Con đường hành trì đưa đến chứng ngộ Niếtbàn được Đức Phật giới thiệu bằng nhiều phương cách khác nhau nhưng không ngoài Giới Định Huệ. Qua Nikāya, Đức Phật dạy chư Tỳkheo tại xứ Kuru ở Kammassadhamma rằng: “An trú vào Tứ niệm xứ là con đường duy nhất đưa đến thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niếtbàn”. Do vậy, nghiên cứu vấn đề “Chứng minh Tứ niệm xứ là phương pháp hành trì duy nhất đưa đến thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết bàn” có ý nghĩa sâu sắc cho chư vị phật tử trên con đường tu luyện đến Niếtbàn.
Trang 1KHOA …
TIỂU LUẬN Chủ đề: GIẢI THÍCH CÂU KỆ: “CHẲNG LÌA SINH TỬ, MÀ RIÊNG
CÓ NIẾT BÀN”( BẤT LY Ư SINH TỬ, NHI BIỆT HỮU NIẾT -BÀN)TRONG PHẨM QUÁN PHỌC GIẢI CỦA TRUNG QUÁN LUẬN
Họ tên học viên:……….
Lớp:……….,
– 2021
Trang 2MỤC LỤC
Trang
1 Giới thiệu về Phẩm Quán Phược Giải của Trung quán luận 2
3
Chẳng lìa sinh tử, mà riêng có Niết - bàn (Bất ly ư sinh tử,
4 Ý nghĩa nghiên cứu câu kệ “Chẳng lìa sinh tử, mà riêng có
Niết - bàn” (Bất ly ư sinh tử, nhi biệt hữu Niết - bàn) 10
Trang 3DẪN NHẬP
Trong Phật giáo, khái niệm giải thoát sanh tử thường được sử dụng để nói
về mục đích cuối cùng của người tu tập Phật pháp Sau thời Phật giáo nguyên thuỷ (tính từ khi Phật tại thế tới 100 năm sau khi ông mất), Phật giáo dần dần chia thành hai nhánh: Phật giáo Tiểu thừa và Phật giáo Đại thừa Hai nhánh này
có quan niệm không giống nhau về Niết bàn
Đạo Phật hướng đến giải thoát sanh tử, chứng Niết-bàn để sống tự tại trong cuộc đời mà làm lợi lạc quần sanh Khái niệm giải thoát được sử dụng phổ biến trong Phật giáo và hầu như người học Phật nào cũng trả lời tu tập là để giải thoát Tuy nhiên, giải thoát cái gì mới là vấn đề cốt yếu
Giải thoát là cởi bỏ được sự trói buộc của phiền não mà vượt thoát khỏi thế giới mê muội khổ đau; là ra khỏi sự trói buộc trong ba cõi dục, sắc, vô sắc; là dứt tuyệt nguyên nhân sinh tử luân hồi nghiệp báo; là không bị những luyến ái trói buộc cái tâm; là đạt được sự siêu thoát vượt sự trói buộc của thế giới trần tục, khỏi sự chi phối của dục vọng, sống hoàn toàn thanh thoát tự tại; là thoát khỏi ảo tưởng và khổ, thoát khỏi sự tái sinh trong luân hồi và đạt Niết-bàn
Từ quan điểm “lìa sinh tử chứng Niết bàn” (thoát khỏi sinh tử mới đạt tới Niết bàn) của Tiểu thừa tới quan điểm “Bất ly ư sinh tử, nhi biệt hữu niết bàn” của Đại thừa, Phật giáo đã có những quan niệm mới về sinh tử Sinh tử hay luân hồi cũng không có gì đáng sợ nữa, khổ đau đã trở thành cơ duyên giúp con
người vươn tới, đạt được lý tưởng cao siêu của giải thoát Do vậy, “Giải thích câu kệ: “Chẳng lìa sinh tử, mà riêng có Niết - bàn” (Bất ly ư sinh tử, nhi biệt
hữu Niết - bàn) trong phẩm Quán phọc giải của Trung quán luận” giúp chúng
ta hiểu rõ hơn về sinh tử, về niết - bàn một cách đúng đắn
Trang 4NỘI DUNG
1 Giới thiệu về Phẩm Quán Phược Giải của Trung quán luận
Dựa trên bản tiếng Phạn hiện còn tồn tại, tên tiếng Phạn của Trung luận là
Mūla-madhyamaka-kārikā, do 3 cụm từ tổ hợp thành Mūla nghĩa là “căn bản”; madhyamaka xuất phát bởi tính từ madhya (trung, trung gian), cộng thêm đuôi ma (tối cao, chí thượng), hình thành nên nghĩa “tối trung” hoặc “chí trung”; kārikā nghĩa là “tụng kệ”, “luận tụng” Do đó Mūlamadhyamakakārikā
có thể được dịch là “Căn bản trung luận tụng”
Trung luận 中中 hoặc Trung quán luận 中中中, Trung luận tụng 中中中, gọi đầy
đủ theo tên Phạn văn (mūlamadhyamakakārikā) là Căn bản trung luận tụng 中中中
中 中 , là một tác phẩm tối quan trọng của Long Thọ, người khai sáng tông phái Trung quán (mādhyamika) tại Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ II sau Công nguyên
Trung luận được kiết tập trong Đại Chính tân tu Đại tạng kinh, tập 30, kinh số 1564 (T30n1564), được Cưu-ma-la-thập dịch sang Hán vào năm 409 từ nguyên văn tiếng Phạn do Bồ tát Long Thọ trước tác, lời tựa viết cho Trung luận của Thích Tăng Duệ, và phần sớ giải của Phạm Chí Thanh Mục
Nội dung gồm 27 chương (phẩm), 446 bài tụng, mỗi bài có 4 câu năm chữ Trong 27 chương (phẩm) trên thì câu kệ: “Chẳng lìa sinh tử, mà riêng có Niết -bàn” (Bất ly ư sinh tử, nhi biệt hữu Niết - bàn) nằm trong chương (phẩm) 16
Các bản Hán dịch cũng có nhiều tên khác nhau Trong giai đoạn đầu, vào
năm 409, Cưu-ma-la-thập dịch vắn tắt là Trung luận (CBETA, T30n1564, 中中, 4
quyển, Long Thọ Bồ Tát tạo, Phạm Chí Thanh Mục thích) Sau này ngài Cát Tạng 中中 (549-623), một cao tăng của Tam luận tông, đổi lại là Trung quán luận, cũng có khi ngài gọi là Chánh quán luận trong tác phẩm nổi tiếng của ngài
là Tam luận huyền nghĩa 中中中中 (T45n1852).
Bản Hán dịch của Pháp sư Cưu-ma-la-thập gồm có phần kệ dịch của ngài
và lời bình ngắn gọn, cụ thể, bình dị bằng văn xuôi của Luật sư Thanh Mục (Vimalaksa), là vị thầy Bà-la-môn trước kia của Pháp sư Cưu-ma-la-thập,
Trang 5và được Tăng Duệ, một trong những đệ tử chính của Pháp sư, chịu trách nhiệm xuất bản đầu tiên như trong Lời Tựa của ông cho biết
Ấn Thuận pháp sư căn cứ vào truyền thống Phật giáo Tây Tạng phân các trước tác của Long Thọ thành hai loại Một là “quyết trạch thậm thâm nghĩa”, lấy phương thức lí luận thâm nhập chư pháp thật tướng, bao gồm Trung luận, Thất thập không tính luận, Lục thập như lí luận, Hồi tránh luận… Hai là
“phân biệt bồ tát quảng đại hành”, bao gồm Đại trí độ luận, Thập trụ bì bà sa luận, Bồ đề tư lương luận, Bảo hành vương chánh luận, Khuyến giới vương tụng… Do đó, Trung luận chính là một trước tác thuộc loại quyết trạch thậm thâm nghĩa
Nội dung Trung luận là làm sáng tỏ pháp Quán trung đạo cho nên còn gọi
là Trung quán luận Trung có nghĩa là rời khỏi sự điên đảo hí luận khỏi hai cực
đoan là không (vô) và có (hữu) Pháp Quán trung đạo này lấy trí tuệ tánh không làm thể, lấy sự quán chiếu nhân duyên, trung đạo, bất nhị, xa lìa vọng
chấp hữu-vô làm dụng Nguồn gốc phép quán này chính là khái niệm Chánh kiến mang nghĩa trung đạo xa lìa chấp có, chấp không mà Đức Phật đã thuyết
trong Tạp A Hàm, kinh số 301 Tán-đà Ca-chiên-diên
Kaccayanagotta) Chánh tức là trung, còn kiến tức là quán, chánh kiến tức
là trung quán [2, tr.109].
Theo quan điểm của nhà Phật, Lý trung đạo trong nhà Phật có hai tầng lớp: Một là trung đạo của hàng Nhị thừa Sau khi thành đạo, Đức Phật đi giáo hóa trong nhân gian, Ngài thường phê phán thời bấy giờ có những người tu phóng túng, hướng về ngũ dục rồi thụ hưởng, đắm trước, Phật gọi đó là hạng người đuổi theo dục lạc Lại có hạng người tu khác xoay qua khổ hạnh, hành hạ thân xác như nằm trần trụi ngoài trời hoặc ăn uống những thức ăn như trấu cám… Như vậy họ tự đày đọa thân xác khổ sở mà không tỉnh giác, Phật gọi đó
là hạnh ngu si Vì thế Đức Phật chủ trương thuyết Bát Thánh Đạo, tức là lấy Bát Thánh Đạo làm nền tảng tu hành, thoát khỏi hai bên, một bên đuổi theo tham dục và một bên hành hạ thân xác Thí dụ như về y phục, người thế gian có thể có năm hoặc mười bộ, còn trong đạo, đức Phật chỉ cho ba y chứ không được dùng
Trang 6nhiều, thế là ở giữa, không phải trần trụi, cũng không phải quá nhiều, về phần ăn uống, người thế gian ăn uống vô chừng, còn người tu khổ hạnh ăn rất ít hoặc ăn
mè, ăn bắp đói khát khổ sở Trong khi ấy đức Phật cho Tỳ kheo dùng ngọ là bữa
ăn chính, không phải nhịn ăn, cũng không phải ăn nhiều Như thế lý trung đạo trong nhà Phật được dùng trong cuộc sống từ ăn đến mặc, đến cả việc tu cũng vậy, không cho lệch bên này hoặc bên kia Trung đạo của Nhị thừa là thoát ra khỏi hai điều chấp nê đuổi theo ngũ dục và hành khổ hạnh
Hai là trung đạo theo lý Bát-nhã Theo tinh thần Bát-nhã, những sự vật ở trên thế gian này đều do nhân duyên mà có, đều do nhân duyên mà sanh, vì do nhân duyên sanh nên không có thật thể cố định Muôn pháp hiện có chỉ là giả tướng giả danh Như vậy nhìn bằng trí Bát-nhã các pháp thật có hay không? Vì duyên hợp như huyễn, nó có chỉ là giả tướng giả danh, cho nên không kẹt bên
có Vì duyên hợp như huyễn, giả tướng giả danh chớ không phải là không, cho nên không kẹt bên không Không kẹt bên có, không kẹt bên không thì chúng ta ở chỗ nào? Thấy các pháp không thật có cũng không thật không vì do nhân duyên sanh Do nhân duyên sanh nên không có thật thể cố định Đó là tướng trung đạo
Vì thế, trong quyển Trung Luận, sau này Ngài Thiên Thai Trí Giả Đại Sư có phân biệt bài kệ “Nhân duyên sanh”:
Nhân duyên sở sanh pháp
Ngã thuyết tức thị Không,
Diệc danh vi giả danh,
Diệc danh Trung đạo nghĩa
Nghĩa trung đạo của bộ Trung Luận này là chỉ lý thật đi thẳng vào Đệ nhất nghĩa đế, chớ không phải trung đạo đối đãi ở khoảng giữa, một bên theo dục lạc, một bên theo khổ hạnh Thế nên người thấy được lý thật của các pháp là người giác, là người trí tuệ, vượt khỏi mê lầm ở hai bên
2 Quan niệm về Niết-bàn
Kinh Tạp A Hàm viết: “Niết-bàn là gì, hỡi đạo hữu? Sự tận diệt tham, tận diệt sân, tận diệt si Đó, này đạo hữu, gọi là Niết-bàn” [1, tr.190]
Trang 7Niết-bàn là mục đích tu hành cứu cánh của mọi trường phái Phật giáo Trong đạo Phật Nguyên thủy, Niết-bàn được xem là đoạn Diệt Luân hồi Đó là sự tận diệt gốc rễ của ba nghiệp bất thiện là tham, sân và si Đồng thời Niết-bàn có nghĩa là không còn chịu sự tác động của nghiệp không còn chịu quy luật nhân duyên (duyên khởi), Vô vi đặc tính của nó là thiếu vắng sự sinh, thành, hoại, diệt
Niết-bàn là từ được dịch âm từ gốc tiếng Phạn nirvāṇ̣ a hoặc tiếng Pali nibbāna Nirvāti với nghĩa “thổi tắt”, “dập tắt” (một ngọn lửa) và như thế thì nirvāṇ̣ a mang nghĩa đã bị dập tắt, thổi tắt Qua đó mà thuật ngữ nirvāṇ̣ a cũng được dịch nghĩa là Diệt, Diệt tận, Diệt độ, Tịch diệt, Bất sinh,
và vì sự tịch diệt được hiểu là mục đích tối cao trong đạo Phật nên nirvāṇ̣ a cũng
được dịch ý là Giải thoát, Vô vi, An lạc
Có hai loại Niết-bàn thường được biết đến, đó là Hữu dư Niết-bàn và Vô
dư Niết-bàn Hai lọai Niết-bàn này của Phật giáo có phần tương tự với hai loại giải thoát của Vedanta là hữu thân giải thoát và vô thân giải thoát
(1) Vô dư y Niết-bàn (Anupadisesa Nibbana) Vô dư Niết-bàn (nirupadhiśeṣ̣ a-nirvāṇ̣ a): là Niết-bàn không còn ngũ uẩn (pañca-skandha), mười hai xứ (āyatana), mười tám giới (dhātu) và các Căn (indriya) Loại Niết-bàn này cũng được gọi là Bát-niết-bàn ( parinirvāṇ̣ a), là Niết-bàn toàn phần.
“Này các Tỷ kheo, thế nào gọi là Niết-bàn giới không có dư y ? Ở đây, này các Tỷ kheo, Tỷ kheo là bậc A la hán, các lậu hoặc đã tận, phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử đã diệt, đã giải thoát nhờ chánh tri Ở đây đối với vị ấy, mọi cảm thọ đều không có hoan hỉ ưa thích, sẽ được lắng dịu Này các Tỷ kheo, Đây gọi là Niết-bàn không có dư y” [6, tr.189].
Đây là trạng thái tâm thức đã gột sạch hết mọi vô minh phiền não, sự giải thoát khỏi các kiết sử tùy miên, sự đọan diệt hoàn toàn mọi tham ái, sự dập tắt tham sân si Trạng thái an tịnh tuyệt đối không còn bị bốn tướng sanh lão bệnh
tử chi phối nữa Quả Hữu dư và Vô dư còn được giải thích, từ sơ quả đến tam
Trang 8quả Bất hoàn được gọi là Hữu dư, quả A la hán thứ tư được gọi là Vô dư Trong các kinh điển Nguyên thủy, rất nhiều đoạn Kinh Đức Phật hay dùng phương pháp phủ định để hiển thị Niết-bàn
(2) Hữu dư y Niết-bàn (Sopadisesa Nibbana) Là cảnh giới thoát khỏi
vòng luân hồi nhưng nhục thể vẫn còn hiện hữu, đó là trạng thái diệt hết mọi phiền não, cắt đứt mười kiết sử; tham, sân, si được đoạn trừ nhưng còn thân của nghiệp báo dư thừa Hành giả ngay nơi thân này mà đạt đến Hữu dư Niết-bàn
Trong kinh Itivuttaka, Đức Phật dạy: “Này các Tỷ kheo, thế nào là Niết-bàn giới có dư y ? Ở đây này các Tỷ kheo, Tỷ kheo là Bậc Alahán, các lậu hoặc
đã tận, phạm hạnh đã thành, đã giải thoát nhờ chánh trí Trong vị ấy năm căn còn tồn tại, ngang qua năm căn ấy, vị ấy hưởng thọ khả ý, không khả ý, vì rằng
tự ngã không có thương hại cảm giác lạc khổ Với vị ấy, tham diệt, sân diệt, si diệt Này các Tỷ kheo, đây gọi là Niết-bàn có dư y” [3, tr.90]
Như vậy Hữu dư y Niết-bàn là trạng thái hành giả đã thực chứng vạn pháp, diệt mọi phiền não nhiễm ô nhưng vẫn còn thân ngũ uẫn, vì còn thân ngũ uẫn nên vẫn còn những giới hạn của thân thể Ví như Đức Phật, ngài đã đạt đến Niết-bàn tịch tĩnh nhưng khi ăn phải nấm độc của Cunda cúng dường vẫn bị kiết
lỵ như những người bình thường khác Từ quan điểm Hữu dư Niết-bàn này của
Nguyên thủy mà phát sinh khái niệm Niết-bàn vô trụ (sa apratiṣ̣ṭ̣ hita-nirvāṇ̣ a)
của Đại thừa về sau
Niết-bàn là nguyên lý siêu thế, vượt ra ngoài phạm trù của ngôn ngữ, suy tính, trắc nghiệm, đo lường Do đó Đức Phật đã dùng hình thức phủ định để nói đến Niết-bàn, nhằm đánh đổ mọi ý niệm kẹt chấp, dính mắc vào những gì có thể của chúng sanh Và không thể dùng ngôn từ khẳng định để diễn tả Niết-bàn, vì trong lời nói khẳng định đó hàm chứa một ngã tướng “làm sao có thể đi vào Niết-bàn bằng ngôn ngữ của cây khô” Có thể nói rằng ngôn từ, khái niệm trở nên bất lực trước cái gọi là Niết-bàn
Trang 93 Chẳng lìa sinh tử, mà riêng có Niết - bàn (Bất ly ư sinh tử, nhi biệt hữu Niết - bàn)
Niết bàn và luân hồi chỉ là một nhưng nhìn trong vô minh thì là luân hồi, nhìn khi giác ngộ là Niết bàn, giống như nhìn sợi dây thừng trong bóng tối là con rắn nhưng nhìn trong ánh đèn thì chỉ là sợi dây thừng, không còn đáng sợ nữa Vì vậy, phải chấp nhận sống trong luân hồi thì mới chi phối được nghiệp báo luân hồi Trong Đại thừa, phái Duy thức bổ sung thêm hai loại Niết bàn nữa,
là Tự tính thanh tịnh Niết bàn và Bất trụ Niết bàn Thực chất, đó cũng chỉ là những dạng thức mới của Hữu dư Niết bàn Tự tính thanh tịnh Niết bàn chính là bản tính thanh tịnh vốn có ở cái tâm của mỗi người mà khi đạt tới đó, con người được giải thoát
Còn Bất trụ Niết bàn là khái niệm nói về trạng thái của những con người sống ngay trong thế giới hiện thực, tồn tại trong luân hồi nhưng vẫn tự do tự tại, làm chủ bản thân mình; đồng thời, tích cực hoạt động cứu giúp những người khác cùng được giải thoát như mình Họ sống giữa cõi đời với cái tâm “vô sở đắc” (tâm không cầu được) với khát vọng giúp cho mọi người cùng được giải thoát khỏi khổ đau như mình Cuộc đời của Phật Thích Ca là cuộc đời của một con người “Bất trụ Niết bàn” vì ông đã đạt tới Hữu dư Niết bàn từ năm 35 tuổi nhưng không dừng lại mà quay về với cuộc sống trần tục, tích cực hoạt động truyền giáo trong 45 năm cho lý tưởng cứu độ chúng sinh 45 năm đó là 45 năm Bất trụ Niết bàn của người đã đặt chân tới [5, tr.115]
Theo Trung Quán Luận, để tới được Niết bàn, con người, một mặt, phải giác ngộ được lẽ vô thường; mặt khác, phải đạt được tự do tinh thần, không bị ngoại cảnh chi phối, khi nào thoát khỏi chấp ngã (mắc vào cái tôi cá nhân), khi
đó con người đạt tới Niết bàn Con đường tu đó không bao giờ chấm dứt, nên Đại thừa thường có câu: “Tu đến thành Phật cũng không thôi” Hay cũng có thể nói rằng, đó là con đường vĩnh viễn luân hồi, vĩnh viễn giải thoát Sự khác nhau trong quan niệm về Niết bàn của Tiểu thừa và Đại thừa quy định hai lối tu khác nhau Với Vô dư Niết bàn, Tiểu thừa thực hành lối tu xuất thế, lánh đời Với
Trang 10Hữu dư Niết bàn, Đại thừa thực hành lối tu nhập thế, sống hoà cùng đời tục nhưng vươn lên giữa cuộc đời
Trung quán luận cho rằng Duyên khởi là vô vi, vì Duyên khởi là: “Phật xuất thế hoặc chẳng xuất thế thì pháp tánh, pháp trụ, pháp giới vẫn thường trụ”
Họ cho rằng Duyên khởi thường trụ, chẳng sanh chẳng diệt mà nhìn Duyên khởi
từ lý tánh xa lìa sự tướng Điều này không giống với Đại thừa, trong Bát nhã Đăng luận ngài Thanh Biện cũng từng nói đến Theo các nhà Trung Quán, Duyên khởi bất sanh bất diệt là nói Duyên khởi tức bất sanh bất diệt, tánh tịch diệt của Duyên khởi này là trung đạo Đức Phật giác ngộ được Duyên khởi mà thành đạo, chính là chỗ này; Thanh văn chứng nhập vô vi vô sanh cũng chỗ này Duyên khởi bất sanh bất diệt này chính là nghĩa sâu xa căn bản của Phật pháp, là
sở chứng chung của hàng Tam thừa Nhưng trong quá trình triển khai giáo nghĩa của Phật giáo thì Duyên khởi này trở thành nghĩa sâu xa mà các học giả Đại thừa đặc biệt phát huy Về hình thức nó đã trở thành giáo học riêng biệt của Đại thừa Một số học giả Thanh văn cho Duyên khởi là nghĩa vô thường sinh diệt Kinh Duy-ma quyển thượng ghi : “Bất sanh bất diệt là nghĩa vô thường” Điều này tựa hồ như mâu thuẫn và đã trở thành điểm tranh luận giữa Đại thừa và Thanh văn Nhưng căn cứ theo giáo nghĩa của đức Thích Tôn thì sanh diệt và bất sanh bất diệt xưa nay vẫn một
Khi nói “Chẳng lìa sinh tử, mà riêng có Niết - bàn” thì kinh A-hàm muốn
chỉ vào Niết-bàn, vô vi Niết-bàn nhất định chẳng phải chết, cũng chẳng phải sau khi chết mới đạt được Niết-bàn, ngài Huyền Tráng dịch là viên tịch, từ này trong tiếng Phạn bao hàm nghĩa phủ định, diệt tắt, an lạc tự tại Niết-bàn được Phật nói đến là chỉ cho cảnh giới đã vượt ra khỏi những hỗn loạn, phiền muộn, trói buộc để đạt đến an ổn, bình đẳng, tự tại giải thoát Đạt tới cảnh giới này là hoàn thành chánh giác của Phật giáo, tức thoát khỏi ngu si là nguồn gốc sanh tử,
mà đạt đến trí huệ là gốc giải thoát Niết-bàn còn gọi là vô vi, vô sanh (vô trụ, vô diệt) Vì đức Phật gọi tất cả các phápthế gian là hữu vi, do hoặc nghiệp chiêu cảm thành