Phân phối là một mắt khâu quan trọng trong chu trình tái sản xuất xã hội, trong đó phân phối giá trị sản xuất mới sang tạo có ý nghĩa quyết định đến việc khuyến khích phát triển sản xuất và bảo đảm công bằng xã hội. Tuy nhiên, nếu hiểu rộng ra thì phân phối là khái niệm phản ánh nhiều nhóm quan hệ kinh tế xã hội theo những đối tượng và phạm vi khác nhau. Vì vậy, phân phối luôn gắn liền với lợi ích kinh tế và bản chất của phân phối do bản chất của quan hệ sản xuất quyết định
Trang 1XÂY DỰNG QUAN HỆ PHÂN PHỐI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Phân phối là một mắt khâu quan trọng trong chu trình tái sản xuất xã hội,trong đó phân phối giá trị sản xuất mới sang tạo có ý nghĩa quyết định đến việckhuyến khích phát triển sản xuất và bảo đảm công bằng xã hội Tuy nhiên, nếuhiểu rộng ra thì phân phối là khái niệm phản ánh nhiều nhóm quan hệ kinh tế- xãhội theo những đối tượng và phạm vi khác nhau Vì vậy, phân phối luôn gắn liềnvới lợi ích kinh tế và bản chất của phân phối do bản chất của quan hệ sản xuấtquyết định
Tại Đại hội IX, Đảng ta xác định mô hình tổng quát trong suốt thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là phát triển kinh tế thị trường định hướngXHCN Đây là mô hình hoàn toàn mới chưa có tiền lệ trong lịch sử, do đó vấn đềphân phối trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN cũng
có cách tiếp cận và nội dung mới Vì vậy, việc nghiên cứu phân phối trong điềukiện mới có ý nghĩa hết sức quan trọng
1 Quan niệm của các học thuyết kinh tế về phân phối
* Lý luận của trường phái kinh tế cổ điển và tân cổ điển
Các nhà kinh tế học cổ điển mà tiêu biểu là Smith và Ricacđo coi hàng hóa
có hai thuộc tính (giá trị sử dụng và giá trị trao đổi) và đưa ra ba yếu tố tham gia
và quá trình sản xuất của cải xã hội: lao động tạo ra tiền công, tư bản làm ra lợinhuận, đất đai tạo ra địa tô Họ coi toàn bộ giá trị của sản phẩm hàng hóa là phầnthu nhập thuần túy, gạt bỏ toàn bộ tư bản bất biến Smith quan niệm các hìnhthức thu nhập như tiền công, lợi nhuận địa tô…vừa là những bộ phận được hìnhthành từ thu nhập, vừa được coi là những yếu tố hình thành nên thu nhập Ở đây,ông đã chưa thấy rõ sự khác biệt giữa sản xuất và phân phối nên đã đồng nhấtgiữa sản xuất và phân phối Khi lý giải về cơ chế vận hành của nền kinh tế thịtrường, các nhà kinh tế cổ điển đã phát hiện ra động lực chung nhất của nền
Trang 2kinh tế là lợi ích kinh tế, trước hết là lợi ích cá nhân Khi tìm một lợi ích riêngmột cách vị kỷ, chính bàn tay vô hình của thị trường sẽ dẫn dắt họ tạo nên mộtkết cục ngoài dự kiến là đem lại lợi ích cho xã hội tốt hơn, bởi vậy họ ủng hộ tưtưởng tự do kinh tế, chống lại sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế, đồngthời còn khẳng định rằng quy luật kinh tế là cố định muốn xã hội giàu có thì phảiphát triển kinh tế theo thị trường tự do
Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, khi CNTB phát triển lên đại côngnghiệp cơ khí, đã xuất hiện các trường phái kinh tế tân cổ điển Lý luận phânphối của họ gồm nhiều nội dung, trong đó có hai nhóm nội dung quan trọng là :
lý luận phân phối các yếu tố sản xuất và lý luận phân phối về thu nhập Trong lýluận về phân phối các yếu tố sản xuất, các học giả tân cổ điển xuất phát từ ba yếu
tố của sản xuất (lao động, tư bản, ruộng đất), từ đó coi mỗi yếu tố là nguồn gốcđộc lập của thu nhập tương ứng (tiền công, lợi nhuận, địa tô) Mác- Lenin đã phêphán quan niệm này là che giấu nguồn gốc thực sự của lợi nhuận và địa tô là laođộng không công của người làm thuê
Khi xem xét các yếu tố sản xuất, trường phái tân cổ điển chỉ chú trọng đếnhành vi cá thể, biệt lập Họ cho rằng lợi ích là mục đích của hành vi Hành vi cáthể biệt lập sinh ra lợi ích Vì vậy, con người chú trọng tối đa hóa lợi ích, quantâm đến thu nhập và phân phối thu nhập, quan tâm tối đa đến quan hệ giữa đầuvào và đầu ra, giữa kết quả và khả năng, giữa tiêu dung và tiết kiệm, giữa doanhthu và chi phí, Mọi lựa chọn của cá nhân được coi là tự do, chỉ rằng buộc bởi thịtrường, chi phí và lợi ích Bên cạnh đó trường phái tân cổ điển còn cho rằng giá
cả và thu nhập là nguyên nhân của sự tương quan giữa nhu cầu và sự phân bổ tìanguyên sẵn có Cho tới nay, quan điểm của học thuyết này này vẫn còn tồn tại,dẫn đến có những tư duy và hành động nhằm tuyệt đối hóa vai trò của thị trường,coi thị trường là hoàn toàn tự do, vì vậy thị trường phải được coi là cơ chế duy
Trang 3nhất, hữu hiệu nhất để phân bổ các nguồn lực của cả nền kinh tế cũng như từnghành vi cá thể biệt lập
Đề cập về phân phối thu nhập, trường phái tân cổ điển cho rằng lợi nhuận,lợi tức, tiền lương cũng là hình thức thu nhập cơ bản Họ không vạch rõ nguồngốc sinh ra lợi nhuận mà quan niệm lợi nhuận là kết quả so sánh giữa chi phí vàdoanh thu, là phần thưởng của sự hy sinh cá nhân và sự đóng góp nguồn lực chosản xuất Thị trường hàng hóa dịch vụ, vật tư sản xuất, lao động luôn tự nó cânbằng nên cách thức phân phối thu nhập luôn gắn bó với lý luận phân bổ cácnguồn lực để tối ưu hóa các hành vi Họ chú ý đến thị trường lao động, nhưngđối với tiền lương lại bỏ qua điều kiện sản xuất mà căn cứ vào năng suất laođộng cận biên, lấy năng suất thấp nhất của người lao động vẫn phải bảo đảm lợinhuận, nghĩa là lợi nhuận luôn luôn phải lớn hơn không
Trường phái tân cổ điển còn cho rằng phân phối thu nhập hình thành do sựlựa chọn cá nhân, nguồn gốc thu nhập là đực hy sinh tự nguyện của cá nhân, tự
do lựa chọn quyết định thi nhập của họ Thu nhập dưới dạng lợi nhuận không cónguồn gốc từ tiền công mà là kết quả của tiết kệm, là phần thưởng cho sự hy sinh
cá nhân và sự đóng góp nguồn lực vào sản xuất, giàu có của cá nhân là do nguồnlực sẵn có hoặc do sự lựa chọn tự nhiên của họ
* Trường phái tân cổ điển hiện đại và lý thuyết kinh tế của J.M Keynes
Trường phái kinh tế tân cổ điển hiện đại xuất hiện vào những năm 30 củathế kỷ XX mà người đại diện xuất sắc là J.M Keynes với tác phẩm “ Lý thuyếtchung về việc làm, lãi suất và tiền tệ” Trong tác phẩm đó, ông cho rằng cânbằng tổng quát của nền kinh tế có thể xuất hiện và tồn tại trong điều kiện nềnkinh tế nằm dưới mức “toàn dụng”, nghĩa là trong các trường hợp không sử dụnghết năng lực sản xuất và có thất nghiệp nhưng nền kinh tế vẫn có thể đạt cânbằng tổng quan Lập luận này tạo cơ sở và vị thế cho những can thiệp kinh tế củaNhà nước nhằm thúc đẩy nền kinh tế đạt tới cân bằng mới ở sản lượng tiềm
Trang 4năng, trong trạng thái toàn dụng nhân công, giải quyết việc làm chống thấtnghiệp Theo ông, tính chất không ổn định của nền kinh tế, khủng hoảng, thấtnghiệp không phải là hiện tượng nội sinh của CNTB mà là do chính sách lỗithời, bảo thủ, sự thiếu can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế gây ra Ông phêphán quan điểm của trường phái cổ điển và tân cổ điển về sự cân bằng dựa trên
cơ sở thị trường thuần túy Theo ông, muốn có công bằng, Nhà nước phải canthiệp vào quá trình phân phối Ông đặc biệt coi trọng các công cụ tài chính, tíndụng, nhất là chính sách phân phối thông qua công cụ thuế và chính sách tàikhóa Về chính sách thuế, ông chủ trương tăng thuế để điều tiết thu nhập cánhân, dựa vào ngân sách để đầu tư Đối với nhà doanh nghiệp, ông chủ trươnggiảm thuế để nâng cao hiệu quả tư bản, khuyến khích nhà kinh doanh tích cựcđầu tư phát triển sản xuất Về chính sách tài khóa, ông yêu cầu Nhà nước phải cóchủ trương đầu tư quy mô lớn, dựa vào đó Nhà nước điều tiết kinh tế Để bù đắpthiếu hụt ngân sách nhà nước, ông chủ trương in thêm tiền giấy để cấp phát chongân sách hoạt động, đảm bảo chi tiêu Chính phủ
Học thuyết Keynes được nhiều nước hoan nghênh và vận dụng rộng rãi,vai trò ngân sách Nhà nước được coi trọng đối với tăng trưởng kinh tế thông quacác biện pháp “kích cầu” Nguồn dùng cho việc tăng chi ngân sách để kích cầuđược huy động từ kết quả tăng trưởng cao hơn do kích cầu mang lại, nguồn vaytrong và ngoài nước, phát hành thêm tiền vào lưu thông và tăng thuế Tuy nhiên,mỗi học thuyết chỉ ứng phó với một hoàn cảnh lịch sử kinh tế nhất định Chínhsách kích cầu kiểu Keynes chứa đựng những mạo hiểm kéo theo nguy cơ lạmphát, suy giảm cán cân thanh toán, cán cân thương mại quốc tế
* Lý thuyết phân phối của trường phái kinh tế hiện đại
Từ thực tiễn cuộc sống và trong quá trình phát triển các lý thuyết kinh tế,trong những thập kỷ gần đây, các nhà kinh tế theo học thuyết của Smith và họcthuyết của Keynes đã nhận thấy những thiếu xót của mình và xích lại gần nhau,
Trang 5hình thành nên học thuyết kinh tế học của trường phái hiện đại mà Paul A.Samuelson là một trong những đại biểu tiêu biểu nhất Theo Samuelson, thịtrường rất quan trọng và có khả năng tự điều chỉnh cao, song nó cũng có nhữngkhuyết tật mà tự bản than nó không thể khắc phục được, do đó cần can thiệp củaChính phủ Theo ông, Chính phủ có một chức năng chính trong nền kinh tế là tạolập khuôn khổ pháp luật, sửa chữa những thất bại của thị trường, bảo đảm sựcông bằng ổn định kinh tế vĩ mô Chính phủ thực hiện các chức năng bằng nhiềucông cụ khác nhau, song công cụ tài chính được ông đặc biệt quan tâm Thôngqua chính sách thuế, Chính phủ điều tiết tiêu dung định hướng đầu tư tư nhân,khuyến khích hoặc hạn chế hoạt động kinh doanh của các doanh nhân, các khoảnchi tiêu của Chính phủ từ ngân sách nhà nước sẽ thúc đẩy doanh nghiệp sản xuất
và nhiều hàng hóa dịch vụ Ngoài ra, ông cũng nhấn mạnh tới yêu cầu của Chínhphủ phải can thiệp về cơ chế nhằm khắc phục các khuyết tật của thị trường, tácđộng vạo những nguyên nhân có thể gây ra chúng như can thiệp chống độcquyền, đặt ra các biện pháp phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư vàphải dành sự quan tâm cần thiết đến tầng lớp nghèo của xã hội
Ngoài tác phẩm của Paul A Samuelson, hàng loạt các tác phẩm của cácnhà kinh tế học khác chủ trương kết hợp Nhà nước với thị trường ở nhiều cấp độkhác nhau, song giữa họ đều có những điểm chung trong các tác phẩm phân phốithu nhập đó là nguyên tắc phân phối thu nhập theo cơ chế thị trường có sự canthiệp của Nhà nước Phân phối thu nhập trong cơ chế thị trường được quyết địnhbởi quan hệ cung cầu trên thị trường Phân phối thu nhập trong nhân dân đượcxác định bởi số lượng các nhân tố có được và giá cả các nhân tố đó Tuy nhiên,
xu hướng gần đây cho thấy, nhiều nhà kinh tế ở các nước TBCN chú trọng hơnnhiều đến vai trò của thị trường và cố gằng giảm thiểu vai trò của Nhà nước.Điển hình của xu hướng này là chủ nghĩa tự do mới Chủ nghĩa này dựa vào thịtrường, coi đó là người trọng tài tốt nhất đảm bảo giá cả hiệu quả và khuyến
Trang 6khích Nhà nước nên rút khỏi lĩnh vực phát triển để cho tư nhân thực hiện cácquyết định kinh tế, còn Nhà nước chỉ cung cấp những loại hàng hóa, dịch vụcông mà khu vực tư nhân không thể đảm nhận họ phê phán gay gắt sự can thiệpcủa Nhà nước vì cho rằng những người trong bộ máy nhà nước và những ngườilập kế hoạch thiếu thông tin, không sát thực tế, không có công cụ làm đòn bẩythực thi kế hoạch Ngoài ra, tình trạng tham nhũng, quan liêu cũng làm quá trìnhphân phối nguồn lực bị bóp méo, kém hiệu quả và trì trệ
Tóm lại, sự phát triển học thuyết phân phối trong kinh tế thị trường củaCNTB đã trải qua nhiều giai đoạn Lý luận quan trọng nhất, cốt lõi nhất của phânphối là sử lý mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường Nếu các nhà kinh tếthuộc trường phái cổ điển và tân cổ điển tuyệt đối hóa vai trò của thị trường thìcác nhà kinh tế thuộc trường phái tân cổ điển hiện đại lại hướng mạnh hơn vàovai trò của nhà nước Điều này thực ra không xuất phát hoàn toàn từ cơ sở lýthuyết đơn thuần mà từ thực tiễn của cuộc đại khủng hoảng 1929-1933 khi chính
sự tự do của kinh tế thị trường là nguyên nhân sụp đổ của cả một hệ thống kinh
tế Tuy nhiên, việc điều chỉnh CNTB theo hướng thiên về vai trò của nhà nước
đã làm cho gánh nặng thuế tăng lên, thu chi ngân sách nhà nước càng chiếm tỷtrọng lớn trong nền kinh tế, cộng với tệ quan lieu, tham nhũng đã làm cho sựphân bổ các nguồn lực qua tay Nhà nước càng kém hiệu quả Do đó đã nảy sinhcác học thuyết kinh tế hướng vào sự cân bằng giữa nhà nước và thị trường vàgần đây có phần quay lại đề cao vai trò của thị trường, hạn chế tối đa sự canthiệp của Nhà nước
* Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lenin về phân phối
Lý luận phân phối trong chế độ XHCN được xây dựng trên cơ sở lý luậncủa chủ nghĩa Mác- Lenin Chủ nghĩa Mác- Lenin coi phân phối là một mặt củaquan hệ sản xuất Bản chất quan hệ sản xuất quyết định bản chất phân phối, phânphối luôn gắn liền với lợi ích kinh tế Khuyến khích vật chất trong phân phối là
Trang 7động lực quan trọng thúc đẩy sản xuất phát triển, hình thành, chuyển đổi cơ cấukinh tế mới, tạo ra lực lượng sản xuất mới, đồng thời là công cụ cùng với thịtrường thực hiện giải phóng lực lượng sản xuất, cùng với chính sách xã hội thựchiện công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo
Theo chủ nghĩa Mác – Lenin, phân phối là khái niệm rất rộng phản ánhnhiều nhóm quan hệ kinh tế- xã hội theo những đối tượng và phạm vi khác nhau,trong đó phân phối kết quả của sản xuất là biểu hiện lợi ích kinh tế của các chủthể do sở hữu điều kiện sản xuất quy định Thực chất phân phối kết quả sản xuất
là sự phân chia sản phẩm lao động giữa những chủ thể của nền sản xuất xã hội.Trong nền kinh tế hàng hóa, phân phối kết quả sản xuất là sự phân chia giá trịcủa tổng sản phẩm xã hội đã được sản xuất trong một thời gian nhất định giữanhững giai cấp, tầng lớp khác nhau trong xã hội, trong đó sự phân phối phần giátrị mới được sản xuất ra là đặc biệt quan trọng vì nó thể hiện tính chất đặc thùcủa từng chế độ xã hội cụ thể
Khác với các trường phái lý thuyết kinh tế khác, các nhà kinh điển của chủnghĩa Mác- Lenin không chỉ dừng lại ở việc trình bày các hình thức biểu hiệncảu phân phối trong các giai đoạn lịch sử va chế độ xã hội khác nhau, mà còn đisâu phân tích bản chất, cơ sở tồn tại khách quan và xu hướng vận động của cácphương thức, hình thức phân phối cụ thể nhất định được hình thành trong lịch sử
và từ đó nêu ra những dự báo khoa học về phương thức phân bổ kết quả sản xuấttrong tương lai
Lý luận Mác- Lenin cho rằng, phân phối phản ánh hai nhóm quan hệ khácnhau nhưng có mối liên hệ tương tác biện chứng với nhau trong nền sản xuất xãhội Quan hệ phân phối các điều kiện sản xuất hoàn toàn khác với quan hệ phânphối được hiểu “là những tư cách khác nhau của các cá nhân để được hưởng mộtphần sản phẩm thuộc về tiêu dùng cá nhân”1 Phân phối thể hiện mối quan hệgiữa người với người không những đối với các điều kiện của sản xuất mà còn đối
1 C.Mác và Ph AWngghen toàn tập, NXB CTQG, H- 1994, T25 P2, tr 635
Trang 8với kết quả cảu sản xuất, trong đó vai trò quyết định thuộc về phân phối các điềukiện sản xuất Ai nắm các điều kiện sản xuất thì quyết định phân phối kết quả sảnxuất Phân phối các điều kiện sản xuất là tiền đề, là cơ sở của phân phối kết quảsản xuất Phân phối kết quả sản xuất phản ánh mối quan hệ giữa các chủ thể củanền sản xuất trong việc phân chia những sản phẩm đã được sản xuất ra Về mặtchất, nó phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể chiếm hữu các nhân tố của sản xuấttrong việc phân chia kết quả của quá trình sản xuất hay những sản phẩm đã đượcsản xuất ra Quan hệ phân phối kết quả sản xuất được thể hiện ra nhưu là những
tư cách khác nhau của các cá nhân có thể được hưởng một phần sản phẩm laođộng Về mặt lượng, “phân phối xác định tỷ lệ theo đó mỗi cá nhân tham dự vàosản phẩm đã sản xuất ra”2
Cho tới nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về phân phối kết quả sản xuất
và thu nhập Theo quan điểm macsxit, thu nhập trước hết được hiểu là kết quảthu được từ những hoạt động lao động nhất định, tức là sản phẩm của lao động.Nếu xét từng trường hợp cụ thể cá biệt, thu nhập là kết quả thu được từ nhữnghoạt động kinh tế nhất định của từng cá nhân trong xã hội Thu nhập theo nghĩa
và phạm vi như vậy không gây ra sự bất đồng ý kiến giữa các nhà kinh tế.Nhưng xét trên phạm vi toàn xã hội thì vẫn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau thậmtrí cả những nhà kinh tế lỗi lạc trước Mác như Smith còn nhầm lẫn thu nhập với
tư bản
Theo quan niệm duy vật lịch sử và lý luận giá trị lao động, thu nhập trướchết thể hiện mối quan hệ trong sản xuất vật chất, “sản xuất và tiếp theo sau sảnxuất là trao đổi sản phẩm của sản xuất, là cơ sở của mọi chế độ xã hội, rằngtrong mỗi xã hội xuất hiện trong lịch sử, sự phân phối sản phẩm và cùng với sựphân phối ấy là sự phân chia xã hội thành giai cấp hoặc đẳng cấp, đều đượcquyết đinh bởi tình hình: người ta sản xuất cái gì và sản xuất ra bằng cách nào và
2 Sdd, 1993, T12, tr861
Trang 9những sản phẩm của sản xuất được trao đổi như thế nào”3 Sản xuất vật chất là
cơ sở của đời sống xã hội, lao động trong lĩnh vực sản xuất có vai trò quyết địnhtạo ra thu nhập cho xã hội
Dựa vào lý luận giá trị của Mác thì thu nhập và giá trị mới là những kháiniệm đồng nhất Cho nên phân phối kết quả sản xuất được hình thành thu nhậpcủa các chủ thể là phân phối phần giá trị mới do lao động tạo ra trong quá trìnhsản xuất Trên cơ sở vận dụng nguyên lý giá trị lao động, Mác đã nêu ra địnhnghĩa tổng thu nhập trong nền kinh tế hang hóa là “Tổng thu nhập là bộ phận giátrị và bộ phận tổng sản phẩm được đo bằng bộ phận giá trị ấy, còn lại sau khi đãtrừ đi trong tổng sản phẩm cái phần giá trị (và bộ phận tổng sản phẩm được đobằng phần giá trị ấy) dùng để bù lại tư bản bất biến đã bỏ vào sản xuất và đã bịtiêu dùng trong sản xuất”4 Trong nền sản xuất TBCN, “tổng thu nhập là bằngtiền công (hoặc cái bộ phận sản phẩm dùng để trở thành thu nhập của công nhân)+ lợi nhuận + địa tô”5 Ông cũng phân biệt thu nhập ròng của từng nhà tư bản vàtoàn bộ giai cấp tư sản với tổng thu nhập của xã hội như sau: “thu nhập ròng làgiá trị thặng dư, tức sản phẩm thặng dư còn lại sau khi đã trừ tiền công, và đạibiểu cho giá trị thặng dư do tư bản thực hiện được và phải chia nhau với địa chủ,
và đại biểu cho sản phẩm thằng dư được đo bằng giá trị thặng dư ấy”6 Vì vậy, sựkhác nhau giữa sản phẩm của nhà tư bản cá biệt và sản phẩm xã hội chỉ là nhưusau: xét theo quan điểm của nhà tư bản cá biệt, thu nhập ròng phân biệt với tổngthu nhập vì tổng thu nhập bao gồm cả tiền công, còn thu nhập ròng không baogồm tiền công Nếu xét thu nhập của toàn thể xã hội, thi thu nhập quốc dân là dotiền công công với lợi nhuận công với địa tô- nghĩa là do tổng thu nhập cấuthành”7
Trang 10Bên cạnh sự phân biệt giữa phân phối kết qủa sản xuất và thu nhập, Máccòn phân biệt sự khác nhau giữa tiền và thu nhập Sự xuất hiện của tiền tệ làmcho thu nhập có thể biểu hiện ra bên ngoài dưới hình thái tiền, bằng một lượngtiền nhất định Song tiền theo bản chất của mình không phải là thu nhập mà chỉ
có thể đóng vai trò là hình thái cụ thể nhất định của thu nhập trong điều kiện nhấtđịnh Sự phân biệt tiền với thu nhập đã cho phép phân biệt rõ tư bản với thu nhập
“cái đã hoạt động hai lần- làm tư bản cho nhà tư bản và làm thu nhập cho côngnhân- không phải là tư bản khả biến mà chính là cũng một số tiền”8 Như vậy, chỉsau khi giá trị sản phẩm hàng hóa đã chuyển thành tiền, thì sự vậy động này mớitách ra thành vận động của tư bản và vậy động của thu nhập Tiền- tư bản là tiền
đề của sản xuất tư bản, tiền- thu nhập là kết quả của sản xuất tư bản
Việc xác định rõ rang các khái niệm phân phối kết quả sản xuất và thunhập như trên đã cho phép rút ra những tất yếu kinh tế trong sơ đồ phân phối kếtquả sản xuất tổng sản phẩm xã hội được Mác trình bày trong tác phẩm “ Phêphán cương lĩnh Goota” như sau: tổng sản phẩm xã hội trước hết phải bù đắp lạinhững tư liệu sản xuất đã tiêu dùng, phần giá trị mới tạo ra tổn thu nhập xã hộiđược phân phối theo những tất yếu sau:
- Thứ nhất, để xã hội có thể tồn tại, về lượng không thể phân phối cho tiêuchuẩn cá nhân vượt quá số lượng thu nhập của xã hội
- Thứ hai, trong mọi chế độ xã hội, phân phối thu nhập trước hết phải cóvai trò bảo đảm tái sản xuất sức lao động của xã hội, tức là tái sản xuất ra sức laođộng của những người lao động sản xuất trực tiếp
- Thứ ba, một bộ phận thu nhập phải được sử dụng để thực hiện tích lũysản xuất
- Thứ tư, “một bộ phận sản phẩm thặng dư chỉ đại biểu cho lao động mớiđược thêm vào, được dùng làm quỹ bảo hiểm…Đó là bộ phận duy nhất của thunhập không được dùng với tư cách là thu nhập và cũng không nhất thiết phải
8 Sdd, 1994, T24, tr 644
Trang 11dùng làm quỹ tích lũy…Đó cũng là bộ phận duy nhất của giá trị thặng dư, tức làcủa lao động thặng dư và của sản phẩm thặng dư còn cần phải tồn tại…Ngay cảsau khi đã xóa bỏ phương thức sản xuất TBCN…Ngoài lao động thặng dư cầnphải cung cấp cho tất cả những người vì tuổi tác của họ chưa thể tham gia sảnxuất, hoặc không còn khả năng thham gia sản xuất nữa”9.
Như vậy, lý luận Mác Lê Nin đã chú ý đến việc bảo đảm phát triển sảnxuất và thực hiện công bằng xã hội thông qua công cụ phân phối Về hình thứcphân phối Mác đã phân tích hai hình thức là phân phối lần đầu và phân phối lại,trong đó khẳng định phân phối lần đầu trong nền kinh tế tư bản đem lại lợi nhuậncho tư bản, địa tô cho địa chủ, tiền công cho người lao động Phân phối lại và táiphân phối lại là các bước tiếp theo của quá trình phân phối lần đầu
Mác cũng nêu lên nguyên tắc phân phối thu nhập cá nhân trong CNXH làtheo lao động, lấy lao động làm thước đo để phân phối Dựa trên cơ sở giả địnhnền kinh tế hàng hóa đã được xóa bỏ, thay thế bằng nền kinh tế công hữu về tưliệu sản xuất do nhà nước trực tiếp tổ chưc sản xuất và phân phối, Ông cũng đãvạch ra những nguyên tắc và phương thức phân phối theo lao động Vào đầunhững năm 20 của thế kỷ XX, khi nhận thấy việc xóa bỏ ngay CNTB không thểđem lại kết quả phát triển đất nước như mong muốn, Lê Nin đã đề ra chủ trươngthực hiện lao động nghĩa vụ và đưa ra chính sách kinh tế mới, thừa nhận nềnkinh tế tồn tại nhiều thành phần, dùng quan hệ hàng hóa – tiền tệ để phân phốitheo lao động
2 Phân phối trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
a Quá trình đổi mới cơ chế phân phối
Trước thời kỳ đổi mới, nước ta thực hiện cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tậptrung Do đó cơ chế phân phối cũng được thiết lập theo mô hình này Trong giaiđoạn này mọi sự vận động của nền kinh tế phải theo kế hoạch đã vạch sẵn từ
9 Sdd, 1994, T25, PII, tr 586-587
Trang 12trước (sản xuất theo kế hoạch, phân phối theo kế hoạch, tiêu cùng theo kếhoạch) Kế hoạch các chỉ tiêu được hành chính hóa thành các mệnh lệnh hànhchính gọi là chỉ tiêu pháp lệnh Phải nói rằng cơ chế kế hoạch hóa tập trung đãđược áp dụng thành công ở nước ta trong thời kỳ chiến tranh Tuy nhiên khichuyển nền kinh tế sang thời kỳ mới, thời kỳ cả nước đi lên CNXH thì cơ chếnày không còn phù hợp và bắt đầu bộc lộ những hạn chế, khiếm khuyết đặc biệttrong lĩnh vực phân phối Đại hội lần thứ VI của Đảng đã đánh giá “cơ chế quản
lý tập trung quan liêu bao cấp từ nhiều năm nay, không tạo được động lực pháttriển, làm suy yếu kinh tế XHCN, hạn chế việc sử dụng và cải tạo các thành phầnkinh tế khác, kìm hãm sản xuất, làm giảm năng suất, chất lượng, hiệu quả gây rốiloạn trong phân phối lưu thông, và đẻ ra nhiều hiện tượng tiêu cực trong xãhội”10 và đưa ra quyết định quan trọng trong lịch sử: Thực hiện công cuộc đổimới, xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung, bao cấp, chuyển sang sử dụng đúng đắnquan hệ hàng hóa – thị trường, thực hiện sản xuất gắn với thị trường, vai tròquản lý kinh tế của các cơ quan nhà nước là nhằm tạo điều kiện cho các cơ sởkinh tế hoạt động hiệu quả
Như vậy có thể thấy ngay từ Đại hội VI những yếu tố cơ bản của nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN đã được xác lập nhằm thực hiện các mục tiêu vềphát triển kinh tế và công bằng xã hộ Các yếu tố đó không chỉ quyết định cơ chếkinh tế mà còn quyết định sự thay đổi tích cực và hiệu quả cơ chế phân phốitrong suốt hơn 25 năm qua Diễn biến quá trình đổi mới cơ chế phân phối thểhiện trên các mặt sau đây:
* Cải cách giá – tiền lương và cuộc chiến chống lạm phát:
Với nghị quyết về giá - lương tiến được hội nghị BCH Trung Ương Đảnglần thứ VIII khóa V đã đề ra, Chính phủ đã thực việc đổi tiền (1 đồng mới đượcđổi 10 đồng cũ) Sau đổi tiền, thị trường giá cả có lắng dịu đôi chút nhưng chẳngbao lâu tình hình lại diễn ra như cũ và có phần phát triển theo xu hướng ngày
10 Đảng Cộng sản Việt Nam, văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, H1987, tr62