 6 nguyên tắc đổi mới,Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 18-2-1995 của Bộ Chính trị khóa VII về

Trang 5

một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay nhằm tiếp tục bổsung và phát triển đường lối đổi mới, chấn chỉnh những nhận thức lệch lạctrong đổi mới cả kinh tế và chính trị, trong kết hợp giữa đổi mới kinh tế

và đổi mới chính trị

Trong đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta thường xuyên

phải giải quyết mối quan hệ giữa ổn định và phát triển Tình huống lý luận và

thực tiễn đặt ra là: một mặt, phải đổi mới và phát triển nhanh, mà đổi mới vớiđúng tầm mức của nó: đổi mới cơ bản, toàn diện, triệt để, chứ không chỉ là cảitiến, điều chỉnh việc này, việc kia; mặt khác, phải giữ cho được ổn định chínhtrị - xã hội, không được để xãy ra rối loạn, vô chính phủ Trên lôgíc hình thức,dường như hai yêu cầu này không thể tương hợp và trong thực tế rất dễ rơivào tình trạng để giữ ổn định không muốn đổi mới, nhất là đổi mới chính trị;ngược lại, muốn đổi mới nhanh, đã đổi mới - với tính cách một cuộc cáchmạng - triệt để thì không thể không chấp nhận những đảo lộn lớn, mất ổn địnhtrong lĩnh vực này hay lĩnh vực khác.Về vấn đề này, ngay từ khi khởi độngcông cuộc đổi mới, Đảng ta đã khẳng định: giữ vững ổn định chính trị là mộtnguyên tắc của đổi mới, không giữ được ổn định thì không còn là đổi mớitheo đúng mục tiêu đã đề ra cho đổi mới, không thể tập trung sức tiến hànhđổi mới và càng không thể có đổi mới thành công- điều này là phổ biến đốivới tất cả các nước, không riêng gì Việt Nam Lời giải cho bài toán nằm ởviệc nhậnthức đúng mục tiêu, điều hành đúng giới hạn và có cách thức đúngtrong thực hành đổi mới, thực hiện tốt sự kết hợp giữa đổi mới kinh tế và đổimới chính trị Mục tiêu của đổi mới là để giữ ổn định xã hội vững chắc trên

cơ sở kinh tế phát triển, đời sống của tất cả các tầng lớp nhân dân được nângcao và xã hội dân chủ hơn, đồng thuận hơn; là thoát khởi tình trạng ổn địnhkhông vững chắc, hình thức, trì trệ và tiềm ẩn, tồn tích nguy cơ gây mất ổnđịnh, thậm chí có thể bùng phát bất cứ lúc nào Do đó, mấu chốt của việc giữvững ổn định là bằng đổi mới, để giải phóng và tăng cường sức sản xuất xãhội, làm ra nhiều của cải hơn, tăng cường tiềm lực kinh tế quốc gia, tăng thunhập và cải thiện đời sống của nhân dân, thực hiện công bằng xã hội Đổi mớinhư thế sẽ vẫn giữ vững mục tiêu và bản chất chế độ, không gây ra những đảolộn, xáo trộn về chính trị Về giới hạn, trên cơ sở giữ đúng 6 nguyên tắc đổimới được xác định trong Nghị quyết Trung ương 6 khóa VI và 6 định hướnglớn được xác định trong Nghị quyết số 09-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa VII,

Trang 6

hoàn toàn được phép đổi mới mạnh mẽ, triệt để Về cách thức tiến hành đổimới, phải tiến hành cả “từ trên xuống” và “từ dưới lên”, chứ không chỉ đổimới “ở bên trên”; có bước đi vững chắc, với những vấn đề mới và khó phảinghiên cứu kỹ, làm thí điểm để rút kinh nghiệm trước khi triển khai trên diệnrộng; đặc biệt là phải dựa vào dân, trên cơ sở dân chủ Cách thức ấy đảm bảotính chủ động hoàn toàn, khả năng kiểm soát chặt chẽ các tiến trình xã hội,ngăn chặn từ gốc các nhân tố có thể gây mất ổn định chính trị - xã hội, khủnghoảng kinh tế Trạng thái ổn định được tạo lập bằng cách đó là sự ổn địnhthực chất, có nền tảng vững chắc, ổn định trong phát triển, không giả tạo haychỉ được xác lập bằng sự áp chế, bằng mệnh lệnh; đến lượt mình, sự ổn định

ấy tạo môi trường thuận lợi cho đổi mới và phát triển, đòi hởi phải đổi mớikhông ngừng

Đương nhiên, Đảng ta ý thức rõ trong ổn định có mâu thuẫn, có nhữngvấn đề mới phát sinh, những mất ổn định cục bộ: bởi vì sự phát triển, đổi mới

tự nó là quá trình biến đổi, quá trình giải quyết các mâu thuẫn chứ không thểđứng yên, tĩnh tại Không cómâu thuẫn thì không có phát triển Đổi mới đểgiải quyết đúng đắn và có hiệu quả các mâu thuẫn nảy sinh Chính nhờ có đổimới mà phát sinh thêm mâu thuẫn, có điều đó là những mâu thuẫn tất yếu,không tránh khởi, phát sinh một cách tự nhiên và hợp quy luật Đó là nhữngmâu thuẫn mà - như các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ dẫn - thựctiễn đã chứa đựng những khả năng, điều kiện cho việc giải quyết chúng Giảiquyết tốt những mâu thuẫn đó tức là đổi mới và phát triển, là thay thế ổn định

cũ bằng thế ổn định mới cao hơn Nói cách khác, ổn định chân chính là ổnđịnh trong trạng thái động chứ không phải tĩnh; ổn định kiểu đứng yên tức là

đã và đang tụt hậu

Liên quan đến quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, giữa

ổn định và phát triển, xem xét ở chiều sâu của vấn đề, phải giải quyết tốt quan

hệ giữa “yên” và “ổn” Thực tế cho thấy, bằng cách nào đó đảm bảo đượccuộc sống bình thường, có cải thiện cho đa số người dân là giữ được yên dân,không xảy ra tình trạng phản kháng phổ biến từ phía người dân Nhưng, nếuchỉ có vậy vẫn chưa bảo đảm chắc chắn giữ được sự ổn định chính trị, tránhđược những “điểm nóng”, những tình huống chính trị phức tạp Tình trạngmất dân chủ, không công bằng, nạn tham nhũng phát triển và kéo dài, các thếlực thù địch và các phần tử xấu lợi dụng tình hình đó kích động, làm bùng lên

Trang 7

các mâu thuẫn dân tộc và tôn giáo từ lịch sử, các bất đồng giữa người dân đốivới một bộ phận cán bộ, các khúc mắc nào đó trong nội bộ nhân dân có thểdẫn đến các tình huống chính trị phức tạp, thậm chí mất ổn định chính trị - xãhội Ý thức rõ điều đó, trong những năm đổi mới vừa qua, cùng với những đổimới trong lĩnh vực kinh tế, Đảng ta đã chú trọng đổi mới chính trị, bảo đảm

và phát huy dân chủ, lành mạnh hóa xã hội, củng cố vững chắc hệ thống chính trị

ở cơ sở, đấu tranh chống tiêu cực và các thủ đoạn phá hoại từ bên ngoài và từ nội

bộ Còn rất nhiều việc phải làm, nhiều vấn đề về lý luận cần làm rõ trong đổi mớichính trị để không chỉ giữ được ổn định bằng tăng trưởng kinh tế và đảm bảo đờisống nhân dân, mà còn củng cố vững chắc sự đoàn kết, đồng thuận xã hội, thựchiện đúng “ý Đảng” hợp với “lòng dân”, nhưng định hướng đổi mới chính trị củaĐảng là hướng tới sự ổn định triệt để, ổn định trong thế phát triển, không đểxảy ra các bất ổn chính trị bất ngờ

2 Quan niệm về đổi mới hệ thống chính trị

Khái niệm “hệ thống chính trị” được Đảng ta chính thức sử dụng từ Hộinghị Trung ương 6 khóa VI, từ đó khái niệm này được các văn kiện của Đảng

và Nhà nước, các tài liệu khoa học, sách báo sử dụng rộng rãi thay cho kháiniệm “hệ thống chuyên chính vô sản” trước đây Trên tinh thần đổi mới củaĐại hội VI, đổi mới hệ thống chính trị trở thành nội dung trọng yêu và trựctiếp của đổi mới chính trị Nhìn lại quá trình đổi mới, hoàn thiện quan niệmcủa Đảng về hệ thống chính trị nước ta những năm qua có thể nhận ra mấyvấn đề lớn sau:

- Việc sử dụng khái niệm hệ thống chính trị đưa lại những nhận thứcmới: nhận rõ và nhấn mạnh tính hệ thống, tính chỉnh thể và mối quan hệ giữacác bộ phận cấu thành hệ thống - điều mà trước Đại hội VI “chưa được cụ thểhóa thành thế chế”3; có sự tách biệt tương đối giữa hệ thống tổ chức bộ máy vớicác yếu tố khác của nền chính trị; định hình rõ các tổ chức quần chúng, trong đóxác định Mặt trận Tổ quốc và 5 đoàn thể chính trị - xã hội thuộc hệ thống chínhtrị Điều này không chỉ khắc phục tính chất chung chung, nặng về bản chất giaicấp và mặt chuyên chính của khái niệm “hệ thống chuyên chính vô sản”, mà cònthoát khởi sự lúng túng trong việc cụ thể hóa cơ chế tổng thể “Đảng lãnh đạo,Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ tập thể” được xác định từ Đại hội

3 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Sđd, tr 110.

Trang 8

IV của Đảng.

Về mục tiêu tổng quát của hệ thống chính trị, chỉ hơn hai năm kế từHội nghị Trung ương 6 khóa VI, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trongthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội do Đại hội VII thông qua đã ghi rõ: “Toàn

bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới lànhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảođảm quyền lực thuộc về nhân dân”4 Văn kiện Đại hội VII của Đảng cũng

đồng thời xác định: “Thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa là thực chất của

việc đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị Đây vừa là mục tiêu vừa là độnglực của công cuộc đổi mới”5 Như vậy, trước hết, đổi mới hệ thống chính trịkhông phải là thay đổi chế độ chính trị, mà là làm cho chế độ chính trị đãđược kiến lập ở nước ta ngày càng bền vững hơn, thể hiện đúng đắn và đầy đủhơn bản chất xã hội chủ nghĩa của nó, phát huy tính ưu việt và vai trò tích cựccủa chính trị đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Đổi mới hệ thông chính trị

là nhằm làm cho các bộ phận cấu thành hệ thống hoạt động có hiệu lực vàhiệu quả cao hơn, khắc phục bệnh quan liêu, hình thức, trên cơ sở xác định rõ,thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của từng tổ chức và xác lập cơ chế vậnhành thông suốt chặt chẽ của cả hệ thống, theo sự lãnh đạo của “hạt nhân” làĐảng Cộng sản Việt Nam

- Quá trình đổi mối hệ thống chính trị, tức hệ thống các tổ chức đại diệnnhân dân, gắn liền với quá trình bảo đảm quyền lực chính trị thật sự thuộc vềnhân dân, từng bước hoàn thiện và nâng cao trình độ nền dân chủ xã hội chủnghĩa Phải xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng chính đáng về dân chủ củadân; căn cứ vào trình độ giác ngộ và năng lực thực hành dân chủ của dân màtiến hành đổi mới hệ thống chính trị; cuối cùng, phải từ sự tiến bộ trong việcnhân dân nắm và sử dụng quyền làm chủ của mình đối với xã hội, cộng đồng

mà đánh giá kết quả của đổi mới hệ thống chính trị Từ Đại hội VI, Đảng ta

đã xác định: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, đó là thể hiện chế

độ nhân dân lao động tự quản lý nhà nước của mình”6 Chỉ khi nhân dân - với

tư cách là người chủ và người làm chủ, là chủ thểgốc của quyền lực chính trị trực tiếp tham gia xây dựng, thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực thi

-4 Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Sđd, tr.19.

5 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Sđd, tr 90.

6 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Sđd, tr 112.

Trang 9

quvền lực của các tổ chức trong hệ thống chính trị thì mới có thể xem đổi mới

là thành công

- Công việc đầu tiên trong đổi mới hệ thông chính trị là xác định rõ vịtrí, chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức và mối quan hệ lẫn nhau giữa các tổchức đó trong một thiết chế chung thống nhất, khắc phục tình trạng trùng lắp,lấn sân hoặc đùn đẩy lẫn nhau, không thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình

Từ Đại hội VII, Đảng ta xác định rõ: Đảng là bộ phận của hệ thống chính trị,nhưng là bộ phận hạt nhân lãnh đạo toàn bộ hệ thống ấy; Nhà nước đặt dưới

sự lãnh đạo của Đảng, có chức năng thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thựchiện đường lối của Đảng, quản lý toàn diện xã hội; Mặt trận Tổ quốc là liênminh chính trị của các đoàn thể nhân dân và cá nhân tiêu biểu của các giaicấp, tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo, là cơ sở chính trị của chính quyềnnhân dân, có vai trò quan trọng trong củng cố khối đại đoàn kết toàn dân,phản biện và giám sát xã hội, góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước, phát huyquyền làm chủ của nhân dân

- Trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị là trong những năm đầu tậptrung đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của các bộ phận cấu thành

hệ thống.Sở dĩ khẳng định như vậy là vì, các vấn đề khác của nền chính trịvẫn cần đổi mới, nhưng đã đảm bảo các yêu cầu cơ bản và sẽ đổi mới từngbước; trong khi đó, vấn đề bức xúc nhất là tình trạng bộ máy cồng kềnh,chồng chéo, nhiều tầng nấc trung gian không cần thiết gây trở ngại lớn chosản xuất và quản lý xã hội, các tổ chức của cả Đảng, Nhà nước và các đoànthể nhân dân hoạt động kém hiệu quả; làm tốt việc đổi mới này sẽ tạo điềukiện để đổi mới các khâu khác Những năm gần đây, những vấn đề cải cáchhành chính; thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; đổi mới công tác cán bộ; làmtrong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức được đặt ra và chú trọngtiến hành chính là theo đòi hỏi của đổi mới tố chức và phương thức hoạt độngcủa tổng thể hệ thống chính trị đặt ra từ nửa đầu những năm 90 của thế kỷXX

Trong đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị vấn đềmấu chốt nhất và cũng khó nhất là đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng,khắc phục cả hai khuynh hướng thường xãy ra trong thực tế: hoặc là Đảngbao biện, làm thay, hoặc là buông lởng sự lãnh đạo của Đảng Để đổi mớiphương thức lãnh đạo của Đảng phải trở lại làm rõ, nhận thức đúng vấn đề

Trang 10

Đảng cầm quyền, sự lãnh đạo của Đảng trong điều kiện có chính quyền, dânchủ hóa và thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Rấtnhiều vấn đề lý luận về Đảng cầm quyền tưởng như đã rõ, nhưng thật sự cònphải làm rõ hơn, có không ít vấn đề phải nhận thức lại Đảng lãnh đạo tuyệtđối, toàn diện và trực tiếp, nhưng Đảng không làm thay Nhà nước, khôngđược sử dụng quyền lực nhà nước; Đảng lãnh đạo Nhà nước ban hành luậtpháp, nhưng Đảng phải hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và phápluật; Đảng giữ vai trò lãnh đạo chính trị đối với Nhà nước và cả xã hội, nhưnglãnh đạo chính trị không có nghĩa là chỉ lãnh đạo chung chung, chỉ dừng ởviệc đề ra cương lĩnh, đường lối chung, không thể không quyết định nhữngchủ trương, chính sách lớn liên quan đến sự phát triển kinh tế - xã hội và ổnđịnh chính trị chung, đến quốc phòng, an ninh và quan hệ đối ngoại của quốcgia, đến công tác cán bộ của cả hệ thống chính trị, đến đời sống chung của cáctầng lớp nhân dân;…Giải đáp vấn đề tổng quát nêu trên vừa mang tính chínhtrị, vừa mang tính khoa học này và vượt lên khởi những lúng túng trong cách

đặt vấn đề cải tiến lề lối làm việc, phong cách công tác trước đó Tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội, lần đầu tiên

Đảng ta nêu ra quan niệm hoàn chỉnh về phương thức lãnh đạo của Đảng, sau

đó Hội nghị Trung ương 3 khóa VII về một số nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốnĐảng đã cụ thể hóa phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội, Chínhphủ, các cơ quan tư pháp, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân Đây là

cơ sở để từng cấp xây dựng phương thức lãnh đạo của Đảng, phương thứcquản lý của chính quyền và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc vàtừng đoàn thể nhân dân, cụ thể hóa thành quy chế phối hợp công tác giữa các

tổ chức trong hệ thống chính trị của cấp mình

Xét về phương diện hiệu quả lãnh đạo chính trị, có thể nói rằng, tư duy

lý luận của Đảng ta trong những năm qua về phương thức lãnh đạo của Đảng

và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng tạo ra bước đột phá quan trọngvào khâu khó nhất, nhạy cảm nhất mà nhiều năm trước chưa tháo gỡ được Vìvậy, đó là một bước tiến, một cống hiến quan trọng vào sự phát triển lý luận

về Đảng cầm quyền, trong đó có sự quán triệt và bổ sung tư tưởng Hồ ChíMinh về sự lãnh đạo của Đảng trong điều kiện có chính quyền

Đặc biệt coi trọng đổi mới hệ thống chính trị ở cơ sở, nhất là ở xã,phường, thị trấn thể hiện nhận thức mới của Đảng về đổi mới chính trị Trên

Trang 11

cơ sở giữ vững ổn định chính trị, xác định và thực hiện đúng phương hướngđổi mới hệ thống chính trị nhằm phát huy cao nhất vai trò của các tổ chứctrong cả hệ thống và quyền làm chủ của nhân dân, khi công cuộc đổi mớingày càng đi vào chiều sâu, Đảng ta chủ trương hướng mạnh về cơ sở, quantâm củng cố cơ sở xã hội của chính trị, đề cao các sáng kiến sáng tạo từ cơ sở.Theo đó, Bộ Chính trị khóa VIII ban hành chỉ thị xây dựng Quy chế dân chủ

ở cơ sở, trước hết là ở nông thôn; sau đó, Quốc hội, Chính phủ ban hành cácnghị quyết, nghị định thực hiện chủ trương lớn này của Đảng Đặc biệt, Hộinghị Trung ương 5 khóa IX (tháng 3-2002) đã ra nghị quyết về đổi mới vànâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phưòng, thị trấn Đây là lầnđầu tiên kể từ khi Đảng cầm quyền và cũng là lần đầu tiên sau hơn 15 nămlãnh đạo đổi mới đất nước, Đảng ra một nghị quyết về đổi mới hệ thống chínhtrị ở cơ sở Nghị quyết không chỉ đáp ứng yêu cầu trước mắt là giải quyết cácvướng mắc trong tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở, đáp ứngnguyện vọng của nhân dân, mà còn có ý nghĩa chiến lược lâu dài Củng cốvững chắc và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trịcấp cơ sở, thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở và phương châm “dân biết,dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” là đảm bảo chắc chắn nhất cho việc giữ vững

ổn định chính trị, thúc đẩy đổi mới cả kinh tế và chính trị từ cơ sở, phòngngừa và giải quyết từ sớm các mâu thuẫn nội bộ nhân dân, chống tiêu cực nội

bộ và làm thất bại âm mưu lôi kéo quần chúng của các phần tử xấu Nếu tất cảcác tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể ở cơ sở đều thật sự gần dân, tin dân,trọng dân, nghe dân; cán bộ, đảng viên ở cơ sở nêu gương toàn diện trướcdân, lời nói đi đôi với việc làm, nghe dân nói, nói dân hiểu, làm để dân tin,vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân; các

tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở phối hợp hoạt động chặt chẽ, đồng

bộ, phát động được các phong trào cách mạng tích cực đổi mới thì sẽ khơi dậymạnh mẽ tiềm năng con người, đất đai, ngành nghề, ý chí chính trị và truyềnthống văn hóa cho thắng lợi của công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa và hiệnđại hóa đất nước Mặt khác, chính từ những đổi mới trong tổ chức và hoạtđộng của hệ thống chính trị ở cơ sở mà bộc lộ yêu cầu đổi mới hệ thống chínhtrị ở các cấp trên cơ sở Nhìn tổng quát, đổi mới để củng cố vững chắc và pháthuy cao độ vai trò của hệ thống chính trị ở cơ sở là thiết thực thực hiệnnguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin cách mạng là sự nghiệp của quần

Ngày đăng: 03/08/2021, 08:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hồ Chí Minh: Về chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, NXB CTQG, H, 1998, trang 42-376 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội và conđường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Nhà XB: NXB CTQG
3. Nguyễn Trọng Phúc (2001): Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sảnViệt Nam trong thời kỳ đổi mới
Tác giả: Nguyễn Trọng Phúc
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
4. Nguyễn Trọng Phúc (2007): Đổi mới ở Việt Nam thực tiễn và nhận thức lý luận, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới ở Việt Nam thực tiễn và nhậnthức lý luận
Tác giả: Nguyễn Trọng Phúc
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2007
5. Nguyễn Văn Sự, Con đường đổi mới đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội (1986-1996), Nxb QĐND, HN, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường đổi mới đưa đất nước thoát khỏi khủnghoảng kinh tế xã hội (1986-1996)
Nhà XB: Nxb QĐND
2. Nguyễn Đức Bình (Chủ biên), Về CNXH và con đường lên CNXH ở Việt Nam, Nxb CTQG, HN, 2004 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w