1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng phương tiện kỹ thuật và công nghệ trong dạy học đại học

16 46 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 371,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHUYÊN ĐỀ: NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TỰ HỌC Câu 1. Anh chị phân tích hoạt động tự học và làm rõ những kỹ năng tự học. Vận dụng các kỹ năng tự học vào quá trình học tập như thế nào để mang lại hiệu quả. Câu 2. Anh chị làm rõ ý nghĩa của kỹ năng lập kế hoạch học tập. Làm rõ các bước trong lập kế hoạch học tập hiệu quả. Anh chị chia sẻ những kinh nghiệm thực tế về kỹ năng lập kế hoạch học tập của bản thân mình thời gian qua. Bước 1: Xây dựng quyết tâm. Đây là yếu tố quan trọng và mang tính chất quyết định nhất liệu bạn có thành công với bảng kế hoạch đã vạch ra của mình hay không bởi vì nếu tất cả những dự định của bạn chỉ nằm trên giấy mà không được chuyển thành hành động cụ thể thì làm sao thành công đúng không nào? Nếu bạn chưa có đủ quyết tâm, hãy bình tĩnh hơn, ngồi vào bàn học và suy nghĩ về công việc học tập của mình, bạn có thể mơ tưởng đến một tương lai sáng sủa phía trước như mình sẽ trở thành một nữ doanh nhân thành đạt chẳng hạn, hoặc gần hơn, bạn nghĩ đến ngày nhận giấy báo trúng tuyển đại học với ngôi vị thủ khoa sẽ như thế nào: bạn nhảy cẫng lên, báo cho bố mẹ biết tin…tưởng tượng chi tiết vào, rồi bạn sẽ có động lực cho sự quyết tâm ngay thôi. Bước 2: Đặt mục tiêu. Mục tiêu là điều mà mình muốn đạt được. Rõ ràng, trong cuộc đời mỗi người, vạch ra mục tiêu là vô cùng quan trọng. Bạn cần có mục tiêu rõ ràng cho mình, đặt từ mục tiêu xa đến gần nhất. Trong đó mục tiêu gần sẽ chủ yếu phục vụ cho mục tiêu xa. Với mục tiêu ở tương lai xa, bạn hãy thử nghĩ đến mục tiêu của cuộc đời mình bằng cách trả lời câu hỏi như bạn muốn đạt được điều gì (nghề nghiệp, tiền bạc, địa vị, kiến thức,…), Bạn mơ ước gì? Mục tiêu của bạn có thể là mai này trở thành một bác sĩ giỏi, một cô giáo… Với mục tiêu gần hay mục tiêu ngắn hạn, có thể là vào được đại học, sau đó, cũng có thể chia nhỏ mục tiêu hơn nữa, chẳng hạn, mục tiêu cho học kỳ I, kỳ II…, mục tiêu của từng môn học, từng bài kiểm tra… Bước 3: Xác định lại điểm yếu, điểm mạnh của bản thân mình Để biết được mục tiêu của mình đã rõ ràng và và có khả thi hay không, có khả năng đạt được được hay không? Cần phải xác định điểm mạnh, điểm yếu của bản thân để biết lượng sức mình. Bạn thử trả lời những câu hỏi để xác định ưu khuyết điểm của bản thân như: Tính cách của bạn ra sao? Có gì đặc biệt? Ngoại hình như thế nào? Bạn giỏiyếu lĩnh vựcbộ môn nào? Bạn có năng khiếu gì? Bạn sợ gì? Bạn đang ở vị trí nào trong học tập ở lớp? Điểm mạnh của bạn là gì? Bạn có thể cho mọi người thấy điểm mạnh đó bằng cách nào? Khuyết điểm của bạn là gì? Bạn đã làm gì đối với khuyết điểm đó? Bạn có thể làm được việc gì tốt nhất hay tệ nhất?.... Để khách quan, bạn cũng nên tham khảo ý kiến, đánh giá của bạn bè, người thân, các hoạt động xã hội, học tập để biết rõ bản thân hơn. Bước 4: Lập kế hoạch. Bạn hãy bắt đầu liên tưởng đến tuần sau đi, xem xem mình có môn nào kiểm tra gì không, hãy bắt đầu lập kế hoạch cho những môn học đó trước. Nên nhớ nguyên tắc, việc nào quan trọng, làm trước, chưa quan trọng, nên để sau. Trong bảng kế hoạch của mình, bạn ghi rõ giờ nghỉ ngơi, giờ học, giờ vui chơi. Và tất nhiên giờ vui chơi, nghỉ ngơi phải ít hơn giờ học.Mỗi ngày bạn nhớ phải dành ra khoảng trống nhất định để dành cho những việc bất ngờ, bạn có thể hoàn thành nhiệm vụ của ngày hôm đó mà không bị lệch kế hoạch đã vạch sẵn. Để xây dựng kế hoạch có hiệu quả, cần trả lời được những câu hỏi như: Tầm quan trọng ưu tiên của công việc: Tại sao thực hiện công việc này mà không phải thực hiện việc kia? Bạn bỏ ra bao nhiêu chi phí (thời gian, sức lực,…) cho việc này? Khi bạn thực hiện xong thì bạn đang đến cột mốc mục tiêu nào? Nếu bạn không thực hiện việc đó thì có ảnh hưởng gì đến kết quả? Những điều tốt đẹp hậu quả gì mà bạn có thể nhìn thấy được? Địa điểm thực hiện công việc: Làm bài tập nhóm ở đâu (nhà bạn, sân trường, thư viện,…)? Đi đá banh ở đâu? Chi phí cho nội dung công việc: Bạn cần bao nhiêu thời gian để làm bài, để đi chơi, để nghỉ ngơi? Tiền bạc. Cần xem lại trong kế hoạch của mình có cần phải photo tài liệu, dự liên hoan sinh nhật. Người nào? Làm bài với ai? Ai cùng chạy tiếp sức với bạn ngày mai? Đã thảo luận kế hoạch chưa? Tắc tịbí khi làm bài thì cần gặp ai? Ai sẽ giúp bạn? Nếu không có người đó thì người khác sẽ là ai? Phương tiệncông cụ để thực hiện kế hoạch: Sách bài tập hay sách giáo khoa nào? Sử dụng máy tính hay có thể tính nhẩm? Đi học bằng xe đạp hay ba mẹ đưa đón? Danh sách công thức hay cẩm nang toán học nào mà bạn cần? Phương pháp thực hiện: Bạn cần hình dung phương pháp thực hiện là gì? Bạn sẽ: Có sách nào tham khảo? Lên mạng tìm tài liệu và lên thư viện? Chèn hình minh họa vào bài làm bằng cách nào nhanh nhất? Phương pháp đọc và ghi nhớ hiệu quả hai bài lịch sử? Cách tóm tắt bài văn này như thế nào? Cách giải dạng bài tập đó có thuộc dạng nào? Đo lường bằng dụng cụ, máy móc như thế nào trong khi thí nghiệm? Kiểm tra, điều chỉnh kế hoạch: Nhìn lại kế hoạch, công việc xem có hợp lý chưa, đã xảy ra vấn đề gì… để kịp thời sửa đổi sai sót là điều mà chúng ta nên làm. Những câu hỏi mà bạn cần trả lời như: Có những bước công việc nào cần phải kiểm tra? Thông thường thì có bao nhiêu công việc thì cũng cần số lượng tương tự các bước phải kiểm tra. Có những điểm nào cần kiểm tra (mục tiêu, nội dung, phương pháp, công cụ tiến hành…)? Bước 5: Đánh giá. Cuối tuần, bạn phải có một chút thời gian để tổng kết lại tất cả những gì mình đã làm được, chưa làm được trong tuần vừa qua để nhận xét, đánh giá và điều chỉnh kịp thời cho những tuần học sau. Khi bạn học hết một phần, hãy tự đặt ra hoặc tổng hợp lại những vấn đề cần giải quyết, và cứ như vậy, mỗi vấn đề là một câu hỏi. Bạn sẽ cần một chiếc hộp đựng những lá phiếu câu hỏi mà bạn tự đặt ra. Sau đó, bạn bốc thăm ngẫu nhiên và làm như một bài kiểm tra cuối kỳ. Bước tiếp theo, bạn sẽ tự kiểm tra kết quả và tự đánh giá xem bài làm của mình đạt hiệu quả ra sao. Việc thực hiện liên tục quá trình tự kiểm tra sẽ giúp bạn biết được trình độ của mình đang ở đâu, từ đó biết cách xử lý tốt các tình huống phát sinh. Và khi bạn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, nên tự thưởng cho mình một điều gì đó để có nguồn khích lệ, động viên. Thiết nghĩ, con đường thành công của mỗi chúng ta rất khó mà nói trước được, việc của mỗi người chúng ta cần làm là đừng để lãng phí những gì mình có. Hãy cố gắng hết sức mình, để mình có thể trưởng thành và biết cách biến tri thức nhân loại thành tri thức của bản thân.

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ: Sử dụng phương tiện kỹ thuật và công nghệ trong dạy học đại học

Câu 1: Anh/chị hãy phân tích xu thế và vai trò của ứng dụng công nghệ trong dạy học hiện nay.

Trả lời:

I XU THẾ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TRONG DẠY HỌC

1 Bối cảnh lịch sử

Trước sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng 4.0, công nghệ thông tin (CNTT) sẽ làm thay đổi nền giáo dục một cách cơ bản và toàn diện, có hệ thống và mang tính hội nhập cao Sự bùng nổ và phát triển về công nghệ giáo dục sẽ tạo ra những phương thức giáo dục phi truyền thống, thúc đẩy mạnh mẽ

sự phát triển của nền giáo dục mang tính chuyển đổi sâu sắc vì con người Quá trình này dẫn đến sự cần thiết phải nhìn nhận lại giá giá trị và ý nghĩa của việc dạy học dưới góc độ mối quan hệ giữa sự phát triển của công nghệ và những thay đổi về bản chất của quá trình thực thi các chương trình giáo dục

Vấn đề định hướng chiến lược, định vị bản chất thực của giáo dục càng trở nên cấp thiết: cần phải đào tạo, hình thành và phát triển những con người của xã hội, cho xã hội và vì sự phát triển của xã hội Một hệ thống nội dung thiếu sự gắn kết trực tiếp với đời sống xã hội, quá hàn lâm, kinh viện, bỏ qua những thứ đang hiện hữu trong cuộc sống sẽ là những rào cản trong quá trình đào tạo ra những con người của xã hội hiện nay

Báo cáo tại Diễn đàn kinh tế thế giới 2016 tại Davos với sự tham gia của hơn 2500 nhân vật ảnh hưởng và quyền lực nhất thế giới đã chia sẻ con số đáng suy ngẫm: 65% số người học vẫn học những thứ liên quan đến nghề nghiệp tương lai mà hiện nay đã không còn tồn tại; 47% nghề nghiệp hiện nay sẽ được chuyển sang tự động hóa trong 2 thập kỉ tới và đến năm 2020, hơn 50% nội dung dạy học trong nhà trường các cấp sẽ không còn hữu dụng trong vòng 5 năm sau đó Những sự thay đổi mang tính thách thức toàn cầu hiện nay đang chịu tác động của 4 nhóm yếu tố: tác động xã hội; hành động chiến lược; tài năng và nhân lực lao động; tác động công nghệ Cũng trong báo cáo này, Tổ chức Deloitte Consulting đã chỉ rõ 7 nhân tố đột phá (disruptors) sẽ xuất hiện trong tương lai gần, bao gồm: sự xuất hiện của công nghệ khắp mọi nơi; cơn bão

dữ liệu; sự da dạng và thay đổi nhanh chóng của lớp người thế hệ trẻ; sự thay đổi nhanh chóng về bản chất của nghề nghiệp; trí tuệ nhân tạo, máy tính biết nhận thức và robot; tự động hóa trong công việc; và sự bùng nổ đội quân lao động làm công việc ngẫu nhiên

Trang 2

Không phải ngẫu nhiên khi trong lộ trình tìm kiếm những khả năng dung hòa các yêu cầu của xã hội với năng lực đáp ứng của nhà trường, cơ hội học tập được cung cấp và yêu cầu phát triển cá nhân, công nghệ luôn được ưu tiên lựa chọn như một giải pháp “đặt cược niềm tin”! Trong bối cảnh hiện nay, các thành

tố cấu thành nên một quá trình giáo dục, nền giáo dục cần được nhìn nhận trong mối quan hệ biện chứng giữa sự tích lũy, làm giàu và chia sẻ thông tin, kiến thức phục vụ cho các “công dân số” Do vậy, sự can dự của CNTT là điều tất yếu để giải quyết “nhóm mâu thuẫn chính” ngày càng sâu sắc giữa:

- Sự gia tăng và dịch chuyển dân số, năng lực nghề nghiệp mới, khả năng thích ứng trước sự thay đổi công việc nhanh chóng (với số lượng việc làm mất

đi và xuất hiện trong thời gian rất ngắn, tần suất cao)…với quá trình giáo dục cho mọi người, cho mỗi người và học tập suốt đời;

- Sự công bằng trong tiếp cận và nhu cầu đa dạng, không giới hạn về giáo dục, tiếp cận tri thức mới;

- Tính cạnh tranh về số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực (công dân số);

- Quá trình sản xuất của cải và “sản sinh” tri thức; những yêu cầu về năng lực mới của người học và sự đáp ứng của các thiết chế giáo dục, đào tạo…

Trong bối cảnh đó, Đảng và Nhà nước ta đã xác định “giáo dục là quốc sách hàng đầu ; đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho sự phát triển” Để phù hợp với xu hướng phát triển chung của xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, nhất thiết phải đổi mới căn bản các quá trình giáo dục theo hướng ứng dụng các công nghệ mới, phát huy tính tích cực chủ động của người học để nâng cao chất lượng giáo dục Tinh thần đó đã được gợi mở và thể hiện xuyên suốt 7 quan điểm chỉ đạo về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo của trong Nghị quyết TW8, khóa XI của BCH TƯ Đảng (Nghị quyết 29)

2 Các xu thế công nghệ trong giáo dục hiện nay

Tiếp cận giáo dục, dạy học thông minh được nhắc đến từ những năm đầu thế kỉ XXI và ngày càng được nghiên cứu và phát triển theo các mô hình

đa dạng, trong đó nhấn mạnh đến sự chuyển đổi từ cách dạy học truyền thống sang một phương thức mới theo tiếp cận công nghệ với các mô hình dạy học phi truyền thống

Về tổng thể, giáo dục thông minh được hiểu là “sự tích hợp toàn diện công nghệ, khả năng tiếp cận và kết nối mọi thứ qua Internet bất cứ lúc nào và ở đâu”; cần phải thực hiện đồng bộ, toàn diện mọi mặt dựa trên nền tảng ứng dụng

Trang 3

CNTT, bao gồm: lớp học thông minh, môi trường thông minh, người dạy thông minh, khuôn viên thông minh, nhà trường thông minh Việc đánh giá hoạt động giáo dục thông minh được dựa trên các tiêu chí như sự sẵn sàng chấp nhận và thích ứng công nghệ, các chỉ số xác định về ứng dụng công nghệ, mức độ

“thông minh” của các tác vụ, hoạt động trong lớp học, nhà trường, trang bị hạ tầng cơ sở vật chất

Trong mô hình giáo dục thông minh các thành tố được thiết lập theo một

hệ thống chỉnh thể, có tác động tương hỗ, thúc đẩy chất lượng và hiệu quả của quá trình giáo dục Với các thành tố bao gồm: tự định hướng; tạo động lực; tính thích ứng cao; các nguồn lực, tài nguyên, học liệu mở rộng; dựa trên nền tảng công nghệ; khuyến khích sự tham gia; sự phù hợp Mô hình này có thể tác động mạnh vào quá trình giáo dục theo những chiều hướng sau:

- Sự thay đổi trong kì vọng của người học và khả năng đáp ứng của các nhà trường (khả năng thích ứng, có việc làm và tự tạo việc làm sau tốt nghiệp; khả năng duy trì và phát triển chuyên môn nghề nghiệp; cơ hội học tập suốt đời…);

- Sự đa dạng hóa các “sản phẩm giáo dục”, quá trình đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục nhờ cơ sở dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, chuỗi giá trị trong giáo dục;

- Sự thay đổi trong mối quan hệ, vai trò, vị trí của người dạy và người học trong quá trình dạy học, trong hệ sinh thái giáo dục;

- Sự thay đổi của môi trường dạy học, khuôn viên học tập với các dạng học liệu đa chức năng;

- Sự thay đổi các mô hình quản lí, điều hành trong giáo dục, dạy học trên nền tảng kĩ thuật số mới

Về bản chất, với sự trợ giúp của công nghệ mới, giáo dục thông minh cần phải tạo được một phương thức hoàn toàn khác với giáo dục mang tính đại trà,

“đồng phục”, hướng đến sự phân hóa, cá thể hóa và cá nhân hóa cao độ Hệ thống kết nối con người - thông tin - vật thể, máy móc tạo thành một chuỗi liên kết trong đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, thúc đẩy quá trình chuyến đổi thiết chế giáo dục thành một hệ sinh thái đổi mới và sáng tạo Như vậy, thay vì cung cấp kiến thức, nội dung dạy học theo chương trình cứng nhắc, các nhà trường nên đào tạo kĩ năng, ươm tạo tài năng, phát triển tầm nhìn cho người học, với mô hình “một người học, đa chương trình, đa khuôn viên”

Trong bối cảnh đó có thể nhìn nhận giáo dục như là một quá trình công nghệ, sản phẩm công nghệ có thể đóng gói, chuyển giao và như là một quá trình

Trang 4

ứng dụng, thẩm thấu các thành tựu của lĩnh vực công nghệ khác.

2.1 Nền tảng số cho giáo dục (Digital education platform)

Năm 2012, UNESCO đã khuyến cáo về xu thế và khả năng giáo dục vượt

ra khỏi những bức tường lớp học và nhà trường truyền thống để vươn tới một không gian giáo dục “suốt đời” và “hướng vào cuộc sống”, tạo công bằng, cơ hội tiếp cận giáo dục cho mọi người Cách tiếp cận này đã gợi mở cho hàng loạt các hình thức giáo dục/dạy học mới (chính thức hoặc không chính thức trên nền tảng chia sẻ kiến thức và mang tính xã hội sâu rộng), được đặt trong một phạm trù khái quát là giáo dục số, bao gồm một số nền tảng chính:

- E-learning (Electronic learning): Dạy học điện tử với khả năng tổ chức các không gian giáo dục, học tập mở, khả năng tương tác mạnh mẽ giữa các chủ thể tham gia và thông tin kiến thức

- M-learning (Mobile learning): Dạy học linh hoạt với khả năng đáp ứng tối đa các nhu cầu học tập, phát triển cá nhân

- U-learning (Ubiquitous learning): Dạy học linh hoạt tức thời (just in time) với khả năng đáp ứng, chia sẻ nhanh chóng tại bất kì thời điểm, không gian, địa điểm nào với bất kì nhu cầu học tập nào của người học

Hệ thống khóa học trực tuyến mở rộng (Massive Online Open Courses -MOOCs), hệ thống khóa học đặc thù riêng cho cá nhân (Small Private Online Courses - SPOCs): là một nền tảng các khóa học trực tuyến miễn phí đáp ứng tối

đa nhu cầu học tập theo năng lực, sở thích và điều kiện hoàn cảnh cá nhân; tăng

cơ hội tiếp cận và sự tham gia của người học theo phương thức giáo dục mở và trực tuyến

Các hạ tầng của giáo dục số trong bối cảnh ứng dụng kết nối vạn vận trên nền tảng Internet (IoT), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây hiện nay đã mang lại nhiều cơ hội và khả năng to lớn giúp cho việc tái tạo, sản sinh tri thức, chia sẻ thông tin, “san bằng” các rào cản trong việc tiếp cận kiến thức Đặc biệt, cùng với sự phát triển của công nghệ, giáo dục số sẽ dần trở thành một “hình thái quan hệ học tập mới” làm thay đổi mô hình dạy học vốn tồn tại khá lâu theo

hệ hình từ trên xuống (Top - Down) hoặc dưới lên (Bottom - Up) sang hệ hình mạng lưới, mang tính chia sẻ xã hội (Social sharing) trong đó, người học sẽ trở thành trung tâm của mạng lưới học tập mang tính xã hội

2.2 Người học số (Digital learner)

Cùng với các cơ hội tiếp cận công nghệ mới trong giáo dục, người học ngày càng trở thành “trung tâm của việc học của chính họ”, tự do hơn trong định

Trang 5

hướng và lựa chọn nội dung theo nhu cầu và quá trình học tập, do đó, càng mang dấu ấn “cá nhân hóa” một cách đậm nét hơn Mặt khác, công nghệ cũng

hỗ trợ và cho phép bất kì người học nào cũng có thể tìm kiếm, đóng góp, chia

sẻ, xử lí dữ liệu, biến họ trở thành “người đồng sáng tạo ra tri thức mới” để đóng góp vào “trí thông minh của số đông” Theo xu hướng này, quá trình dạy học ngày càng hướng đến người học mạnh mẽ, được chuyển hóa định hướng theo các nhánh:

- Dạy học chính thức theo chương trình được xác lập (bao gồm cả dạy học trực tiếp và trực tuyến);

- Dạy học theo định hướng cá nhân (các nội dung và hình thức đáp ứng nhu cầu riêng của cá nhân, định hướng bởi năng lực, tốc độ, sở thích của cá nhân…);

- Dạy học theo định hướng nhóm bên trong một thiết chế tổ chức cụ thể (ví dụ, một lớp học, trong nhà trường…) và nhóm mạng lưới (đáp ứng các nhu cầu của nhóm mạng lưới bên ngoài tổ chức);

- Dạy học ngẫu nhiên (học cái gì, học ở ai, vào bất cứ thời điểm nào theo nhu cầu cá nhân, “ngẫu nhiên, tình cờ”)

Quá trình số hóa và bình đẳng trong tiếp cận giáo dục số thúc đẩy mạnh

mẽ việc sản sinh nội dung tri thức, biến các nội dung dạy học theo những định dạng thông thường trước đây thành các gói siêu dữ liệu (Meta-data), “nội dung

di động” (Mobile/potable content) bằng các phương thức khác nhau (trên nền tảng trực tuyến) đáp ứng nhu cầu của xã hội thông tin

Trong quá trình tự định hướng học tập, lựa chọn các nội dung phù hợp theo nhu cầu, phong cách học, sở thích và định hướng nghệ nghiệp của cá nhân, người học số sẽ lựa chọn các thiết bị di động cầm tay (wearable devices) phù hợp, có khả năng tương tác đa diện, đa chiều, đa đối tượng; sử dụng các Apps giáo dục (ứng dụng chạy trên nền tảng thiết bị di động) để kết nối dễ dàng với

cơ sở dữ liệu lớn, các nguồn học liệu số đa định dạng (game học tập, mô phỏng, 3D tương tác, E-book tương tác, video tương tác 3600…)

Hiện nay, tiếp cận dạy học cho phép sử dụng thiết bị cầm tay trong lớp học đang là xu hướng phổ biến hiện nay trong giáo dục trên thế giới Máy tính bảng, máy tính xách tay, thiết bị kết nối thông minh (bảng, thiết bị dạy học thông minh) cho phép người học sử dụng các nền tảng điện toán đám mây, hạ tầng Web… để dễ dàng chia sẻ, tương tác trong học tập, thay thế các công cụ thiết bị dạy học truyền thống (bảng, sách, tài liệu in, đồ dùng thiết bị dạy học trực quan …)

Trang 6

2.3 Người dạy số (Digital teacher/educator)

Ứng dụng các công nghệ mới hiện nay, người học có thể kết nối với các nguồn thông tin đa dạng về lĩnh vực, phong phú về định dạng, vượt ra khỏi khuôn viên vật lí của nhà trường Điều này đặt thêm yêu cầu mới bổ sung vào hệ thống chức năng nhiệm vụ của người dạy/nhà giáo dục: “nhà kết nối”, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và đánh giá xác thực các quá trình giáo dục bằng giải pháp công nghệ số Đây cũng cơ hội và thách thức đối với các cơ sở đào tạo giáo viên thế hệ mới, những người sẽ phải làm chủ các công nghệ giáo dục

Trên nền tảng công nghệ, người dạy thực hiện vai trò kết nối tức thời (just

in time) người học với nguồn dữ liệu, học liệu, kết nối cộng đồng người học với nhau, các chủ thể liên quan và với các môi trường học tập mới (thực-ảo) giàu tính trải nghiệm Đồng thời chính “thầy giáo số” cũng là người sẽ hỗ trợ người học tiếp cận, chấp nhận và truyền cảm hứng cho người học để sử dụng công nghệ, xóa bỏ hội chứng sợ công nghệ trên các nền tảng kết nối số, dạy học trực tuyến, dạy học hỗn hợp, dạy học đảo ngược, tương tác thông minh qua các Apps ứng dụng… Mặt khác, để thực hiện vai trò kết nối số, người dạy cần liên tục học hỏi, tiếp cận, cập nhật và quản lí được các nhóm giải pháp công nghệ giáo dục (theo thống kê, hiện có khoảng 4 lĩnh vực, hơn 30 nhóm giải pháp lớn với hơn

2000 công cụ hỗ trợ dạy học Đó là chưa kể đến hàng ngàn Apps dạy học liên tục được cập nhật, bổ sung và phát triển)

Việc xuất hiện xu hướng sử dụng các Apps hỗ trợ học tập với tư cách là

“nhà giáo ảo”, sử dụng các công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), kết nối Internet vạn vật (IoT), máy học, học sâu, Robot dạy học…Các giải pháp này không chỉ nới rộng không gian, cơ hội, làm tăng chất lượng học tập cho người học mà còn hỗ trợ mạnh mẽ cho “người dạy số” trên các phương diện: tổ chức quá trình dạy học (trong các thiết chế giáo dục chính thức, không chính thức và phi chính thức, thu hút sự tham gia, cung cấp các dịch vụ học tập

đa dạng, quản lí và đảm bảo chất lượng…

2.4 Học liệu số (Digital learning resources)

Cùng với sự bùng nố hiện nay của công nghiệp nội dung số, lĩnh vực giáo dục nói chung và phát triển học liệu số nói riêng đang đứng trước cơ hội phát triển mạnh mẽ Các nguồn dữ liệu thông tin, nội dung kiến thức giáo dục đầu vào được

số hóa (thiết kế, sản xuất, xuất bản, lưu trữ) và chuyển giao qua công cụ số nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về “đa giác quan hóa” và tương tác mạnh cho người học Được phát triển trên nền tảng, công cụ số theo nguyên tắc giàu nội dung, đa định dạng, tương tác mạnh, tái sử dụng, dễ tiếp cận, tra cứu, chia sẻ và đóng góp… học liệu số dần trở thành mục tiêu, phương tiện hữu hiệu trong các quá

Trang 7

trình giáo dục

Không chỉ dừng lại ở việc “số hóa văn bản” hay “học liệu mở” như trước đây, các ứng dụng “game hóa” tăng cơ hội nhập vai và nhúng người học vào các môi trường thực-ảo để giải quyết vấn đề; mô phỏng thực tế 3D, hoạt hình, tạo ảnh, tạo video, bài giảng bằng trí tuệ nhân tạo, E-book tương tác…đã giúp học liệu số không chỉ còn thuần túy cung cấp thông tin, nội dung học tập mà còn tạo khả năng tương tác mạnh với những nội dung đó cho người học

2.5 Môi trường học tập số (Digital learning environment)

Việc áp dụng các nền tảng số trong giáo dục tạo ra các cơ hội để kết nối

hạ tầng trong mọi lĩnh vực, mọi khâu của quá trình giáo dục và đào tạo; tăng khả năng tương tác và sự linh hoạt cho người học trong không gian và thời gian thực-ảo, môi trường học tập thực-ảo dựa trên nền tảng số

Quá trình tương tác của người học với các sản phẩm của trí tuệ nhân tạo, ứng dụng Robot trong dạy học, công nghệ nhận diện khuôn mặt), tâm trắc, nhận diện cảm xúc… sẽ tạo ra các cơ hội tiếp cận thông tin mới mẻ, đa dạng và hiệu quả hơn đối với học tập cá nhân hóa

Trong thời gian tới, công nghệ trong giáo dục được dự báo là sẽ tiếp tục tạo nên những tiền đề thuận lợi để tổ chức các quá trình giáo dục mới về chất theo những xu hướng sau: Tăng tính tương tác cá nhân hóa cao độ trong tổ chức hoạt động với người học với các “gói” nội dung mở, linh hoạt; Tăng cơ hội, lịch trình, thời gian, không gian học tập mở, lớp học/môi trường học tập ảo; Tạo chuỗi giá trị và gắn kết cao giữa cộng đồng người học với đơn vị đào tạo (kể cả trường hợp sau khi tốt nghiệp), đơn vị tuyển dụng; Tạo dựng chuỗi liện kết, hệ sinh thái giáo dục đổi mới và sáng tạo

II VAI TRÒ CỦA ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TRONG DẠY HỌC HIỆN NAY

Qua những phân tích về xu thế giáo dục hiện đại một lần nữa ta phải khẳng định một điều là vai trò của việc ứng dụng khoa học công nghệ vào đời sống nói chung và trong lĩnh vực giáo dục nói riêng vô cùng to lớn Vai trò đó được thể hiện ở những khía cạnh chính sau đây:

1 Ứng dụng công nghệ vào giảng dạy có vai trò thúc đẩy giáo dục

mở, giúp hoạt động giáo dục đạt hiệu quả cao hơn

Công nghệ thúc đẩy một nền giáo dục mở, giúp con người tiếp cận thông tin đa chiều, rút ngắn khoảng cách, thu hẹp mọi không gian, tiết kiệm tối ưu về thời gian Từ đó con người phát triển nhanh hơn về kiến thức, nhận thức và tư

Trang 8

duy Chương trình giáo dục mở giúp con người trao đổi và tìm kiếm kiến thức một cách hiệu quả Học và dạy hiện đại yêu cầu cần phải tiếp cận một vấn đề từ nhiều nguồn thông tin khác nhau, dưới nhiều góc nhìn khác nhau, qua đó người đọc có được cái nhìn phổ quát, có cơ hội đào sâu kiến thức, tìm ra được bản chất cốt yếu, nguyên nhân sâu xa của vấn đề, góp phần nâng cao kiến thức, thay đổi

tư duy, điều này gián tiếp giúp cho công tác học tập nghiên cứu đạt hiệu quả cao hơn Đi kèm với giáo dục mở là tài nguyên học liệu mở, giúp người học, người dạy kết nối với kiến thức hiệu quả dù họ ở đâu và trong khoảng thời gian nào

2 Người dạy và học dễ dàng thu thập, tổng hợp, lưu trữ được lượng kiến thức phong phú đa dạng và được cập nhật thường xuyên

Với giáo dục truyền thống, sinh viên tiếp nhận kiến thức chủ yếu từ sách

vở, giáo trình và ngồi nghe giáo viên giảng trên lớp thì hiện nay, nguồn kiến thức đa dạng này được cung cấp trực tuyến qua kết nối internet, chúng ta có thể

tìm thấy hàng nghìn hàng triệu kết quả tra cứu sau một cú click chuột Công nghệ giúp truy cập tức thời tới các nguồn tri thức, từ kiến thức phổ thông tới tri

thức học thuật đều có thể dễ dàng tìm kiếm và áp dụng trong các quy trình giảng dạy thông qua các hệ thống tra cứu của thư viện, các máy tìm kiếm (search engines) như Google Search, Google Scholars, Google Books, các cơ sở dữ liệu học thuật như Scopus, các mạng xã hội học thuật như Academia, Resarch Gates,

… Trong giáo dục hiện đại, người dạy là người truyền thu kiến thức cơ bản, cốt lõi, đóng vai trò là người hướng dẫn người học cách thức khai thác thông tin dồi dào, đa chiều từ Internet Điều này đóng một vai trò to lớn trong quá trình đổi mới giáo dục giúp cá nhân hóa học tập, rèn luyện, nâng cao tinh thần học tập chủ động, học tập đi đôi với thực tiễn, nhằm phát huy tối đa tính sáng tạo của mình

3 Mang lại sự tiện lợi bởi không gian và thời gian học tập nghiên cứu linh động

Người học có thể tự học ở mọi lúc (bất kể thời gian nào được cho là phù hợp với từng cá nhân), mọi nơi (bất kể nơi nào miễn có kết nối internet với chương trình trực tuyến, hoặc có thể lưu lại để học trên máy tính, điện thoại (khi không có kết nối internet) Ứng dụng công nghệ cho phép tất cả mọi người có thể tham gia thảo luận một vấn đề nào đó (hội thảo, hội nghị, họp,…) mà không cần phải tập trung tại một địa điểm, không phải ở cùng 1 quốc gia, qua đó góp phần tạo ra một xã hội học tập rộng lớn mà ở đó, người học có thể chủ động học tập, trao đổi kiến thức, trau dồi kinh nghiệm suốt đời

4 Vai trò trong việc thúc đẩy phát triển năng lực cá nhân

Trang 9

Với sự thuận tiện cho việc học ở mọi lúc mọi nơi, ứng dụng công nghệ sẽ tạo cơ hội cho người học có thể lựa chọn những vấn đề mà mình ưa thích, phù hợp với năng khiếu, sở thích, từ đó phát triển theo thế mạnh của từng người Chính điều đó sẽ thúc đẩy sự phát triển của các tài năng Chương trình học sẵn

có, học liệu mở phong phú khiến cho việc tra cứu dễ dàng sẽ gián tiếp thúc đẩy các cá nhân chủ động trang bị thêm nhiều những kiến thức mới, lấp đầy những

lỗ hổng, kích thích tìm tòi, khám phá và sáng tạo Bên cạnh đó, với công nghệ phù hợp, hấp dẫn nên dễ dàng gắn kết người học Các thiết bị như máy tính, máy tính bảng, điện thoại thông minh có kết nối Internet đều là những công cụ mà người học có thể sử dụng ở nhà hay bất cứ đâu ngay cả trên đường di chuyển

Do đó, người học sẽ thoải mái và tích cực hơn khi dùng các công cụ này để kết nối với bạn học, thầy cô và với nhà trường Sử dụng công nghệ trong lớp học giúp người học dễ dàng biểu thị mối quan tâm, sự chú ý, những mong đợi và thái độ tích cực với việc học, qua đó nâng cao chất lượng dạy và học

5 Vai trò trong việc nghiên cứu, chuyển giao KHCN

Việc ứng dụng công nghệ thông tin nói chung trong quản trị hoạt động nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ trong các trường đại học bao gồm các nội dụng cơ bản như: Ứng dụng trong quản trị việc đăng ký và cấp mã số các đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ; Ứng dụng trong quản trị hoạt động nghiên cứu khoa học của chủ thể nghiên cứu khoa học; Ứng dụng trong quản trị đầu ra của sản phẩm nghiên cứu khoa học; Ứng dụng trong quản trị và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Như vậy, các trường đại học, làm tốt việc ứng dụng công nghệ trong quản trị hoạt động nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ,

sẽ góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cho người làm công tác nghiên cứu khoa học, qua đó cũng nâng tầm vị thế, khẳng định được thương hiệu, xây dựng được hình ảnh của các cơ sở giáo dục đào tạo

6 Đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao về chất lượng nguồn nhân lực, thích ứng nhanh với công việc trong tương lai

Xu hướng giáo dục và đào tạo ngày nay là đào tạo đi đôi với sử dụng, dạy nghề đi đối với hướng nghiệp ngày càng trở nên phổ biến đối với các trường đại học ở trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Việc người học được tiếp cận những ứng dụng công nghệ ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường sẽ giúp rèn luyện những kỹ năng thực hành, làm việc trong môi trường công nghệ, khi

ra trường sẽ sớm hòa nhập với môi trường làm việc mới đòi hỏi những kỹ năng cũng như hiểu biết nhất định về công nghệ Trên thực tế không chỉ dừng ở kỹ năng số, người học còn được rèn kỹ năng mềm, tư duy phản biện, khả năng

Trang 10

nghiên cứu độc lập, và thành thạo trong phối hợp sử dụng công nghệ nên nhanh chóng đáp ứng được những đòi hỏi cấp thiết của thực hiễn thực hành nghề nghiệp Do đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục có tác động trực tiếp đến nguồn nhân lực có chất lượng cao cho doanh nghiệp, tạo điều kiện

mở rộng hợp tác lao động Việc hợp tác lao động trên thị trường, sẽ tạo sự liên kết giữa nhà trường - doanh nghiệp - người học, mang lại lợi ích cho tất cả các các bên: Đối với người học, được cam kết tuyển dụng ngay sau khi tốt nghiệp Đối với nhà trường, sẽ nâng cao thương hiệu, uy tín và vị thế trên thị trường giáo dục, đồng thời ngày càng thu hút được người học Đối với doanh nghiệp,

mô hình này sẽ giúp họ chủ động nguồn nhân lực được đào tạo bài bản theo đúng yêu cầu của doanh nghiệp

Như vậy, ứng dụng công nghệ trong giảng dạy và học tập hay nói cách khác việc đổi mới chương trình đào tạo theo hướng cập nhật các công nghệ tiên tiến, hiện đại sẽ là nền tảng để cung ứng được nguồn nhân lực dồi dào có chất lượng cao cho nền kinh tế thị trường hiện nay

Tài liệu tham khảo:

[1] Nguyễn Quý Thanh, Tôn Quang Cường, (2020) Những xu thế mới của công nghệ trong giáo dục Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội

[2] Nguyễn Văn Hiền Các xu hướng ứng dụng CNTT trong dạy - học, lý thuyết và vận dụng trong đào tạo giáo viên, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Câu 2: Anh/ chị hãy trình bày nguyên tắc thiết kế bản trình bày bài giảng trên các phần mềm hỗ trợ trình chiếu như PowerPoint… Anh chị hãy nêu ưu điểm/ nhược điểm của việc sử dụng bài trình chiếu trong dạy học trên lớp.

Trả lời:

1 Nguyên tắc thiết kế bản trình bày bài giảng trên các phần mềm hỗ trợ trình chiếu

Khác với các phương tiện công nghệ dạy học truyền thống như bảng, vật mẫu, tranh ảnh, Tivi, video, máy cassette (chỉ sử dụng một chiều hay hai chiều),

có thể coi bài giảng điện tử như một đa phương tiện cho phép làm trung gian giao tiếp giữa người dạy với người học và nội dung tri thức Xem sơ đồ:

Ngày đăng: 02/08/2021, 09:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w