1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng gốc kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương

185 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 185
Dung lượng 2,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quan niệm trước đây, hàng hóa, dịch vụ tham gia hoạt động thương mại quốc tế là hàng hóa, dịch vụ phải được di chuyển qua khỏi cửa khẩu biên giới quốc gia, từ nước này sang nước khá

Trang 1

HỌC VIỆN TÀI CHÍNHCHỦ BIÊN: PGS TS NGUYỄN THỊ THƯƠNG HUYỀN

BÀI GIẢNG GỐC

KỸ THUẬT NGHIỆP VỤ NGOẠI THƯƠNG

Hà Nội, 2017 NHÀ XUẤT BẢN TÀI CHÍNH

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Bài giảng gốc “Kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương” lần đầu tiên được biên soạn tại Học viện Tài chính, theo hướng hiện đại phục vụ cho việc đào tạo sinh viên chuyên ngành Hải quan và Nghiệp vụ ngoại thương của Học viện theo hình thức đào tạo tín chỉ Bài giảng gốc nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản và chuyên sâu về các hoạt động kinh doanh quốc tế (ngoại thương) của doanh nghiệp mà chủ yếu là liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, như: Các phương thức thương mại quốc tế; Hợp đồng thương mại quốc tế; Các điều kiện thương mại quốc tế; Bảo hiểm thương mại quốc tế; Thanh toán thương mại quốc tế; Đây là những kiến thức nền tảng làm tiền đề cho sinh viên nghiên cứu các môn học gắn với lĩnh vực ngoại thương như Giao nhận, vận tải quốc tế, Lôgistics và chuỗi cung ứng dịch vụ…đồng thời cũng là kiến thức nền tảng cho các môn học gắn liền với nghiệp vụ hải quan như Thủ tục hải quan, Kiểm tra, giám sát hải quan, Kiểm tra sau thông quan v.v

Bài giảng gốc được thiết kế gồm 5 chương với thời lượng

02 tín chỉ, do PGS,TS Nguyễn Thị Thương Huyền - Trưởng khoa Thuế và Hải quan kiêm Trưởng bộ môn Nghiệp vụ Hải quan làm chủ biên cùng với sự tham gia biên soạn của các nhà khoa học:

Trang 3

Chương 1CÁC PHƯƠNG THỨC THƯƠNG MẠI

QUỐC TẾ

1.1 Một số nhận thức cơ bản về thương mại quốc tế

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm thương mại quốc tế

Trong nền kinh tế sản xuất hàng hoá, hoạt động trao đổi hàng hoá, dịch vụ là điều kiện quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của xã hội Các hoạt động trao đổi ấy gọi chung là hoạt động thương mại Trước đây, hoạt động thương mại chỉ

là hoạt động mua bán hàng hóa, tuy nhiên, quan niệm này không còn phù hợp trong bối cảnh hiện nay

Theo Điều 3 Luật Thương mại năm 2005, hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm

mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác

- Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận

1 PGS,TS Nguyễn Thị Thương Huyền, TS Thái Bùi Hải

An - Học viện Tài chính, biên soạn chương 1, chương 2;

2 PGS,TS Nguyễn Hoàng Ánh, TS Tô Bình Minh - Đại

học Ngoại Thương, biên soạn chương 3;

4 PGS.TS Đoàn Minh Phụng - Học viện Tài chính, biên

soạn chương 4;

5 PGS,TS Hà Minh Sơn, Ths Đặng Thị Ái - Học viện Tài

chính, biên soạn chương 5

Trong quá trình biên soạn, tập thể tác giả đã cố gắng lựa

chọn đưa vào những nội dung có hàm lượng lý luận khoa

học cao nhất và bám sát thực tiễn vận hành của các kỹ thuật

nghiệp vụ ngoại thương nhằm đáp ứng thực tiễn hoạt động

xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá trong bối cảnh hội nhập sâu,

rộng hiện nay Tuy nhiên, đây là bài giảng gốc được biên

soạn lần đầu và trong điều kiện các hoạt động thương mại

quốc tế luôn luôn có sự thay đổi, do vậy, nội dung của cuốn

sách không thể tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định

Tập thể tác giả mong muốn nhận được sự đóng góp của các

nhà khoa học và bạn đọc để cuốn sách lần sau tái bản được

hoàn thiện hơn

Hà Nội, tháng 12 năm 2017

Trang 4

- Đối tượng của giao dịch là hàng hóa, dịch vụ được di chuyển từ khu vực pháp lý này sang khu vực pháp lý khác Theo quan niệm trước đây, hàng hóa, dịch vụ tham gia hoạt động thương mại quốc tế là hàng hóa, dịch vụ phải được di chuyển qua khỏi cửa khẩu biên giới quốc gia, từ nước này sang nước khác.

- Đồng tiền thanh toán có thể là ngoại tệ đối với một trong hai bên hoặc đối với cả hai bên

- Nguồn luật điều chỉnh bao gồm: Pháp luật quốc gia, Điều ước quốc tế, Pháp luật nước ngoài, Tập quán thương mại quốc tế

Việc áp dụng nguồn luật điều chỉnh phải dựa trên các nguyên tắc sau:

+ Về áp dụng Luật Thương mại và pháp luật có liên quan: Hoạt động thương mại phải tuân theo Luật Thương mại và pháp luật có liên quan Nếu hoạt động thương mại đặc thù được quy định trong luật khác thì áp dụng quy định của luật

đó Trường hợp hoạt động thương mại không được quy định trong Luật thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự

+ Về áp dụng điều ước quốc tế, pháp luật nước ngoài và tập quán thương mại quốc tế: Trường hợp điều ước quốc tế

mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

có quy định áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc có quy định khác với quy định của Luật thương mại thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó Các

- Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một

bên (bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ

cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ

(khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch

vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận

- Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản

hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các

hoạt động đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư và các quy

định khác của pháp luật có liên quan

- Xúc tiến thương mại là hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ

hội mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ, bao gồm hoạt

động khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày, giới

thiệu hàng hoá, dịch vụ và hội chợ, triển lãm thương mại

- Các hoạt động trung gian thương mại là hoạt động của

thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một

hoặc một số thương nhân được xác định, bao gồm hoạt động

đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, uỷ thác mua

bán hàng hoá và đại lý thương mại

Hoạt động thương mại quốc tế là hoạt động thương mại có

yếu tố nước ngoài tham gia Bản chất của hoạt động thương

mại quốc tế được thể hiện qua những đặc trưng cơ bản sau:

- Chủ thể của giao dịch (bên Mua và bên Bán, hay còn

được gọi là các thương nhân) là những người có quốc tịch

hoặc có nơi cư trú (hay trụ sở thương mại) ở các nước khác

nhau Chủ thể có thể là cá nhân, tổ chức, pháp nhân hoặc thể

nhân

Trang 5

- Nguyên tắc tự do, tự nguyện thoả thuận trong hoạt động thương mại: Các bên có quyền tự do thoả thuận không trái với các quy định của pháp luật, không trái với thuần phong

mỹ tục và đạo đức xã hội để xác lập các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại Nhà nước tôn trọng

và bảo hộ các quyền đó Trong hoạt động thương mại, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được thực hiện hành

vi áp đặt, cưỡng ép, đe doạ, ngăn cản bên nào

- Nguyên tắc áp dụng thói quen trong hoạt động thương

mại được thiết lập giữa các bên Trừ trường hợp có thoả thuận khác, các bên được coi là mặc nhiên áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại đã được thiết lập giữa các bên đó mà các bên đã biết hoặc phải biết nhưng không được trái với quy định của pháp luật

- Nguyên tắc áp dụng tập quán trong hoạt động thương

mại: Trường hợp pháp luật không có quy định, các bên không

có thoả thuận và không có thói quen đã được thiết lập giữa các bên thì áp dụng tập quán thương mại nhưng không được trái với những nguyên tắc quy định trong Luật thương mại và trong Bộ luật Dân sự Trường hợp chưa có Điều ước quốc tế hoặc Điều ước quốc tế không có quy định, các bên không có thoả thuận và không có thói quen đã được thiết lập giữa các bên thì áp dụng tập quán thương mại quốc tế nhưng không được trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt nam

- Nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng: Thương nhân thực hiện hoạt động thương mại có nghĩa

bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài được

thoả thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương

mại quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại

quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật

Việt Nam

Trong thời đại ngày nay, sự giao lưu quốc tế của các nước

trên thế giới ngày càng mở rộng và đa dạng, kéo theo hoạt

động thương mại quốc tế càng phát triển và phức tạp, điều

đó càng đòi hỏi mỗi thương nhân phải nắm vững những kiến

thức cơ bản về kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương mới thực

hiện có hiệu quả các hoạt động thương mại quốc tế

1.1.2 Các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thương

mại quốc tế và quản lý nhà nước về thương mại quốc tế

1.1.2.1 Các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thương

mại quốc tế

Hoạt động thương mại nói chung và hoạt động thương

mại quốc tế nói riêng phải dựa trên các nguyên tắc cơ bản

sau:

- Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của thương nhân

trong hoạt động thương mại: Thương nhân thuộc mọi thành

phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật trong hoạt động

thương mại Thương nhân Việt Nam và thương nhân nước

ngoài bình đẳng trước pháp luật trong hoạt động thương mại

Bình đẳng trước pháp luật trong hoạt động thương mại có

nghĩa là các thương nhân có quyền và nghĩa vụ như nhau khi

tham gia các hoạt động thương mại

Trang 6

- Tổ chức và phối hợp các hoạt động quản lý thương mại quốc tế;

- Chỉ đạo, điều hành các hoạt động thương mại quốc tế;

- Kiểm soát các quan hệ thương mại quốc tế;

- Thực hiện thống kê nhà nước về thương mại quốc tế.Với các nội dung chủ yếu đó, quản lý nhà nước về thương mại quốc tế đã có vai trò to lớn trong việc định hướng, hướng dẫn các hoạt động thương mại quốc tế; tạo lập môi trường thương mại và cạnh tranh; hỗ trợ các thương nhân giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp thương mại quốc tế; điều tiết các quan hệ thị trường, các hoạt động thương mại quốc tế; kiểm tra, giám sát thực hiện các mục tiêu phát triển thương mại quốc tế v.v…

Các cơ quan quản lý thương mại quốc tế ở Việt Nam bao gồm: Chính phủ, Bộ Công thương, các Bộ, các cơ quan ngang

Bộ và Ủy ban nhân dân các cấp Trong đó, Chính phủ là cơ quan thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động thương mại

Bộ Công thương chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện việc quản lý nhà nước về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động thương mại cụ thể Các Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện việc quản lý nhà nước về các hoạt động thương mại trong lĩnh vực được phân công Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện việc quản lý nhà nước về các hoạt động thương mại tại địa phương theo sự phân cấp của Chính phủ

vụ thông tin đầy đủ, trung thực cho người tiêu dùng về hàng

hoá và dịch vụ mà mình kinh doanh và phải chịu trách nhiệm

về tính chính xác của các thông tin đó Thương nhân thực

hiện hoạt động thương mại phải chịu trách nhiệm về chất

lượng, tính hợp pháp của hàng hoá, dịch vụ mà mình kinh

doanh

- Nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ

liệu trong hoạt động thương mại Thông điệp dữ liệu là thông

tin được tạo ra, gửi đi, nhận và lưu giữ bằng phương tiện

điện tử.Trong hoạt động thương mại, các thông điệp dữ liệu

đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của

pháp luật thì được thừa nhận có giá trị pháp lý tương đương

văn bản

1.1.2.2 Quản lý nhà nước về thương mại quốc tế

Quản lý nhà nước về thương mại quốc tế là sự quản lý

(hay sự tác động và điều chỉnh) của các cơ quan nhà nước có

thẩm quyền đối với các hoạt động thương mại quốc tế, nhằm

thúc đẩy các hoạt động thương mại quốc tế phát triển đáp ứng

những mục tiêu và yêu cầu nhất định

Nội dung quản lý nhà nước về thương mại nói chung và

thương mại quốc tế nói riêng được thể hiện ở các phương

diện cơ bản sau:

- Xây dựng và triển khai thực hiện chiến lược, quy hoạch,

kế hoạch, chương trình, dự án phát triển thương mại quốc tế;

- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm

pháp luật về thương mại quốc tế;

Trang 7

1.2 Các phương thức thương mại quốc tế

1.2.1 Mua bán hàng hóa quốc tế

1.2.1.1 Mua bán thông thường (giao dịch thông thường) a/ Mua bán trực tiếp (giao dịch trực tiếp)

Giao dịch trực tiếp trong thương mại quốc tế là phương thức giao dịch trong đó người bán và người mua trực tiếp quan hệ với nhau bằng cách gặp mặt hoặc thông qua các phương tiện thông tin như thư từ, điện tín, thư điện tử… để bàn bạc và thoả thuận về hàng hoá, giá cả, phương thức thanh toán… và các điều kiện giao dịch khác Đây là phương thức mua bán phổ biến nhất, nên được gọi là phương thức mua bán thông thường

Trong mua bán thông thường trực tiếp, bên mua và bên bán trực tiếp giao dịch với nhau, việc mua và việc bán không ràng buộc nhau, cũng như không có sự phụ thuộc vào lần giao dịch trước Bên mua có thể chỉ mua mà không bán, bên bán có thể chỉ bán mà không mua

Trong thương mại quốc tế, giao dịch trực tiếp ngày càng phát triển bởi lẽ các phương tiện thông tin rất phát triển, người mua và người bán có thể giao dịch trực tiếp với nhau một cách thuận tiện, dễ dàng Bên cạnh đó, trình độ, năng lực giao dịch của người tham gia thương mại quốc tế ngày càng cao

Để tiến tới ký kết hợp đồng mua bán với nhau, bên bán (bên xuất khẩu) và bên mua (bên nhập khẩu) thường phải qua một quá trình giao dịch, thương lượng với nhau về các điều

Nhà nước thực hiện độc quyền Nhà nước có thời hạn về

hoạt động thương mại đối với một số hàng hóa, dịch vụ hoặc

tại một số địa bàn để bảo đảm lợi ích quốc gia Chính phủ quy

định cụ thể Danh mục hàng hóa, dịch vụ, địa bàn độc quyền

Nhà nước Đồng thời Chính phủ thống nhất quản lý việc cho

phép thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt

Nam Bộ Kế hoạch và Đầu tư chịu trách nhiệm trước Chính

phủ quản lý việc cấp giấy phép cho thương nhân nước ngoài

đầu tư vào Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam

Bộ Công thương chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lý

việc cấp giấy phép thành lập Văn phòng đại diện của thương

nhân nước ngoài tại Việt Nam; thành lập Chi nhánh, doanh

nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại

Việt Nam trong trường hợp thương nhân đó chuyên thực hiện

hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực

tiếp đến mua bán hàng hóa theo pháp luật Việt Nam và phù

hợp với điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam là thành viên Trường hợp pháp luật chuyên ngành có

quy định cụ thể về thẩm quyền của bộ, cơ quan ngang bộ chịu

trách nhiệm trước Chính phủ quản lý việc cấp giấy phép cho

thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam

thì thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành đó

Ngoài ra còn có Hiệp hội thương mại thực hiện chức năng

quản lý về hoạt động thương mại quốc tế Hiệp hội thương

mại được thành lập để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

của thương nhân, động viên thương nhân tham gia phát triển

thương mại, tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp

luật về thương mại Hiệp hội thương mại được tổ chức và

hoạt động theo quy định của pháp luật về Hội

Trang 8

Thư chào hàng (mẫu 1)

Chúng tôi xin cảm ơn thư hỏi hàng của các ngài số

123 đề ngày 13/9/2017 và vui mừng chào bán 500 chiếc

ABC theo mẫu sẽ gửi cho các ngài, giá 230 USD/ chiếc kể

cả bao bì có khả năng đi biển, giao hàng một chuyến vào tháng 12/2017 và thanh toán bằng thư tín dụng không huỷ ngang như thường lệ

Thư chào hàng (mẫu 2)

Chúng tôi rất lấy làm tiếc rằng hiện thời chúng tôi không

có khả năng chào bán ABC1 là mặt hàng các ngài hỏi mua, nhưng thay vào đó chúng tôi vui mừng chào bán ABC2 có chất lượng, có kiểu dáng và màu sắc tương tự như ABC1

kiện giao dịch Trong mua bán quốc tế, những bước giao dịch

chủ yếu thường diễn ra như sau:

Bước 1 Hỏi giá (Inquiry): là việc người mua yêu cầu

người bán cung cấp cho mình các thông tin liên quan đến

hàng hoá và các điều kiện giao dịch Nội dung của hỏi giá

có thể gồm: tên hàng, quy cách, phẩm chất, số lượng, thời

gian giao hàng mong muốn Giá cả mà người mua có thể trả

cho mặt hàng đó thường được người mua giữ kín, nhưng để

tránh mất thời gian hỏi đi hỏi lại, người mua nêu rõ những

điều kiện mà mình mong muốn để làm cơ sở cho việc quy

định giá, như: loại tiền, thể thức thanh toán, điều kiện cơ sở

giao hàng… Hỏi giá không ràng buộc trách nhiệm của người

hỏi giá Người hỏi giá thường hỏi nhiều nơi nhằm nhận được

nhiều bản chào hàng cạnh tranh để so sánh lựa chọn bản chào

hàng thích hợp nhất Tuy vậy, trường hợp người mua hỏi

giá nhiều nơi quá sẽ gây nên nhu cầu căng thẳng ảo trên thị

trường Điều này không có lợi cho người mua

Bước 2 Phát giá (chào hàng) (Offer/ Order): là lời đề

nghị ký kết hợp đồng được gửi cho một hay nhiều người xác

định Một đề nghị gửi cho những người không xác định chỉ

được coi là lời mời làm chào hàng Chào hàng gồm chào bán

hàng (Offer) và chào mua hàng (Order) Đơn chào hàng có

thể được chào hàng cho một đối tượng xác định, ràng buộc

hoặc không ràng buộc trách nhiệm của người phát ra đơn

chào hàng đó

Trang 9

Bước 3 Hoàn giỏ (Counter offer/order): là sự phỳc đỏp

cú khuynh hướng chấp nhận chào hàng nhưng cú chứa đựng những điểm bổ sung, bớt đi hay cỏc sửa đổi khỏc Một sự phỳc đỏp cú khuynh hướng chấp nhận chào hàng nhưng cú chứa đựng cỏc yếu tố bổ sung hay những điều kiện khỏc mà khụng làm biến đổi một cỏch cơ bản nội dung của chào hàng thỡ được coi là chấp nhận chào hàng (bước 4)

Thưa ụng Johnson,Chỳng tụi xin cảm ơn bức thư của ụng đề ngày 20/12/2017 trong đú cỏc ụng cú gửi kốm cho chỳng tụi chào hàng và catalogue mới nhất của cỏc ụng

Chỳng tụi vui mừng thấy rằng giỏ chào bỏn của cỏc ụng là cú thể chấp nhận được và vỡ vậy, chỳng tụi xin gửi kốm bức thư này đơn hàng số 2401 đặt mua một số sản phẩm của cỏc ụng trị giỏ 20350 bảng Anh Chỳng tụi hiểu rằng cỏc ụng sẽ giành cho chỳng tụi 0,75% chiết khấu cho đơn đặt hàng này Ngay sau khi nhận được xỏc nhận bỏn của cỏc ụng, chỳng tụi sẽ chỉ thị cho ngõn hàng của chỳng tụi, Ngõn hàng Ngoại thương VN mở một tớn dụng thư khụng thể huỷ ngang, thanh toỏn sau 30 ngày, để trả tiền cho cỏc ụng

Đơn hàng này phụ thuộc vào việc giao hàng trước ngày 20/1/2018 và chỳng tụi giành quyền huỷ đơn hàng này hoặc trả lại hàng hoỏ mà cỏc ụng phải chịu rủi ro và phớ tổn phỏt sinh từ hoặc cú liờn quan tới việc này nếu hàng giao sau ngày đú

Đơn chào số: 1034657/04

Hà nội, ngày 12 tháng 2 năm 2006

Để phúc đáp thư hỏi hàng của quý ngài ngày 2 tháng

2 năm 2006 nay chúng tôi chào bán cho quý ngài 5000

bộ thiết bị dụng cụ sửa chữa máy kéo, sản xuất tại Nhật bản với giá 200 USD/Bộ FOB cảng Hải phòng, Giao hàng quý IV-2006, thanh toán bằng L/C trả tiền ngay bằng USD.

Chúng tôi mong muốn nhận được thư trả lời của quý ngài không quá 5 ngày kể từ khi nhận được căn cứ trên dấu bưu điện.

Kính thư

Giám đốc Nguyễn Văn A

8 Tràng thi, HN

ĐT:

Fax:

Cỏc điều khoản trong đơn chào hàng thường bao gồm tờn

hàng, số lượng, phẩm chất, giỏ cả hàng húa, phương thức

thanh toỏn, phương thức giao nhận hàng hoỏ…

Trường hợp hai bờn đó cú quan hệ mua bỏn với nhau,

chào hàng chỉ nờu những nội dung cần thiết cho lần giao dịch

đú như tờn hàng, quy cỏch, phẩm chất, số lượng, giỏ, thời hạn

giao hàng Những điều kiện cũn lại sẽ ỏp dụng như những

hợp đồng đó ký trước đú hoặc theo điều kiện chung giao hàng

giữa hai bờn

Một đơn chào hàng được coi là cú hiệu lực phỏp lý khi

chủ thể của đơn chào hàng phải cú tư cỏch phỏp lý, đối tượng

của đơn chào hàng phải được phộp mua bỏn, nội dung của

đơn chào hàng phải hợp phỏp (bằng văn bản)

Trang 10

qua văn kiện xác nhận) Văn kiện do bên bán gửi thường gọi

là giấy xác nhận bán hàng, do bên mua gửi gọi là giấy xác nhận mua hàng Xác nhận thường được lập thành hai bản, bên lập xác nhận ký trước rồi gửi cho bên kia Bên kia ký xong giữ lại một bản rồi gửi trả một bản

b/ Mua bán qua trung gian (giao dịch qua trung gian)

Hoạt động trung gian thương mại là hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc một số người Giao dịch qua trung gian là phương thức giao dịch được thực hiện thông qua một người thứ ba - người thứ

ba này được gọi là người trung gian mua bán Người trung gian mua bán được hiểu có thể là một cá nhân, một tổ chức hay một doanh nghiệp Người trung gian mua bán phổ biến trên thị trường thế giới là đại lý (Agent) và môi giới (Broker)

1.2.1.2 Mua bán đối lưu

Mua bán đối lưu trong thương mại quốc tế là một phương thức giao dịch trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng hoá trao đổi có giá trị tương đương Mục đích của hoạt động trao đổi này không phải nhằm thu về một khoản ngoại tệ mà nhằm thu về một hàng hoá khác có giá trị tương đương Xuất phát điểm của phương thức này là do các bên (nước xuất khẩu và nước nhập khẩu) không có tiền để trực tiếp mua bán hàng hóa nhưng vẫn muốn tiến hành hoạt động giao dịch với nhau.Phương thức mua bán đối lưu có các đặc điểm cơ bản như: Quan hệ giữa hai bên là quan hệ Hàng - Hàng, quan tâm

Chúng tôi mong sớm nhận được xác nhận bán của

Chúng tôi rất cám ơn ngài đã gửi catalô và bảng

giá kèm chào hàng số 72 ngày 4 tháng 8 của các ngài,

nhưng rất tiếc giá của các ngài có phần cao hơn giá

của những nhà cạnh tranh khác Tuy nhiên, chúng tôi

hi vọng sẽ có dịp khác buôn bán với các ngài trong

tương lai

Bước 4 Chấp nhận (Acceptance): Là thông báo của bên

được chào hàng chuyển cho bên chào hàng về việc chấp thuận

toàn bộ nội dung đã nêu ra trong đơn chào hàng Chấp nhận

chỉ được xác nhận khi chấp nhận hoàn toàn các nội dung của

đơn chào hàng mà không có sửa đổi các điều kiện cơ bản của

đơn chào hàng, phải do chính người nhận giá chấp nhận Bên

cạnh đó, việc chấp nhận phải trong thời hạn hiệu lực của đơn

chào hàng và đơn chấp nhận phải được chuyển đến tay người

chào hàng

Bước 5 Xác nhận (Confirmation): Là việc các bên khẳng

định lại các vấn đề đã thoả thuận giao dịch trước đó (thông

Trang 11

sử dụng tới hai hợp đồng vừa độc lập lại vừa có liên hệ với nhau Mua đối lưu cũng có thể chỉ sử dụng một hợp đồng nhưng có hai danh mục hàng hoá trao đổi, nghĩa là

có thể quy định rõ tên hàng, số lượng, giá cả, số tiền của hàng hoá cam kết mua ngược lại vào cùng một hợp đồng mua thiết bị, máy móc… Tuy nhiên, trong nghiệp vụ thực

tế, đôi khi điều này khó có thể làm được nên nhiều trường hợp chỉ đưa ra những quy định có tính nguyên tắc về điểm này, chỉ quy định số tiền mua ngược lại, các chi tiết khác lại tiến hành thoả thuận đàm phán hợp đồng cụ thể theo thời gian thoả thuận

Đặc điểm của mua đối lưu là không phải lấy hàng đổi hàng đơn thuần như hình thức hàng đổi hàng mà là giao dịch thanh toán tiền mặt Điểm khác nhau giữa nó và giao dịch thông thường ở chỗ bên xuất khẩu cam kết mua ngược lại hàng của đối tác trong hợp đồng thứ nhất và không đòi hỏi trao đổi ngang giá trị

c/ Hình thức mua lại sản phẩm (Buyback)

Thực tế thương mại ở một số nước diễn ra tình trạng mua thiết bị của nước ngoài nhưng không có đủ ngoại tệ để thanh toán hoặc sản phẩm sản xuất ra không tìm được thị trường tiêu thụ Chính vì vậy đã xuất hiện hình thức mua lại sản phẩm Mua lại sản phẩm là hình thức trong đó một bên cung cấp thiết bị toàn bộ và/hoặc sáng chế, hoặc bí quyết kỹ thuật cho bên khác, đồng thời cam kết mua lại những sản phẩm do thiết bị hoặc sáng chế hoặc bí quyết kỹ thuật đó tạo ra Cách làm này thường sử dụng trong giao dịch chuyển giao công

đến giá trị sử dụng của hàng hóa trao đổi; Đồng tiền được sử

dụng làm chức năng tính giá là chủ yếu Trong mua bán đối

lưu, phải có sự cân bằng về giá trị, giá cả hàng hóa trao đổi

Vì những đặc điểm đó, người ta thường ta gọi phương thức

giao dịch này là phương thức XNK liên kết hoặc phương

thức hàng đổi hàng, ở đây, thuật ngữ mua bán đối lưu được

dùng để chỉ hình thức giao dịch kinh doanh, trong đó bao

gồm yếu tố trao đổi

Các hình thức mua bán đối lưu trên thế giới:

a/ Hình thức hàng đổi hàng (Barter)

Căn cứ vào nhu cầu của mình, hai bên giao dịch trao đổi

trực tiếp với nhau những hàng hoá có giá trị tương đương

hoặc gần bằng nhau, việc giao hàng giữa các bên diễn ra gần

như đồng thời nhau Nếu trị giá hàng hoá giao dịch của hai

bên tương đương nhau thì không có trao tiền; nếu cho phép trị

giá hàng hai bên giao chênh lệch, phần chênh lệch có thể dùng

tiền thanh toán Hai bên giao hàng có thể dùng tiền biểu thị

trị giá hàng hoá trao đổi, cũng có thể không dùng Nếu dùng

thì tác dụng của giá cả chỉ ở chỗ so sánh giá trị hàng trao đổi

Trong nghiệp vụ hàng đổi hàng cổ điển chỉ có hai bên

tham gia trao đổi Còn trong nghiệp vụ hàng đổi hàng hiện

đại có thể thu hút 3-4 bên tham gia

b/ Hình thức mua đối lưu hay còn gọi là mua của nhau

(Counter purchase) hoặc mậu dịch song song (Parallel trade)

Mua đối lưu là phương thức giao dịch trong đó hai bên

giao dịch mua sản phẩm của nhau Hình thức mua đối lưu

Trang 12

đảm bảo cho các công ty khi nhận hàng đối lưu không phù hợp có thể bán hàng hoá đó đi

f/ Hình thức giao dịch bồi hoàn hay còn gọi là giao dịch đền bù (Offset)

Đây là nghiệp vụ đổi hàng hoá hoặc dịch vụ để lấy những dịch vụ và ưu huệ (ưu huệ trong đầu tư hoặc giúp

đỡ bán sản phẩm) Giao dịch này thường xảy ra trong lĩnh vực buôn bán những kỹ thuật quân sự đắt tiền, trong việc giao những chi tiết và cụm chi tiết trong khuôn khổ hợp tác công nghiệp

Có hai loại giao dịch bồi hoàn là bồi hoàn trực tiếp (Direct offset) và bồi hoàn gián tiếp (Indirect offset) Trong hình thức bồi hoàn trực tiếp, lợi ích bồi hoàn liên quan đến sản phẩm ban đầu Bên xuất khẩu trước đồng ý mua của bên nhập khẩu các linh kiện hoặc sản phẩm có liên quan hoặc sử dụng trong sản phẩm bán cho bên nhập khẩu Có thể bên xuất khẩu cung cấp kỹ thuật hoặc tiến hành đầu tư để bên nhập khẩu tiến hành sản xuất linh kiện này Kiểu bồi hoàn này đôi khi cũng được gọi là “hợp tác công nghiệp” (Industrial coorperation) Trong hình thức bồi hoàn gián tiếp, lợi ích bồi hoàn không

liên quan đến sản phẩm ban đầu

nghệ Thông thường, giá trị hàng mua thường lớn hơn trị giá

thiết bị

Xét từ phía bên nhập khẩu thiết bị, để không ảnh hưởng

tới thu nhập ngoại tệ xuất khẩu, thường không muốn dùng

sản phẩm xuất khẩu truyền thống của mình bù vào, mà muốn

cung cấp những sản phẩm thứ yếu họ định mở rộng xuất khẩu

hoặc định tranh thủ xuất khẩu Nhưng xét từ phía bên cung

ứng thiết bị, thông thường đều hy vọng nhận được những sản

phẩm tiêu thụ tốt trên thị trường quốc tế hoặc sản phẩm họ

cần Để thống nhất hai mặt này lại là điều rất khó làm được,

nên hình thức này thường được biến đổi cho phù hợp

d/ Hình thức bù trừ (Compensation)

Đây là hình thức mua bán đối lưu mở rộng từ trao đổi

hàng đơn lẻ sang tập hợp hàng hóa Trong hình thức buôn bán

bù trừ, hai bên trao đổi hàng hoá với nhau trên cơ sở ghi trị

giá hàng giao và hàng nhận Đến cuối kỳ hạn, hai bên mới đối

chiếu sổ sách, so sánh giữa trị giá hàng giao với trị giá hàng

nhận Nếu sau khi bù trừ tiền hàng như thế mà còn số dư thì

số tiền đó được giữ lại để chi trả theo yêu cầu của bên chủ nợ

về những khoản chi tiêu của bên chủ nợ tại nước bị nợ

Hợp đồng bù trừ thường được ký kết cho thời gian dài, có

khi tới 10 hoặc 20 năm

e/ Hình thức chuyển nợ hay còn gọi là hình thức mua bán

trao tay, mua bán tam giác (Switch)

Bên nhận hàng chuyển nghĩa vụ thanh toán cho một bên

thứ ba, bên thứ ba có nghĩa vụ trả tiền hàng Hình thức này

Trang 13

đấu giá, theo đó người trả giá cao nhất so với giá khởi điểm

là người có quyền mua hàng Phương thức đặt giá xuống là phương thức bán đấu giá, theo đó người đầu tiên chấp nhận ngay mức giá khởi điểm hoặc mức giá được hạ thấp hơn mức giá khởi điểm là người có quyền mua hàng

Có thể tiến hành đấu giá qua mạng Internet Bản chất của đấu giá trên mạng và đấu giá truyền thống giống nhau đều là

“tạo ra một môi trường cạnh tranh để cuối cùng chọn được một mức giá tối ưu”

Đấu giá quốc tế là một phương thức giao dịch đặc biệt, trong đó có một người bán, nhiều người mua Người tham gia đấu giá có thể tự do cạnh tranh theo các điều kiện mà người bán quy định trước Địa điểm, thời gian tổ chức cuộc đấu giá thường được quy định trước Hàng hoá, mẫu hàng hoá, tài liệu giới thiệu về hàng hoá và các thông tin cần thiết khác về hàng hoá đó phải được trưng bày tại địa điểm được thông báo

từ khi niêm yết

Cuộc đấu giá được tiến hành theo trình tự sau đây:

1 Người điều hành đấu giá điểm danh người đã đăng ký tham gia đấu giá hàng hoá;

2 Người điều hành đấu giá giới thiệu từng hàng hoá bán

đấu giá, nhắc lại giá khởi điểm, trả lời các câu hỏi của người tham gia đấu giá và yêu cầu người tham gia đấu giá trả giá;

3 Đối với phương thức trả giá lên, người điều hành đấu giá phải nhắc lại một cách rõ ràng, chính xác giá đã trả sau cùng cao hơn giá người trước đã trả ít nhất là ba lần, mỗi lần

1.2.1.3 Đấu giá, đấu thầu quốc tế

a Đấu giá quốc tế

Đấu giá hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó người

bán hàng tự mình hoặc thuê người tổ chức đấu giá thực hiện

việc bán hàng hoá công khai để chọn người mua trả giá cao

nhất Đấu giá quốc tế là cuộc đấu giá có nhiều người tham gia

với quốc tịch hay trụ sở thương mại ở các nước khác nhau

Các chủ thể tham gia cuộc đấu giá thường bao gồm người

tổ chức đấu giá, người bán hàng, người tham gia đấu giá và

người điều hành đấu giá Người tổ chức đấu giá là thương

nhân có đăng ký kinh doanh dịch vụ đấu giá hoặc là người

bán hàng của mình trong trường hợp người bán hàng tự tổ

chức đấu giá Người bán hàng là chủ sở hữu hàng hoá, người

được chủ sở hữu hàng hoá uỷ quyền bán hoặc người có quyền

bán hàng hoá của người khác theo quy định của pháp luật

Người tham gia đấu giá hàng hoá là tổ chức, cá nhân đăng

ký tham gia cuộc đấu giá Người điều hành đấu giá là người

tổ chức đấu giá hoặc người được người tổ chức đấu giá uỷ

quyền điều hành bán đấu giá

Trong mua bán quốc tế, những mặt hàng được đem ra

đấu giá thường là những mặt hàng khó tiêu chuẩn hoá như

da lông thú, chè, hương liệu… Việc đấu giá hàng hoá trong

thương mại phải được thực hiện theo nguyên tắc công khai,

trung thực, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên

tham gia Đấu giá hàng hoá được thực hiện theo một trong

hai phương thức phương thức trả giá lên hoặc phương thức

đặt giá xuống Phương thức trả giá lên là phương thức bán

Trang 14

lên Trường hợp đấu giá không thành, trong văn bản bán đấu giá hàng hoá phải nêu rõ kết quả là đấu giá không thành và phải có đầy đủ các nội dung về tên, địa chỉ của người tổ chức đấu giá, người điều hành đấu giá, người bán hàng, thời gian

và địa điểm đấu giá, hàng hóa bán đấu giá cũng như tên và địa chỉ của hai người chứng kiến

Trường hợp đấu giá theo phương thức trả giá lên, nếu người trả giá cao nhất rút ngay lại giá đã trả thì cuộc đấu giá vẫn được tiếp tục từ giá của người trả giá liền kề trước đó Trường hợp bán đấu giá theo phương thức đặt giá xuống, nếu người đầu tiên chấp nhận mức giá rút ngay lại giá đã chấp nhận thì cuộc đấu giá vẫn được tiếp tục từ giá đã đặt liền kề trước đó Người rút lại giá đã trả hoặc người rút lại việc chấp nhận giá không được tiếp tục tham gia đấu giá

Trường hợp giá bán hàng hoá thấp hơn giá mà người rút lại giá đã trả đối với phương thức trả giá lên hoặc giá mà người rút lại việc chấp nhận đối với phương thức đặt giá xuống thì người đó phải trả khoản tiền chênh lệch cho người

tổ chức đấu giá, nếu hàng hoá bán được giá cao hơn thì người rút lại không được hưởng khoản tiền chênh lệch đó

Trường hợp cuộc đấu giá không thành thì người rút lại giá

đã trả phải chịu chi phí cho việc bán đấu giá và không được hoàn trả khoản tiền đặt trước

Sau khi tuyên bố kết thúc cuộc đấu giá, người mua hàng

bị ràng buộc trách nhiệm Nếu sau đó người mua hàng từ chối mua hàng thì phải được người bán hàng chấp thuận, nhưng phải chịu mọi chi phí liên quan đến việc tổ chức bán

cách nhau ít nhất ba mươi giây Người điều hành đấu giá chỉ

được công bố người mua hàng hoá bán đấu giá, nếu sau ba

lần nhắc lại giá người đó đã trả mà không có người nào trả

giá cao hơn;

4 Đối với phương thức đặt giá xuống, người điều hành

đấu giá phải nhắc lại một cách rõ ràng, chính xác từng mức

giá được hạ xuống thấp hơn giá khởi điểm ít nhất là ba lần,

mỗi lần cách nhau ít nhất ba mươi giây Người điều hành đấu

giá phải công bố ngay người đầu tiên chấp nhận mức giá khởi

điểm hoặc mức giá hạ thấp hơn mức giá khởi điểm là người

có quyền mua hàng hóa đấu giá;

5 Trường hợp có nhiều người đồng thời trả mức giá cuối

cùng đối với phương thức trả giá lên hoặc mức giá đầu tiên

đối với phương thức đặt giá xuống, người điều hành đấu giá

phải tổ chức rút thăm giữa những người đó và công bố người

rút trúng thăm được mua là người mua hàng hoá bán đấu giá;

6 Người điều hành đấu giá phải lập văn bản bán đấu giá

hàng hoá ngay tại cuộc đấu giá, kể cả trong trường hợp đấu

giá không thành Văn bản bán đấu giá phải ghi rõ kết quả đấu

giá, có chữ ký của người điều hành đấu giá, người mua hàng

và hai người chứng kiến trong số những người tham gia đấu

giá; đối với hàng hoá bán đấu giá phải có công chứng nhà

nước theo quy định của pháp luật thì văn bản bán đấu giá

cũng phải được công chứng

Cuộc đấu giá được coi là không thành trong trường hợp

không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc giá cao nhất đã

trả thấp hơn mức giá khởi điểm đối với phương thức trả giá

Trang 15

thông báo mời đăng ký dự thầu đến các nhà thầu đủ điều kiện trong trường hợp đấu thầu hạn chế.

Có hai phương thức đấu thầu, đó là đấu thầu một túi hồ sơ

và đấu thầu hai túi hồ sơ Trong phương thức đấu thầu một túi hồ sơ, bên dự thầu nộp hồ sơ dự thầu gồm đề xuất về kỹ thuật, đề xuất về tài chính trong một túi hồ sơ theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu và việc mở thầu được tiến hành một lần Còn với phương thức đấu thầu hai túi hồ sơ, bên dự thầu nộp

hồ sơ dự thầu gồm đề xuất về kỹ thuật, đề xuất về tài chính trong từng túi hồ sơ riêng biệt được nộp trong cùng một thời điểm và việc mở thầu được tiến hành hai lần Hồ sơ đề xuất

về kỹ thuật sẽ được mở trước Bên mời thầu có quyền lựa chọn phương thức đấu thầu và phải thông báo trước cho các bên dự thầu

Ngay sau khi có kết quả đấu thầu, bên mời thầu có trách nhiệm thông báo kết quả đấu thầu cho bên dự thầu Bên mời thầu tiến hành hoàn thiện và ký kết hợp đồng với bên trúng thầu trên cơ sở kết quả đấu thầu, các yêu cầu nêu trong hồ sơ mời thầu và các nội dung nêu trong hồ sơ dự thầu

Các bên có thể thỏa thuận bên trúng thầu phải đặt cọc, ký quỹ hoặc được bảo lãnh để bảo đảm thực hiện hợp đồng Số tiền đặt cọc, ký quỹ do bên mời thầu quy định, nhưng không quá 10% giá trị hợp đồng Bên trúng thầu được nhận lại tiền đặt cọc, ký quỹ bảo đảm thực hiện hợp đồng khi thanh lý hợp đồng Bên trúng thầu không được nhận lại tiền đặt cọc, ký quỹ bảo đảm thực hiện hợp đồng nếu từ chối thực hiện hợp đồng sau khi hợp đồng được giao kết

đấu giá Trong trường hợp người mua được hàng hoá đấu giá

đã nộp một khoản tiền đặt trước mà từ chối mua thì không

được hoàn trả khoản tiền đặt trước đó Khoản tiền đặt trước

đó thuộc về người bán hàng

b Đấu thầu quốc tế

Đấu thầu hàng hoá, dịch vụ là hoạt động thương mại, theo

đó bên mua thông qua mời thầu nhằm lựa chọn trong số các

thương nhân tham gia đấu thầu thương nhân đáp ứng tốt nhất

các yêu cầu do bên mua đặt ra để ký kết và thực hiện hợp

đồng Đấu thầu trong nước là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp

ứng các yêu cầu của bên mời thầu với sự tham gia của các

nhà thầu trong nước Đấu thầu quốc tế là quá trình lựa chọn

nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu với sự tham

gia của các nhà thầu nước ngoài và nhà thầu trong nước

Đấu thầu là một phương thức giao dịch đặc biệt, theo đó,

có một người mua, nhiều người bán; điều kiện do người mua

quy định trước và được tiến hành tại một địa điểm, thời gian

quy định trước Cuộc đấu thầu có thể diễn ra với nhiều mục

đích khác nhau, có thể là đầu thầu tuyển chọn nhà thầu tư

vấn, đấu thầu chọn nhà thầu cung cấp hoặc nhà thầu xây lắp

Đấu thầu có thể thực hiện dưới hình thức đấu thầu rộng

rãi hoặc đấu thầu hạn chế Đấu thầu rộng rãi là hình thức đấu

thầu mà bên mời thầu không hạn chế số lượng các bên dự

thầu Đấu thầu hạn chế là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu

chỉ mời một số nhà thầu nhất định dự thầu Bên mời thầu có

trách nhiệm thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông

tin đại chúng đối với trường hợp đấu thầu rộng rãi hoặc gửi

Trang 16

hợp đồng và thời gian giao hàng được xác định tại một thời điểm trong tương lai.

Đặc điểm của phương thức mua bán qua Sở giao dịch hàng hóa là thị trường, thời gian và thể lệ mua - bán đều được quy định sẵn Hoạt động mua - bán chủ yếu là mua khống, bán khống để thu chênh lệch giá Hàng hóa thường là nông sản, khoáng sản, có khối lượng lớn, nhu cầu cao và dễ tiêu chuẩn hóa

Hợp đồng mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hoá bao gồm hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng quyền chọn Hợp đồng kỳ hạn là thỏa thuận, theo đó bên bán cam kết giao

và bên mua cam kết nhận hàng hoá tại một thời điểm trong tương lai theo hợp đồng Hợp đồng quyền chọn (bao gồm hợp đồng quyền chọn mua hoặc quyền chọn bán) là thỏa thuận, theo đó bên mua quyền có quyền được mua hoặc được bán một hàng hóa xác định với mức giá định trước và phải trả một khoản tiền nhất định để mua quyền này Bên mua quyền

có quyền chọn thực hiện hoặc không thực hiện việc mua hoặc bán hàng hóa đó

Các hành vi bị cấm trong hoạt động mua bán hàng hoá qua Sở giao dịch hàng hóa bao gồm:

- Nhân viên của Sở giao dịch hàng hoá không được phép môi giới, mua bán hàng hoá qua Sở giao dịch hàng hoá

- Các bên liên quan đến hoạt động mua bán hàng hoá qua

Sở giao dịch hàng hoá không được thực hiện các hành vi như: Gian lận, lừa dối về khối lượng hàng hóa trong các hợp đồng

Một cuộc đấu thầu có thể diễn ra thành công như mục tiêu

đề ra, cũng có thể phải tổ chức đầu thầu lại hoặc hủy kết quả

đấu thầu Huỷ đấu thầu được áp dụng trong trường hợp tất cả

hồ sơ dự thầu về cơ bản không đáp ứng được các yêu cầu của

hồ sơ mời thầu hoặc có bằng chứng cho thấy bên mời thầu

thông đồng với nhà thầu hay tất cả các nhà thầu có sự thông

đồng làm ảnh hưởng đến lợi ích của bên mời thầu Việc đấu

thầu lại được tổ chức khi có một trong các trường hợp sau

đây: có sự vi phạm các quy định về đấu thầu hoặc các bên dự

thầu đều không đạt yêu cầu đấu thầu

1.2.1.4 Mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa

Sở giao dịch hàng hóa (commodity markets) là những thị

trường giao dịch đặc biệt, diễn ra thường xuyên tại một địa

điểm cố định, tại đó bằng hợp đồng mẫu của Sở, thông qua

người môi giới của Sở, các thương nhân sẽ mua bán những

lượng hàng hóa có giá trị lớn và thường là mua khống bán

khống để thu chênh lệch giá

Sở giao dịch hàng hoá có các chức năng chủ yếu là: Cung

cấp các điều kiện vật chất - kỹ thuật cần thiết để giao dịch

mua bán hàng hoá; Điều hành các hoạt động giao dịch và

niêm yết các mức giá cụ thể hình thành trên thị trường giao

dịch tại từng thời điểm

Mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa là hoạt động

thương mại, theo đó các bên thỏa thuận thực hiện việc mua

bán một lượng nhất định của một loại hàng hóa nhất định qua

Sở giao dịch hàng hoá theo những tiêu chuẩn của Sở giao

dịch hàng hoá với giá được thỏa thuận tại thời điểm giao kết

Trang 17

bán ra điều chỉnh theo giá thép, thiệt hại cho người mua nhà Bên cạnh đó, sàn giao dịch hàng hóa còn mở ra cơ hội đầu tư mới Khi các kênh đầu tư khác gặp khó khăn thì nhà đầu tư

có thể lựa chọn kênh đầu tư hàng hóa

Để quản lý, giám sát các hoạt động giao dịch, VNX dựa trên quy định pháp luật và thông lệ quốc tế đưa ra các quy chế dựa trên quyền lợi của các thành viên tham gia giao dịch Ngoài vai trò là trung gian hòa giải khi phát sinh các tranh chấp liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua SGDHH, VNX còn giám sát các hoạt động giao nhận hàng hóa bao gồm việc phối hợp với các trung tâm kiểm định hàng hóa, hệ thống kho hậu cần để đảm bảo chất lượng hàng hóa giao dịch theo đúng tiêu chuẩn Việt Nam và quốc tế, và trung tâm thanh toán bù trừ đảm bảo khả năng thanh toán của các bên tham gia giao dịch

1.2.1.5 Kinh doanh tái xuất (Re-export)

Kinh doanh tái xuất là hình thức thực hiện xuất khẩu trở lại sang nước khác những hàng hóa đã mua ở nước ngoài nhưng chưa qua chế biến ở nước tái xuất Kinh doanh tái xuất bao gồm kinh doanh chuyển khẩu và kinh doanh tạm nhập tái xuất

Kinh doanh tạm nhập tái xuất hay tái xuất theo đúng nghĩa của nó là hình thức trong đó hàng hoá đi từ nước xuất khẩu đến nước tái xuất, rồi lại được xuất khẩu từ nước tái xuất sang nước nhập khẩu Ngược chiều với sự vận động của hàng hóa là sự vận động của đồng tiền: nước tái xuất trả tiền cho nước xuất khẩu và thu tiền của nước nhập khẩu

kỳ hạn hoặc hợp đồng quyền chọn được giao dịch hoặc có

thể được giao dịch và gian lận, lừa dối về giá thực tế của loại

hàng hoá trong các hợp đồng kỳ hạn hoặc hợp đồng quyền

chọn; Đưa tin sai lệch về các giao dịch, thị trường hoặc giá

hàng hoá mua bán qua Sở giao dịch hàng hóa; Dùng các biện

pháp bất hợp pháp để gây rối loạn thị trường hàng hóa tại Sở

giao dịch hàng hoá…

Sở giao dịch hàng hóa Việt Nam (VNX) là Sở giao dịch

hàng hóa đầu tiên được cấp phép hoạt động theo tinh thần

luật Thương mại Khác với các sàn hàng hóa trước kia được

lập ra bởi các công ty chỉ đóng vai trò là nhà môi giới cho

các sở giao dịch hàng hóa nước ngoài, còn Sở giao dịch hàng

hóa VNX đóng vai trò là nhà tổ chức Những nhà đầu tư có

quan tâm đến thị trường hàng hóa có thể tham gia giao dịch

tại VNX Sở có 2 chức năng chính Thứ nhất là chức năng kết

nối các “nhà” trong chuỗi giá trị sản phẩm, từ người nông dân

trồng cà phê, đến nhà chế biến rang xay, các đơn vị xuất khẩu

và cuối cùng là người tiêu dùng, kết nối những người có nhu

cầu về hàng hóa với nhau Chức năng thứ hai của Sở là đóng

vai trò bảo hiểm giá Khi giá được các thành viên Sở hàng

hóa định giá thì giá hàng hóa của người nông dân sản xuất

nhỏ, hay từ những nhà sản xuất lớn có chất lượng như nhau

sẽ có giá như nhau Ngoài ra với những người có nhu cầu

hàng hóa, có thể sử dụng công cụ giao dịch tương lai để đảm

bảo giá nguyên liệu ổn định Ví dụ với giá thép, các công ty

xây dựng có thể mua thép với giá xác định trong tương lai,

biến động giá thị trường sẽ không ảnh hưởng đến giá thành

xây dựng của công ty Như vậy tránh được tình trạng giá nhà

Trang 18

nghiệp Việt Nam ký với doanh nghiệp nước xuất khẩu) và hợp đồng bán hàng (do doanh nghiệp Việt Nam ký với nước nhập khẩu) Hai hợp đồng này về cơ bản không khác những hợp đồng xuất nhập khẩu thông thường song chúng có liên quan mật thiết đến nhau Chúng thường phù hợp với nhau

về hàng hoá, bao bì, mã hiệu, nhiều khi cả về thời hạn giao hàng và các chứng từ hàng hoá Hợp đồng mua hàng có thể

ký hoặc sau hợp đồng bán hàng, tùy theo điều kiện cụ thể do doanh nghiệp tự quyết định

Chuyển khẩu là hình thức kinh doanh trong đó hàng hoá của nước xuất khẩu trực tiếp sang nước nhập khẩu Nước tái xuất trả tiền cho nước xuất khẩu và thu tiền của nước nhập khẩu

Theo luật Thương mại 2005, chuyển khẩu hàng hóa là việc mua hàng từ một nước, vùng lãnh thổ để bán sang một nước, vùng lãnh thổ ngoài lãnh thổ Việt Nam mà không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam Có ba hình thức chuyển khẩu:

- Hàng hoá được vận chuyển thẳng từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu không qua cửa khẩu Việt Nam

Tạm nhập để tái xuất là một trong những hình thức kinh

doanh xuất nhập khẩu được sử dụng thông thường trong quan

hệ thương mại quốc tế và chịu sự điều chỉnh của luật pháp

quốc tế, tập quán thương mại quốc tế và luật lệ của những

nước có liên quan

Luật Thương mại năm 2005 của Việt Nam quy định: Tạm

nhập, tái xuất hàng hóa là việc hàng hoá được đưa từ nước

ngoài hoặc từ các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam

được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật

vào Việt Nam, có làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và làm

thủ tục xuất khẩu chính hàng hoá đó ra khỏi Việt Nam Tạm

xuất, tái nhập hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra nước

ngoài hoặc đưa vào các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ

Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của

pháp luật, có làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam và làm

thủ tục nhập khẩu lại chính hàng hoá đó vào Việt Nam

Cơ sở pháp lý của hình thức tạm nhập để tái xuất khẩu

là hai hợp đồng riêng biệt: hợp đồng mua hàng (do doanh

Trang 19

xuất hay quá cảnh đã hình thành và phát triển lâu đời trên thế giới Các phương thức kinh doanh này làm phong phú quan

hệ thương mại giữa các nước trên thế giới, đặc biệt được áp dụng rộng rãi đối với những nước không có vị trí thuận lợi về cảng biển, đường bộ cũng như các yếu tố khác

1.2.2 Cung ứng dịch vụ thương mại quốc tế

1.2.2.1 Gia công quốc tế (International processing)

Gia công trong thương mại là hoạt động thương mại, theo

đó bên nhận gia công sử dụng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu của bên đặt gia công để thực hiện một hoặc nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất theo yêu cầu của bên đặt gia công để hưởng thù lao

Gia công quốc tế là một hoạt động thương mại quốc tế, trong đó bên đặt gia công giao nguyên liệu và/ hoặc tiêu chuẩn kỹ thuật cho bên nhận gia công Bên nhận tổ chức sản xuất, giao lại sản phẩm và được nhận một số tiền công Hai bên có quốc tịch hoặc trụ sở thương mại ở các nước khác nhau Tất cả các loại hàng hóa đều có thể được gia công, trừ trường hợp hàng hóa thuộc diện cấm kinh doanh Trường hợp gia công hàng hóa cho thương nhân nước ngoài để tiêu thụ

ở nước ngoài thì hàng hóa thuộc diện cấm kinh doanh, cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu có thể được gia công nếu được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép

Gia công quốc tế được diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau Xét về quyền sở hữu nguyên liệu, gia công quốc tế có thể tiến hành dưới hình thức giao nguyên liệu thu sản phẩm

- Hàng hoá được chuyển từ nước xuất khẩu đến nước

nhập khẩu có qua cửa khẩu Việt Nam nhưng không làm thủ

tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu

ra khỏi Việt Nam

- Hàng hóa được vận chuyển từ nước XK đến nước

NK có qua cửa khẩu Việt Nam và đưa vào kho ngoại quan,

khu vực trung chuyển hàng hoá tại các cảng Việt Nam, không

làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục

xuất khẩu ra khỏi Việt Nam

Chuyển khẩu hàng hóa được thực hiện trên cơ sở hai hợp

đồng riêng biệt: hợp đồng mua hàng do thương nhân Việt

Nam ký với thương nhân nước xuất khẩu và hợp đồng bán

hàng do thương nhân Việt Nam ký với thương nhân nước

nhập khẩu Hợp đồng mua hàng có thể ký trước hoặc sau hợp

đồng bán hàng

Tuy nhiên, cần phân biệt các loại hình tạm nhập tái xuất

với quá cảnh (transit) Quá cảnh hàng hóa là việc vận chuyển

hàng hóa thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân nước ngoài qua

lãnh thổ Việt Nam, kể cả việc trung chuyển, chuyển tải, lưu

kho, chia tách lô hàng, thay đổi phương thức vận tải hoặc các

công việc khác được thực hiện trong thời gian quá cảnh

Hiện nay, Chính phủ Việt Nam đã ký các Hiệp định

quá cảnh hàng hoá với Chính phủ Hoàng gia Campuchia

(3/4/1994), Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào (23/4/1994) và

Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (9/4/1994) Theo đó quy định

nguyên tắc, chế độ hàng hoá được phép quá cảnh qua lãnh

thổ Việt Nam Trên thực tế, buôn bán theo phương thức tái

Trang 20

gia công là một số doanh nghiệp mà sản phẩm gia công của đơn vị trước là đối tượng gia công của đơn vị sau, còn bên đặt gia công vẫn chỉ là một (Nói cách khác, sản phẩm gia công của hợp đồng gia công công đoạn trước được giao cho thương nhân theo chỉ định của bên đặt gia công cho hợp đồng gia công công đoạn tiếp theo).

Mối quan hệ giữa bên đặt gia công và bên nhận gia công được xác định trong hợp đồng gia công Hợp đồng gia công phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương và bao gồm các điều khoản sau:

- Tên, địa chỉ của các bên ký hợp đồng và bên gia công trực tiếp;

- Tên, số lượng sản phẩm gia công;

- Giá gia công;

- Thời hạn thanh toán và phương thức thanh toán;

- Danh mục, số lượng, trị giá nguyên liệu, phụ liệu, vật

tư nhập khẩu và nguyên liệu, phụ liệu, vật tư sản xuất trong nước (nếu có) để gia công; định mức sử dụng nguyên liệu, phụ liệu, vật tư; định mức vật tư tiêu hao và tỷ lệ hao hụt nguyên liệu trong gia công;

- Danh mục và trị giá máy móc thiết bị cho thuê, cho mượn hoặc tặng cho để phục vụ gia công (nếu có);

- Biện pháp xử lý phế liệu, phế thải và nguyên tắc xử lý máy móc, thiết bị thuê mượn, nguyên liệu, phụ liệu vật tư dư thừa sau khi kết thúc hợp đồng gia công;

hoặc “mua đứt bán đoạn” Giao nguyên liệu thu sản phẩm là

hình thức bên đặt gia công giao nguyên liệu và kỹ thuật cho

bên nhận gia công và sau thời gian sản xuất, chế tạo sẽ thu

hồi thành phẩm và trả phí gia công Với hình thức “mua đứt

bán đoạn”, bên đặt gia công “bán đứt” nguyên liệu, kỹ thuật

cho bên nhận gia công Sau thời gian tổ chức sản xuất, bên

nhận gia công giao thành phẩm, bên đặt gia công thanh toán

tiền sản phẩm Hoặc bên đặt gia công đặt hàng và cung cấp

tài liệu kỹ thuật, bên nhận gia công nhập khẩu nguyên liệu

và sản xuất thành phẩm theo tiêu chuẩn của bên đặt gia công

Bên đặt gia công thanh toán tiền sản phẩm Ngoài ra, người

ta còn có thể áp dụng một hình thức kết hợp, trong đó bên đặt

gia công chỉ giao những nguyên liệu chính, còn bên nhận gia

công cung cấp nguyên vật liệu phụ

Xét về mặt giá cả gia công, có thể chia thành hai hình

thức: hợp đồng gia công thực thanh thực chi và hợp đồng gia

công khoán Với hợp đồng thực thanh thực chi, bên nhận gia

công thanh toán cho bên đặt gia công toàn bộ những chi phí

thực tế của mình cộng với tiền thù lao gia công Hợp đồng

khoán là hình thức trong đó người ta xác định một giá định

mức cho mỗi sản phẩm, bao gồm chi phí định mức và thù lao

định mức Dù chi phí thực tế của bên nhận gia công là bao

nhiêu đi nữa, hai bên vẫn thanh toán với nhau theo giá định

mức đó

Xét về số bên tham gia quan hệ gia công, có thể có gia

công hai bên (bên đặt gia công và bên nhận gia công) hoặc

gia công nhiều bên (gia công chuyển tiếp), trong đó bên nhận

Trang 21

1.2.2.2 Quá cảnh hàng hóa

Theo Điều 241, Luật Thương Mại năm 2005: “Quá cảnh hàng hóa là việc vận chuyển hàng hóa thuộc sỡ hữu của tổ chức, cá nhân nước ngoài qua lãnh thổ Việt Nam, kể cả việc trung chuyển, chuyển tải, lưu kho, chia tách lô hàng, thay đổi phương thức vận tải hoặc các công việc khác được thực hiện trong thời gian quá cảnh.”

Theo điều 4, Luật Hải quan Việt Nam năm 2014: “Quá cảnh là việc chuyển hàng hóa, phương tiện vận tải từ một nước qua cửa khẩu vào lãnh thổ Việt Nam đến một nước khác hoặc trở về nước đó”

Như vậy, có thể hiểu, quá cảnh là hàng hóa là hoạt động cung ứng dịch vụ thương mại quốc tế, trong đó hàng hóa được chuyển từ một nước qua cửa khẩu vào lãnh thổ Việt nam để đến một nước khác hoặc trở về lại nước đó trong thời hạn quy định

Các hình thức quá cảnh: Hiện nay, căn cứ vào thời gian

lưu kho mà quá cảnh hàng hóa được chia thành hai hình thức:

Một là, Hàng hoá quá cảnh không có thời gian lưu kho tại

nước cho quá cảnh Hình thức này thường gặp đối với hàng quá cảnh được vận chuyển bằng tàu biển, máy bay

Hai là, Hàng hoá quá cảnh có thời gian lưu kho tại nước

cho quá cảnh.Trong trường hợp này hàng hoá quá cảnh không qua lãnh thổ đất liền có thể được lưu kho trong khu vực cửa khẩu hoặc có thể được lưu kho cả ngoài khu vực cửa khẩu

- Địa điểm và thời gian giao hàng;

- Nhãn hiệu hàng hoá và tên gọi xuất xứ hàng hoá;

- Thời hạn hiệu lực của hợp đồng

Gia công quốc tế ngày nay khá phổ biến trong hoạt động

ngoại thương của nhiều nước Đối với bên đặt gia công,

phương thức này giúp họ lợi dụng được giá rẻ về nguyên liệu

phụ và nhân công của nước nhận gia công Đối với bên nhận

gia công, phương thức này giúp họ giải quyết được công ăn

việc làm cho nhân dân lao động trong nước hoặc nhận được

thiết bị hay công nghệ mới về nước mình, nhằm xây dựng

một nền công nghiệp dân tộc Nhiều nước đang phát triển đã

nhờ vận dụng phương thức gia công quốc tế mà có được một

nền công nghiệp hiện đại, chẳng hạn như Hàn Quốc, Thái

Lan, Xingapo

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, gia công hàng

hóa với thương nhân nước ngoài là việc thương nhân Việt

Nam nhận gia công hàng hóa tại Việt Nam cho thương nhân

nước ngoài hoặc đặt gia công hàng hóa ở nước ngoài Theo

đó, thương nhân, kể cả thương nhân có vốn đầu tư của nước

ngoài được nhận gia công hàng hóa cho thương nhân nước

ngoài, trừ hàng hóa thuộc Danh mục cấm xuất khẩu, tạm

ngừng xuất khẩu, hàng hóa thuộc Danh mục cấm nhập khẩu,

tạm ngừng nhập khẩu Đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập

khẩu theo giấy phép, thương nhân chỉ được ký hợp đồng sau

khi được Bộ Công thương cấp phép

Trang 22

riêng cho việc thực hiện dịch vụ trung chuyển container cách biệt với các khu vực khác của cảng biển và chịu sự giám sát của cơ quan hải quan

Hình thức trung chuyển:

Thứ nhất: Từ phương tiện sang phương tiện Container

được vận chuyển trên phương tiện vận tải từ nước ngoài đến cảng biển Việt Nam được dỡ xuống và xếp lên phương tiện vận tải khác để vận chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam

Thứ hai: Lưu tại cảng Container được vận chuyển trên

phương tiện vận tải từ nước ngoài đến cảng biển Việt Nam

sẽ được dỡ xuống và đưa vào bảo quản tại khu vực trung chuyển của cảng biển trong một thời gian nhất định rồi xếp các container đó lên phương tiện vận tải để vận chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam

Đối với các doanh nghiệp cảng biển Việt Nam muốn thực hiện dịch vụ trung chuyển container cần có đủ các điều kiện như: cảng biển được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công

bố cho phép tàu trong nước và nước ngoài vào, ra để xếp,

dỡ container và có đủ cơ sở hạ tầng kỹ thuật và thiết lập được khu vực trung chuyển container Chậm nhất là 15 ngày trước ngày đầu tiên thực hiện dịch vụ trung chuyển container, doanh nghiệp cảng biển phải gửi đến Bộ Công thương, Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan), Bộ Giao thông Vận tải và

cơ quan Hải quan địa phương văn bản thông báo về việc bắt đầu thực hiện dịch vụ trung chuyển container tại cảng biển của mình Trường hợp hàng bị thiếu hụt do mất mát, đổ vỡ trong quá trình vận chuyển, lưu kho bãi, phải được Hải quan

Luật thương mại 2005 quy định: Tổ chức, cá nhân nước

ngoài muốn quá cảnh hàng hoá qua lãnh thổ Việt Nam phải

thuê thương nhân Việt Nam kinh doanh dịch vụ quá cảnh

thực hiện Trong trường hợp tự mình thực hiện quá cảnh hàng

hóa qua lãnh thổ Việt Nam, thuê thương nhân nước ngoài

thực thì phải thực hiện theo điều ước quốc tế và phải tuân

thủ quy định của pháp luật Việt Nam về xuất cảnh, nhập cảnh

và giao thông vận tải Để được cấp giấy phép làm dịch vụ

vận chuyển hàng quá cảnh, doanh nghiệp vận chuyển hàng

quá cảnh phải đảm bảo các điều kiện như phải được Bộ Công

thương cấp giấy phép được quyền kinh doanh xuất nhập khẩu

trực tiếp; có chức năng giao nhận vận tải ngoại thương; có

kinh nghiệm trong việc vận chuyển hàng hoá hoặc đã từng

xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá với những nước hàng vận

chuyển quá cảnh Trong trường hợp doanh nghiệp của nước

ngoài muốn tự vận chuyển hàng quá cảnh thì phải có đơn xin

phép gửi tới Bộ Công thương Việt Nam Đơn phải được cơ

quan thẩm quyền của nước có hàng quá cảnh (cấp Bộ, Tỉnh

hoặc lãnh đạo cơ quan được Bộ Thương Mại của nước đó uỷ

quyền) xác nhận và đề nghị

1.2.2.2 Trung chuyển hàng hóa

Trung chuyển hàng hoá là việc đưa hàng hoá từ nước

ngoài vào cảng trung chuyển, sau đó tiếp tục được đưa ra

nước ngoài

Hàng hóa trung chuyển được đưa ra nước ngoài toàn bộ

hoặc từng phần của lô hàng đã chuyển vào cảng

Cảng trung chuyển là khu vực thuộc cảng biển được dành

Trang 23

khi thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài phải có

dự án đầu tư, thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư

2 Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế

3 Đầu tư theo hình thức đối tác công tư (gọi tắt là PPP) là hình thức đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp

dự án để thực hiện, quản lý, vận hành dự án kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công Gồm:

- Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (gọi tắt

là hợp đồng BOT) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam

- Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh ( gọi tắt

là hợp đồng BTO) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận

- Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (gọi tắt là hợp đồng BT) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ

lập biên bản xác nhận có chữ ký của Hải quan và người vận

chuyển hoặc chủ hàng (nếu có)

1.2.4 Đầu tư quốc tế

Đầu tư quốc tế là hoạt động thương mại quốc tế trong đó

vốn được di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác nhằm

đầu tư và đem lại lợi ích cho các bên Về bản chất kinh tế, đầu

tư quốc tế là hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu vốn Vốn đầu

tư gồm tài sản hữu hình hoặc vô hình được di chuyển từ quốc

gia này sang quốc gia khác để tiến hành các hoạt động đầu tư

theo quy định của luật đầu tư và các quy định khác của pháp

luật có liên quan

Đầu tư quốc tế gồm :

- Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa

vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để

tiến hành hoạt động đầu tư Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức,

cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại

Việt Nam Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm

doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực

hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam

do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại

- Đầu tư ra nước ngoài : là việc nhà đầu tư đưa vốn bằng

tiền và các tài sản hợp pháp khác từ Việt Nam ra nước ngoài

để tiến hành hoạt động đầu tư

Các hình thức đầu tư quốc tế bao gồm:

1 Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế Nhà đầu tư được

thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật Trước

Trang 24

hợp tác kinh doanh, là hợp đồng được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập tổ chức kinh tế.

Hợp đồng BCC được ký kết giữa nhà đầu tư trong nước với nhà đầu tư nước ngoài hoặc giữa các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư

Các bên tham gia hợp đồng BCC thành lập ban điều phối

để thực hiện hợp đồng BCC Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của ban điều phối do các bên thỏa thuận

5 Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp

6 Mua, bán chứng khoán, giấy tờ có giá khác hoặc đầu tư thông qua các quỹ đầu tư chứng khoán, các định chế tài chính trung gian khác ở nước ngoài;

7 Các hình thức đầu tư khác theo quy định của pháp luật Theo tính chất sử dụng vốn, đầu tư quốc tế được chia thành đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp

Đầu tư trực tiếp : là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ

vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư

Đầu tư trực tiếp có các đặc điểm sau:

- Trong thời gian đầu tư, quyền sở hữu và sử dụng vốn thuộc về chủ đầu tư

- Phải góp 1 số vốn tối thiểu theo quy định pháp luật của từng nước

tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công

trình đó cho Nhà nước Việt Nam;

- Hợp đồng Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh (gọi tắt là hợp

đồng BOO) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có

thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ

tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư sở hữu và được

quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định

- Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Thuê dịch vụ (gọi

tắt là hợp đồng BTL) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà

nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình

kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư

chuyển giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được

quyền cung cấp dịch vụ trên cơ sở vận hành, khai thác công

trình đó trong một thời hạn nhất định;

- Hợp đồng Xây dựng - Thuê dịch vụ - Chuyển giao (gọi

tắt là hợp đồng BLT) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà

nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết

cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư được

quyền cung cấp dịch vụ trên cơ sở vận hành, khai thác công

trình đó trong một thời hạn nhất định;

- Hợp đồng Kinh doanh - Quản lý (gọi tắt là hợp đồng

O&M) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm

quyền và nhà đầu tư để kinh doanh một phần hoặc toàn bộ

công trình trong một thời hạn nhất định

4 Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC: Hợp đồng BCC

(Business Cooperation Contract) hay còn gọi là hợp đồng

Trang 25

- Bên nhận đầu tư chủ động trong quá trình sử dụng vốn đầu tư cho các mục đích.

- Hiệu quả đầu tư hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ quản

lý, tổ chức kinh doanh của bên nhận đầu tư

1.2.4 Xúc tiến thương mại quốc tế

1.2.4.1 Tham dự hội chợ, triển lãm thương mại

Hội chợ, triển lãm thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại và bán hàng được thực hiện tập trung trong một thời gian và tại một địa điểm nhất định để thương nhân trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá, hợp đồng dịch vụ

Kinh doanh dịch vụ hội chợ, triển lãm thương mại là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân kinh doanh dịch vụ này cung ứng dịch vụ tổ chức hoặc tham gia hội chợ, triển lãm thương mại cho thương nhân khác để nhận thù lao dịch

vụ tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, thương nhân Việt Nam, chi nhánh của thương nhân Việt Nam, chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam có quyền trực tiếp tổ chức, tham gia hội chợ, triển lãm thương mại về hàng hóa, dịch vụ mà mình kinh doanh hoặc thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ hội chợ, triển lãm thương mại thực hiện Văn phòng đại diện của thương nhân không được trực tiếp tổ chức, tham gia hội chợ, triển lãm thương mại Trong trường hợp được thương nhân ủy quyền, Văn phòng đại diện có quyền

- Bên nhận đầu tư khắc phục được tình trạng thiếu vốn

đầu tư, thu hút công nghệ tiến bộ, trình độ quản lý kinh doanh

tiên tiến, tuy nhiên nếu không có hệ thống luật pháp, trình độ

quản lý kinh tế tốt thì có thể du nhập công nghệ rác thải, tài

nguyên bị khai thác quá mức, ô nhiễm môi trường,

- Hiệu quả sử dụng đầu tư cao hơn so với đầu tư gián tiếp

do đầu tư kèm theo vốn còn có công nghệ, kinh nghiệm quản

lý; quyền sở hữu sử dụng gắn liền nên thúc đẩy tìm cách thu

hồi vốn nhanh, đạt tỷ suất lợi nhuận cao

Đầu tư gián tiếp : là hình thức đầu tư thông qua việc mua

cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ

đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung

gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý

hoạt động đầu tư

Đầu tư quốc tế gián tiếp là hình thức trao đổi quốc tế về

vốn, trong đó nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý

hoạt động đầu tư

Các hình thức đầu tư quốc tế gián tiếp bao gồm: hỗ trợ

phát triển chính thức (ODA), đầu tư gián tiếp nước ngoài qua

thị trường chứng khoán, tín dụng quốc tế

Đầu tư gián tiếp có các đặc điểm sau:

- Trong thời gian sử dụng vốn đầu tư, quyền sở hữu và sử

dụng vốn tách rời giữa hai chủ thể : quyền sở hữu thuộc về

chủ đầu tư, quyền sử dụng thuộc về bên nhận vốn đầu tư

- Bên chủ đầu tư không phải điều hành hoạt động sử dụng

vốn nên nhận được lợi ích thấp hơn nhưng rủi ro thấp hơn

Trang 26

Tất cả các loại hàng hóa, dịch vụ đều được tham gia hội chợ, triển lãm thương mại ở nước ngoài, trừ hàng hóa, dịch

vụ thuộc diện cấm xuất khẩu theo quy định của pháp luật Hàng hóa, dịch vụ thuộc diện cấm xuất khẩu chỉ được tham gia hội chợ, triển lãm thương mại ở nước ngoài khi được

sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ Thời hạn tạm xuất khẩu hàng hóa để tham gia hội chợ, triển lãm thương mại ở nước ngoài là một năm kể từ ngày hàng hóa được tạm xuất khẩu; nếu quá thời hạn nói trên mà chưa được tái nhập khẩu thì hàng hóa đó phải chịu thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật Việt Nam

Thương nhân tổ chức, tham gia hội chợ, triển lãm thương mại ở nước ngoài được tạm xuất, tái nhập hàng hoá và tài liệu về hàng hoá, dịch vụ để trưng bày, giới thiệu tại hội chợ, triển lãm thương mại; được bán, tặng hàng hoá trưng bày, giới thiệu tại hội chợ, triển lãm thương mại ở nước ngoài; phải nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật Việt Nam Bênh cạnh đó, thương nhân phải tuân thủ các quy định về việc tổ chức, tham gia hội chợ, triển lãm thương mại ở nước ngoài

Thương nhân kinh doanh dịch vụ hội chợ, triển lãm thương mại được quyền niêm yết chủ đề, thời gian tiến hành hội chợ, triển lãm thương mại tại nơi tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại đó trước ngày khai mạc hội chợ, triển lãm thương mại; đồng thời được quyền yêu cầu bên thuê dịch vụ cung cấp hàng hoá để tham gia hội chợ, triển lãm thương mại theo thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng Các tổ chức, cá

ký hợp đồng với thương nhân kinh doanh dịch vụ hội chợ,

triển lãm thương mại để tổ chức, tham gia hội chợ, triển lãm

thương mại cho thương nhân mà mình đại diện Thương nhân

nước ngoài có quyền trực tiếp tham gia hoặc thuê thương

nhân kinh doanh dịch vụ hội chợ, triển lãm thương mại Việt

Nam thay mặt mình tham gia hội chợ, triển lãm thương mại

tại Việt Nam Trong trường hợp muốn tổ chức hội chợ, triển

lãm thương mại tại Việt Nam thì thương nhân nước ngoài

phải thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ hội chợ, triển lãm

thương mại Việt Nam thực hiện

Việc tổ chức các hội chợ, triển lãm thương mại phải được

Bộ Công thương cho phép Hợp đồng dịch vụ tổ chức, tham gia

hội chợ, triển lãm thương mại phải được lập thành văn bản hoặc

bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương Doanh

nghiệp tham gia Hội chợ, triển lãm thương mại phải đăng ký

với Ban Tổ chức của từng hội chợ, triển lãm thương mại

Những hàng hoá, dịch vụ không được phép tham gia hội

chợ, triển lãm thương mại tại Việt Nam bao gồm: Hàng hóa,

dịch vụ thuộc diện cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh,

chưa được phép lưu thông theo quy định của pháp luật; Hàng

hóa, dịch vụ do thương nhân ở nước ngoài cung ứng thuộc

diện cấm nhập khẩu theo quy định của pháp luật; Hàng giả,

hàng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, trừ trường hợp trưng bày,

giới thiệu để so sánh với hàng thật Hàng hóa tạm nhập khẩu

để tham gia hội chợ, triển lãm thương mại tại Việt Nam phải

được tái xuất khẩu trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày

kết thúc hội chợ, triển lãm thương mại

Trang 27

Điều kiện đối với hàng hoá, dịch vụ trưng bày, giới thiệu:

- Hàng hoá, dịch vụ trưng bày, giới thiệu phải là những hàng hoá, dịch vụ kinh doanh hợp pháp trên thị trường

- Hàng hoá, dịch vụ trưng bày, giới thiệu phải tuân thủ các quy định của pháp luật về chất lượng hàng hóa và ghi nhãn hàng hoá

Hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam để trưng bày, giới thiệu tại Việt Nam, ngoài việc đáp ứng các điều kiện trên còn phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

- Là hàng hoá được phép nhập khẩu vào Việt Nam;

- Hàng hoá tạm nhập khẩu để trưng bày, giới thiệu phải tái xuất khẩu sau khi kết thúc việc trưng bày, giới thiệu nhưng không quá sáu tháng, kể từ ngày tạm nhập khẩu; nếu quá thời hạn trên thì phải làm thủ tục gia hạn tại hải quan nơi tạm nhập khẩu;

- Hàng hóa tạm nhập khẩu để trưng bày, giới thiệu nếu tiêu thụ tại Việt Nam thì phải tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam đối với hàng hóa nhập khẩu

1.2.5 Các hoạt động trung gian thương mại khác

1.2.5.1 Đại lý thương mại

Đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao Bên giao đại lý là thương nhân giao hàng hoá cho đại lý

nhân tham gia hội chợ, triển lãm thương mại phải thực hiện

nghiêm túc các quyền và nghĩa vụ theo thỏa thuận với thương

nhân tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại; được quyền bán,

tặng hàng hoá, cung ứng dịch vụ được trưng bày, giới thiệu

tại hội chợ, triển lãm thương mại theo quy định của pháp luật

và được tạm nhập, tái xuất hàng hoá, tài liệu về hàng hoá,

dịch vụ để trưng bày tại hội chợ, triển lãm thương mại

1.2.4.2 Trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ

Trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ là hoạt động xúc

tiến thương mại của thương nhân dùng hàng hoá, dịch vụ và

tài liệu về hàng hoá, dịch vụ để giới thiệu với khách hàng về

hàng hoá, dịch vụ đó

Kinh doanh dịch vụ trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch

vụ là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân thực

hiện cung ứng dịch vụ trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ

cho thương nhân khác

Các hình thức trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ gồm:

- Mở phòng trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ;

- Trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ tại các trung tâm

thương mại hoặc trong các hoạt động giải trí, thể thao, văn

hoá, nghệ thuật

- Tổ chức hội nghị, hội thảo có trưng bày, giới thiệu hàng

hoá, dịch vụ

- Trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ trên Internet và

các hình thức khác theo quy định của pháp luật

Trang 28

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, thương nhân được làm đại lý mua, bán các loại hàng hoá cho thương nhân nước ngoài, trừ hàng hóa thuộc Danh mục cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, hàng hóa thuộc Danh mục cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu Đối với hàng hoá thuộc Danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép, thương nhân chỉ được ký hợp đồng đại lý sau khi được Bộ Công thương cấp phép Ngược lại, thương nhân cũng được thuê thương nhân nước ngoài làm đại lý bán hàng tại nước ngoài các loại hàng hóa, trừ hàng hóa thuộc Danh mục cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu Đối với hàng hóa thuộc Danh mục hàng hóa xuất khẩu theo giấy phép quy định tại Nghị định này, thương nhân chỉ được ký hợp đồng thuê đại lý bán hàng tại nước ngoài sau khi được Bộ Công thương cho phép

Tùy theo sự phân chia trách nhiệm và nghĩa vụ giữa bên giao đại lý và bên đại lý, có nhiều hình thức đại lý khác nhau Các hình thức đại lý chính được pháp luật Việt Nam thừa nhận bao gồm:

Đại lý bao tiêu: là hình thức đại lý mà bên đại lý thực hiện việc mua, bán trọn vẹn một khối lượng hàng hoá hoặc cung ứng đầy đủ một dịch vụ cho bên giao đại lý

Đại lý độc quyền: là hình thức đại lý mà tại một khu vực địa lý nhất định bên giao đại lý chỉ giao cho một đại lý mua, bán một hoặc một số mặt hàng hoặc cung ứng một hoặc một

số loại dịch vụ nhất định

Tổng đại lý mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ: là hình thức đại lý mà bên đại lý tổ chức một hệ thống đại lý trực

bán hoặc giao tiền mua hàng cho đại lý mua hoặc là thương

nhân uỷ quyền thực hiện dịch vụ cho đại lý cung ứng dịch vụ

Bên đại lý là thương nhân nhận hàng hoá để làm đại lý bán,

nhận tiền mua hàng để làm đại lý mua hoặc là bên nhận uỷ

quyền cung ứng dịch vụ Thù lao đại lý được trả cho bên đại

lý dưới hình thức hoa hồng hoặc chênh lệch giá

Đại lý có các đặc điểm cơ bản như: Đại lý được quyền

đứng tên trong hợp đồng; Đại lý được quyền chiếm hữu hàng

hoá, chịu trách nhiệm về hành vi và kết quả trong kinh doanh

và được người uỷ thác trả thù lao Hợp đồng đại lý là hợp

đồng dài hạn

Quan hệ giữa bên giao đại lý với đại lý là quan hệ hợp

đồng đại lý Hợp đồng đại lý phải được lập thành văn bản

hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương

Hợp đồng đại lý bao gồm các nội dung cơ bản sau:

- Tên, địa chỉ của các bên ký kết

- Xác định quyền của đại lý: đó là đại lý độc quyền hay

không

- Xác định mặt hàng được uỷ thác

- Xác định khu vực địa lý nơi đại lý hoạt động

- Xác định giá hàng: giá tối đa, giá tối thiểu (khung giá)

- Nghĩa vụ của đại lý: mức tiêu thụ, thông báo, nghĩa vụ

thanh toán, nghĩa vụ đảm bảo thanh toán

- Thời hạn hiệu lực của hợp đồng, thể thức huỷ bỏ hay kéo

dài thời hạn hiệu lực của hợp đồng

Trang 29

địa phương, do đó họ có khả năng đẩy mạnh việc buôn bán

và tránh bớt rủi ro cho người uỷ thác Khi sử dụng những người trung gian, nhất là các loại đại lý có cơ sở vật chất nhất định, người uỷ thác giảm bớt chi phí đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Nhờ dịch vụ của trung gian trong việc lựa chọn, phân loại, đóng gói, người uỷ thác có thể giảm bớt chi phí vận tải Hình thành được mạng lưới buôn bán, tiêu thụ rộng khắp, tạo điều kiện cho việc chiếm lĩnh và mở rộng thị trường Trong thương mại quốc tế, nhiều người trung gian buôn bán có tiềm năng tài chính lớn, nhiều khi họ còn là những người cung cấp tín dụng cho người uỷ thác

Tuy nhiên, việc sử dụng trung gian có khuyết điểm như: Nhà kinh doanh mất sự liên hệ trực tiếp với thị trường; Việc kinh doanh buôn bán phụ thuộc vào năng lực, phẩm chất của người trung gian nên nhiều khi phải gánh chịu hậu quả và rủi ro; Nhà kinh doanh cũng thường phải đáp ứng yêu sách nhiều khi không có lợi cho mình do đại lý, môi giới đưa ra; Lợi nhuận bị chia sẻ…

1.2.5.3 Uỷ thác thương mại

Uỷ thác thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận uỷ thác thực hiện việc mua bán hàng hoá với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác

và được nhận thù lao uỷ thác

Bên nhận uỷ thác là thương nhân kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng hoá được uỷ thác và thực hiện mua bán hàng hoá theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác Bên uỷ thác là thương nhân hoặc không phải là thương nhân

thuộc để thực hiện việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ

cho bên giao đại lý Tổng đại lý đại diện cho hệ thống đại lý

trực thuộc Các đại lý trực thuộc hoạt động dưới sự quản lý

của tổng đại lý và với danh nghĩa của tổng đại lý

1.2.5.2 Môi giới thương mại

Môi giới thương mại là hoạt động thương mại, theo đó

một thương nhân làm trung gian (gọi là bên môi giới) cho các

bên mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ (gọi là bên được

môi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán

hàng hoá, dịch vụ và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi

giới

Môi giới không đứng tên chính mình trong hợp đồng mua

bán mà đứng tên của người uỷ thác Người môi giới không

chịu trách nhiệm về kết quả của việc giao dịch và được nhận

thù lao từ người uỷ thác Hợp đồng môi giới dựa trên sự uỷ

thác từng lần

Hợp đồng môi giới có các nội dung cơ bản sau:

- Tên, địa chỉ các bên

- Nội dung công việc môi giới

- Trách nhiệm của người môi giới

- Mức thù lao và thanh toán thù lao

- Thời hạn hiệu lực của hợp đồng

Việc sử dụng những người trung gian thương mại (đại lý

và môi giới) có những lợi ích như: Những người trung gian

thường hiểu biết rõ tình hình thị trường, pháp luật và tập quán

Trang 30

tiện cần thiết cho việc thực hiện hợp đồng uỷ thác; 2 Trả thù lao uỷ thác và các chi phí hợp lý khác cho bên nhận ủy thác;

3 Giao tiền, giao hàng theo đúng thoả thuận; 4 Liên đới chịu trách nhiệm trong trường hợp bên nhận uỷ thác vi phạm pháp luật mà nguyên nhân do bên uỷ thác gây ra hoặc do các bên

cố ý làm trái pháp luật (Điều 163)

Trừ trường hợp có thoả thuận khác, bên nhận uỷ thác có các quyền sau đây: 1 Yêu cầu bên uỷ thác cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho việc thực hiện hợp đồng uỷ thác; 2 Nhận thù lao uỷ thác và các chi phí hợp lý khác; 3 Không chịu trách nhiệm về hàng hoá đã bàn giao đúng thoả thuận

cho bên uỷ thác (Điều 164)

Trừ trường hợp có thoả thuận khác, bên nhận uỷ thác có các nghĩa vụ sau đây: 1 Thực hiện mua bán hàng hoá theo thỏa thuận; 2 Thông báo cho bên uỷ thác về các vấn đề có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng uỷ thác; 3 Thực hiện các chỉ dẫn của bên uỷ thác phù hợp với thoả thuận; 4 Bảo quản tài sản, tài liệu được giao để thực hiện hợp đồng uỷ thác; 5 Giữ bí mật về những thông tin có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng uỷ thác; 6 Giao tiền, giao hàng theo đúng thoả thuận; 7 Liên đới chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật của bên ủy thác, nếu nguyên nhân của hành vi vi

phạm pháp luật đó có một phần do lỗi của mình gây ra (Điều 165)

1.3 Thương mại điện tử

Thương mại điện tử (E-commerce) là phương thức thương mại được thực hiện bằng phương tiện điện tử

giao cho bên nhận uỷ thác thực hiện mua bán hàng hoá theo

yêu cầu của mình và phải trả thù lao uỷ thác

Tất cả hàng hoá lưu thông hợp pháp đều có thể được uỷ

thác mua bán Việc ủy thác mua bán hàng hóa phải thông

qua hợp đồng uỷ thác

Bên nhận uỷ thác có thể nhận uỷ thác mua bán hàng hoá

của nhiều bên uỷ thác khác nhau Bên nhận uỷ thác không

được uỷ thác lại cho bên thứ ba thực hiện hợp đồng uỷ thác

mua bán hàng hoá đã ký, trừ trường hợp có sự chấp thuận

bằng văn bản của bên uỷ thác

Ủy thác thương mại thường được sử dụng trong hoạt động

mua bán hàng hóa Trong hoạt động thương mại quốc tế gọi

là xuất khẩu ủy thác, nhập khẩu ủy thác Khi thực hiện ủy

thác thương mại, bên ủy thác và bên nhận ủy thác có các

quyền và nghĩa vụ theo sự thỏa thuận và theo quy định của

pháp luật Luật thương mại Việt Nam quy định:

Trừ trường hợp có thoả thuận khác, bên uỷ thác có các

quyền sau đây: 1 Yêu cầu bên nhận uỷ thác thông báo đầy

đủ về tình hình thực hiện hợp đồng uỷ thác; 2 Không chịu

trách nhiệm trong trường hợp bên nhận uỷ thác vi phạm pháp

luật, trừ trường hợp liên đới chịu trách nhiệm trong trường

hợp bên nhận uỷ thác vi phạm pháp luật mà nguyên nhân do

bên uỷ thác gây ra hoặc do các bên cố ý làm trái pháp luật

(Điều 162)

Trừ trường hợp có thoả thuận khác, bên uỷ thác có các

nghĩa vụ sau đây: 1 Cung cấp thông tin, tài liệu và phương

Trang 31

Thương mại điện tử đem lại nhiều lợi ích như giúp các doanh nghiệp nắm được thông tin phong phú về thị trường

và đối tác, giúp giảm chi phí sản xuất, giảm chi phí bán hàng

và tiếp thị Thương mại điện tử qua Internet giúp người tiêu dùng và các doanh nghiệp giảm đáng kể thời gian và chi phí giao dịch, tạo điều kiện cho việc thiết lập và củng cố mối quan

hệ giữa các thành phần tham gia vào quá trình thương mại Thương mại điện tử giúp tiến hành các hoạt động thương mại rất nhanh, đỡ tốn kém và rất linh hoạt Nhưng thương mại điện tử chỉ có thể thực hiện được nếu cơ sở vật chất kỹ thuật của nó (mạng máy tính, mạng lưới Internet …) được trang

bị đầy đủ, nhất là trong điều kiện hội nhập thương mại quốc

tế, Việt Nam đã ban hành Luật Giao dịch điện tử, quy chế sử dụng chữ ký số

Một giao dịch điện tử phải được tiến hành dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau: Các bên phải tự nguyện lựa chọn

sử dụng phương tiện điện tử để thực hiện giao dịch, tự thỏa thuận về việc lựa chọn loại công nghệ để thực hiện giao dịch điện tử Không một loại công nghệ nào được xem là duy nhất trong giao dịch điện tử Giao dịch điện tử phải bảo đảm sự bình đẳng và an toàn, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của

cơ quan, tổ chức, cá nhân, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng

Các hành vi bị nghiêm cấm trong giao dịch điện tử:

1 Cản trở việc lựa chọn sử dụng giao dịch điện tử

2 Cản trở hoặc ngăn chặn trái phép quá trình truyền, gửi, nhận thông điệp dữ liệu

Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên

công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không

dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự Nói một

cách khác, thương mại điện tử là phương thức thương mại mà

việc trao đổi thông tin thương mại được thực hiện thông qua

các phương tiện công nghệ điện tử mà không cần phải in ra

giấy trong bất cứ công đoạn nào của quá trình giao dịch (nên

còn được gọi là thương mại không giấy tờ) Các phương tiện

công nghệ điện tử ví dụ như điện thoại, điện báo, telex, fax,

truyền hình, thiết bị kỹ thuật thanh toán điện tử, mạng nội bộ,

Internet và web… Theo cách hiểu chung hiện nay, thương

mại điện tử là việc sử dụng các phương tiện điện tử và mạng

Internet để tiến hành các hoạt động thương mại

Có thể nhìn nhận thương mại điện tử dưới các góc độ:

truyền thông, kinh doanh, dịch vụ, mạng Internet… Dưới góc

độ truyền thông, thương mại điện tử là tất cả hoạt động trao

đổi thông tin, sản phẩm, dịch vụ, thanh toán… thông qua

các phương tiện điện tử như máy tính, đường dây điện thoại,

internet và các phương tiện khác Trên góc độ kinh doanh,

thương mại điện tử là việc ứng dụng các phương tiện điện tử

và công nghệ thông tin nhằm tự động hoá quá trình và các

nghiệp vụ kinh doanh Hiểu trên góc độ dịch vụ, thương mại

điện tử là việc ứng dụng các phương tiện điện tử và công nghệ

thông tin nhằm tự động hoá các hoạt động dịch vụ Thương

mại điện tử còn được hiểu là tất cả các hoạt động mua bán

sản phẩm, dịch vụ và thông tin thông qua mạng Internet và

các mạng khác

Trang 32

Các công đoạn của giao dịch mua bán thương mại điện tửMột giao dịch mua bán trên mạng gồm có 6 công đoạn sau:

(1) Khách hàng, từ một máy tính tại một nơi nào đó, điền những thông tin thanh toán và địa chỉ liên hệ vào đơn đặt hàng của Website bán hàng (còn gọi là Website thương mại điện tử) Doanh nghiệp nhận được yêu cầu mua hàng hóa hay dịch vụ của khánh hàng và phản hồi xác nhận tóm tắt lại những thông tin cần thiết như mặt hàng đã chọn, điạ chỉ giao nhận và số phiếu đặt hàng

(2) Khách hàng kiểm tra lại các thông tin đã báo và nhấn vào nút “đặt hàng” trên màn hình từ bàn phím hay chuột của máy tính, để gởi thông tin trả về cho doanh nghiệp

(3) Doanh nghiệp nhận và lưu trữ thông tin đặt hàng đồng thời chuyển tiếp thông tin thanh toán (số thẻ tín dụng, ngày đáo hạn, chủ thẻ,…) đã được mã hóa đến máy chủ (Server

- thiết bị xử lý dữ liệu) của Trung tâm cung cấp dịch vụ xử

lý thẻ trên mạng Internet Với quá trình mã hóa, các thông tin thanh toán của khách hàng được bảo mật an toàn nhằm chống gian lận trong các giao dịch (chẳng hạn doanh nghiệp

sẽ không biết được thông tin về thẻ tín dụng của khách hàng) (4) Khi Trung tâm xử lý thẻ tín dụng nhận được thông tin thanh toán sẽ giải mã thông tin và xử lý giao dịch đằng sau bức tường lửa (Fire wall) và tách rời mạng Internet, nhằm mục đích bảo mật tuyệt đối cho các giao dịch thương mại, định dạng lại giao dịch và chuyển tiếp thông tin thanh toán

3 Thay đổi, xoá, huỷ, giả mạo, sao chép, tiết lộ, hiển thị,

di chuyển trái phép một phần hoặc toàn bộ thông điệp dữ liệu

4 Tạo ra hoặc phát tán chương trình phần mềm làm rối

loạn, thay đổi, phá hoại hệ thống điều hành hoặc có hành vi

khác nhằm phá hoại hạ tầng công nghệ về giao dịch điện tử

5 Tạo ra thông điệp dữ liệu nhằm thực hiện hành vi trái

pháp luật

6 Gian lận, mạo nhận, chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép

chữ ký điện tử của người khác

Hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng

thông điệp dữ liệu và được Nhà nước thừa nhận giá trị pháp

lý của nó Thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, được

gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử

Thông điệp dữ liệu được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ

liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo,

fax và các hình thức tương tự khác Giao kết hợp đồng điện

tử là việc sử dụng thông điệp dữ liệu để tiến hành một phần

hoặc toàn bộ giao dịch trong quá trình giao kết hợp đồng

Trong giao kết hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thỏa

thuận khác, đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận giao kết

hợp đồng có thể được thực hiện thông qua thông điệp dữ liệu

Theo quy định của Luật Giao dịch điện tử, hợp đồng điện

tử được thừa nhận giá trị pháp lý Trong giao kết và thực hiện

hợp đồng điện tử, thông báo dưới dạng thông điệp dữ liệu

có giá trị pháp lý như thông báo bằng phương pháp truyền

thống

Trang 33

Câu 6 Thương mại điện tử có phải là một phương thức

thương mại quốc tế không? Vì sao?

Câu 7 Phân tích các đặc trưng cơ bản của phương thức

thương mại điện tử

đến ngân hàng của doanh nghiệp theo một đường dây thuê

bao riêng (một đường truyền số liệu riêng biệt)

(5) Ngân hàng của doanh nghiệp gửi thông điệp điện tử

yêu cầu thanh toán đến ngân hàng hoặc công ty cung cấp thẻ

tín dụng của khách hàng Tổ chức tài chính này sẽ phản hồi

là đồng ý hoặc từ chối thanh toán đến trung tâm xử lý thẻ tín

dụng trên mạng Internet

(6) Trung tâm xử lý thẻ tín dụng trên Internet sẽ tiếp tục

chuyển tiếp những thông tin phản hồi trên đến doanh nghiệp,

và tùy theo đó doanh nghiệp thông báo cho khách hàng được

rõ là đơn đặt hàng sẽ được thực hiện hay không

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG

Câu 1 Trình bày khái niệm và đặc điểm của hoạt động

thương mại quốc tế?

Câu 2 Các nguyên tắc trong hoạt động thương mại quốc

tế và nội dung quản lý nhà nước về thương mại quốc tế?

Câu 3 Trình bày các phương thức thương mại quốc tế?

Phân tích đặc trưng của từng phương thức thương mại quốc

tế đó?

Câu 4 Vì sao phương thức mua bán trực tiếp còn được

gọi là phương thức giao dịch thông thường?

Câu 5 Phương thức giao dịch tái xuất là gì? Hình thức

nhập nguyên liệu để gia công cho thương nhân nước ngoài

có được coi là kinh doanh tạm nhập, tái xuất không? Vì sao?

Trang 34

Chương 2HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

2.1 Một số nhận thức chung về hợp đồng thương mại quốc tế

2.1.1 Khái niệm và đặc điểm hợp đồng thương mại quốc tế

Hợp đồng được hiểu là sự thoả thuận giữa các bên làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một quan hệ pháp lý nào

đó Hợp đồng thương mại là hợp đồng được giao kết giữa các thương nhân với nhau nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một hành vi thương mại nào đó Tuy nhiên, hành

vi thương mại rất rộng và được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, bao gồm hoạt động mua bán hàng hóa, hoạt động đầu

tư, hoạt động cung ứng dịch vụ thương mại, hoạt động xúc tiến thương mại; các hoạt động trung gian thương mại và các hoạt động thương mại khác Trong phạm vi môn học, chúng

ta chỉ nghiên cứu hợp đồng thương mại quốc tế dưới góc độ

là hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

Với cách tiếp cận đó, hợp đồng thương mại quốc tế được hiểu là sự thỏa thuận giữa bên mua và bên bán, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh

Trang 35

hợp đồng xuất khẩu, hợp đồng nhập khẩu, hợp đồng tạm nhập - tái xuất

Xét về hình thức hợp đồng, có hợp đồng ký kết dưới hình thức văn bản và các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương

2.2 Nội dung hợp đồng thương mại quốc tế

2.2.1 Cấu trúc của hợp đồng thương mại quốc tế

Cấu trúc của hợp đồng thương mại quốc tế được hiểu là các bộ phận hợp thành của một hợp đồng thương mại quốc tế.Một hợp đồng thương mại quốc tế thường được cấu trúc thành năm nhóm nội dung chính:

(1) Tên và số hiệu hợp đồng;

(2) Địa điểm và ngày tháng ký kết hợp đồng;

(3) Phần mở đầu (tên, địa chỉ các chủ thể tham gia hợp đồng);

(4) Phần nội dung chính bao gồm các điều khoản chính của hợp đồng;

(5) Đại diện của các bên ký kết ký tên và đóng dấu

2.2.2 Nội dung cơ bản các điều khoản của hợp đồng thương mại quốc tế

Nội dung cơ bản của hợp đồng thương mại quốc tế chính là các điều khoản được thỏa thuận giữa các bên Các điều khoản của hợp đồng thương mại quốc tế, thường có hai nhóm: các điều khoản bắt buộc (là các điều khoản thường phải có trong

toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo

thỏa thuận

Như vậy, hợp đồng thương mại quốc tế là hình thức pháp

lý của hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và có các đặc

điểm cơ bản sau:

- Chủ thể của quan hệ hợp đồng TMQT có trụ sở thương

mại tại các nước khác nhau hoặc có nơi cư trú khác nhau;

- Đối tượng của hợp đồng là hàng hoá được di chuyển từ

khu vực pháp lý này đến khu vực pháp lý khác;

- Đồng tiền để tính giá và thanh toán là ngoại tệ đối với

một hoặc cả hai bên;

- Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng thương mại quốc tế là

các điều ước quốc tế, tập quán thương mại quốc tế và pháp

luật của các quốc gia

2.1.2 Phân loại hợp đồng thương mại quốc tế

Hợp đồng thương mại quốc tế được chia thành nhiều loại

khác nhau, tùy từng tiêu thức phân loại

Xét về thời gian thực hiện hợp đồng, có hợp đồng thương

mại quốc tế ngắn hạn và hợp đồng thương mại quốc tế dài

hạn Hợp đồng thương mại quốc tế ngắn hạn thường là những

hợp đồng có thời gian thực hiện dưới một năm Hợp đồng

thương mại quốc tế dài hạn là hợp đồng có thời gian thực

hiện trên một năm, do đó một hợp đồng dài hạn có thể được

cụ thể thành nhiều hợp đồng ngắn hạn

Xét về nội dung quan hệ kinh doanh trong hợp đồng, có

Trang 36

Ghi tên hàng kèm với công dụng của hàng Ví dụ: hàng hóa là tuyn để làm màn, xe nâng hàng, máy thổi chai nhựa, Ghi tên hàng kèm theo nhãn hiệu của nó Ví dụ: bia Tiger, bột giặt Omo, sữa Nestle

Ghi tên hàng kèm theo mã số hàng trong danh mục hàng hoá thống nhất - danh mục hàng hoá dựa trên công ước HS (Công ước của LHQ về Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hoá) Ví dụ: Ngựa sống (nhóm 01.01), Lông ngựa (nhóm 05.03), Ngựa để làm xiếc (nhóm 95.08)

2.2.2.2 Điều khoản về phẩm chất (Quality)

Điều khoản về phẩm chất là điều khoản phản ánh mặt chất lượng của hàng hoá bao gồm tính năng, quy cách, kích thước, tác dụng, công suất, hiệu suất của hàng hoá Đây là điều khoản bổ sung và làm rõ điều khoản tên hàng Xác định cụ thể phẩm chất của sản phẩm là cơ sở để xác định giá cả hàng hóa, do vậy, nếu xác định điều kiện phẩm chất tốt sẽ giúp xác định giá cả tốt và mua được hàng hóa đúng yêu cầu

Có nhiều phương pháp để xác định phẩm chất hàng hóa, dưới đây là một số phương pháp chủ yếu:

a/ Dựa vào mẫu hàng:

Mẫu hàng là đơn vị hàng hoá lấy ra từ lô hàng giao dịch Phương pháp xác định phẩm chất hàng hóa dựa vào mẫu hàng chỉ áp dụng cho những hàng hoá phẩm chất ít biến đổi bởi môi trường bên ngoài Ví dụ thường được áp dụng cho các hợp đồng mua bán gạo, cà phê, lạc nhân, quặng

một hợp đồng, như điều khoản về tên hàng, số lượng, chất

lượng ) và các điều khoản tùy ý (các điều khoản tùy vào sự

thỏa thuận và thống nhất giữa các bên tham gia)

2.2.2.1 Điều khoản về tên hàng (Commodity)

Điều khoản về tên hàng nhằm mục đích giúp các bên xác

định được loại hàng cần mua bán, do đó điều khoản phải

được diễn tả thật chính xác Để làm việc đó, người ta có các

cách ghi tên hàng như sau:

Ghi tên hàng bao gồm tên thông thường, tên thương mại,

tên khoa học, đặc biệt trong trường hợp các hàng hoá là hoá

chất, dược phẩm, giống cây Ví dụ, một chất phụ gia làm

kết dính dùng để chế biến thực phẩm có tên thông thường và

tên thương mại là “I+G”, có tên khoa học là Disodium 5’ -

Insosiate 50% & Disodium 5’ - Guanylate 50% (là một chất

hỗn hợp của IMP (Disodium inosine 5’ - monophosphate) và

GMP (Disodium guanosine 5’ - monophosphate)

Ghi tên hàng kèm theo tên địa phương sản xuất ra nó, nếu

nơi đó có ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm Ví dụ: rượu

vang Bordeau, Cà phê Buôn Mê Thuột, chè Thái Nguyên,

Ghi tên hàng kèm với quy cách của chính hàng hoá đó Ví

dụ: xe tải nhẹ 3,5 tấn, xe tải 25 tấn, Xe du lịch 4 chỗ ngồi, 12

chỗ ngồi,

Ghi tên hàng kèm với tên nhà sản xuất ra nó, đặc biệt áp

dụng đối với những sản phẩm nổi tiếng của những hãng có

uy tín Ví dụ: Bia Heineken, giầy Adidas, xe máy Honda, tủ

lạnh Toshiba, tivi JVC, dép Bitis

Trang 37

d/ Dựa vào tài liệu kỹ thuật:

Đây là phương pháp thường áp dụng cho máy móc thiết

bị, hàng công nghiệp Đi kèm với hợp đồng mua bán hàng hóa thường là các tài liệu kỹ thuật như bảng thuyết minh, catalogue, chỉ dẫn lắp đặt và hướng dẫn vận hành Tài liệu kỹ thuật thuộc bản quyền người bán, vì vậy người mua không được thay đổi, sửa chữa

e/ Dựa vào hàm lượng các chất chủ yếu có trong hàng:

Hàm lượng của chất trong hàng hoá có thể chia làm hai loại: Chất có ích và chất không có ích Chất có ích thường được quy định hàm lượng (%) min Chất không có ích thường được quy định hàm lượng (%) max Cách quy định này thường được áp dụng khi buôn bán nông sản, khoáng sản, thực phẩm chế biến, hoá chất

Ví dụ: Phẩm chất gạo xuất khẩu 25% tấm quy định như sau:

- Độ ẩm tối đa 14% (moisture max 14%)

- Tạp chất tối đa 0,5% (foreign matter max 0,5%)

- Hạt vỡ tối đa 25% (broken bean max 25%)

- Hạt nguyên tối thiểu 40% (standard bean min 40%)

- Hạt hư không quá 2% (damaged grain max 2%)

- Hạt bạc bụng không quá 8% (chalky grain max 8%)

- Hạt đỏ không quá 4% (red bean max 4%)

f/ Dựa vào hiện trạng hàng hoá

Đây là phương pháp mô tả chất lượng hàng hoá dựa vào hiện trạng thực tế của hàng hóa, người bán chỉ chịu trách

b/ Dựa vào tiêu chuẩn:

Tiêu chuẩn là những quy định về sự đánh giá chất lượng

hoặc các chỉ tiêu về phẩm chất (quốc gia, quốc tế) Ví dụ để

mô tả phẩm chất mặt hàng máy giặt, không thể dùng cách mô

tả kiểu máy giặt loại lồng đứng hay lồng nghiêng, khối lượng

giặt bao nhiêu, công suất như thế nào, điện áp bao nhiêu, sử

dụng công nghệ nào mà chỉ cần đưa ra một mức tiêu chuẩn

của mặt hàng này: Số hiệu tiêu chuẩn: TCVN 8526:2010; tên

tiêu chuẩn: Máy giặt gia dụng

Phẩm cấp cũng là một loại tiêu chuẩn, tuy nhiên nó có

một sự di chuyển về quy cách phẩm chất Ví dụ: TCVN về

phẩm cấp gạo có các loại: Gạo 5% tấm, Gạo 10% tấm, Gạo

20% tấm, Gạo 25% tấm

c/ Dựa vào nhãn hiệu hàng hoá:

Nhãn hiệu là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái,

từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp

các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc có

khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn

hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác Nhãn hiệu được

khắc, in trên hàng hoá hay trên bao bì hàng hoá để phân biệt

hàng hoá nơi sản xuất này với nơi sản xuất khác Mỗi nhãn

hiệu, đặc biệt là những nhãn hiệu có uy tín cao, sẽ có một

chất lượng sản phẩm khác nhau, ngay khi cùng một loại hàng

hoá, thậm chí giá cũng khác nhau Vì thế, khi mua bán chỉ

cần dựa vào nhãn hiệu đó cũng đã xác định được chất lượng

hàng hoá Ví dụ các nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng như chè

Lipton, áo sơ mi Pierre Cardin, xe máy Piaggio

Trang 38

j/ Dựa vào sự mô tả hàng hoá

Trong hợp đồng sẽ nêu tất cả các đặc điểm về hình dạng, màu sắc, kích cỡ, công dụng của sản phẩm Phương pháp này

áp dụng được cho mọi sản phẩm có khả năng mô tả được, thông thường nó được sử dụng kết hợp với các phương pháp khác

2.2.2.3 Điều khoản về số lượng (Quantity)

Đây là một trong những điều khoản quan trọng trong một hợp đồng thương mại quốc tế Điều khoản này sẽ xác định

số lượng thực tế hàng hóa sẽ được mua bán Trong đơn vị tính số lượng cần lưu ý hệ thống đo lường, vì trên thực tế nhiều nước còn sử dụng các hệ thống đo lường khác nhau (hệ mét hệ, hệ Anh - Mỹ) Với hệ mét hệ: 1 MT (metric - ton)

=1000kg, nhưng với hệ Anh - Mỹ: 1 tấn Mỹ - 1 ST (short - ton) = 907,187kg, 1 tấn Anh - 1 LT (long - ton) = 1.016,047kgCũng có thể cùng một đơn vị đo lường nhưng áp dụng với mỗi hàng hoá lại khác nhau Ví dụ 1 ounce (đối với hàng hoá thông thường) = 31,1 gram; 1 ounce (đối với vàng bạc)

= 28,35 gram

Số lượng hàng hóa trong một hợp đồng có thể được mô tả

cụ thể hoặc phỏng chừng, tùy thuộc loại hàng hóa Với những hàng hóa số lượng nhỏ, hàng đếm được, hàng mua - bán ở những thị trường nhỏ (hàng công nghiệp, hàng bách hóa…), khối lượng, số lượng cụ thể của hàng hoá được khẳng định dứt khoát khi ký hợp đồng, số lượng đó sẽ không thay đổi trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng Ví dụ: 1.000 cái máy kéo; 10.000 xe máy…

nhiệm giao hàng theo đúng tên gọi mà không chịu trách nhiệm

về chất lượng của hàng Vì vậy, cách này được sử dụng trong

các trường hợp mua hàng khi tàu đến, bán hàng tại kho, bán

hàng thanh lý hoặc khi thị trường thuộc về người bán

g/ Dựa vào dung trọng

Dung trọng (natural weight) là trọng lượng tự nhiên của

hàng hoá trên một đơn vị thể tích Phương pháp này áp dụng

phổ biến đối với các mặt hàng ngũ cốc, lương thực, thường

được sử dụng kết hợp với phương pháp mô tả

h/ Dựa vào xem xét trước

Người mua sẽ được quyền xem trước hàng hoá, nếu đồng

ý sẽ nhận hàng và thanh toán tiền Phương pháp này áp dụng

cho các mặt hàng như: đồ cổ, hàng đấu giá, đồ cũ

i/ Dựa vào các tiêu chuẩn đại khái quen dùng

Phương pháp này thường được áp dụng khi mua bán hàng

hoá nông sản, nguyên liệu mà phẩm chất của chúng khó tiêu

chuẩn hoá Trên thị trường thế giới, thường dùng một số chỉ

tiêu phỏng chừng như FAQ, GMQ Theo tiêu chuẩn FAQ

(fair average quality - phẩm chất trung bình khá), người bán

từ một địa điểm nhất định phải giao hàng theo phẩm chất

không thấp hơn phẩm chất bình quân của cùng loại hàng vẫn

thường được gửi từ nơi đó trong một thời gian nhất định

Theo tiêu chuẩn GMQ (good merchantable quality - phẩm

chất tiêu thụ tốt), người bán phải giao hàng có phẩm chất

thông thường được mua bán trên thị trường mà một khách

bình thường sau khi xem xét đầy đủ có thể chấp nhận được

Trang 39

trừ đi trọng lượng bao bì Phương pháp này được áp dụng trong trường hợp trọng lượng hoặc trị giá của bao bì khác xa

so với trọng lượng hoặc trị giá của lô hàng

Trọng lượng tịnh thuần tuý (Net net weight): Là trọng lượng thực tế của bản thân hàng hoá mà không tính đến bất

cứ loại bao bì nào

Trọng lượng thương mại (Commercial weight): là trọng lượng của hàng hoá ở độ ẩm tiêu chuẩn Phương pháp này thường áp dụng cho những mặt hàng dễ hút ẩm có độ ẩm không ổn định, giá trị kinh tế tương đối cao như bông, đay, len, tơ tằm Trọng lượng thương mại được quy đổi từ trọng lượng thực tế của hàng hóa tại thời điểm xác định trọng lượng bằng công thức:

Trong đó:

GTM - trọng lượng thương mại của hàng hóa;

Gtt - trọng lượng thực tế của hàng hóa Wtc - độ ẩm tiêu chuẩn của hàng hóa (tính bằng %) Wtt - độ ẩm thực tế của hàng hóa (tính bằng %) Trọng lượng lý thuyết: Là trọng lượng tính toán đơn thuần dựa vào lý thuyết hay thiết kế Phương pháp này áp dụng tính cho các mặt hàng có quy cách và kích thước cố định (ví dụ

Với quy định phỏng chừng, người bán có thể giao hàng

với số lượng cao hoặc thấp hơn số lượng ghi trong hợp đồng,

xuất phát từ việc cân đo hàng khó đảm bảo chính xác tuyệt

đối, hoặc khó khăn trong việc tìm phương tiện vận chuyển

phù hợp hoàn toàn với khối lượng hàng Khoản chênh lệch

đó gọi là dung sai Dung sai là tỷ lệ chênh lệch cho phép,

được tính bằng tỷ lệ Dung sai có thể ghi trong hợp đồng

bằng các cụm từ “about”, “approximately” (khoảng chừng),

“from to ” (trong khoảng) hoặc “± …%” Ví dụ: 5.000MT

± 10%; about 5.000 MT rice

Trường hợp dung sai không được xác định và ghi trong

hợp đồng thì áp dụng phạm vi dung sai theo tập quán quốc tế

hiện hành đối với hàng hoá như buôn bán ngũ cốc có dung sai

là ±5%, cà phê ±3%, cao su ±2,5%, gỗ ±10%, máy thiết

bị ±5% trọng lượng hàng giao Nếu thanh toán bằng L/C thì

quy định được phép ±10%

Đối với những hàng hóa xác định theo trọng lượng, cần

nắm rõ các phương pháp xác định trọng lượng hàng hóa Trọng

lượng hàng hóa có thể được tính theo các cách khác nhau

Trọng lượng cả bì (Gross weight): Là trọng lượng của

bản thân hàng hoá cộng với trọng lượng của bao bì Phương

pháp này được áp dụng khi trọng lượng hoặc trị giá của bao

bì quá nhỏ so với trọng lượng hoặc trị giá của lô hàng, hoặc

đối với những mặt hàng không thể tách rời khỏi bao bì Đây

là phương pháp xác định trọng lượng hàng hóa phổ biến

Trọng lượng tịnh (Net weight): Đây chính là trọng lượng

của bản thân hàng hoá, hay bằng trọng lượng của cả lô hàng

Trang 40

bên mua và bán lựa chọn, có thể trong hợp đồng ghi rõ điểm đi/ đến (Port of discharging/destination: Haiphong port) hoặc ghi địa điểm giao hàng lựa chọn (one of Taiwan port; CIF European main ports; FOB Haiphong/Danang/Cantho)…Ngoài ra, trong điều khoản giao hàng luôn đề cập đến nội dung phương thức giao hàng Đó có thể là giao nhận về trọng lượng (xác định số lượng thực tế hàng hóa được giao, bằng các phương pháp cân, đo, đong, đếm…), giao nhận về chất lượng (là việc kiểm tra hàng hóa về tính năng, công dụng, hiệu suất, kích thước, hình dáng ), giao nhận sơ bộ (bước đầu xem xét hàng hóa xác định sự phù hợp về số lượng, chất lượng hàng so với hợp đồng) hoặc giao nhận cuối cùng (là việc xác nhận việc người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng).Tùy điều kiện cơ sở giao hàng đã quy định, trong hợp đồng thương mại quốc tế vẫn quy định rõ thêm về lần thông báo giao hàng và những nội dung cần được thông báo Phía người bán thường thông báo cho người mua về việc hàng đã sẵn sàng để giao hoặc ngày đem hàng ra cảng/ ga để giao; đặc biệt khi mua bán theo điều kiện FOB, phía người mua còn thông báo cho người bán những điểm hướng dẫn người bán trong việc gửi hàng hoặc chi tiết về con tàu đến nhận hàng: tên tàu, quốc tịch tàu, trọng tải tàu, thời gian tàu đến, Người bán phải thông báo tình hình hàng đã được giao và kết quả của của việc giao hàng đó, nhiều khi người ta còn qui định thêm việc thông báo trước khi tàu vào cảng dỡ hàng (nếu tàu

do bên bán thuê) Người mua phải có các trả lời phản hồi lại các thông báo của người bán

thép tròn, thép cuộn, thép tấm…) hoặc trong trường hợp mua

thiết bị toàn bộ

2.2.2.4 Điều khoản giao hàng (Shipment/Delivery)

Điều khoản giao hàng là điều khoản xác định thời hạn, địa

điểm giao hàng, phương thức giao hàng và thông báo giao

hàng

Thời hạn giao hàng là thời hạn mà người bán phải hoàn

thành nghĩa vụ giao hàng Trong buôn bán quốc tế, có 3 kiểu

quy định thời hạn giao hàng: giao hàng theo định định kỳ,

giao hàng theo điều kiện và giao hàng theo các thuật ngữ

Giao hàng theo định kỳ là việc xác định thời hạn giao hàng

vào một khoảng (mốc) thời gian nhất định Ví dụ giao hàng

vào một ngày cố định (ngày 31/12/2010), một khoảng thời

gian (trong quý III/2010) hoặc một ngày được coi là ngày

cuối cùng của thời hạn giao hàng (không chậm quá ngày

31/12/2010)… Giao hàng theo điều kiện là việc xác định thời

hạn giao hàng theo một điều kiện nhất định Ví dụ giao hàng

cho chuyến tàu đầu tiên, giao hàng trong vòng 20 ngày kể từ

ngày mở L/C, giao hàng trong vòng 20 ngày kể từ khi nhận

được giấy phép xuất khẩu Giao hàng theo các thuật ngữ là

việc xác định thời hạn giao hàng kèm theo các thuật ngữ như

“giao nhanh” (prompt), “giao ngay lập tức” (Immediately),

“giao càng sớm càng tốt” (as soon as possible)…

Việc lựa chọn địa điểm giao hàng có liên quan chặt chẽ

đến phương thức chuyên chở hàng hoá và đến điều kiện cơ

sở giao hàng Thường địa điểm hàng giao đi và địa điểm hàng

chuyển tới phụ thuộc vào điều kiện thương mại quốc tế do hai

Ngày đăng: 01/08/2021, 21:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Nghĩa vụ tương ứng của người bỏn và người mua - Bài giảng gốc kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương
Bảng 1.1 Nghĩa vụ tương ứng của người bỏn và người mua (Trang 66)
Bảng 1.3: Phõn loại theo quyền vận tải và nơi giao hàng - Bài giảng gốc kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương
Bảng 1.3 Phõn loại theo quyền vận tải và nơi giao hàng (Trang 67)
Bảng 2.1: Nghĩa vụ của người mua và người bỏn theo qui tắc EXW - Bài giảng gốc kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương
Bảng 2.1 Nghĩa vụ của người mua và người bỏn theo qui tắc EXW (Trang 69)
Bảng 2.2: Nghĩa vụ của người mua và người bỏn theo qui tắc FCA - Bài giảng gốc kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương
Bảng 2.2 Nghĩa vụ của người mua và người bỏn theo qui tắc FCA (Trang 72)
Bảng 2.3: Nghĩa vụ của người mua và người bỏn theo qui tắc CPT - Bài giảng gốc kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương
Bảng 2.3 Nghĩa vụ của người mua và người bỏn theo qui tắc CPT (Trang 75)
Bảng 2.4: Nghĩa vụ của người mua và người bỏn theo qui tắc CIP - Bài giảng gốc kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương
Bảng 2.4 Nghĩa vụ của người mua và người bỏn theo qui tắc CIP (Trang 77)
Bảng 2.5: Nghĩa vụ của người mua và người bỏn theo qui tắc DAT - Bài giảng gốc kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương
Bảng 2.5 Nghĩa vụ của người mua và người bỏn theo qui tắc DAT (Trang 80)
Bảng 2.6: Nghĩa vụ của người mua và người bỏn theo qui tắc DAP - Bài giảng gốc kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương
Bảng 2.6 Nghĩa vụ của người mua và người bỏn theo qui tắc DAP (Trang 83)
Bảng 2.7: Nghĩa vụ của người mua và người bỏn theo qui tắc DDP - Bài giảng gốc kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương
Bảng 2.7 Nghĩa vụ của người mua và người bỏn theo qui tắc DDP (Trang 86)
Bảng 2.8: Nghĩa vụ của người mua và người bỏn theo qui tắc FAS - Bài giảng gốc kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương
Bảng 2.8 Nghĩa vụ của người mua và người bỏn theo qui tắc FAS (Trang 88)
Bảng 2.9: Nghĩa vụ của người mua và người bỏn theo qui tắc FOB - Bài giảng gốc kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương
Bảng 2.9 Nghĩa vụ của người mua và người bỏn theo qui tắc FOB (Trang 91)
Bảng 2.11: Nghĩa vụ của người mua và người bỏn theo qui tắc CIF - Bài giảng gốc kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương
Bảng 2.11 Nghĩa vụ của người mua và người bỏn theo qui tắc CIF (Trang 96)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w