Chúng ta là những con người đang sống trong vô mình, màn vô minh đã che phủ dày khiến sự hiểu biết của chúng ta rất mù mờ, không rõ ràng. Hằng ngày chung sống với nhau thường có những hành động vô tình đã làm khổ người, khổ mình và khổ tất cả chúng sanh. Nên đức Phật ngài đưa ra bốn chân lý để cho chúng ta xác định được chánh pháp và tà pháp, đâu là nhân quả. Chúng ta biết tại sao Ngài lại nhắc đi nhắc lại nhiều lần vì Ngài muốn cho chúng ta biết được tầm quan trọng của nó cốt cũng để chúng ta không thể lầm lạc đường đi và nó rất quan trọng trong sự tu học của chúng ta. Nếu giáo Pháp nào mà không có bốn chân lý “Khổ, Tập, Diệt, Đạo” thì chúng ta không nên tin vì nó không phải là pháp môn cứu cánh giải thoát khổ đau, và nó cũng là con đường duy nhất của chư thiên là loài người.
Trang 1KHOA …
TIỂU LUẬN Chủ đề: CHỨNG MINH TỨ NIỆM XỨ LÀ PHƯƠNG PHÁP HÀNH TRÌ DUY NHẤT ĐƯA ĐẾN THÀNH TỰU CHÁNH TRÍ, CHỨNG
NGỘ NIẾT-BÀN
Họ tên học viên:……….
Lớp:……….,
– 2021
Trang 2MỤC LỤC
Trang
4 Chứng minh Tứ niệm xứ là phương pháp hành trì duy nhất
đưa đến thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn 8
Trang 3MỞ ĐẦU
Có thể nói rằng Phật giáo không giống như những tôn giáo khác chỉ làm thõa mãn tri thức của con người, vì rằng ngôn từ khái niệm chỉ làm cho con người lẩn quẩn trong vòng chữ nghĩa, của tri thức thường nghiệm Phật giáo cần một sự thể nhập bằng tự tâm mới có thể đạt đến Niết-bàn Vì Niết-bàn là trạng thái vắng lặng, đoạn trừ phiền não nhiễm ô, vượt ra khỏi những giới hạn tầm thường của ngôn ngữ
Chúng ta là những con người đang sống trong vô mình, màn vô minh đã che phủ dày khiến sự hiểu biết của chúng ta rất mù mờ, không rõ ràng Hằng ngày chung sống với nhau thường có những hành động vô tình đã làm khổ người, khổ mình và khổ tất cả chúng sanh Nên đức Phật ngài đưa ra bốn chân lý
để cho chúng ta xác định được chánh pháp và tà pháp, đâu là nhân quả Chúng ta biết tại sao Ngài lại nhắc đi nhắc lại nhiều lần vì Ngài muốn cho chúng ta biết được tầm quan trọng của nó cốt cũng để chúng ta không thể lầm lạc đường đi và
nó rất quan trọng trong sự tu học của chúng ta Nếu giáo Pháp nào mà không có bốn chân lý “Khổ, Tập, Diệt, Đạo” thì chúng ta không nên tin vì nó không phải
là pháp môn cứu cánh giải thoát khổ đau, và nó cũng là con đường duy nhất của chư thiên là loài người
Con đường hành trì đưa đến chứng ngộ Niết-bàn được Đức Phật giới thiệu bằng nhiều phương cách khác nhau nhưng không ngoài Giới Định -Huệ Qua Nikāya, Đức Phật dạy chư Tỳ-kheo tại xứ Kuru ở Kammassa-dhamma rằng: “An trú vào Tứ niệm xứ là con đường duy nhất đưa đến thành
tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn” Do vậy, nghiên cứu vấn đề “Chứng minh
Tứ niệm xứ là phương pháp hành trì duy nhất đưa đến thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết bàn” có ý nghĩa sâu sắc cho chư vị phật tử trên con đường tu
luyện đến Niết-bàn
Trang 4NỘI DUNG
1 Kinh Trường bộ
Trường bộ Kinh (P Dīgha Nikāya, C 長 長 長 ) là bộ đầu trong năm bộ Kinh Pali của Phật giáo Thượng tọa bộ (Therāvāda); là tuyển tập 34 bài Kinh dài (The Long Discourses) trong Kinh tạng Pali (Sutta piṭ̣aka), tương ứng với 30 bài Kinh Trường A-hàm (S Dīrgha Āgama, C 長 長 長 長 ) Khái niệm “trường” (dīgha, 長) có nghĩa đen là “dài” về số lượng chữ của từng bài kinh trong bộ này Trên thực tế, Trường bộ Kinh là tuyển tập kinh Pali có số trang ít nhất trong
5 bộ kinh Pali (Pāḷ̣i Nikāya)
Về số lượng, Trường bộ Kinh nhiều hơn 4 bài kinh so với bộ Kinh trường A-hàm trong văn học Hán tạng của phái Dharmaguptaka, vốn là bộ đầu tiên trong Đại Chánh tân tu Đại Tạng Kinh (長長長長長長長, Taishō edition) Có 6 bài kinh trong Trường bộ kinh không có kinh tương ứng trong Trường A-hàm gồm: Kinh số 06 Kinh Ma-ha-lê (Mahāli Sutta, 長 長 長 長 ), kinh số 07 Kinh Xà-lợi
(Jāliya Sutta, 長 長 長 ), kinh số 10 Kinh Tu-bà (Subha Sutta, 長 長 長 ), kinh số
22 Kinh đại niệm xứ (Mahā-Satipatthāna Sutta, 長 長 長 長 ), kinh số 30 Kinh tướng (Lakkhaṇ̣a Sutta, 長 長 ) và kinh số 32 Kinh A-tra-nang-chi (Āṭ̣ānāṭ̣iya Sutta, 長長長長長)
Kinh Trường bộ Kinh và Kinh Trường A-hàm có một số điểm dị biệt về thứ tự các bài kinh, cách đặt tựa đề kinh, các khái niệm và nội dung từng bài kinh Các bài kinh có nội dung trùng lặp trong Kinh Trường bộ như các kinh số
6, 7, 10, 22 được tỉnh lược trong Kinh Trường A-hàm
Về nội dung, Trường bộ Kinh tường thuật về các đối thoại liên tôn giáo và triết học giữa đức Phật với các đạo sĩ Sa-môn và Bà-la-môn đương thời, thông qua đó, giúp ta hình dung được các phong trào tôn giáo và triết học thời Phật; đồng thời, cho thấy triết học thực tiễn của đức Phật vượt lên trên các tôn giáo hữu thần và vô thần thời đức Phật
Về phân loại, Kinh Trường bộ được chia thành 3 phẩm (vagga): (i) Phẩm giới uẩn (Sīlakkhandha Vagga Pāli, 長長長) gồm 13 bài kinh nói về đạo đức (Sīla)
Trang 5chuẩn mực và thanh cao, (ii) Đại phẩm (Mahā Vagga Pāli, 長 長 ) gồm 10 bài kinh nói về cuộc đời đức Phật và một số giáo pháp căn bản, (iii) Phẩm Ba-lê (Pathika Vagga Pāli, 長 長 長 ) gồm 11 bài kinh giới thiệu về vũ trụ luận, cách tu của ngoại đạo, trách nhiệm gia đình, xã hội và tâm linh
Về bản dịch tiếng Anh, hiện có 3 bản dịch Anh ngữ hoàn chỉnh và một số bản trích dịch Quyển “Dialogues of the Buddha,” (Đối thoại của đức Phật) do
T W Rhys Davids và C A F Rhys Davids dịch, 3 volumes, NXB Pali Text Society, năm 1899–1921 là bản dịch sớm nhất Bản dịch của Maurice Walshe với tựa đề “The Long Discourses of the Buddha: A Translation of the Digha Nikaya” (Các bài kinh dài của đức Phật: Bản dịch kinh Trường bộ kinh) do NXB Wisdom Publications, Boston, năm 1987; tựa gốc trong bản tiếng Anh là
“Thus Have I Heard” (Tôi nghe như vầy) Bản dịch của Tỳ-kheo Sujato có tựa
đề: “The Long Discourses” (Các bài kinh dài), xuất bản năm 2018 dưới dạng
e-book (gồm Epub, Kindle, PDF, MS Word) miễn phí tại trang Sutta Central Net Ngoài ra, còn có các quyển trích dịch gồm “Long Discourses of the Buddha,” (Các bài kinh dài của đức Phật) do A.A.G Bennett dịch và ấn hành tại Bombay năm 1964 gồm các kinh 1-16 Tác phẩm “The Buddha's Philosophy of Man” (Triết học về con người của đức Phật) do Rhys Davids tuyển dịch và Trevor Ling biên tập, NXB Everyman, chọn dịch 10 kinh gồm các kinh số 2, 16, 22,
31 Quyển “Ten Suttas from Digha Nikaya,” (Mười bài kinh dài trong Trường
bộ Kinh ) do Burma Pitaka Association ấn hành tại Rangoon, 1984, gồm các kinh 1, 2, 9, 15, 16, 22, 26, 28-9, 31 [2, tr.3]
Tại Việt Nam, bản dịch của HT Thích Minh Châu với tựa đề:
“Kinh Trường bộ”, xuất bản lần đầu năm 1972 và tái bản nhiều lần từ năm
1991 đến nay, được xem là bản dịch trung thành với nguyên tác Pali, góp phần làm thay đổi tích cực hệ thống Phật học tại Việt Nam trong hơn 4 thập niên qua
2 Quan niệm về Niết-bàn (Nibanna)
Niết-bàn (nibbāna,) là từ được dịch âm từ gốc tiếng Phạn nirvāṇ̣ a hoặc tiếng Pali nibbāna Nirvāti với nghĩa “thổi tắt”, “dập tắt” (một ngọn lửa) và như
Trang 6thế thì nirvāṇ̣ a mang nghĩa đã bị dập tắt, thổi tắt Qua đó mà thuật ngữ nirvāṇ̣ a cũng được dịch nghĩa là Diệt, Diệt tận, Diệt độ, Tịch diệt, Bất sinh,
và vì sự tịch diệt được hiểu là mục đích tối cao trong đạo Phật nên nirvāṇ̣ a cũng
được dịch ý là Giải thoát, Vô vi, An lạc
Kinh Tạp A Hàm viết : “Niết-bàn là gì, hỡi đạo hữu ? Sự tận diệt tham, tận diệt sân, tận diệt si Đó, này đạo hữu, gọi là Niết-bàn” [1, tr.209].
Niết-bàn là mục đích tu hành cứu cánh của mọi trường phái Phật giáo Trong đạo Phật Nguyên thủy, Niết-bàn được xem là đoạn Diệt Luân hồi Đó là sự tận diệt gốc rễ của ba nghiệp bất thiện là tham, sân và si Đồng thời Niết-bàn có nghĩa là không còn chịu sự tác động của nghiệp không còn chịu quy luật nhân duyên (duyên khởi), Vô vi đặc tính của nó là thiếu vắng sự sinh, thành, hoại, diệt
Có hai loại Niết-bàn thường được biết đến, đó là Hữu dư Niết-bàn và Vô
dư Niết-bàn Hai lọai Niết-bàn này của Phật giáo có phần tương tự với hai loại giải thoát của Vedanta là hữu thân giải thoát và vô thân giải thoát
3 Những vấn đề chung về Tứ Niệm xứ
Tứ Niệm Xứ là một pháp hành Thiền do từ Kinh Niệm Xứ (Satipatthàna Sutta) là một Kinh rất quan trọng trong Phật giáo Nam Tông Còn Bát Nhã Tâm Kinh là một bài Kinh ngắn thường được tụng trong tất cả các thời Kinh trong Phật giáo Ðại Thừa Việt Nam Hai Kinh này ý nghĩa có xung khắc nhau không?
Kinh Niệm Xứ, thường được gọi là Kinh Tứ Niệm Xứ, là một trong những kinh trọng yếu nhất mà Ðức Phật đã thuyết giảng hơn 2500 năm về trước
để rèn luyện, uốn nắn, làm cho quân bình và thanh lọc thân tâm
Tứ niệm xứ là bốn phép quán sát cơ bản về sự tỉnh giác Phương pháp
thiền quán của Phật giáo nguyên thuỷ gồm quán Thân (sa., pi kāya), quán Thọ (sa., pi vedanā), quán Tâm (sa., pi citta) và các Pháp (tức là những ý nghĩ, khái
niệm, gom lại là tâm pháp) Đây là một trong những phương pháp quan trọng
mà Đức Phật đã nhấn mạnh, được thể hiện rất rõ qua Kinh Trường bộ, Kinh Trung bộ và Kinh Tương ứng bộ
Trang 7Pháp Niệm Xứ được thiết lập trên sự áp đặt tâm niệm (Satipatthàna).
“Sati” là niệm, “patthàna” là một hình thức rút ngắn của chữ Upatthàna có nghĩa
là để gần lại tâm của mình Mở đầu bài Kinh có chỉ dẫn rõ ràng: “Sau đây là những lời mà tôi đã được nghe Ðức Thế Tôn dạy, hồi Ngài còn đang cư ngụ ở Kammassadhamma, một khu phố của giống dân Kuru Một hôm Ðức Thế Tôn gọi chư Tăng: “Này các Tỳ Kheo” Chư Tăng đáp: “Thưa Ðức Thế Tôn, có chúng con đây” Phật nói: “Này quý vị, đây ta chỉ cho quý vị con đường duy nhất (ekàyano maggo) để có thể gạn lọc bản thân, vượt thoát mọi phiền não, tiêu diệt ưu khổ, đạt tới chánh đạo và chứng ngộ Niết Bàn: Ðó là Pháp Niệm Xứ” Pháp Niệm Xứ có bốn phần, đó là tinh chuyên chú niệm vào:
1/ Thân (Kàyànupassanà) Niệm thân
2/ Thọ hay cảm giác (Vedanànupassanà) Niệm Thọ
3/ Tâm (Cittànupassanà) Niệm Tâm
4/ Pháp (Dhammànupassanà) là những đối tượng của Tâm Niệm Pháp Ðiểm chánh yếu ở đây là niệm (Sati) và sự chú tâm hay sự quan sát (anupassanà) Ở đây tôi chỉ tóm tắt đại ý của Kinh thôi [3, tr.247]
1) Niệm thân Hành giả quán niệm thân thể nơi thân thể Chữ quán niệm
thân thể nơi thân thể, chứ không phải quán niệm thân thể nơi cảm thọ, hoặc quán niệm thân thể nơi tâm thức
Vì đó có nghĩa là ngay nơi thân thể, hành giả quán niệm về thân thể, chứ không phải nương theo nơi một cảm giác hay ý tưởng mà quán niệm về thân thể Quán niệm về thân thể là quán sát và ghi nhận tất cả những gì liên quan và đang xảy ra nơi thân thể
Quán niệm về thân thể gồm có: hơi thở vô-ra, bốn oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi), các động tác thông thường, các bộ phận ở trong thân thể, tứ đại và 9 giai đoạn tan rã của thân thể
Trong pháp niệm thân, đặc biệt là phần niệm hơi thở vô-ra (ànàpànasati) Hành giả ngồi xếp bằng thoải mái, đặt hết tâm ý vào sự theo dõi và ghi nhận hơi thở vào, hơi thở ra Khi hỉt vào một hơi dài, hành giả biết mình đang hít vào một hơi dài; khi thở ra một hơi dài, hành giả biết mình đang thở ra một hơi dài Ðây
Trang 8là một phương pháp hành thiền rất phổ thông, vì nó có thể thích hợp cho mọi người, để lắng tâm, cũng như để gom tâm an trụ Chính đức Phật xưa kia đã tận lực hành trì để chứng đạo quả vô thượng Bồ Ðề, và ngài cũng quả quyết khẳng định tầm quan trọng của pháp hành này
2) Niệm thọ hay cảm giác Hành giả quán niệm cảm giác nơi cảm giác, có
nghĩa là giác tỉnh chú tâm ghi nhận “một cách khách quan” những cảm giác hay cảm thọ của mình: vui sướng (lạc thọ), đau khổ (khổ thọ), hoặc không vui sướng cũng không đau khổ (xả thọ), xem chúng khởi lên ra sao và biến mất như thế nào Thí dụ khi có một cảm giác vui, hành giả liền biết và ghi nhận: “có một cảm giác vui”, và như thế hành giả hay biết các cảm thọ khác và chứng nghiệm một cách giác tỉnh các cảm giác ấy theo đúng thực tế, đúng như thật sự nó là như thế ấy
Thường lệ, người ta hay thất vọng khi chứng nghiệm một thọ khổ và phấn khởi vui sướng khi thọ lạc Công trình tu tập niệm thọ giúp cho hành giả chứng nghiệm tất cả cảm giác một cách khách quan, với tâm xả (bình thản), và tránh cho con người khỏi bị cảm giác của mình chi phối, khỏi phải làm nô lệ hay lệ thuộc nơi cảm giác
3) Niệm tâm hay những hoạt động của Tâm Trong khi hành thiền, nếu có
những ý nghĩ hay tư tưởng phát sanh thì hành giả phải liền ý thức và ghi nhận chúng Những tư tưởng ở đây có thể là tốt, là xấu, thiện hay bất thiện Hành giả quán sát, theo dõi, nhìn cả hai mà không luyến ái hay bất mãn Phương pháp quán sát tâm mình một cách khách quan giúp cho hành giả thấu đạt bản chất và hoạt động thật sự của tâm Những ai thường xuyên niệm tâm sẽ học được phương cách kiểm soát và điều khiển tâm mình
4) Niệm Pháp hay đối tượng tâm thức Trong phần này hành giả quán
niệm về: năm hiện tượng ngăn che hay ngũ cái (Nivaranà): tham dục, sân hận, hôn trầm, trạo cử, nghi hối - Năm nhóm tụ hợp hay ngũ uẩn (Khanda): sắc, thọ, tưởng, hành, thức - Sáu giác quan và sáu loại đối tượng hay lục căn và lục trần (Ayatana): mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý và hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, xúc chạm, tư tưởng - Bảy yếu tố của sự ngộ đạo, Thất giác chi (Bojhangà):
Trang 9niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, hành xả - Bốn sự thật cao quý, Tứ diệu đế (Catvari Ariya Sacca): khổ đau, nguyên nhân đưa đến khổ đau, sự chấm dứt khổ đau, và con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ đau
Cũng cần nhấn mạnh là Pháp Tứ Niệm Xứ phải được thực hành một cách khách quan, có nghĩa là hành giả chỉ quán sát suông mà không nên dính mắc vào
đề mục, không thấy mình liên hệ với đề mục Khi ấy hành giả mới có thể nhìn thấy thực tướng của sự vật, thấy sự vật đúng như chúng là (yathàbhutan), chớ không phải thấy phớt bên ngoài, thấy hình như sự vật là như vậy
Tứ Niệm Xứ phải được xem như là một phương pháp hành thiền, chứ không phải một lý thuyết suông Trong Phật giáo Ðại Thừa, 37 phẩm Trợ đạo thường không được khai thác triệt để đúng với danh từ của nó, mà chỉ được xem như những lý thuyết cần để biết thôi
Qua sự tóm tắt trên, ta thấy Tứ Niệm Xứ bị lý thuyết hóa một cách chủ quan và cùng lúc tạo cho độc giả một thành kiến sai lầm về Tứ Niệm Xứ Như quý vị đã xem qua ở phần trước là Tứ Niệm Xứ phải được áp dụng một cách khách quan
Về Niệm Thân (Kàyànupassanà) có 6 đề mục quán niệm, trong đó có quán niệm về những bộ phận bên trong thân thể, và niệm về sự tan rã của một xác chết Không thể vì hai đề mục này mà nói là quán thân bất tịnh Nếu muốn
đề cao đề mục quan trọng của niệm thân thì phải lấy đề mục quán niệm về hơi thở vô-ra, vì đề mục này đã được Ðức Phật dạy riêng trong Kinh quán niệm hơi thở (Anàpànasati Sutta)
Trong các sách Phật Học, khi nói Quán thân bất tịnh, cốt dạy cho độc giả quán tưởng làm sao để thấy được sự bất tịnh của thân, nhằm mục đích nhàm chán, ghê tởm thân để không còn bám víu vào nó nữa, và do đó có thể trị bệnh tham dục Ðó cũng là một phép quán hữu ích nhưng không đúng với ý nghĩa niệm thân của Tứ Niệm Xứ
Về Niệm Thọ (Vedanànupassanà) là quán niệm và ghi nhận những cảm giác dễ chịu (lạc thọ), khó chịu (khổ thọ) hay bình thường (xả thọ), biết rõ tính
Trang 10cách sanh diệt của chúng, nhờ đó hành giả thoát ra được sự ràng buộc của những cảm giác [4, tr.210]
Trong các sách Phật Học, khi nói về niệm thọ đã ngụ ý bảo độc giả quán tưởng làm sao để thấy thọ là khổ, vì có nhận lãnh là có khổ Chữ thọ được giảng với ý nghĩa là nhận lãnh một thứ đồ vật gì bên ngoài “Thọ thì khổ” được xem là một phép quán dạy cho người ta bớt tham, nhưng đó không phải ý nghĩa của niệm thọ trong Tứ Niệm Xứ
Về Niệm Tâm và Niệm Pháp cũng vậy Nếu bảo quán tâm vô thường thì không đúng Chính vì sự hoạt động của Tâm tạo ra những ý niệm sinh diệt, diệt sinh trong khoảnh khắc nên gọi là vô thường Vô thường là những ý niệm đó chứ không phải Tâm Còn bảo “Pháp vô ngã” thì đúng nhưng không phải ý nghĩa niệm pháp của Tứ Niệm Xứ
4 Chứng minh Tứ niệm xứ là phương pháp hành trì duy nhất đưa đến thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn
Ngược dòng thời gian để nhìn lại quá khứ, Thái tử Tất-đạt-đa thấy cuộc đời là bể khổ, chúng sanh đang trôi lăn trong vòng sanh sanh, tử tử với cảnh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu não, đang diễn bày trước mắt, do vậy Ngài đã từ bỏ ngai vàng, điện ngọc, vợ đẹp, con xinh để đi tìm một công án cho chính mình đó là- giải thoát cho tất cả chúng sinh khỏi vòng luân hồi sanh tử Ngài đã từ giã hoàng cung vào một đêm trăng thanh khi sao mai vừa mới mọc cùng con kiền trắc và Sa-nặc vượt dòng sông A-nô-ma để đi tìm chân lý
Ðầu tiên Ngài đến học đạo với hai đạo sĩ tên là Alara Kalama và Adduka Ramaputta và đã chứng được hai trạng thái thiền Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nhưng Ngài nghĩ rằng hai quả vị này chưa phải là những quả vị tối thượng như Ngài mong muốn Rồi Ngài từ giã hai vị này để đi tìm chân lý cho công án của chính mình Trải qua sáu năm trường tu khổ hạnh, nhưng Ngài vẫn không đạt được kết quả gì
Sau đó Ngài từ bỏ lối tu khổ hạnh này, trở về với con đường trung đạo Ngài đến Bodhgaya ngồi nhập định dưới cội Bồ-đề và phát nguyện rằng: “Nếu
ta không thành đạo thì dù thịt nát xương tan ta cũng quyết không đứng dậy khỏi