1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận phát triển chương trình đào tạo đại học

11 524 13
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 143,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHUYÊN ĐỀ: PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC Câu 1: Phân tích một số cách tiếp cận phát triển chương trình. Câu 2: Vận dụng kiến thức về phát triển chương trình và tổ chức quá trình đào tạo đại học để xây dựng chuẩn đầu ra về kiến thức, kỹ năng 1 môn học mà đồng chí tham gia giảng dạy. 1. Chuẩn đầu ra về kiến thức Nhắc lại được các biện pháp, chu trình công nghệ thi công móng đường kính lớn; thi công kết cấu nhịp cầu bê tông cốt thép; Giải thích được sự khác nhau khi thi công trụ cao, trụ tháp bằng ván khuôn leo và ván khuôn trượt; Giải thích được những nguyên nhân dẫn tới những sự cố xảy ra trong quá trình thi công cầu; Phân tích được những biện pháp thi công phân đoạn kết cấu nhịp dầm: công nghệ thi công đúc hẫng, công nghệ đúc đẩy và công nghệ đúc trên đà giáo di động, công nghệ lắp hẫng, lắp phân đoạn trên trụ tạm và công nghệ thi công lắp xâu táo; Vận dụng các kiến thức đã học, đi đến so sánh, đánh giá tổng quát các công nghệ xây dựng cầu hiện đại áp dụng vào một công trình cầu cụ thể. Đánh giá tính hợp lý của các công nghệ khi áp dụng thi công cây cầu đó. 2. Chuẩn đầu ra về kỹ năng Kết hợp được các phần mềm xây dựng cầu phục vụ cho quá trình tính toán, thiết kế thi công cầu; Xử lý được các tình huống thường gặp trong quá trình thi công thi công phân đoạn kết cấu nhịp cầu bê tông cốt thép; Xây dựng được các phương án công nghệ thi công một kết cấu nhịp, so sánh và lựa chọn được phương án tối ưu khi áp dụng một cây cầu với một số liệu cho trước.

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ: PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC

Câu 1: Phân tích một số cách tiếp cận phát triển chương trình

Trả lời:

Chương trình đào tạo vừa là công cụ vừa là thước đo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và khoa học - kỹ thuật của mỗi quốc gia cũng như của mỗi trường đại học Theo đó, việc xây dựng chương trình đào tạo phụ thuộc vào tầm nhìn và sứ mệnh của cơ sở giáo dục trong một giai đoạn lịch sử nhất định Ngày nay, quan niệm về chương trình giáo dục đã rộng hơn, đó không chỉ là việc trình bày danh mục các nội dung giảng dạy Có rất nhiều quan niệm khác nhau về chương trình đào tạo ở nước ta và ngay cả trong các văn bản tiếng anh Chỉ xin nêu ra đây một vài quan niệm phản ảnh được những nét cơ bản nhất của chương trình đào tạo và được nhiều người đồng tình Wentling (1993) cho rằng:

“chương trình đào tạo là một bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo (đó có thể là một khóa học kéo dài vài giờ, một ngày, một tuần hoặc vài năm) Bản thiết kế tổng thể đó cho biết toàn bộ nội dung cần đào tạo, chỉ rõ ra những

gì có thể trông đợi ở người học sau khóa học, nó phác họa ra qui trình cần thiết

để thực hiện nội dung đào tạo, nó cũng cho biết các phương pháp đào tạo và các cách thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập, và tất cả những cái đó được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ”

Chương trình giáo dục là sự trình bày có hệ thống một kế hoạch tổng thể các hoạt động giáo dục trong một thời gian xác định, trong đó nêu lên các mục tiêu học tập mà người học cần đạt được, đồng thời xác định rõ phạm vi, mức độ nội dung học tập, các phương tiện, phương pháp, cách thức tổ chức học tập, cách đánh giá kết quả học tập … nhằm đạt được các mục tiêu học tập đề ra (nguyễn hữu chí, viện khgd 2002)

Về cấu trúc của một chương trình đào tạo, tyler (1949) cho rằng chương trình đào tạo phải bao gồm 4 thành tố cơ bản của nó, đó là: 1) mục tiêu đào tạo; 2) nội dung đào tạo; 3) phương pháp và qui trình đào tạo và 4) cách đánh giá kết quả đào tạo

Như vậy, quan niệm về chương trình đào tạo không đơn giản là cách định nghĩa mà nó thể hiện rất rõ quan điểm về đào tạo Ở việt nam, chương trình phải cân đối về khối lượng nội dung đào tạo giữa lí thuyết và thực hành theo mục tiêu

đã xác định và phù hợp với chương trình khung do Bộ GD&ĐT quy định đối với từng đối tượng tuyển sinh và ngành nghề đào tạo Chương trình phải có tính khả thi, bố trí hợp lí theo quy định của khung chương trình

Trang 2

Phát triển chương trình giáo dục là một quá trình liên tục nhằm hoàn thiện không ngừng chương trình giáo dục Theo quan điểm này chương trình giáo dục

là một thực thể không phải được thiết kế một lần và dùng cho mãi mãi, mà được phát triển, bổ sung, hoàn thiện tùy theo sự thay đổi của trình độ phát triển kinh

tế - xã hội, của thành tựu khoa học - kỹ thuật và công nghệ, và cũng là theo yêu cầu của thị trường sử dụng lao động Nói cách khác, một khi mục tiêu đào tạo của nền giáo dục quốc dân thay đổi để đáp ứng nhu cầu xã hội, thì chương trình giáo dục cũng phải thay đổi theo, mà đây lại là quá trình diễn ra liên tục nên chương trình giáo dục cũng phải được không ngừng phát triển và hoàn thiện

Vậy, phát triển chương trình đào tạo là một quá trình liên tục phát triển và hoàn thiện chương trình đào tạo hoà quyện vào quá trình đào tạo và chí ít là phải bao gồm các bộ phận/giai đoạn chủ yếu : ->Thiết kế > Triển khai > Điều chỉnh > Thiết kế lại >

Khi thiết kế chương trình có thể theo tiếp cận nội dung; tiếp cận mục tiêu hay tiếp cận quá trình (phát triển) Tiếp cận nội dung (content approach), là tiếp cận cổ điển, ở đây coi chương trình là một bản liệt kê nội dung đào tạo theo trình tự và thời lượng được ấn định; tiếp cận mục tiêu (objective approach) coi việc xác định nhu cầu và mô tả mục tiêu cụ thể, tường minh làm căn cứ cho các khâu sau của thiết kế chương trình; tiếp cận phát triển (developmental approach)

là tiếp cận hiện đại; trong tiếp cận này coi trọng tính cập nhật của chương trình với mục tiêu năng lực của sản phẩm đào tạo luôn đáp ứng và theo kịp nhu cầu xã hội vì vậy chương trình luôn được điều chỉnh, “phát triển” Như vậy, tại mỗi thời điểm của lịch sử phát triển giáo dục, các quốc gia cũng như mỗi cơ sở đào tạo cần có cách tiếp cận riêng phù hợp với sứ mệnh của riêng mình Vì vậy, các nhà quản lý giáo dục, nhà sư phạm cần hiểu bản chất của từng cách tiếp cận chương trình đào tạo Mỗi cách tiếp cận đều có những đặc điểm riêng, có ưu điểm và hạn chế riêng Vì vậy, các nhà quản lý và các nhà sư phạm cần hiểu được bản chất của chương trình đào tạo để xây dựng phương án sao cho phù hợp

1 Cách tiếp cận theo nội dung (The content approach)

Trong giai đoạn đầu của giáo dục, giáo dục chỉ được coi là “quá trình truyền thụ kiến thức” Nhiều người cho rằng chương trình đào tạo chỉ là bản

phác thảo nội dung đào tạo Với quan niệm này, giáo dục là quá trình truyền thụ nội dung - kiến thức Đây là cách tiếp cận kinh điển trong xây dựng chương

trình đào tạo, theo đó mục tiêu của đào tạo chính là nội dung kiến thức Cách tiếp cận này hiện nay rất phổ biến ở nước ta Theo cách tiếp cận này, chương trình đào tạo chẳng khác gì bản mục lục của một cuốn sách giáo khoa Phương

Trang 3

pháp giảng dạy thích hợp với cách tiếp cận này phải nhằm mục tiêu truyền thụ được nhiều kiến thức nhất, người dạy cũng chỉ cần tìm các phương pháp phù hợp để truyền đạt khối kiến thức đó một cách tốt nhất, vô hình chung đẩy người học vào thế thụ động trong tiếp thu, người học hoàn toàn thụ động nghe theo người dạy Việc đánh giá kết quả học tập sẽ gặp khó khăn vì mức độ nông sâu của kiến thức không được thể hiện rõ ràng

Chúng ta thừa nhận vai trò rất quan trọng của khối kiến thức mà người dạy, người học phải cùng nhau đạt tới Nhưng quá trình đào tạo không chỉ đơn giản như vậy Chúng ta sống trong thời đại bùng nổ thông tin với những tiến bội như vũ bão của khoa học và công nghệ nhất là công nghệ thông tin viễn thông, kiến thức gia tăng theo hàm mũ Cứ 5-7 năm khối lượng thông tin toàn cầu lại tăng gấp đôi Và nền giáo dục chỉ đơn thuần là quá trình “ truyền thụ kiến thức” với thời gian đào tạo chính khóa gần như cố định ( thậm chí còn giảm đi), CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO được thiết kế theo nội dung sẽ bế tắc vì không thể truyền thụ đủ nội dung trong một thời gian hạn chế, người dạy- người học không đủ khả năng để truyền thụ cũng như tiếp thu khối kiến thức khổng lồ do thông tin mang lại Hơn nữa, cho dù có được kiến thức tối đa thì nó cũng nhanh chóng bị lạc hậu

Bên cạnh đó, rất khó có thể đánh giá được mức độ hoàn thành chương trình thiết kế theo kiểu này Nguyên nhân là chương trình mới là những nét phác thảo về nội dung, kiến thức, kỹ năng mà người dạy cần rèn luyện cho người học Bản thân người thiết kế nắm được mức độ, phạm vi, khối lượng kiến thức, kỹ năng cần có ở mỗi ngành học, môn học (thang bậc kiến thức, kỹ năng) Người dạy trực tiếp chưa chắc đã có khái niệm đầy đủ về điều đó và hệ quả là sự tùy tiện trong biên soạn chương trình giảng dạy, đề cương bài giảng Người học sẽ còn bỡ ngỡ hơn vì không biết sẽ phải học, phải thi như thế nào Nhược điểm chính của cách tiếp cận trong thiết kế chương trình giáo dục theo nội dung là khó xác định được mục tiêu chi tiết, cụ thể, định hướng để thầy và trò cùng nhau

đi tới, đồng thời qua đó xác định được chuẩn để kiểm tra, đánh giá thành quả giảng dạy- học tập của giáo viên và sinh viên

Các nhà giáo dục học trong và ngoài nước cũng có những nhận xét tương

tự về cách tiếp cận này Theo Kelly, ý tưởng coi giáo dục là quá trình truyền thụ kiến thức, và chương trình giáo dục chú trọng trước hết đến nội dung là quá giản đơn, bởi lẽ nó bỏ qua nhiều khía cạnh khác không kém phần quan trọng khi thảo luận và thiết kế chương trình giáo dục Kelly cũng cho rằng, cách tiếp cận này không khuyến khích hoặc bắt ta có trách nhiệm gì với người học- những người tiếp thu nội dung kiến thức và là đối tượng của quá trình truyền thụ kiến thức, và cũng không có trách nhiệm gì về sự tác động của nội dung kiến thức lên người

Trang 4

học Còn người học chỉ có cách học tốt nhất những gì thầy truyền thụ cho họ Trong trường hợp kiến thức có tác động nhất định tới người học thì cũng không

có phương thức nào kiểm tra đánh giá chính xác được hiệu quả của quy trình đào tạo, mà chỉ đánh giá kết quả học tập thông qua xác định lượng kiến thức, kỹ năng mà người học tiếp thu và đồng hóa được

Cách tiếp cận theo nội dung cho đến nay đã trở nên lạc hậu, phần lớn quốc gia

và trường đại học không còn sử dụng cách tiếp cận này trong việc xây dựng chương trình đào tạo.

2 Cách tiếp cận theo mục tiêu (The objective approach) hay cách tiếp cận hành vi (behavior approach)

Vào giữa thế kỷ 20 cách tiếp cận mục tiêu bắt đầu được sử dụng ở Mỹ Cách tiếp cận theo mục tiêu, hay nói đầy đủ hơn là cách tiếp cận theo mục tiêu đào tạo, có cơ sở là mục tiêu đào tạo được xây dựng một cách chi tiết, bao gồm cả nội dung kiến thức, kỹ năng cần rèn luyện cho người học, phương pháp đào tạo, nguồn học liệu, cũng như phương thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập (đối chiếu với mục tiêu đào tạo) Mục tiêu đào tạo ở đây cũng là mục tiêu đầu ra của quy trình đào tạo thể hiện qua những thay đổi về hành vi người học từ lúc vào trường tới lúc ra trường và tham gia vào thị trường lao động

Theo cách tiếp cận này, nội dung, kiến thức, kỹ năng vẫn được coi trọng, song chỉ là những loại kiến thức, kỹ năng nhằm giúp đạt tới hệ mục tiêu đào tạo

đã được xác định từ trước Theo cách tiếp cận này, dựa trên mục tiêu GD-đào tạo đã được xác định một cách chi tiết, cụ thể (để có thể là chuẩn để vươn tới và

đo lường đánh giá được), người thiết kế chương trình chọn nội dung kiến thức,

kỹ năng cần đào tạo, phương pháp đào tạo (dạy - học), cũng như hình thức kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo phù hợp Có thể biểu diễn bằng sơ đồ sau:

Trang 5

Một chương trình giáo dục được thiết kế trên cơ sở mục tiêu đào tạo cho

ta một “khuôn mẫu chuẩn” được hình thành dẫn qua các giai đoạn khác nhau của quy trình đào tạo (một khóa học) Đồng thời chương trình đó cũng giúp xác định mục tiêu riêng biệt cho từng nhóm môn học, thậm chí từng môn học cụ thể cấu thành nên chương trình Căn cứ vào đó người dạy người học có thể lựa chọn nội dung kiến thức các phương pháp, các chiến lượng dạy - học tương ứng, các phương tiện phù hợp nhằm đạt mục tiêu Hơn nữa, một khi “chuẩn” đã được xác định, các phương tiện đạt chuẩn cũng đã hình thành, thì việc đánh giá mức độ đạt chuẩn (KT- ĐT kết quả đào tạo) cũng sẽ được tiến hành một cách chính xác, khoa học Kiểm tra - đánh giá kết quả đào tạo ở đây thực chất là sự đối chiếu kết quả đào tạo với hệ mục tiêu của quy trình đào tạo đã xác định

Thiết kế chương trình giáo dục trên cơ sở mục tiêu đào tạo rõ ràng có một

số ưu điểm nhất định:

Một là: mục tiêu đào tạo cụ thể và chi tiết tạo thuận lợi cho việc đánh giá hiệu quả và chất lượng chương trình đào tạo.

Do xác định mục tiêu đào tạo một cách cụ thể, chi tiết (để có thể đánh giá được) nên việc đánh giá kết quả đào tạo là hoàn toàn có thể thực hiện được một cách chính xác, khoa học

Hai là: Người học và người dạy biết rõ cần phải dạy và học như thế nào

để đạt được mục tiêu.

Việc xác định mục tiêu đào tạo cụ thể, chi tiết giúp xác định mục tiêu chi tiết cụ thể của từng nhóm môn học, thậm chí từng môn học Qua đó người dạy-người học biết rõ mình phải dạy- học những loại kiến thức, kỹ năng gì, mức độ rộng hẹp, nông sâu ra sao Hơn nữa từ đây họ sẽ tìm ra những phương sách phù hợp với từng đối tượng đề đạt mục tiêu một cách tốt nhất

Ba là: Cho phép xác định hình thức đánh giá kết quả học tập của người học.

Khái niệm “chất lượng đào tạo”, “chất lượng giáo dục” cũng sẽ được cụ thể hóa và được đánh giá một cách khách quan, công bằng hơn Như vậy, tính mục tiêu hay tính hiệu quả làm cho việc thiết kế chương trình giáo dục và tổ chức đào tạo mang tính khoa học, chính xác hơn, tổ chức quá trình dạy - học hợp lí hơn nhằm đạt mục tiêu với các hoạt động tương ứng và có thể đo lường đánh giá được

Tuy nhiên cách tiếp cận này cũng không tránh được những nhược điểm: Thứ nhất, sản phẩm đào tạo phải đồng nhất ở đầu ra trong khi nguyên liệu đầu vào là những con người lại rất khác nhau về năng lực và hoàn cảnh, nguồn gốc, văn

Trang 6

hóa… Nói cách khác, giáo dục không đơn thuần là công cụ để rèn đúc ra những sản phẩm theo một “khuôn mẫu” cố định như một dây chuyền công nghệ trong

đó “nguyên liệu đầu vào”, “quy trình công nghệ”, “tiêu chuẩn sản phẩm” được quy định một cách ngặt nghèo

Thứ hai, giáo dục không chỉ là quá trình truyền thụ kiến thức, không chỉ là việc rèn luyện người học theo những mục tiêu xác định, giáo dục còn là quá trình phát triển con người, giúp con người phát huy tối đa kinh nghiệm, tiềm năng sẵn có của bản thân để họ tự hoàn thiện, tự khẳng định mình và sẵn sàng thích nghi với cuộc sống luôn biến động Vì vậy, việc rèn đúc mọi người học theo một khuôn mẫu nhất định làm người học vẫn ở trạng thái bị động, giáo điều, máy móc, thiếu tính sáng tạo Các khả năng tiềm ẩn của mỗi cá nhân người học không được quan tâm phát huy, nhu cầu và sở thích riêng của người học khó được đáp ứng

Mặc dù còn nhiều ý kiến bàn cãi về điểm yếu, điểm mạnh, song cách tiếp cận theo mục tiêu trong thiết kế chương trình giáo dục với phương cách khoa học trong lựa chọn nội dung đào tạo, tổ chức thực thi chương trình giáo dục chắc chắn sẽ còn phát huy tác dụng trong tương lai

3 Cách tiếp cận phát triển (developmental approach)

Theo cách tiếp cận này chương trình giáo dục được xem là quá trình, còn giáo dục là sự phát triển (Kelly) Cách tiếp cận này được hiểu là cách tiếp cận phát triển trong xây dựng chương trình dạy học đại học định hướng phát triển năng lực, nay còn gọi là dạy học định hướng kết quả đầu ra Trên thực tế, cách tiếp cận này đã được đưa vào nghiên cứu và bàn luận trên thế giới từ những năm

90 của thế kỷ XX và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế

Bản chất của giáo dục theo cách tiếp cận phát triển nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học Bởi lẽ giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn, nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống, nghề nghiệp và nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức Nói cách khác, giáo dục là sự phát triển với nghĩa là phát triển con người, phát triển mọi tiềm năng, kinh nghiệm để có thể làm chủ được bản thân, đương đầu với thử thách một cách chủ động, sáng tạo Giáo dục là một quá trình tiếp diễn liên tục suốt đời, do vậy mục đích cuối cùng không phải là thuộc tính của nó Cách tiếp cận này chú trọng đến sự phát triển khả năng hiểu biết, tiếp thu ở người học hơn là truyền thụ nội dung kiến thức đã được xác định từ trước Theo Kelly, theo cách tiếp cận này giáo dục là

Trang 7

quá trình mà nhờ đó mức độ làm chủ bản thân làm chủ vận mệnh tiểm ẩn ở mỗi người được phát triển một cách tối đa

Tất cả những điều nói trên đòi hỏi phải thiết kế chương trình giáo dục như một quá trình bao gồm các hoạt động cần thực hiện giúp người học phát triển tối

đa những kinh nghiệm, năng lực tiềm ẩn, tố chất sẵn có để đáp ứng những mục tiêu nói trên

Không giống với cách tiếp cận của chương trình định hướng nội dung, cách tiếp cận của chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra Với cách tư duy này thì chất lượng đầu ra được coi là “sản phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học Theo cách tiếp cận này, việc quản lý chất lượng dạy học chuyển từ việc điều khiển “đầu vào” sang điều khiển “đầu ra”, tức là kết quả học tập của người học

Vì vậy, chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực có những đặc điểm sau:

- Không quy định những nội dung dạy học chi tiết mà quy định kết quả đầu ra mong muốn của quá trình giáo dục Trên cở sở đó, đưa ra những hướng dẫn chung về việc lựa chọn nội dung, phương pháp, tổ chức và đánh giá kết quả dạy học nhằm đảm bảo thực hiện được mục tiêu đào tạo tức là đạt được kết quả đầu ra mong muốn

- Mục tiêu học tập được hiểu là kết quả học tập mong muốn thường được

mô tả thông qua hệ thống các năng lực Kết quả học tập mong muốn sẽ được mô

tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được

- Người học cần đạt được những kết quả yêu cầu đã được quy định trong chương trình

- Việc đưa ra các chuẩn đào tạo nhằm đảm bảo quản lý chất lượng giáo dục theo định hướng kết quả đầu ra

Phạm vi bài tiểu luận, bản thân muốn nhấn mạnh sự khác biệt giữa chương trình định hướng nội dung và chương trình định hướng phát triển, từ đó

có thể thấy được xu hướng tiếp cận trong giáo dục đại học (Xem bảng 1)

Bảng 1 Bảng so sánh chương trình định hướng nội dung và chương trình định hướng phát triển năng lực

Chương trình định hướng nội dung

Chương trình định hướng phát triển năng lực

Mục tiêu giáo dục Mục tiêu dạy học được

mô tả không chi tiết và

Kết quả học tập cần đạt được

mô tả chi tiết và có thể quan

Trang 8

Chương trình định hướng nội dung

Chương trình định hướng phát triển năng lực

không nhất thiết phải quan sát, đánh giá được

sát, đánh giá được; thể hiện được mức độ tiến bộ của người học một cách liên tục

Nội dung giáo dục

Việc lựa chọn nội dung dựa vào các khóa học chuyên môn, không gắn với các tình huống thực tiễn

Nội dung được quy định chi tiết trong chương trình

Lựa chọn những nội dung nhằm đạt được kết quả đầu ra

đã quy định, gắn với các tình huống thực tiễn

Chương trình chỉ quy định những nội dung chính, không quy định chi tiết

Phương pháp dạy

học

Giáo viên là người truyền thụ tri thức, là trung tâm của quá trình dạy học

Người học tiếp thu thụ động những tri thức được quy định sẵn

Giáo viên chủ yếu là người tổ chức, hỗ trợ người học tự lực

và tích cực lĩnh hội tri thức

Tập trung phát triển khả năng giải quyết vấn đề, khả năng giao tiếp,…;

Chú trọng sử dụng các quan điểm, phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực; các phương pháp dạy học thí nghiệm, thực hành

Hình thức dạy học Chủ yếu dạy học lý

thuyết trên lớp học

Tổ chức hình thức học tập đa dạng; chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học, trải nghiệm sáng tạo; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học

Đánh giá kết quả

học tập của người

học

Tiêu chí đánh giá được xây dựng chủ yếu dựa trên sự ghi nhớ và tái hiện nội dung đã học

Tiêu chí đánh giá dựa vào năng lực đầu ra, có tính đến

sự tiến bộ trong quá trình học tập, chú trọng khả năng vận dụng trong các tình huống

Trang 9

Chương trình định hướng nội dung

Chương trình định hướng phát triển năng lực

thực tiễn

Như vậy, so với chương trình định hướng nội dung thì chương trình định hướng phát triển năng lực đã chuyển đổi trọng tâm của quá trình dạy học từ người dạy sang người học Từ đó, thể hiện được hướng đích chất lượng giáo dục thông qua sự tiến bộ của người học Vai trò của người thầy được chuyển đổi từ

vị trí trung tâm sang vị trí người hỗ trợ, truyền cảm hứng để phát huy tính tự giác và chủ động của người học, từ đó đạt được mục tiêu của chương trình đào tạo môn học/khóa học.Nói tóm lại, theo cách tiếp cận này với quan điểm giáo dục là phát triển còn chương trình giáo dục là quá trình, thì người thiết kế chú trọng nhiều hơn đến khía cạnh nhân văn của chương trình giáo dục Cụ thể là, đối tượng đào tạo, từng cá thể trong quy trình đào tạo với nhu cầu và hứng thú của họ được xem là điểm xuất phát của việc xây dựng chương trình giáo dục Nhà trường chỉ cung cấp các khối kiến thức (module) cần thiết và giới thiệu các phương thức tổ hợp các khối kiến thức để đi tới một văn bằng xác định Mỗi người học, căn cứ vào nhu cầu, hứng thú của bản thân, vào kinh nghiệm, kiến thức đã tích lũy được trước đó, có thể có sự tư vấn của cố vấn học tập, tự xây dựng cho mình một chương trình giáo dục riêng, thỏa mãn mục tiêu của bản thân Cũng trong cách tiếp cận này, khi thực hiện chương trình, vai trò của người thầy (teacher) chuyển thành người hướng dẫn (instructor) người học được rèn luyện cách tự học, tự phát hiện và giải quyết vấn đề, tự điều chỉnh quá trình

tự đào tạo của mình với sự tư vấn của thầy Tuy nhiên cách tiếp cận này cũng nhận không ít những phê phán, chỉ trích Người ta cho rằng cách tiếp cận này chú ý nhiều đến nhu cầu, sở thích của con người mà nhu cầu và sở thích lại hết sức đa dạng, mà không phải ai cũng xác định nổi Đó là chưa nói nhu cầu sở thích của con người cũng dễ thay đổi

Với việc nhận thức được những ưu điểm và hạn chế của cách thức tiếp cận này sẽ mang lại những thông tin giá trị trong việc điều chỉnh cách thức tiếp cận cũng như lựa chọn phương pháp giảng dạy sao cho phù hợp với đối tượng người học, từ đó đưa ra những thông tin phản hồi với cấp quản lý trong việc xây dựng cũng như thiết kế khung chương trình đào tạo

4 Tiếp cận hệ thống

Alvin Toffler, nhà tương lai học thường có những dự đoán trong vòng 30 năm, đã từng nói “Tình trạng mù chữ của năm 2000 sẽ không phải là người ta không biết đọc, biết viết, mà bởi vì họ không thể học và học mãi” Trong trường hợp này, những khái niệm truyền thống về nhà trường, lớp học, hồ sơ lưu trữ v.v chắc chắn sẽ phải thay đổi.Và vấn đề quan trọng hơn là chương trình giáo dục

Trang 10

phải được thiết kế và tổ chức sao cho mọi người có thể được tiếp cận ở mọi lúc, mọi nơi thuận lợi nhất cho họ

Theo quan niệm chương trình là bản thiết kế tổng thể quá trình đào tạo từ khâu đầu (tuyển chọn) đến khâu cuối (kết thúc khoa học) với một hệ thống các hoạt động đào tạo theo một trình tự chặt chẽ, kết hựop và tác động qua lại lẫn nhau nhằm thực hiện các nội dung và đạt được các mục tiêu cụ thể trong các giai đoạn của quá trình đào tạo Tiếp cận hệ thống cho phép thiết kế và xây dựng các chương trình đào tạo có tính hệ thống, chặt chẽ và logíc cao, làm rõ vai trò, vị trí, tác dụng của từng khâu, từng nội dung chương trình đào tạo đồng thời bảo đảm mối liên hệ, tác động qua lại giữa các thành tố của chưong trình

Tài liệu tham khảo:

[1] Trần Thị Hoài (2020) Bài giảng Phát triển chương trình và tổ chức quá đào tạo đại học Đại học Quốc gia Hà Nội

[2] Nguyễn Đức Chính (2011), Phát triển chương trình đào tạo, Tài liệu giảng dạy, Trường Đại học Giáo dục, Hà Nội

[3] Phát triển chương trình đào tạo, PGS.TS Trần Khánh Đức, Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Câu 2 : Vận dụng kiến thức về phát triển chương trình và tổ chức quá trình đào tạo đại học để xây dựng chuẩn đầu ra về kiến thức, kỹ năng 1 môn học mà đồng chí tham gia giảng dạy.

Trả lời:

Xây dựng chuẩn đầu ra môn học “Công nghệ xây dựng cầu hiện đại”:

1 Chuẩn đầu ra về kiến thức

- Nhắc lại được các biện pháp, chu trình công nghệ thi công móng đường kính lớn; thi công kết cấu nhịp cầu bê tông cốt thép;

- Giải thích được sự khác nhau khi thi công trụ cao, trụ tháp bằng ván khuôn leo và ván khuôn trượt;

- Giải thích được những nguyên nhân dẫn tới những sự cố xảy ra trong quá trình thi công cầu;

- Phân tích được những biện pháp thi công phân đoạn kết cấu nhịp dầm: công nghệ thi công đúc hẫng, công nghệ đúc đẩy và công nghệ đúc trên đà giáo

Ngày đăng: 02/08/2021, 09:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w