1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tâm lí học hành vi lịch sử phát triển, những luận điểm chính, những đóng góp và hạn chế ý kiến đánh giá của nhóm

15 365 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 420,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tức là "Tâm lý học với tư cách là quan điểm của người theo chủ nghĩa hành vi." Ông được coi là "cha đẻ" của thuyết hành vi.. Watson đã dẫn đến phân hoá trường phái tâm lí học này thành 3

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI TẬP NHÓM

MÔN:

TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG

ĐỀ BÀI: 06

“Tâm lí học hành vi: lịch sử phát triển, những luận điểm chính, những đóng góp và hạn chế Ý kiến đánh

giá của nhóm ”

Hà Nội, 2021

Trang 2

MỤC LỤC

A ĐẶT VẤN ĐỀ 1

B NỘI DUNG 1

I Lịch sử phát triển của tâm lý học hành vi 1

II Những luận điểm chính 2

1 Những nền tảng cơ bản trong tâm lý học hành vi: 3

2 Tâm lý học hành vi cổ điển: 3

3 Tâm lý học hành vi mới 5

III Đóng góp và hạn chế của tâm lý học hành vi 7

1 Đóng góp 8

2 Hạn chế 8

IV Đánh giá 9

C KẾT LUẬN 10

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: 11

Trang 3

A ĐẶT VẤN ĐỀ:

Xã hội ngày càng phát triển về nhiều mặt, nhu cầu vật chất của con người dần được đảm bảo Khi ấy, chúng ta lại hướng sự quan tâm của mình vào bên trong – thế giới nội tâm của chính mỗi con người Trong quá trình sống, giao lưu, làm việc, những tâm trạng, cảm xúc, những diễn biến, trạng thái tâm lý biến đối không ngừng, tích cực có mà tiêu cực cũng không hề ít như stress, rối loạn hành vi, rối loạn cảm xúc, Bởi vậy, nhu cầu khám phá tâm lý học hành vi dần trở nên bức thiết hơn

Tâm lý học hành vi đưa cho ta đến những khám phá sâu sắc về hành vi con người Thế giới bên ngoài tác động lên chúng ta và chúng ta phản ứng lại thế giới đó thông qua công cụ chính là hành vi Bằng việc nghiên cứu một cách khách quan hoàn toàn tập trung vào các hành vi có thể quan sát được hơn là nhấn mạnh trạng thái nội tâm, tâm lý học hành vi sẽ giúp mọi người dễ dàng tiếp cận được nó bởi tính gần gũi xoay quanh các hành vi Không thể phủ nhận rằng tâm lý học hành vi đang ngày càng phát triển qua từng thời kỳ, trở thành điểm nhấn quan trọng trong quá trình đi tìm bản thân và để hiểu được con người cùng với xã hội Nhìn nhận được và khát vọng khám phá về bản thân lịch sử của ngành tâm lý học hành vi cũng như những ý nghĩa của ngành khoa học này để đáp ứng nhu cầu khắc phục những trở lại tâm lý con người, chúng em lựa chọn

đề tài về tâm lý học hành vi để đi sâu làm rõ các vấn đề đó Với những hiểu biết

cùng quá trình thu thập kiến thức, chúng em xin trình bày những nghiên cứu của mình trong bài tiểu luận này

B NỘI DUNG

I Lịch sử phát triển của tâm lý học hành vi

Tâm lí học hành vi, với những đại biểu xuất sắc là các nhà tâm lí: E.Tolman (1886 – 1959), E.Toocdai (1874 – 1949), B.Skinnơ (1904 – 1990)… Và xuất sắc nhất là J Watson (1878 – 1958) đã góp phần quan trọng tạo cơ sở lý thuyết cho tâm lý học hành vi

Chủ nghĩa hành vi được chính thức thành lập với việc xuất bản năm 1913 của bài báo kinh điển của J.Watson “Psychology as the Behaviorist Views It”

Trang 4

tức là "Tâm lý học với tư cách là quan điểm của người theo chủ nghĩa hành vi." Ông được coi là "cha đẻ" của thuyết hành vi Về sau các quan điểm trình bày trong bài báo còn được ông đưa ra trong một loạt các công trình từ năm 1913 đến 1930

Từ khoảng năm 1920 đến giữa những năm 1950, chủ nghĩa hành vi đã phát triển trở thành trường phái tư tưởng thống trị trong tâm lý học Sự phát triển tiếp theo của hướng tiếp cận hành vi sau J Watson đã dẫn đến phân hoá trường phái tâm lí học này thành 3 nhánh:

- Thuyết hành vi cổ điển có thể được gọi là giai đoạn của chủ nghĩa hành vi cổ điển theo mô hình S-R Đại biểu là Skinner, chủ nghĩa hành vi cổ điển được dành để chứng minh rằng các hiện tượng trước đây được cho là đòi hỏi nghiên cứu nội tâm (như suy nghĩ, hình ảnh, cảm xúc, cảm giác) có thể được hiểu theo cách kích thích và phản ứng Chủ nghĩa hành vi cổ điển còn được đặc trưng bởi một thuyết xác định chặt chẽ dựa trên niềm tin rằng mọi phản ứng đều được gợi

ra bởi một kích thích cụ thể

- Thuyết Tân hành vi - một dạng phát sinh của chủ nghĩa hành vi cổ điển phát triển từ năm 1930 đến cuối những năm 1940 Trong cách tiếp cận này, các nhà tâm lý học đã cố gắng chuyển phương pháp luận chung do Watson quy định và dựa trên thực nghiệm về hành vi thích ứng Tolman và những người khác đã mang lại sự tự do hóa học thuyết hành vi nghiêm ngặt Có ý đồ nghiên cứu cả các yếu tố trung gian của chủ thể trong sơ đồ S – R, yếu đố đó chính là quá trình nhận thức (thuyết S – S), đại biểu là E.Tolman Tư thế đối với chủ nghĩa khách quan về cơ bản vẫn như cũ, ngay cả khi thừa nhận sự tồn tại của các biến số can thiệp (tức là tinh thần), chấp nhận các báo cáo bằng lời nói và phân nhánh sang các lĩnh vực như nhận thức

- Tâm lí học hành vi chủ quan (hay còn gọi là thuyết TOTE – “Thuyết thử- thao tác-thử- thoát ra”) có các đại diện nổi bật là O Mille, Galanter, Pribram

II Những luận điểm chính

1 Những nền tảng cơ bản trong tâm lý học hành vi:

Trang 5

Thứ nhất, hành vi có thể quan sát được, còn lý trí thì không, hay nói hành vi

là cách thức thể hiện ý chí của con người ra thế giới khách quan Theo đó, các nhà tâm lý hành vi chấp nhận việc cảm xúc và nhận thức có tồn tại và nó ảnh hưởng đến hành vi Nhưng cảm xúc và nhận thức không nhìn thấy được, còn hành vi thì có thể quan sát

Thứ hai, hành vi của chúng ta là kết quả của môi trường sống Đây là yếu tố

quan trọng trong tâm lý học hành vi, tâm lý học hành vi nhấn mạnh yếu tố môi trường có ảnh hưởng lớn đến hành vi khi chúng ta bỏ qua yếu tố di truyền

Thứ ba, việc học tập ở người và động vật có ít sự khác biệt Các nghiên cứu

của nhà tâm lý học nhận thấy việc học tập thói quen giữa người và động vật không có nhiều khác biệt Đó là lý do người ta thường thí nghiệm trên chuột và

bồ câu

Thứ tư, hành vi là kết quả của kích thích gây phản ứng Một kích thích tạo

thành cơ sở cho hành vi, hành vi phức tạp hay đơn giản đều là chuỗi phản ứng với kích thích Vì vậy, các nhà tâm lý học thường đưa ra kích thích để xem những phản ứng nào sẽ diễn ra

2 Tâm lý học hành vi cổ điển:

2.1 Những cương lĩnh đầu tiên của chủ nghĩa hành vi

Những cương lĩnh đầu tiên của chủ nghĩa hành vi do Watson xây dựng lên, sau đây là những nội dung cụ thể của cương lĩnh đó:

Một là, tâm lý học hành vi tuyên bố không quan tâm đến việc mô tả, giảng

giải các trạng thái tâm lý của ý thức mà chỉ quan tâm đến hành vi của người, đối tượng của tâm lý học hành vi là hành vi con người Hành vi được xem là tổ hợp các phản ứng của cơ thể trước các kích thích của môi trường bên ngoài

Hai là, theo Watson có 4 loại hành vi: hành vi bên ngoài, hành vi bên trong,

hành vi tự động minh nhiên và hành vi tự động mặc nhiên Theo ông, mọi việc con người làm kể cả suy nghĩ đều thuộc một trong bốn loại hành vi này

Ba là, hành vi của động vật và người bị giản đơn hóa thành những cử động

cơ thể Nhờ những cử động đó với tính cách là “một cơ quan biết phản ứng” hay

“một hệ thống vật lý” thích nghi với môi trường để đảm bảo sự sống còn Quan

Trang 6

sát cũng như giảng giải hành vi đều phải tuân theo công thức S – R Kích thích

có thể là một tình huống tổng quát của môi trường hay một điều kiện bên trong nào đó của sinh vật, phản ứng là bất cứ cái gì mà sinh vật làm và nó bao gồm rất nhiều thứ

Bốn là, với công thức S – R Watson đã đặt cho thuyết hành vi mục đích cao

cả là điều khiển hành vi động vật và con người Lấy nguyên tắc “thử - sai” làm nguyên tắc khởi thuỷ điều khiển hành vi Hành vi chỉ là mối liên hệ trực tiếp “cơ thể - môi trường”, theo đó, tâm lý và ý thức chẳng qua chỉ là những hiện tượng thừa Tâm lý học với tư cách là khoa học về khoa học về hành vi có trách nhiệm vứt bỏ toàn bộ các thuật ngữ của tâm lý học cấu trúc và tâm lý học chức năng như ý thức, trạng thái và quá trình ý thức, lý trí và hình ảnh…

2.2 Quan niệm hành vi và con người

Nghiên cứu hành vi của con người có nghĩa là đưa cuộc sống của con người trở thành đối tượng của tâm lý học Hành vi luôn tồn tại trong hiện thực một cách khách quan Nếu như trong tâm lý học truyền thống chỉ tìm hiểu nội quan bên trong tâm trí, tâm hồn, cảm xúc của con người thì tâm lý học hành vi lại nghiên cứu nguồn gốc sinh ra “tâm hồn”, “hồn”, “tâm lý” với cội nguồn là hành

vi của con người

Theo các nhà tâm lí học hành vi, hành vi trí tuệ (của cả người và động vật)

là các phản ứng có hiệu quả mà cá thể học được, nhằm đáp lại các kích thích của môi trường sống Trong các công trình của J Watson, hành vi trí tuệ được đồng nhất với ngôn ngữ bên trong Với Watson, chỉ có hành vi tồn tại của con người mới là đối tượng của thuyết hành vi Đối với nhà hành vi, ý thức là cái gì đó vô ích và họ không được công nhận ý thức, đây chính là hạn chế lịch sử lớn nhất của thuyết hành vi Bởi thực chất hành vi là biểu hiện của hoạt động, do đó nó không tách rời ý thức

Theo tâm lý học hành vi, tâm lý học lấy hành vi, tức là mọi ứng xử và từ ngữ của con người, cả những cái di truyền lẫn những cái tự tạo làm đối tượng nghiên cứu Hành vi được coi là mối liên hệ trực tiếp giữa kích thích và phản ứng đáp lại kích thích ấy Kích thích thuộc về thế giới tác động, còn hành vi là

Trang 7

do cơ thể làm ra Waston định nghĩa con người là “tồn tại xã hội” từ đó tạo ra một tổ hợp phản ứng phức tạp, tổ hợp lại thành các tập hợp phản ứng, và với các nhà hành vi cổ điển thì các tập hợp ấy được thực hiện chung bởi hệ thống chung của các kỹ xảo

Các nhà hành vi chủ nghĩa coi nhẹ tính tích cực của chủ thể, đề cao vai trò của kích thích bên ngoài trong việc tạo ra các phản ứng Vì vậy, nghiên cứu điều kiện việc hình thành hành vi trí tuệ được quy về việc nghiên cứu tạo ra các môi trường kích thích, được sắp xếp theo logic cho phép hình thành các phản ứng mong muốn, tức là quá trình “điều kiện hóa hành vi” Với Watson, “con người được xây dựng nên, chứ không phải tự sinh ra”, “nhân cách là sự sáng tạo của con người, chứ không phải do trời phú cho” Ngôn ngữ và tư duy chỉ là các dạng

kỹ năng, cơ sở của kỹ năng là bẩm sinh và kỹ xảo được giữ gìn trong trí nhớ

3 Tâm lý học hành vi mới

Vào ngay những năm đầu của thập kỷ thứ ba thế kỷ XX đã bắt đầu xuất hiện khủng hoảng tâm lý học kiểu Watson Các đại biểu xây dựng lên thuyết hành vi mới là E.Tolman (1886-1959), K.Hull (1884-1952) Theo chủ nghĩa hành vi mới, năm 1922, trong “Công thức mới của thuyết hành vi” đã cho rằng “tâm lý học hành vi S-R” thuần túy của Watson chỉ là sinh lý học về hành vi, vì thế đã

đề ra “thuyết hành vi không sinh lý học” và gọi nó là “thuyết hành vi mới” Theo chủ nghĩa hành vi mới, các biến số trung gian hiểu theo tinh thần thuyết tạo tác, cụ thể là các kiến tạo lý luận có khả năng xác lập các quy luật chủ yếu của hành vi Chính nhờ các “kiến tạo lý luận”, “các yếu tố trung gian”, “các biến số can thiệp” và dùng các thuật ngữ của tâm lý học chủ quan mà có thể phân tích một cách khoa học các sự kiện thu thập được và giải thích chúng một các chính xác, nhờ vậy, theo các nhà hành vi mới đã định, có thể đưa thuyết hành vi ra khỏi tình trạng khủng hoảng

a, Lý thuyết của Tolman

Lý thuyết của Tolman là sự hỗn hợp của thuyết hành vi, thuyết Ghestan, thuyết tạo tác, thuyết ý định Theo ông, hành vi của cơ thể là tổng hòa chứ không phải là từng trả lời của cơ thể Các cử động hành vi có cả các sự kiện vật

Trang 8

lý và sinh học, cũng như những thuộc tính cá nhân của bản thân Hành vi là một động tác trọn vẹn có một loạt các thuộc tính: tính định hướng tới mục đích, tính

dễ hiểu, tính linh hoạt, tính so sánh Tolman hình thành học thuyết về “các biến

số trung gian” với tư cách là khâu trung gian can thiệp vào sơ đồ S-R, học thuyết này bao gồm toàn bộ thực chất của tâm lý học khách quan và hành vi chủ nghĩa Hành vi theo Tolman là các cử động hành vi chứ không phải là những trả lời trực tiếp đối với các kích thích Hành vi đáp lại bao giờ cũng nhằm tới các khách thể chuyên biệt có lợi cho cơ thể, các khách thể này là mục đích của cơ thể Tolman gọi khả năng tiếp thu là khả năng định tính chủ ý, ông cho rằng có thể

có tính chủ ý mà không có khả năng tiếp thu đi theo Tính chủ ý là một hiện tượng trong hành vi và là hiện tượng cơ bản hơn khả năng tiếp thu, tính chủ ý dường như là vốn tự có trong bản thân cơ thể Tolman phủ nhận tiêu chuẩn chủ quan ý định, tính chất chủ quan thể hiện ở chỗ thấy trước cử động cuối cùng Trong hệ thống của ông, cái gọi là tính tích cực chỉ là tính kiên trì đạt tới mục đích, và tính tích cực này được xem xét trong mối quan hệ nhân quả với khách thể - mục đích Hệ thống của Tomal hạn chế ở chỗ, nó hoàn toàn tập trung chú

ý vào ý định và nhận thức, và quên mất các quá trình thần kinh diễn ra trong não

và không do quan sát mà thấy được

b, Hệ thống Hull

Hull đưa các phương pháp diễn dịch – toán học vào tâm lý học hành vi, hệ thống của Hull bao gồm một loạt định đề và hệ quả Cũng như Tolman, Hull cũng đưa vào các yếu tố trung gian trong sơ đồ S-R truyền thống, ông dùng thao tác để giải thích hành vi; mặt khác, dùng nguyên lý cung phản xạ với tư cách là nguyên lý làm việc của não bộ làm nguyên lý giải thích kinh nghiệm tự tạo trong học tập và kinh nghiệm này nằm trong cơ thể nằm trong hành vi

Hệ thống của Hull bao gồm những luận điểm cơ bản sau:

1 Hệ thống vẫn giữ nguyên truyền thống của thuyết hành vi cổ điển, nó gạt bỏ thuyết sức sống, thuyết mục đích luận và tất cả các loại lý giải tự biên

2 Đối tượng vẫn là hành vi, các hiện tượng lớn của hành vi được hiểu là hành vi của một nhóm tế bào thần kinh cơ hay mấu thần kinh,

Trang 9

3 Trong hệ thống của ông, kỹ xảo là yếu tố trung gian giữ kích thích và phản ứng Kỹ xảo là những tồn tại như là những điều kiện không nhìn thấy trong hệ thống thần kinh như các điện tử, proton…trong vật lý; kỹ xảo làm nhẹ gánh cho

tư duy, tức là đưa việc giải thích hành vi ra khỏi các kích thích bên ngoài

Trong học thuyết của Hull, con người hoàn toàn không có chỗ đứng, hành vi con người chỉ là hành vi xã hội, tức là chức năng của một cơ chế tự vệ hay “một máy liên hợp vật lý” Con người trong thuyết của Hull đã bị sinh vật hóa hoàn toàn Tác động bên ngoài chỉ được thực hiện thông qua các điều kiện bên trong

c, Thuyết TOTE

Thuyết hành vi chủ quan - “TOTE” là tổng hợp của thuyết hành vi với tâm

lý học nội quan, giữ hành vi lại làm đối tượng của tâm lý học Theo thuyết này, bên trong cơ thể là các cơ chế, các quá trình gián tiếp giữa phản ứng với kích thích Cho rằng, hình ảnh và kế hoạch là hai yếu tố liên kết kích thích với phản ứng Hình ảnh là tri giác được tích lũy, được tổ chức trong cơ thể về bản thân về thế giới mà cơ thể đang tồn tại trong đó Còn kế hoạch là quá trình được xây dựng kiểu thứ bậc của cơ thể, có khả năng kiểm tra các trật tự của thao tác Hình ảnh mang tính chất thông tin, còn kế hoạch đề cập đến các thuật toán của hành

vi Như vậy, hệ thống TOTE bao hàm cả tư tưởng liên hệ ngược, vì vậy mỗi một thao tác của cơ thể diễn ra thường xuyên được điều chỉnh bởi kết của của các thử nghiệm khác nhau

Hành vi chủ quan coi hành vi của con người một cách phi xã hội, quan niệm

về con người phi lịch sử - đặc trưng đã làm cho hành vi chủ quan không phát hiện ra thực chất về tâm lý con người và chức năng thực sự của tâm lý trong cuộc sống, trong hoạt động của con người

III Đóng góp và hạn chế của tâm lý học hành vi

1 Đóng góp

Trong giai đoạn đầu hình thành, tâm lý học hành vi đã mở ra một thời kỳ mới, cứu tâm lý học những năm cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX thoát ra khỏi khủng hoảng, đưa ra cho tâm lý học đương đại một con đường mới để nghiên cứu tâm lý học như một khoa học về tâm lý và đưa tâm lý học đi theo con đường

Trang 10

duy vật biện chứng, góp phần rất lớn trong việc xây dựng tâm lý học khách quan Lần đầu tiên trong lịch sử tâm lý, tâm lý học hành vi đưa hành vi con người, đời sống xã hội của con người trở thành đối tượng của tâm lý học, kiên quyết chống lại những trường phái tâm lý học duy tâm trước đó, xây dựng một

lý thuyết tâm lý học khách quan hoàn toàn mới

Bên cạnh đó, chủ nghĩa hành vi đã đưa ra nhiều lập luận có giá trị cho việc giáo dục, đào tạo con người: Đưa ra những luận điểm có ý nghĩa trong việc xây dựng tâm lý học xã hội, nghiên cứu hành vi của con người Đặc biệt, học thuyết hành vi đã được nghiên cứu và áp dụng rất thành công trong tâm lý học hiện đại khi được chinh sửa và kết hợp với những trường phái khác

Đóng góp rất lớn trong tư vấn tâm lý: tiếp cận thân chủ, trị liệu hành vi, trị liệu tâm lý, quản lý nhân sự, điều hành con người, phương pháp giáo dục…Trị liệu hành vi được ứng dụng khá rộng rãi trong trị liệu, tham vấn, đặc biệt với với những người mong muốn thay đổi hành vi không phù hợp Những trường hợp thường được sử dụng trị liệu hành vi có hiệu quả cao như: rối loạn lo âu; stress, trẻ em với những rồi nhiễu tâm lý

2 Hạn chế

Bên cạnh những điểm mạnh tâm lí học hành vi cũng có một số hạn chế Nhiều người phê bình thuyết hành vi, cho rằng đây chỉ là cách tiếp cận một chiều khi tìm hiểu về hành vi con người Theo họ, các học thuyết về hành vi không bao hàm được tự do ý chí và sự tác động mang tính nội tại như tâm trạng, suy nghĩ và cảm nghĩ Mặt khác, nó cũng không nói lên được những dạng học tập khác xuất hiện mà không cần đến các yếu tố củng cố và trừng phạt Hơn nữa, con người và động vật có thể thích nghi hành vi khi có thông tin mới xuất hiện

dù là hành vi đó được thiết lập thông qua các yếu tố củng cố đi chăng nữa

Tâm lý học hành vi đã đồng hóa hành vi người và hành vi động vật Phương pháp tiếp cận chỉ là quan sát được từ bên ngoài làm dữ liệu duy nhất Bên cạnh

đó lại vứt bỏ ý thức ra ngoài phạm vi tâm lý và tác biệt một cách máy móc ý thức ra khỏi hành vi Thuyết hành vi cho phép các nhà khoa học kiểm tra được các hành vi quan sát được theo một cách thức khoa học và có hệ thống Tuy

Ngày đăng: 02/08/2021, 11:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w