Đề tài:Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam?HÀ NỘI - 2021... THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
Trang 1Đề tài:Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam?
HÀ NỘI - 2021
Trang 2A MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 2
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 2
1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng 2
2 Đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng 2
3 Chức năng của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng 3
4 Ý nghĩa trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng 4
II THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM NGHĨA VỤ HỢP ĐỒNG THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ 6
1 Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng 6
1.1 Có hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng 6
1.2 Có thiệt hại thực tế xảy ra do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng 8
1.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật và thiệt hại xảy ra 9
1.4 Người vi phạm nghĩa vụ có lỗi 10
2 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng 11
3 Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng 13
III.PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN VÀ GIẢI PHÁP VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM NGHĨA VỤ HỢP ĐỒNG 15
1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng 15
2 Giải pháp hoàn thiện góp phần nâng cao các quy định của pháp luật 15
C KẾT LUẬN 17
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 4A MỞ ĐẦU
Trong quá trình hội nhập và phát triển, cùng với sự vận động và phát triểnkhông ngừng của nền kinh tế thế giới, các hoạt động giao thương, các giao dịch đã trởnên quá phổ biến và quen thuộc Việt Nam đã và đang chuyển mình và cũng khôngnằm ngoài sự phát triển chung của xã hội Với nhu cầu thiết yếu của cuộc sống hằngngày, hợp đồng là một trong các loại giao dịch được áp dụng phổ biến hiện nay Qua
đó, các bên tham gia hợp đồng thiết lập các quyền và nghĩa vụ pháp lý, đưa ra nhữngmục đích nhất định, những mong muốn đạt được khi giao kết hợp đồng Tuy nhiên,làm thế nào để chắc chắn các bên sẽ thực hiện và thực hiện đúng nghĩa vụ của mình.Bồi thường thiệt hại (BTTH) là một biện pháp kinh tế thông dụng, được áp dụng vớinhiều loại quan hệ xã hội nhằm mục đích bù đắp một khoản vật chất, tinh thần và sứckhoẻ cho chủ thể bị thiệt hại Trong đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạmhợp đồng là trách nhiệm pháp lý phát sinh khi một bên trong quan hệ hợp đồng cóhành vi trực tiếp hay gián tiếp vi phạm nghĩa vụ, gây thiệt hại cho bên kia, từ đó, việcbồi thường thiệt hại có mục đích nhằm khôi phục tình trạng tài sản, bù đắp tổn thất vềtinh thần, sức khỏe cho người bị thiệt hại Trách nhiệm này có thể được pháp luật quyđịnh hoặc do các bên thoả thuận
Qua gần 10 năm thi hành và áp dụng, Bộ luật Dân sự 2005 đã bộc lộ không ítnhững điểm hạn chế và bất cập, nhiều quy định pháp luật đã dần trở nên lạc hậu hơn sovới sự phát triển mạnh mẽ của những quan hệ dân sự đang diễn ra ngày càng phongphú và đa dạng trong thực tiễn Bộ luật Dân sự 2015 đã có nhiều điểm mới phát triển,tiến bộ hơn so với Bộ luật Dân sự 2005, đặc biệt là chế định bồi thường thiệt hại do viphạm hợp đồng Để tạo sự thống nhất, đồng bộ giữa pháp luật dân sự - với tư cách làluật chung và pháp chuyên ngành – với tư cách là luật riêng trong quá trình triển khaithi hành trên thực tiễn Nhận thức được tầm quan trọng đó, tôi xin lựa chọn đề
tài:“Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam” làm bài tiểu luận kết thúc học phần với mong muốn
làm rõ việc pháp luật Việt Nam quy định như thế nào về trách nhiệm bồi thường thiệthại do vi phạm hợp đồng từ đó đề xuất một số giải pháp để góp phần hoàn thiện phápluật về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong thời gian tới
Trang 5B NỘI DUNG
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì trách nhiệm BTTH do viphạm hợp đồng được BLDS 2005 quy định tại Điều 307 về trách nhiệm BTTH Tuynhiên, BLDS 2015 không nêu rõ khái niệm trách nhiệm BTTH mà chỉ nêu lên căn cứphát sinh trách nhiệm, nguyên tắc bồi thường, năng lực chịu trách nhiệm, thời hạnhưởng bồi thường… BLDS năm 2015 đã bổ sung quy định “Trách nhiệm BTTH do vi
phạm nghĩa vụ” tại Điều 360 Với quy định “Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp
có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”, Điều 360 BLDS năm 2015 đã ghi
nhận khái quát trách nhiệm BTTH do vi phạm nghĩa vụ bao gồm quát trách nhiệmBTTH do vi phạm hợp đồng và trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng Điều này là hoàntoàn hợp lý bởi hợp đồng là căn cứ chủ yếu làm phát sinh nghĩa vụ Bên cạnh đó, Điều
360 BLDS năm 2015 còn chỉ rõ nguyên tắc của BTTH và căn cứ làm phát sinh tráchnhiệm BTTH Theo đó, để làm phát sinh trách nhiệm BTTH đòi hỏi phải có 3 căn cứ:
có hành vi vi phạm nghĩa vụ; có thiệt hại; có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi viphạm nghĩa vụ và thiệt hại xảy ra Như vậy, có thể hiểu trách nhiệm BTTH là một loạitrách nhiệm dân sự mà theo đó thì khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mìnhgây tôn hại cho người khác phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra Từ phântích trên có thể định nghĩa trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ hợp
đồng như sau: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng là biện pháp khắc phục hậu quả của hành vi vi phạm hợp đồng, nhằm bảo đảm cho trách nhiệm dân sự theo hợp đồng được thực hiện bằng bù đắp những tổn thất do bên vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm hợp đồng”.
2 Đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng
Trang 6Về cơ sở pháp lý: Trách nhiệm BTTH là một loại trách nhiệm Dân sự và chịu
sự điều chỉnh của pháp luật Dân sự Khi một người gây ra tổn thất cho người khác thì
họ phải bồi thường thiệt hại và bồi thường thiệt hại
Về điều kiện phát sinh: trách nhiệm BTTH chỉ đặt ra khi thoả mãn các điều
kiện nhất định đó là: Có thiệt hại xảy ra, có hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự (nghĩa vụtheo hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng), có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệthại với thiệt hại xảy ra Đây là những điều kiện chung nhất để xác định trách nhiệmcủa một người phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra Tuy nhiên, trong một
số trường hợp đặc biệt trách nhiệm BTTH có thể phát sinh khi không có đủ các điềukiện trên điển hình là các trường hợp bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra
Về hậu quả: trách nhiệm BTTH luôn mang đến một hậu quả bất lợi về tài sản
cho người gây thiệt hại Bởi lẽ, khi một người gây ra tổn thất cho người khác thì tổnthất đỏ phải tính toán được bằng tiền hoặc phải được pháp luật quy định là một đạilượng vật chất nhất định nếu không sẽ không thể thực hiện được việc bồi thường Do
đó, những thiệt hại về tinh thần mặc dù không thể tính toán được nhưng cũng sẽ đượcxác định theo quy định của pháp luật để bù đắp lại tổn thất cho người bị thiệt hại Vàcũng chính vì vậy, thực hiện trách nhiệm bồi thường sẽ giúp khôi phục lại thiệt hại chongười bị thiệt hại
Về chủ thể bị áp dụng trách nhiệm: Ngoài người trực tiếp có hành vi gây thiệt
hại thì trách nhiệm BTTH còn được áp dụng cả đối với những chủ thế khác đó là cha,
mẹ của người chưa thành niên, người giám hộ của người độc giám hộ, pháp nhân đốivới người của pháp nhân gây ra thiệt hại, trường học, bệnh viện trong trường hợpngười chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại hoặc tổ chứckhác như cơ sở dạy nghề…
3 Chức năng của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng
Thứ nhất, chức năng khôi phục, bù đắp những tổn thất cho người bị thiệt hại.
Như chúng ta đã biết, bồi thường thiệt hại là việc người có hành vi vi phạm, có lỗitrong việc gây ra thiệt hại về vật chất, tinh thần phải bồi hoàn cho người bị thiệt hạinhằm phục hồi tình trạng tài sản, bù đắp tổn thất tinh thần cho người bị thiệt hại Điều
đó có nghĩa là người có hành vi vi phạm phải khôi phục lại tình trạng tài sản hoặc tìnhtrạng tinh thần cho người bị thiệt hại như khi chưa có hành vi vi phạm Khi cá nhân
Trang 7hay tổ chức có hành vi gây thiệt hại cho cá nhân hoặc tổ chức khác thì sẽ khắc phụcmột phần hoặc khôi phục hoàn toàn những tổn thất mà bên có hành vi vi phạm đã gây
ra Đây là chức năng quan trọng nhất của chế tài bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồngcũng như chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng nhằm bảo vệ lợi ích của người bị
vi phạm
Thứ hai, chức năng phòng ngừa hành vi vi phạm Thông qua chế tài bồi thường
thiệt hại, pháp luật bắt người có hành vi vi phạm phải gánh chịu hậu quả pháp lý bấtlợi Điều đó buộc mọi người phải ứng xử một cách thận trọng trong cuộc sống hàngngày, đặc biệt trong các quan hệ hợp đồng, mọi người phải biết tôn trọng quyền và lợiích hợp pháp của người khác Chúng ta thử hình dung nếu người có hành vi vi phạmpháp luật, hay vi phạm hợp đồng gây thiệt hại cho người khác mà không phải bồithường thì chắc chắn họ sẽ không còn tôn trọng pháp luật cũng như không cố gắngthực hiện những cam kết trong hợp đồng Nếu vậy thì xã hội sẽ trở nên vô cùng hỗnloạn, quyền và lợi ích hợp pháp của con người sẽ không được đảm bảo Qua đây chúng
ta thấy, chế tài nói chung và chế tài bồi thường thiệt hại nói riêng có vai trò rất quantrọng trong việc nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa các hành vi viphạm
Thứ ba, chức năng giáo dục Việc bị áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại luôn
mang lại hậu quả pháp lý bất lợi đối với người có hành vi vi phạm Người gây thiệt hạiphải chịu trách nhiệm đền bù tổn thất cho những thiệt hại mà họ đã gây ra Họ khôngnhững có thể mất đi những lợi ích nhất định về kinh tế mà còn có thể bị giảm sút về uytín Việc áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại không những buộc chủ thể có hành vigây tổn thất cho cá nhân, tổ chức khác phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình màcòn giúp họ rút ra bài học kinh nghiệm, từ đó nâng cao tinh thần trách nhiệm cũng như
ý thức của những chủ thể này ai tham gia vào các quan hệ pháp luật nói chung và quan
hệ hợp đồng nói riêng Như vậy, chế tài bồi thường thiệt hại có chức năng vô cùngquan trọng Nó không chỉ nhằm bảo đảm việc đền bù tôn thất mà bên vi phạm gây racho bên bị vi phạm mà còn có chức năng giáo dục về ý thức tuân thủ pháp luật, bảo vệtài sản công dân, tài sản xã hội chủ nghĩa đối với những người có hành vi vi phạm nóiriêng và toàn xã hội nói chung
4 Ý nghĩa trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng
Trang 8- Đối với bên vi phạm hợp đồng Chế tài bồi thường thiệt hại đối với bên vi
phạm được coi là một biện pháp tác động theo hướng bất lợi đối với lợi ích kinh tế và
uy tín của họ Chính vì vậy, hiệu quả của biện pháp này là chỗ nó vừa tác dụng răn đe,vừa làm thiệt hại đến khả năng kinh tể của bên gây ra thiệt hại; qua đó nâng cao tinhthần trách nhiệm, cách ứng xử của các bên khi tham gia các quan hệ pháp luật nóichung và quan hệ pháp luật về hợp đồng nói riêng Mặc dù ý nghĩa của nó là như vậy,nhưng trên thực tế để thực hiện tốt mục tiêu này, đòi hỏi của thực tiễn đặt ra là bên gâythiệt hại cần óc trách nhiệm, thiện chí và ý thức bồi thường thiệt hại một cách kịp thời,thỏa đáng, có vậy thì việc thương lượng, đàm phán giữa các bên mới có thể diễn ranhanh chóng, thuận lợi và vì vậy chỉ định bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng,bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mới phát huy được ý nghĩa đích thực của nó trongviệc thực thi quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia vào các quan hệ dân sự
- Đối với bên bị vi phạm hợp đồng Chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp
đồng góp phần đảm bảo cho mọi thỏa thuận, cam kết phải được thực hiện cũng nhưkhôi phục lại tình trạng ban đầu của một quyền dân sự bị xâm phạm đồng thời bù đắpnhững tổn thất vật chất mà bên bị vì phạm đã phải gánh chịu do hành vi gây thiệt hạicủa bên vi phạm gây ra, qua đó tạo điều kiện để bên bị vi phạm ổn định hoạt động sảnxuất, kinh doanh Bởi trên thực tế, nhiều tổ chức, cá nhân đã rơi vào tình trạng rất khókhăn mà hoàn cảnh này là do chính hành vi vi phạm của bên vi phạm gây ra Tuynhiên thì chế tài bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không phải là các quy tắc nhằmkhắc phục thiệt hại bởi thiệt hại đã xảy ra thì không còn cơ hội để khắc phục, bù đắpđược nữa lành vì vậy, chế tài bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhằm mục đíchchính là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể bị xâm phạm, phân bổ lại thiệthại trong xã hội giữa các chủ thể liên quan cũng như thể hiện chức năng ngăn ngừa cáchành vi vi phạm pháp luật trong tương lai
- Đối với xã hội Xét về mặt lý luận cũng như thực tiễn, nếu như việc bồi
thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được giảiquyết một cách thỏa đáng và triệt để thì có thể xem đây là một trong những biện pháphữu hiệu để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, sự công bằng của xã hội, thểhiện mọi cam kết trong hợp đồng phải được thực hiện, ổn định trật tự trong các hoạtđộng sản xuất, kinh doanh, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan
hệ hợp đồng và các quan hệ dân sự nói chung
Trang 9II THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM NGHĨA VỤ HỢP ĐỒNG THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ
1 Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa
vụ hợp đồng
Qua nghiên cứu cho thấy trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồngđược đặt ra khi hành vi vi phạm hợp đồng đã gây ra một thiệt hại, mặt khác một ngườichỉ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng khi họ có lỗi Nếubên nào không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thì phải chịu trách nhiệm trướcbên kia Khoản 1 Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015 về trách nhiệm dân sự do vi phạm
nghĩa vụ đã quy định “Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ” Theo quy định này, thì căn cứ phát sinh trách nhiệm dân
sự chính là hành vi vi phạm nghĩa vụ của người có nghĩa vụ trước người có quyền.Trách nhiệm bồi thường thiệt hại chính là một hình thức của trách nhiệm dân sự Theo
đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại chi phát sinh khi có những căn cứ nhất định dopháp luật quy định Việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợpđồng theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 cần dựa trên cắc cơ sở: Có hành vi viphạm hợp đồng; Có thiệt hại lực tế xảy ra; Có mối quan hệ nhân qua giữa hành vi viphạm hợp đồng và thiệt hại xảy ra; Có lỗi của bên vi phạm hợp đồng
1.1 Có hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng
Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứtquyền, nghĩa vụ1 Sau khi hợp đồng được giao kết và có hiệu lực, các bên có nghĩa vụphải tuân thủ và thực hiện hợp đồng theo các nguyên tắc do pháp luật quy định Hành
vi vi phạm hợp đồng là căn cứ pháp lý cần thiết để áp dụng đối với tất cả các hình thứcchế tài do vi phạm hợp đồng Bộ luật Dân sự 2015 mặc dù không không đưa ra kháiniệm về vi phạm hợp đồng, nhưng Khoản 1 Điều 351 đã đưa ra định nghĩa về vi phạm
nghĩa vụ dân sự như sau “Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên chuyển, Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện
Trang 10không đúng nội dung của nghĩa vụ” Như vậy, theo quy định này, để xem xét một hành
vi có vi phạm hợp đồng hay không cần dựa trên hai căn cứ:
- Một là, có tồn tại hợp đồng hợp pháp và có hiệu lực pháp luật, hợp đồng thể
hiện sự thống nhất ý chí của các bên tham gia, nó quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụcủa các bên Vì vậy, chỉ khi có hợp đồng, đối chiếu với những điều khoản quy định nộidung của nghĩa vụ hợp đồng, các điều kiện thực hiện nghĩa vụ, mức độ thực hiện thìmới có thể đánh giá hành vi có vi phạm hợp đồng hay không? Khi hợp đồng chưa hìnhthành, hợp đồng chưa có hiệu lực pháp luật hoặc hợp đồng vị vô hiệu toàn bộ thìkhông làm phát sinh nghĩa vụ pháp lý ràng buộc các bên với nhau, do vậy không cóhành vi vi phạm hợp đồng Trong quá trình thực hiện hợp đồng có thể phát sinh cáctình huống bất ngờ dẫn đến việc hai bên phải sửa đổi, bổ sung hợp đồng Vì vậy, khixem xét hành vi vi phạm hợp đồng, các bên cũng cần phải lưu ý tới các văn bản thỏathuận này
- Hai là, có hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thỏa
thuận trong hợp đồng hoặc quy định của pháp luật Hành vi vi phạm hợp đồng đượcchia làm hai dạng gồm: không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng Khôngthực hiện hợp đồng là việc một bên có nghĩa vụ theo hợp đồng nhưng đã không thựchiện dù được bên kia yêu cầu Có thể thấy, việc không thực hiện hợp đồng chỉ áp dụngvới những nghĩa vụ tổn tại dưới dạng hành động (chuyển giao vật, tài sản, ) chứkhông thể áp dụng với những nghĩa vụ tổn tại dưới dạng không hành động (nghĩa vụgiữ bí mật hoặc không thực hiện một công việc) Việc thực hiện không đúng hợp đồngphức tạp hơn, bao gồm nhiều dạng hành vi như thực hiện không đúng thời hạn, khôngđúng địa điểm, không đúng số lượng, chất lượng, mẫu mã đã thỏa thuận trong hợpđồng hoặc do pháp luật quy định Bên cạnh đó, theo Luật Thương mại 2005 vi phạmhợp đồng không chỉ là việc vi phạm nghĩa vụ phát sinh tử hợp đồng, mà còn là, viphạm phát sinh từ các quy định của pháp luật Bởi vì, nội dung của hợp đồng khôngchỉ bao gồm những điều khoản do các bên thỏa thuận mà còn bao gồm cả những điềukhoản các bên không thỏa thuận nhưng theo quy định của pháp luật, các bên có nghĩa
vụ phải thực hiện Khoa học pháp lý gọi những điều khoản này là điều khoản thưởng
lệ Nếu các bên không thỏa thuận với nhau về những điều khoản này thì coi như cácbên mặc nhiên công nhận những điều khoản đó Nếu các bên thỏa thuận thì khôngđược trái với quy định của pháp luật
Trang 111.2 Có thiệt hại thực tế xảy ra do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng
Trong khoa học pháp lý người ta biết đến hai cách phân loại thiệt hại chính.Thứ nhất là dựa trên mối liên hệ gần gũi giữa thiệt hại xảy ra và hành vi vi phạm hợpđồng, người ta chia thiệt hại thành thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp Thứ hai làdựa trên lợi ích bị xâm phạm và tổn thất xảy ra, người ta chia thiệt hại thành thiệt hạivật chất và thiệt hại tinh thần Điều này sẽ được làm rõ khi phân tích hai cách phânloại thiệt hại
- Thững thiệt hại trực tiếp: là những thiệt hại đã xảy ra một cách khách quan
trong thực tế mà mức thiệt hại dễ dàng xác định được như:
+ Chi phí thực tế và hợp lý: là những khoản tiền hoặc những lợi ích vật chấtkhác mà người bị thiệt hại phải bỏ ra ngoài dự định của mình để khắc phục những tìnhtrạng xấu do hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên kia gây ra
+ Tài sản bị hư hỏng, mất mát, hủy hoại: là sự giảm sút giá trị của một tài sảnhoặc sự thiếu hụt về tài sản do người có nghĩa vụ gây ra
- Thiệt hại gián tiếp: là những thiệt hại mà phải dựa trên sự suy đoán khoa học
mới xác định được mức độ thiệt hại Thiệt hại này còn được gọi là thu nhập thực tế bịmất hoặc bị giảm sút
- Thiệt hại vật chất: Theo khoản 2 Điều 361 BLDS năm 2015: “thiệt hại về vật
chất là những tổn thất vật chất thực tế xác định được bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút” Đây là những thiệt hại có thể tính được thành một số tiền nhất định Như
vậy, so với khoa học pháp lý thế giới, phạm vi thiệt hại vật chất được khái quát tạikhoản 2 Điều 361 BLDS năm 2015 chưa đề cập đến các tổn thất vậm chất là tổn thất
về tính mạng hay sức khỏe mặc dù các thiệt hại này được ghi nhận tại Điều 590 vàĐiều 591 BLDS năm 2015 Cũng dựa trên khoản 2 Điều 361 BLDS năm 2015, có thểnhận thấy thiệt hại về vật chất được liệt kê ở đây chưa bao gồm các chi phí khác nhưchi phí cho luật sư, chi phí giám định mà những chi phí này được khái quát trong quy
định tại khoản 2 Điều 419 BLDS năm 2015: “Người có quyền còn có thể yêu cầu người có nghĩa vụ chi trả chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng
mà không trùng lặp với mức BTTH cho lợi ích mà hợp đồng mang lại.”
- Thiệt hại về tinh thần: Khoản 3 Điều 419 BLDS năm 2015 quy định: “Theo