Con đường hành trì đưa đến chứng ngộ Niếtbàn được Đức Phật giới thiệu bằng nhiều phương cách khác nhau nhưng không ngoài Giới Định Huệ. Qua Nikāya, Đức Phật dạy chư Tỳkheo tại xứ Kuru ở Kammassadhamma rằng: “An trú vào Tứ niệm xứ là con đường duy nhất đưa đến thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niếtbàn”. Do vậy, nghiên cứu vấn đề “Chứng minh Tứ niệm xứ là phương pháp hành trì duy nhất đưa đến thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết bàn” có ý nghĩa sâu sắc cho chư vị phật tử trên con đường tu luyện đến Niếtbàn.
Trang 1KHOA …
TIỂU LUẬN Chủ đề: CHỨNG MINH TỨ NIỆM XỨ LÀ PHƯƠNG PHÁP HÀNH TRÌ DUY NHẤT ĐƯA ĐẾN THÀNH TỰU CHÁNH TRÍ, CHỨNG
NGỘ NIẾT-BÀN
Họ tên học viên:……….
Lớp:……….,
– 2021
Trang 2MỤC LỤC
Trang
4 Tứ niệm xứ là phương pháp hành trì duy nhất đưa đến
5
Tại sao Tứ niệm xứ là phương pháp hành trì duy nhất đưa đến thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết bàn chứ không phải con
Trang 3MỞ ĐẦU
Có thể nói rằng Phật giáo không giống như những tôn giáo khác chỉ làm thõa mãn tri thức của con người, vì rằng ngôn từ khái niệm chỉ làm cho con người lẩn quẩn trong vòng chữ nghĩa, của tri thức thường nghiệm Phật giáo cần một sự thể nhập bằng tự tâm mới có thể đạt đến Niết-bàn Vì Niết-bàn là trạng thái vắng lặng, đoạn trừ phiền não nhiễm ô, vượt ra khỏi những giới hạn tầm thường của ngôn ngữ
Để tạo cho mình một cái nhìn chân chánh đòi hỏi chúng ta phải đào luyện trí tuệ sắc bắn bằng cách năng thân cận bậc thiện trí thức, gần gũi bạn lành có tư tưởng chánh kiến Thích học và tìm hiểu chơn lý, chịu nghe những lời giảng giải của bậc thiện trí thức và luôn luôn tìm hiểu, suy sét cho thật kỹ rồi mới tin Nghĩa là tin về nhân làm phước quả của phước thí Tin về Nhân quả, thiện ác Tin về hiện tại và vị lai Tin có bậc tu tiến chứng đắc Đạo Quả theo lời Phật dạy
để áp dụng Tứ Niệm Xứ vào sự hành trì Giới - Định - Huệ và thành tựu Đạo quả giải thoát Niết Bàn
Con đường hành trì đưa đến chứng ngộ Niết-bàn được Đức Phật giới thiệu bằng nhiều phương cách khác nhau nhưng không ngoài Giới Định -Huệ Qua Nikāya, Đức Phật dạy chư Tỳ-kheo tại xứ Kuru ở Kammassa-dhamma rằng: “An trú vào Tứ niệm xứ là con đường duy nhất đưa đến thành
tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn” Do vậy, nghiên cứu vấn đề “Chứng minh
Tứ niệm xứ là phương pháp hành trì duy nhất đưa đến thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết bàn” có ý nghĩa sâu sắc cho chư vị phật tử trên con đường tu
luyện đến Niết-bàn
Trang 4NỘI DUNG
1 Giới thiệu về Kinh Trường bộ
Trường bộ Kinh (P Dīgha Nikāya, C 長 長 長 ) là bộ đầu trong năm bộ Kinh Pali của Phật giáo Thượng tọa bộ (Therāvāda); là tuyển tập 34 bài Kinh dài (The Long Discourses) trong Kinh tạng Pali (Sutta piṭ̣aka), tương ứng với 30 bài Kinh Trường A-hàm (S Dīrgha Āgama, C 長 長 長 長 ) Khái niệm “trường” (dīgha, 長) có nghĩa đen là “dài” về số lượng chữ của từng bài kinh trong bộ này Trên thực tế, Trường bộ Kinh là tuyển tập kinh Pali có số trang ít nhất trong
5 bộ kinh Pali (Pāḷ̣i Nikāya)
Kinh Trường bộ được chia thành 3 phẩm (vagga): (i) Phẩm giới uẩn (Sīlakkhandha Vagga Pāli, 長長長 ) gồm 13 bài kinh nói về đạo đức (Sīla) chuẩn mực và thanh cao, (ii) Đại phẩm (Mahā Vagga Pāli, 長 長 ) gồm 10 bài kinh nói
về cuộc đời đức Phật và một số giáo pháp căn bản, (iii) Phẩm Ba-lê (Pathika Vagga Pāli, 長長長) gồm 11 bài kinh giới thiệu về vũ trụ luận, cách tu của ngoại đạo, trách nhiệm gia đình, xã hội và tâm linh
Trường bộ Kinh tường thuật về các đối thoại liên tôn giáo và triết học giữa đức Phật với các đạo sĩ Sa-môn và Bà-la-môn đương thời, thông qua
đó, giúp ta hình dung được các phong trào tôn giáo và triết học thời Phật; đồng thời, cho thấy triết học thực tiễn của đức Phật vượt lên trên các tôn giáo hữu thần và vô thần thời đức Phật
Trường bộ Kinh nhiều hơn 4 bài kinh so với bộ Kinh trường A-hàm trong văn học Hán tạng của phái Dharmaguptaka, vốn là bộ đầu tiên trong Đại Chánh tân tu Đại Tạng Kinh (長長長長長長長, Taishō edition) Có 6 bài kinh trong Trường bộ kinh không có kinh tương ứng trong Trường A-hàm gồm: Kinh số 06 Kinh Ma-ha-lê (Mahāli Sutta, 長 長 長 長 ), kinh số 07 Kinh Xà-lợi
(Jāliya Sutta, 長 長 長 ), kinh số 10 Kinh Tu-bà (Subha Sutta, 長 長 長 ), kinh số
22 Kinh đại niệm xứ (Mahā-Satipatthāna Sutta, 長 長 長 長 ), kinh số 30 Kinh tướng (Lakkhaṇ̣a Sutta, 長 長 ) và kinh số 32 Kinh A-tra-nang-chi (Āṭ̣ānāṭ̣iya Sutta, 長長長長長) [1, tr.190]
Trang 52 Quan niệm về Niết-bàn
Kinh Tạp A Hàm viết: “Niết-bàn là gì, hỡi đạo hữu? Sự tận diệt tham, tận diệt sân, tận diệt si Đó, này đạo hữu, gọi là Niết-bàn”.
Niết-bàn là mục đích tu hành cứu cánh của mọi trường phái Phật giáo Trong đạo Phật Nguyên thủy, Niết-bàn được xem là đoạn Diệt Luân hồi Đó là sự tận diệt gốc rễ của ba nghiệp bất thiện là tham, sân và si Đồng thời Niết-bàn có nghĩa là không còn chịu sự tác động của nghiệp không còn chịu quy luật nhân duyên (duyên khởi), Vô vi đặc tính của nó là thiếu vắng sự sinh, thành, hoại, diệt
Niết-bàn là từ được dịch âm từ gốc tiếng Phạn nirvāṇ̣ a hoặc tiếng Pali nibbāna Nirvāti với nghĩa “thổi tắt”, “dập tắt” (một ngọn lửa) và như thế thì nirvāṇ̣ a mang nghĩa đã bị dập tắt, thổi tắt Qua đó mà thuật ngữ nirvāṇ̣ a cũng được dịch nghĩa là Diệt, Diệt tận, Diệt độ, Tịch diệt, Bất sinh,
và vì sự tịch diệt được hiểu là mục đích tối cao trong đạo Phật nên nirvāṇ̣ a cũng
được dịch ý là Giải thoát, Vô vi, An lạc
Có hai loại Niết-bàn thường được biết đến, đó là Hữu dư Niết-bàn và Vô
dư Niết-bàn Hai lọai Niết-bàn này của Phật giáo có phần tương tự với hai loại giải thoát của Vedanta là hữu thân giải thoát và vô thân giải thoát
Niết-bàn là trạng thái hành giả đã thực chứng vạn pháp, diệt mọi phiền não nhiễm ô nhưng vẫn còn thân ngũ uẫn, vì còn thân ngũ uẫn nên vẫn còn những giới hạn của thân thể Ví như Đức Phật, ngài đã đạt đến Niết-bàn tịch tĩnh nhưng khi ăn phải nấm độc của Cunda cúng dường vẫn bị kiết lỵ như những người bình thường khác Từ quan điểm Hữu dư Niết-bàn này của Nguyên thủy
mà phát sinh khái niệm Niết-bàn vô trụ (sa apratiṣ̣ṭ̣ hita-nirvāṇ̣ a) của Đại thừa
về sau
Niết-bàn là nguyên lý siêu thế, vượt ra ngoài phạm trù của ngôn ngữ, suy tính, trắc nghiệm, đo lường Do đó Đức Phật đã dùng hình thức phủ định để nói đến Niết-bàn, nhằm đánh đổ mọi ý niệm kẹt chấp, dính mắc vào những gì có thể của chúng sanh Và không thể dùng ngôn từ khẳng định để diễn tả Niết-bàn, vì
Trang 6trong lời nói khẳng định đó hàm chứa một ngã tướng “làm sao có thể đi vào Niết-bàn bằng ngôn ngữ của cây khô” Có thể nói rằng ngôn từ, khái niệm trở nên bất lực trước cái gọi là Niết-bàn
3 Quan niệm về Tứ Niệm xứ
Kinh Niệm Xứ, thường được gọi là Kinh Tứ Niệm Xứ, là một trong những kinh trọng yếu nhất mà Ðức Phật đã thuyết giảng hơn 2500 năm về trước
để rèn luyện, uốn nắn, làm cho quân bình và thanh lọc thân tâm
Tứ Niệm Xứ là một pháp hành Thiền do từ Kinh Niệm Xứ (Satipatthàna Sutta) là một Kinh rất quan trọng trong Phật giáo Nam Tông Còn Bát Nhã Tâm Kinh là một bài Kinh ngắn thường được tụng trong tất cả các thời Kinh trong Phật giáo Ðại Thừa Việt Nam Hai Kinh này ý nghĩa có xung khắc nhau không?
Tứ niệm xứ là bốn phép quán sát cơ bản về sự tỉnh giác Phương pháp
thiền quán của Phật giáo nguyên thuỷ gồm quán Thân (sa., pi kāya), quán Thọ (sa., pi vedanā), quán Tâm (sa., pi citta) và các Pháp (tức là những ý nghĩ, khái
niệm, gom lại là tâm pháp) Đây là một trong những phương pháp quan trọng
mà Đức Phật đã nhấn mạnh, được thể hiện rất rõ qua Kinh Trường bộ, Kinh Trung bộ và Kinh Tương ứng bộ
Pháp Niệm Xứ được thiết lập trên sự áp đặt tâm niệm (Satipatthàna)
“Sati” là niệm, “patthàna” là một hình thức rút ngắn của chữ Upatthàna có nghĩa
là để gần lại tâm của mình Mở đầu bài Kinh có chỉ dẫn rõ ràng: “Sau đây là những lời mà tôi đã được nghe Ðức Thế Tôn dạy, hồi Ngài còn đang cư ngụ ở Kammassadhamma, một khu phố của giống dân Kuru Một hôm Ðức Thế Tôn gọi chư Tăng: “Này các Tỳ Kheo” Chư Tăng đáp: “Thưa Ðức Thế Tôn, có chúng con đây” Phật nói: “Này quý vị, đây ta chỉ cho quý vị con đường duy nhất (ekàyano maggo) để có thể gạn lọc bản thân, vượt thoát mọi phiền não, tiêu diệt ưu khổ, đạt tới chánh đạo và chứng ngộ Niết Bàn: Ðó là Pháp Niệm Xứ” Pháp Niệm Xứ có bốn phần, đó là tinh chuyên chú niệm vào:
1/ Thân (Kàyànupassanà) Niệm thân
2/ Thọ hay cảm giác (Vedanànupassanà) Niệm Thọ
Trang 73/ Tâm (Cittànupassanà) Niệm Tâm.
4/ Pháp (Dhammànupassanà) là những đối tượng của Tâm Niệm Pháp [3, tr.247]
Pháp Tứ Niệm Xứ phải được thực hành một cách khách quan, có nghĩa là hành giả chỉ quán sát suông mà không nên dính mắc vào đề mục, không thấy mình liên hệ với đề mục Khi ấy hành giả mới có thể nhìn thấy thực tướng của
sự vật, thấy sự vật đúng như chúng là (yathàbhutan), chớ không phải thấy phớt bên ngoài, thấy hình như sự vật là như vậy
Tứ Niệm Xứ phải được xem như là một phương pháp hành thiền, chứ không phải một lý thuyết suông Trong Phật giáo Ðại Thừa, 37 phẩm Trợ đạo thường không được khai thác triệt để đúng với danh từ của nó, mà chỉ được xem như những lý thuyết cần để biết thôi
Qua sự tóm tắt trên, ta thấy Tứ Niệm Xứ bị lý thuyết hóa một cách chủ quan và cùng lúc tạo cho độc giả một thành kiến sai lầm về Tứ Niệm Xứ Như quý vị đã xem qua ở phần trước là Tứ Niệm Xứ phải được áp dụng một cách khách quan
4 Tứ niệm xứ là phương pháp hành trì duy nhất đưa đến thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn
Ðạo Phật là đạo từ bi và trí tuệ, là thuyền bát nhã cứu vớt những sanh linh đang đắm chìm trong sông mê bể khổ, đang trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi Ðạo Phật cũng là đạo bình đẳng và tự giác cho tất cả những ai muốn tìm đến con đường hướng thượng của sự giải thoát và giác ngộ Kinh Pháp Cú có
câu: “Người thấm nhuần giáo pháp sống hạnh phúc với tâm an lạc Hàng trí tuệ luôn luôn hoan hỷ trong giáo pháp mà các bậc thánh nhơn đã tìm ra”.
Ngược dòng thời gian để nhìn lại quá khứ, Thái tử Tất-đạt-đa thấy cuộc đời là bể khổ, chúng sanh đang trôi lăn trong vòng sanh sanh, tử tử với cảnh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu não, đang diễn bày trước mắt, do vậy Ngài đã từ bỏ ngai vàng, điện ngọc, vợ đẹp, con xinh để đi tìm một công án cho chính mình đó là- giải thoát cho tất cả chúng sinh khỏi vòng luân hồi sanh tử Ngài đã từ giã
Trang 8hoàng cung vào một đêm trăng thanh khi sao mai vừa mới mọc cùng con kiền trắc và Sa-nặc vượt dòng sông A-nô-ma để đi tìm chân lý
Ðầu tiên Ngài đến học đạo với hai đạo sĩ tên là Alara Kalama và Adduka Ramaputta và đã chứng được hai trạng thái thiền Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nhưng Ngài nghĩ rằng hai quả vị này chưa phải là những quả vị tối thượng như Ngài mong muốn Rồi Ngài từ giã hai vị này để đi tìm chân lý cho công án của chính mình Trải qua sáu năm trường tu khổ hạnh, nhưng Ngài vẫn không đạt được kết quả gì
Sau đó Ngài từ bỏ lối tu khổ hạnh này, trở về với con đường trung đạo Ngài đến Bodhgaya ngồi nhập định dưới cội Bồ-đề và phát nguyện rằng: “Nếu
ta không thành đạo thì dù thịt nát xương tan ta cũng quyết không đứng dậy khỏi chỗ này” Trong 49 ngày đêm ngồi tham thiền nhập định, Ngài đã chiến đấu với giặc phiền não ở nội tâm như tham, sân, si, mạn nghi và chiến đấu với giặc Thiên ma do Ma vương ba tuần chỉ huy Sau khi thắng được giặc ở nội tâm và ngoại cảnh, tâm trí được khai thông, Ngài hốt nhiên đại ngộ, chứng được quả vô thượng chánh đẳng chánh giác và trở thành Ðức Phật Thích-ca-mâu-ni
Ðạo Phật là đạo từ bi và trí tuệ, là thuyền bát nhã cứu vớt những sanh linh đang đắm chìm trong sông mê bể khổ, đang trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi Ðạo Phật cũng là đạo bình đẳng và tự giác cho tất cả những ai muốn tìm đến con
đường hướng thượng của sự giải thoát và giác ngộ Kinh Pháp Cú có câu: Người thấm nhuần giáo pháp sống hạnh phúc với tâm an lạc Hàng trí tuệ luôn luôn hoan hỷ trong giáo pháp mà các bậc thánh nhơn đã tìm ra.
Ðức Phật vì một đại nguyện lớn lao, vì một lòng từ bi vô bờ bến mà xuất gia tìm đạo Ðại nguyện và lòng từ bi rộng lớn ấy là: Cầu thành Phật quả để trên đền đáp bốn ơn sâu, dưới cứu vớt ba đường khổ Do vậy sau khi giác ngộ Ngài không nhập Niết-bàn ngay, mà liền nghĩ đến việc giáo hoá chúng sanh
Tất cả chúng sanh không phân biệt đẳng cấp, chủng tộc, sang hèn, nếu thực hành theo giáo lý của Ngài ắt sẽ được an vui, giải thoát, tịch tịnh Sự giải thoát theo đạo Phật không ở đâu xa, mà ngay trong cuộc sống hiện tại này Con đường giải thoát mà Ngài đã dạy cho chúng ta qua kinh điển Nikàya, đó là Giới,
Trang 9Định và Huệ Kinh Tứ Niệm Xứ dạy rằng:“Này các tỳ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ niết bàn, đó là bốn niệm xứ” [5, tr.310].
Bốn niệm xứ đó là: quán thân trên thân; quán thọ trên các thọ; quán tâm trên tâm và quán pháp trên các pháp.
Tứ niệm xứ là pháp môn Chỉ-Quán hay Ðịnh-Tuệ song tu Nhưng trước khi đi vào thực tập chỉ quán song tu Ngài dạy chúng ta phải giữ gìn giới luật, có trì giữ giới luật thì thân tâm mới trong sạch, nhẹ nhàng để bước vào hành thiền đạt nhiều kết quả tốt đẹp
Giới luật như hàng rào ngăn chặn không cho ngoại ma xâm nhập vào, giữ gìn nội tâm yên tịnh, để đi vào định một cách dễ dàng, do vậy Ðức Phật luôn dạy đệ tử của Ngài phải hành trì giới luật trước khi hành thiền Ðiều này được
đức Phật nói rõ trong bài Ðại Kinh Xóm Ngựa sau đây: Phải biết tàm quí trong
khi nhận của cúng dường/Thân hành, khẩu hành, ý hành, sanh mạng phải được thanh tịnh, minh chánh/Phải hộ trì các căn/Phải tiết độ trong ăn uống/Phải chú tâm cảnh giác [6, tr.100].
Sau khi trì giới làm cho thân thanh tịnh, chúng ta lựa một chỗ thanh vắng như thiền đường, gốc cây, khu rừng, hay bất cứ nơi nào thuận tiện và thoải mái cho việc hành thiền, rồi chúng ta ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt, rồi thực hành phương pháp niệm hơi thở vô, hơi thở ra (Anàpànasati)
Trong Kinh Một Pháp, Ðức Phật dạy phương pháp niệm hơi thở vô, hơi thở ra
với 16 đề mục: bốn đề mục về thân; bốn đề mục về thọ; bốn đề mục về tâm và bốn đệ mục về pháp
Pháp môn này thuộc về pháp môn Tứ Niệm Xứ (cattàro-satipatthàna), tức
là pháp môn đề cập đến bốn chỗ (xứ) để an trú niệm tức là thân, thọ, tâm và pháp Pháp môn Anàpànasati này đề cập đến 16 đề tài về thân, bốn đề tài về thọ, bốn đề tài về tâm, và bốn đề tài về pháp Người hành thiền vừa thở vô, vừa thở
ra, vừa suy tư quán tưởng trên 16 đề tài liên hệ đến hơi thở
Pháp môn này cho cả thiền định và trí tuệ, gồm chỉ (samatha) và quán (vipasana) Cả hai chỉ quán đều song tu trong pháp môn này Khi dùng tầm tứ
Trang 10cột tâm trên hơi thở vô hơi thở ra, như vậy là chỉ, như vậy là định Khi lấy trí tuệ quán sát 16 đề tài được lựa chọn, như vậy là quán, như vậy là tuệ
Tu tập thiền chỉ thì có thể chứng được từ sơ thiền đến tứ thiền, rồi từ không vô biên xứ đến phi tưởng phi phi tưởng xứ Sau đó dùng thiền quán để chứng được diệt thọ tưởng định Hoặc có thể từ tứ thiền rồi chuyển qua thiền quán để hướng tâm đến túc mạng trí, sanh tử trí, và lậu tận trí Khi hướng tâm
đến lậu tận trí vị ấy biết như thật: “Đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây
là con đường đưa đến khổ diệt, đây là những lậu hoặc, đây là nguyên nhân của lậu hoặc, đây là các lậu hoặc diệt, đây là con đường đưa đến các lậu hoặc diệt Nhờ vậy vị ấy thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu… vị ấy biết sanh đã tận phạm hạnh đã thành việc cần làm đã làm; không có trở lui đời sống này nữa”
Vì thế cho nên thiền quán đóng một vai trò rất quan trọng trong tiến trình đưa đến giải thoát
Nhìn vào cuộc sống sau khi thành đạo của đức Từ phụ chúng ta thấy, nếp sống hằng ngày của Ngài có hai việc chính là thuyết pháp và hành thiền Ngài là
vị chánh đẳng chánh giác, là bậc được thế nhân tôn sùng, kính lễ, nhưng Ngài vẫn hành thiền mỗi ngày, đó là vì Ngài muốn làm gương để sách tấn chư đệ tử của Ngài phải luôn tinh tấn hành thiền Chúng ta thường gặp hai lời khuyên của
Ðức Phật cho các tỳ-kheo xuất gia: “Này các tỳ-kheo, khi các người hội họp lại thường có hai việc phải làm: một là đàm luận về phật pháp, hai là giữ im lặng của bậc thánh” Sự im lặng của bậc thánh ở đây là hành thiền.
Lời dạy thứ hai là lời khuyên hành thiền của Ðức Phật: “Này các tỳ-kheo, đây là gốc cây, đây là những căn nhà trống, này các tỳ-kheo, hãy tu thiền, chớ có phóng dật, chớ có sanh lòng hối hận về sau Ðây là lời giáo huấn của Ta cho các ngươi” Và khi sắp nhập Niết-bàn, Ðức Phật nhắc đi nhắc lại nếp sống của một tỳ-kheo tối thắng là tu thiền định, thiền quán “Này Anada, ở đời, vị tỷ kheo, đối với thân quán thân, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời, đối với các cảm thọ … đối với tâm … đối với các pháp, quán pháp, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời Này, Anada, như vậy vị tỳ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính