1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng đối với KTNQD tại Ngân hàng Công thương Ba đình.DOC

71 605 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Mở Rộng Và Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng Đối Với KTNQD Tại Ngân Hàng Công Thương Ba Đình
Trường học Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Ngân Hàng
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 761 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giải pháp mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng đối với KTNQD tại Ngân hàng Công thương Ba đình

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Trong xu hướng toàn cầu hoá và khu vực hoá đang diễn ra mạnh mẽ ởhầu hết các quốc gia trên thế giới để đi đến một xã hội phát triển, văn minh vàđoàn kết hữu nghị hơn Mỗi quốc gia nằm trong dòng chảy đó không còn cáchnào khác là phải có hướng đi riêng phù hợp với đặc thù quốc gia mình với mụcđích phát triển kinh tế đạt kết quả cao mà không ảnh hưởng đến chính trị xãhội

Việt Nam đang trong thời kỳ tiếp tục sự nghiệp đổi mới, thực hiện côngcuộc CNH-HĐH đất nước Với mục tiêu đưa nền kinh tế nước ta từ kinh tếnông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lýcủa Nhà nước theo định hướng XHCN Trong sự đổi mới này khu vực Kinh tếngoài quốc doanh (KTNQD) đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩyđưa nền kinh tế đất nước đi lên KTNQD đã tạo ra của cải vật chất, phân phốilưu thông và dịch vụ đồng thời tạo ra công ăn việc làm cho lao động, thúc đẩytăng trưởng kinh tế, thu hút được các nguồn lực trong và ngoài nước ĐểKTNQD có thể phát huy được hết tiềm năng của mình nhà nước cần có nhữngchính sách khuyến khích đầu tư phát triển hợp lý đối với khu vực kinh tế này

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nước ta đã và đang đứng trướcnhiều thách thức lớn Điều này đòi hỏi các thành phần kinh tế phải phát huyhết tiềm năng nội lực của mình

Trải qua một thời gian dài, vai trò của khu vực KTNQD ngày càng đượcđánh giá cao thể hiện qua sự quan tâm của Đảng, Chính phủ và các cơ quanchức năng có liên quan Tuy nhiên trong thực tế khu vực KTNQD còn gặpnhiều khó khăn cần được tháo gỡ như năng lực quản lý, trình độ công nhânviên, máy móc thiết bị lạc hậu và khó khăn nhất là vấn đề mở rộng và pháttriển sản xuất kinh doanh Nguyên nhân của sự bất cập trên một phần do cácthành viên trong khu vực KTNQD chưa có đủ uy tín để đặt quan hệ tín dụngvới các tổ chức tín dụng và các chính sách hỗ trợ của của nhà nước còn hạnchế vì vậy tốc độ phát triển của khu vực này chưa đạt hiệu quả tối ưu

Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính cần phải có những thayđổi trong hoạt động để phù hợp với tình hình Trong thời kỳ hiện nay các Ngânhàng luôn cố gắng đa dạng hoá các hình thức cho vay, đa dạng hóa khách hàngvới mục đích mở rộng cho vay nhằm kiếm lợi nhuận Mở rộng và nâng cao

Trang 2

chất lượng tín dụng đối với KTNQD là một trong những mục tiêu mà cácNgân hàng đang hướng tới Bởi vì mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụngđối với KTNQD vừa là phục vụ lợi ích của doanh nghiệp đồng thời cũng là tìmkiếm lợi nhuận cho ngân hàng nó trở thành một vấn đề mà mọi ngân hàngthương mại Viêt Nam cần phải quan tâm.

Một trong những nguồn cung cấp vốn cho khu vực KTNQD là hệ thốngNgân hàng thương mại nhưng hiện nay dư nợ của khu vực này có tăng nhưng

ở mức khiêm tốn mà hầu hết tập chung vào các doanh nghiệp, tổng công ty lớn

là rất nhỏ, bên cạnh đó nhiều doanh nghiệp vay vốn làm ăn nhưng lại khôngđạt hiệu quả gây mất niềm tin cho ngân hàng ảnh hưởng đến ngân hàng khi đư

ra quyết định cấp tín dụng cho các doanh nghiệp

Với tốc độ phát triển như hiện nay, nguồn vốn huy động của Ngân hàngluôn dư thừa trong khi đó các doanh nghiệp thì đang thiếu vốn để mở rộng sảnxuất kinh doanh, để giải quyết mâu thuẫn này thì một mặt cần có sự quan tâmcủa chính phủ nhằm đưa ra những hỗ trợ phù hợp kịp thời cho các doanhnghiệp, mặt khác cần có các giải pháp từ phía các tổ chức tín dụng cụ thể làcác ngân hàng thương mạị cần cung cấp nguồn vốn tín dụng đảm bảo để đápứng nhu cầu về vốn, tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong khu vực KTNQDphát triển hơn

Sau quá trình học tập và được trang bị kiến thức về ngân hàng tại trườngĐHKTQD và qua thời gian thực tập tại Ngân hàng Công Thương Ba Đình em

đã mạnh dạn chọn đề tài “Giải pháp mở rộng và nâng cao chất lượng tín

dụng đối với KTNQD tại Ngân hàng Công thương Ba đình’’

Đề tài nghiên cứu dựa trên phương pháp phân tích tổng hợp kết hợp vớiphương pháp so sánh, đánh giá thực tiễn nhằm đưa ra giải pháp mở rộng vànâng cao chất lượng tín dụng đối với KTNQD tại Ngân hàng Công thương(NHCT) Ba Đình

Bố cục của bài gồm 3 chương:

Chương I: Tín dụng ngân hàng đối với kinh tế ngoài quốc doanh

Chương II: Thực trạng hoạt động tín dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh

tại NHCT Ba Đình

Trang 3

Chưong III: Giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao tín dụng đối với kinh tế

ngoài quốc doanh tại NHCT Ba Đình

Chương I:

TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH 1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại và hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái niệm

 Ngân hàng thương mại:

Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụtài chính đa dạng nhất đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán vàthực hiện nhiều chức năng trung gian tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chứckinh doanh nào trong nền kinh tế

Ngân hàng bao gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh

tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương mạithường chiếm tỷ trọng lớn nhất về qui mô tài sản, thị phần và số lượng cácngân hàng

Ngân hàng thương mại là một tổ chức tín dụng trung gian tài chính quantrọng nhất Ngân hàng đóng vai trò là người thủ quỹ cho toàn xã hội Thu nhập

từ ngân hàng là nguồn thu quan trọng đối với nhiều hộ gia đình Ngân hàng là

tổ chức cho vay chủ yếu đối với các doanh nghiệp, cá nhân và một phần đốivới nhà nước (Tỉnh, Thành phố) Đối với các doanh nghiệp, ngân hàng thường

là tổ chức cung cấp tín dụng để phục vụ cho việc mua hàng hoá và dịch vụ, họthường sử dụng séc, uỷ nhiệm chi, thẻ tín dụng hay tài khoản điện tử và khi họcần thông tin tài chính hay lập kế hoạch tài chính, họ thường đến ngân hàng đểnhận một lời tư vấn Các khoản tín dụng của ngân hàng cho chính phủ lànguồn tài chính quan trọng trong để đầu tư phát triển Ngân hàng thực hiện cácchính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách tiền tệ vì đây là công cụ quan trọngtrong chính sách kinh tế của chính phủ nhằm phát triển kinh tế bền vững

Trang 4

Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với lịch sử pháttriển của nền sản xuất hàng hoá Quá trình phát triển kinh tế là điều kiện và đòihỏi sự phát triển của ngân hàng trở thành động lực phát triển kinh tế

1.1.2 Chức năng của NHTM.

Hoạt động kinh doanh của các NHTM trong những năm gần đây thườngxuyên đổi mới nhằm thích ứng với những điều kiện kinh tế năng động và sựđiều chỉnh của pháp luật Xét về mặt hình thức, tuy vẫn là những nghiệp vụ cơbản như nhận tiền gửi, cho vay, chi trả hộ nhưng ngân hàng đã mở rộng cả vềquy mô, do vậy các NHTM ngày càng khẳng định được vị thế của mình trong

sự phát triển của nền kinh tế đất nước Điều này được minh họa thông qua cácchức năng của NHTM sau đây:

1.1.2.1 Chức năng trung gian tài chính.

Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu làchuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổchức trong nền kinh tế đó là: Cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu,tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập; do đó họ là nhữngngười cần bổ sung vốn, loại cá nhân và tổ chức thứ hai là những người thặng

dư trong chi tiêu, tức là thu nhập của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hànghóa và do đó họ có tiền để tiết kiệm

Trong nền kinh tế thị trường, NHTM là một trung gian tài chính quantrọng trong việc điều chuyển vốn từ người thừa vốn sang người thiếu vốn khi

họ có nhu cầu bổ sung vốn Cụ thể, NHTM thu hút các nguồn vốn nhàn rỗitrong xã hội thông qua các phương thức huy động vốn khác nhau với nhữngthời hạn khác nhau nhằm tập trung một lượng vốn để đáp ứng nhu cầu của cácthành phần kinh tế Chính việc điều chuyển này mà các NHTM có vai trò quantrọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng thêm việc làm, cải thiệnmức sống của dân cư, ổn định thu chi của Chính phủ Qua đó, NHTM gópphần quan trọng vào việc điều hòa lưu thông tiền tệ, ổn định sức mua đồngtiền, kiềm chế lạm phát

Trang 5

Nhờ việc đi vay để cho vay, NHTM có nguồn thu chủ lực không nhữngđóng thuế cho Nhà nước mà còn có lãi để duy trì bộ máy hoạt động, đảm bảocho sự phát triển không ngừng cho bản thân ngành ngân hàng.

1.1.2.2 Chức năng tạo phương tiện thanh toán.

Trong quá trình kinh doanh tiền tệ các chủ ngân hàng đã phát hành ragiấy chứng nhận tiền gửi, tín phiếu được khách hàng sử dụng để chi trả cáckhoản nợ Vì vậy vàng được chuyển đổi ra tiền giấy và được các ngân hàngđưa vào lưu thông qua nghiệp vụ tín dụng để thay thế cho tiền vàng hoặc bạc.Sáng kiến này được xã hội chấp nhận và đây chính là phát minh có giá trị nhấttrong lịch sử hoạt động tiền tệ Việc in tiền mang lại lợi nhuận rất lớn, đồngthời với nhu cầu có đồng tiền quốc gia duy nhất đã dẫn đến việc Nhà nước tậptrung quyền lực phát hành (in) tiền giấy vào một tổ chức duy nhất đó là Bộ Tàichính hoặc Ngân hàng Trung ương Từ dó chấm dứt việc các NHTM tạo ra cácgiấy bạc của riêng mình

Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàngnhận thấy nếu họ có được số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thểchi trả để có được hàng hóa và dịch vụ theo yêu cầu Theo quan điểm hiện đại,đại lượng tiền tệ bao gồm nhiều bộ phận

+ Thứ nhất là tiền giấy trong lưu thông

+ Thứ hai là số dư trên tài khoản tiền gửi giao dịch của các khách hàng tại cácngân hàng,

+Thứ ba là tiền gửi trên các khoản tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn…

Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tiết kiệm thanh toán của khách hàngtăng lên khách hàng có thể dùng để mua hàng hóa và dịch vụ Do đó, bằng việccho vay (hay tạo tín dụng) các ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán ( tạo

ra M1)

Trang 6

Toàn bộ hệ thống NHTM cũng tham ra tạo phương tiện thanh toán khicác khoản tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này sang ngân hàng khác trên

cơ sở cho vay Khi khách hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền vay đểchi trả thì sẽ tạo nên khoản thu (tức là tăng số dư tiền gửi) của một khách hàngkhác tại một ngân hàng khác từ đó tạo ra các khoản cho vay mới Trong khikhông một ngân hàng riêng lẻ nào có thể cho vay lớn hơn dự trữ dư thừa, toàn

bộ hệ thống ngân hàng có thể tạo ra khối lượng tiền gửi (tạo phương tiện thanhtoán) gấp bội thông qua hoạt động cho vay

1.1.2.3 Chức năng trung gian thanh toán.

Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hếtcác quốc gia Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trịhàng hóa, dịch vụ Để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chiphí, ngân hàng đưa ra nhiều hình thức thanh toán như: thanh toán bằng séc, ủynhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ… cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kếtnối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần Các ngân hàng còn thựchiện thanh toán bù trừ với nhau thông qua Ngân hàng Trung ương hoặc thôngqua các trung tâm thanh toán Công nghệ thanh toán qua ngân hàng càng đạthiệu quả cao khi quy mô sử dụng công nghệ đó ngày càng được mở rộng Vìvậy, công nghệ thanh toán hiện đại qua ngân hàng thường được các nhà quản

lý sử dụng rộng rãi Nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hóa góp phần tạotính thống nhất trong thanh toán không những giữa các ngân hàng trong cùngmột quốc gia mà còn giữa các ngân hàng trên toàn thế giới Các trung tâmthanh toán quốc tế được thành lập đã làm tăng hiệu quả của thanh toán quangân hàng, biến ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán quan trọng và cóhiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu

Do thực hiện chức năng thanh toán, NHTM có điều kiện huy động tiềngửi của xã hội, trước hết là của các doanh nghiệp tới mức tối đa, tạo nguồn vốncho vay, đầu tư và đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Trang 7

Từ những chức năng của NHTM ta thấy chúng có mối quan hệ chặt chẽvới nhau, hỗ trợ cho nhau Khi NHTM là trung gian tín dụng thì NHTM sẽ huyđộng vốn bằng nhiều cách khác nhau, có thể huy động từ các tổ chức kinh tế,huy động vốn từ dân cư thông qua các hình thức tiết kiệm, kỳ phiếu… Qua đóngân hàng sẽ tập trung được một lượng vốn nhàn rỗi từ các thành phần kinh tếkhác nhau và khi họ chưa có nhu cầu sử dụng hoặc chưa đến thời hạn thanhtoán Ngân hàng sẽ sử dụng chúng để cho vay đối với những người có nhu cầuvay vốn Khi các bên có nhu cầu chi trả, thanh toán Ngân hàng sẽ đứng ra làmtrung gian thanh toán Như vậy, giữa các chức năng của ngân hàng có mốiquan hệ mật thiết với nhau Khi vai trò trung gian thanh toán làm tốt, kháchhàng sẽ tin tưởng vào ngân hàng và sẽ gửi tiền nhiều vào ngân hàng nhờ thanhtoán hộ Như thế vốn ngân hàng huy động được sẽ tăng lên, ngân hàng có thêmvốn để đáp ứng nhu cầu đi vay và chức năng trung gian tín dụng của ngân hànglại càng phát huy.

Với chức năng trung gian thanh toán và trung gian tín dụng trong nềnkinh tế quốc dân, hệ thống các NHTM đã tăng khối lượng tiền lên gấp bộithông qua cơ chế thanh toán chuyển khoản Điều này đã làm cho các chứcnăng ngày càng liên hệ chặt chẽ với nhau, ảnh hưởng tới các hoạt động kinhdoanh của ngân hàng

Tất cả các chức năng trên của NHTM đều đáng lưu tâm Tuy nhiên, ởmỗi thời kỳ khác nhau, hoàn cảnh khác nhau của nền kinh tế mà người ta chútrọng đến một chức năng cơ bản của hệ thống NHTM Với mục tiêu ổn địnhtiền tệ, kiềm chế lạm phát thì chức năng tạo tiền được lưu tâm hàng đầu Vớimục tiêu huy động vốn cho đầu tư phát triển thì chức năng nhận tiền gửi đểcho vay của ngân hàng được chú trọng phát huy hơn cả NHTM còn là trunggian thanh toán thỏa mãn nhu cầu thanh toán, giao dịch trong nền kinh tế hànghóa

Trang 8

1.1.3 Vai trò của NHTM.

1.1.3.1 NHTM là công cụ quan trọng thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.

Một doanh nghiệp muốn tồn tại hay tiến hành bất kỳ một hoạt động kinhdoanh nào cũng đều cần phải có vốn, bởi vốn là giá trị của các tài sản xã hộiđược đưa vào đầu tư nhằm mang lại hiệu quả trong tương lai Chính vì vốn cóvai trò quyết định trong việc tạo ra của cải vật chất và những tiến bộ xã hội nên

nó là nhân tố vô cùng quan trọng để thực hiện quá trình ứng dụng tiến bộ khoahọc kỹ thuật, phát triển cơ sở hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đẩy nhanhtốc độ phát triển kinh tế

Trong nền kinh tế thị trường, dù hoạt động ở lĩnh vực nào thì vốn cũng

là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định hiệu quả hoạt động của

nó Trong lĩnh vực thương nghiệp vốn làm tăng khả năng dự trữ hàng hóa, đẩynhanh tốc độ vận chuyển hàng hóa đến tay người tiêu dùng góp phần thúc đẩyviệc tiêu thụ sản phẩm Trong lĩnh vực tài chính, vốn giúp chính phủ cải thiệnđược tình hình thiếu vốn của Ngân sách vì thu nhập của Nhà nước không phảilúc nào cũng đủ để bù đắp chi phí Bên cạnh đó, cùng với việc thúc đẩy lựclượng sản xuất phát triển, vốn sẽ góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh giữacác doanh nghiệp và các thành phần kinh tế, đồng thời nó tạo ra quá trình đàothải đối với những doanh nghiệp mà nguồn vốn tích lũy thấp, sử dụng vốn kémhiệu quả, sản xuất nhỏ, lạc hậu không đủ sức cạnh tranh

Từ những lý do trên, ta thấy vốn đóng vai trò rất quan trọng trong quátrình phát triển kinh tế – xã hội Nhưng nguồn vốn đó lấy từ đâu? ai là ngườicung ứng vốn cho nền kinh tế? Thực tế ở nước ta cho thấy, do thị trườngchứng khoán chưa phát triển nên NHTM đóng vai trò là tác nhân quan trọngtrong việc cung ứng vốn Thông qua hoạt động cho vay, ngân hàng đã tạo rakhả năng cho vay đối với các doanh nghiệp hoạt động trong mọi lĩnh vực.Đồng thời, khi thực hiện các nghiệp vụ thanh toán, tư vấn, hỗ trợ cho các hoạtđộng sản xuất của các doanh nghiệp đã góp phần đẩy nhanh tốc độ luân

Trang 9

chuyển hàng hóa, thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm NHTM còn đóng vai tròquan trọng trong việc tài trợ dự án, các chương trình xây dựng cơ bản, tăngcường cơ sở vật chất kỹ thuật của đất nước và hỗ trợ các chương trình dự ántạo việc làm cho người lao động, tạo điều kiện nâng cao mức sống của họ.

Nhưng không phải chỉ có những nước chưa có thị trường chứng khoánhoặc thị trường chứng khoán chưa phát triển mà ngay tại các nước có thịtrường chứng khoán phát triển thì ngân hàng vẫn là một tác nhân quan trọngtrong vấn đề cung cấp vốn vì không phải bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đủđiều kiện để tham gia thị trường chứng khoán Hơn nữa, thị trường chứngkhoán hoạt động thì NHTM vẫn có vai trò như là một chiếc cầu nối giữa thịtrường tiền tệ và thị trường chứng khoán Ngoài ra khi thực hiện chức năngtrung gian tín dụng, trung gian thanh toán NHTM còn góp phần giám sát kỷluật tài chính quốc gia trong quá trình triển khai các hoạt động tiền tệ – tíndụng

1.1.3.2 NHTM là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương.

Chính sách tiền tệ của Ngân hàng TW là một bộ phận quan trọng trong

hệ thống các chính sách kinh tế – tài chính vĩ mô của Chính phủ Chính sáchtiền tệ là tổng hòa các phương thức mà Ngân hàng TW thông qua các hoạtđộng của mình tác động đến khối lượng tiền tệ trong lưu thông nhằm phục vụcho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước trong từng thời kỳnhất định

Trong nền kinh tế thị trường, mức cung tiền tệ có tác động mạnh mẽ đếntăng trưởng kinh tế, thông qua sự thúc đẩy mức tăng giảm tổng sản phẩm quốcnội (GDP) Do đó sự điều tiết của Ngân hàng Trung ương đối với khối lượngtiền trong lưu thông là rất cần thiết sao cho phù hợp với những diễn biến củanền kinh tế để góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển ổn định, kiềm chế được tốc

độ gia tăng của lạm phát Muốn điều tiết được khối lượng tiền tệ này, Ngân

Trang 10

hàng Trung ương phải thông qua các công cụ điều tiết trực tiếp và gián tiệpnhư: lãi suất cơ bản, hạn mức tín dụng, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất chiếtkhấu, hoạt động của thị trường mở Nhưng phần lớn các công cụ thực hiệnchính sách tài chính – tiền tệ của Ngân hàng TW chỉ được thực thi có hiệu quảkhi có sự hợp tác tích cực và có hiệu quả của các NHTM Đó là việc chấp hànhquy chế dự trữ bắt buộc, quy chế thanh toán không dùng tiền mặt, đến việcnâng cao hiệu quả cho vay và đầu tư.

NHTM chịu sự quản lý của nhà nước mà trực tiếp là sự quản lý củaNgân hàng TW nên khi thực hiện các nghiệp vụ của mình NHTM đều phảituân theo các quy chế, văn bản do Ngân hàng TW ban hành

Từ chức năng, vai trò của NHTM ta thấy NHTM thực chất là tổ chứckinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ – tín dụng, là một tổ chức trung gian tài chínhvới chức năng nhận tiền gửi để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ thanh toán khiphát hành giấy nhận nợ với khách hàng Giấy nhận nợ do ngân hàng do pháthành với một ưu điểm nhất định đã trở thành phương tiện thanh toán rộng rãiđược nhiều người chấp nhận.Như vậy, ban đàu các ngân hàng đã tạo ra phươngtiện thanh toán thay cho tiền kim loại dựa trên số lượng tiền kim loại đang nắmgiữ,với nhiều ưu thế dần giấy nợ của ngân hàng đã thay thế tiền kim loại làmphương tiện lưu thông và phương tiện cất trữ, nó trở thành tiền giấy

Việc in tiền mang lại lợi nhuận rất lớn, đồng thời với nhu cầu có đồngtiền quốc gia duy nhất đã dẫn đến nhà nước tập trung quyền lực phát hành intiền giấy vào một tổ chức hoặc Bộ tài chính hoặc Ngân hàng TW,từ đó chấmdứt việc các ngân hàng thương mại tạo ra các giấy bạc của riêng mình.trongđiều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng nhân thấy nếu họ có được số dưtrên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể chi trả để có được hàng hoá và cácdịch vụ theo yêu cầu Theo quan điểm hiện đại thì tiền tệ bao gồm nhiều bộphận.Thứ nhất là tiền giấy trong lưu thông (M0), thứ hai là số dư trên tài khoảntiền gửi giao dịch của khách hàng tại ngân hàng, thứ ba tiền gửi trên các tài

Trang 11

khoản tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn.Ngân hàng cho vay số dư trên tàikhoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tăng lên,khách hàng có thể dùng đểmua hàng và dịch vụ.Do đó bằng việc cho vay hay tạo tín dụng, các ngân hàng

đã tạo ra phương tiện thanh toán ( tham gia tạo ra M1)

Huy động ngân hàng tập chung các nguồn tiền tệ tạm thời nhàn dỗitrong nền kinh tế dưới các hình thức khác nhau Các hình thức huy động vốnhiện có của ngân hàng thương mại bao gồm:

- Nhận tiền gửi:

Người ta gửi tiền vào ngân hàng với nhiều mục đích: Để bảo quản, để sửdụng dịch vụ chi trả hộ và để có thu nhập Dựa trên mục đích của người gửitiền, tiền gửi được phân chia thành hai dạng cơ bản; Tiền gửi giao dịchvà tiềngửi phi giao dịch

+ Tiền gửi giao dịch nhằm mục đích để thanh toán, nó gắn liền với hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tiêu dùng của dân cư Tiền gửigiao dịch gồm tiền có thể phát séc, uỷ nhiệm htu, uỷ nhiệm chi…

+ Tiền gửi phi giao dịch là tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, tổ chứctín dụng, tiết kiệm dân cư Đây là những khoản tiền không thanh toán, tạmthời nhàn rỗi,hiệu suất sử dụng cao vì nó tương đối ổn định nhưng lãi suất caohơn tiền gửi giao dịch

Ngân hàng đã huy động vốn thông qua việc phát hành kỳ phiếu, chứngchỉ tiền gửi

Nguồn vay mượn ngân hàng TW hoặc các ngân hàng khác nhằm bù đắp

dự trữ thiếu hụt đảm bảo thanh toán khi cần thiết,ngoài ra ngân hàng còn huyđộng từ các nguồn khác

- Hoạt động cho vay

Cho vay thương mại: Ngay thời kỳ đầu các Ngân hàng đã chiết khấuthương phiếu mà thực tế cho vay đối với những người bán.Sau đó là bước

Trang 12

chuyển chiết khấu thương phiếu sang cho vay trực tiếp đối với các khách hàng

là người mua giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ nhằm mở rộng sản xuất kinhdoanh

Cho vay tiêu dùng; trong giai đoạn đầu hầu hết các ngân hàng không chovay đối với các cá nhân và hộ gia đình vì họ đã cho rằng các khoản cho vaytiêu dùng rủi ro vỡ nợ tương đối cao, sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng

và sự cạnh tranh trong cho vay đã buộc các ngân hàng phải hướng tới ngườitiêu dùng như một khách hàng tiềm năng

Tài trợ dự án: Bên cạnh cho vay truyền thống là cho vay ngắn hạnthường chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục cho vay của các ngân hàng bao gồmcác khoản cho vay có thời hạn dưới một năm

Cho vay trung và dài hạn áp dụng cho những dự án sản xuất kinhdoanh,chương trình phát triển kinh tế xã hội, đầu tư xây dựng cơ bản, cho vaytrung và dài hạn là khoản cho vay có thời hạn trên 1 năm.Xu hướng hiện naynhu cầu về vốn tín dụng ngân hàng trung dài hạn ngày càng gia tăng Vì vậycác NHTM đang cố gắng tìm mọi biện pháp nhằm mở rộng loại hình tín dụngnày

1.2 Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại

1.2.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng

Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như cung ứng cácdịch vụ ra thị trường thì doanh nghiệp luôn phải cần đến những nguồn vốn ổnđịnh Nhưng không phải bất cứ một doanh nghiệp nào cũng đảm bảo được điều

đó, vì vậy thiếu vốn bắt buộc các doanh nghiệp phải tiến hành vay vốn để kinhdoanh, bên cạnh những chủ thể thiếu vốn thì trong nền kinh tế cũng có nhữngchủ thể lại thừa vốn đang tìm kiếm cơ hội để đầu tư, lúc này có một tổ chức rađời làm cầu nối giữa người thừa vốn và người thiếu vốn nhằm mang lại lợi íchcho cả hai bên cũng như cho xã hội đó chính là tổ chức ngân hàng Thông quahoạt động ngân hàng vốn sẽ được chuyển từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, và

Trang 13

ngân hàng là người trả công, với vai trò là người dẫn vốn bằng phân tích chênhlệch giữa lãi suất đi vay và lãi suất cho vay, đây là nghiệp vụ truyền thống củangân hàng, trong đó phần mang lợi nhuận cho ngân hàng chủ yếu là lợi nhuận

từ việc cho vay, hay nói cách khác đó là từ hoạt động tín dụng ngân hàng manglại Đây được coi là nghiệp vụ quan trọng nhất của ngân hàng, chỉ khi nào ngânhàng thực hiện tốt công việc này thì ngân hàng mới có thể phát triển và tồn tạiđược Theo định nghĩa chung thì tín dụng là quan hệ vay mượn bao gồm cảcho vay và đi vay Tuy nhiên khi gắn với chủ thể là ngân hàng thương mại thìtín dụng chỉ mang ý nghĩa là hoạt động cho vay của NHTM.Còn theo quanđiểm của Các Mác thì tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị

từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian thu hồi được mộtlượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu, theo quan điểm này thì tín dụng cóđặc trưng cơ bản là tính thời hạn, tính hoàn trả và lòng tin

Theo quan điểm của nhà kinh tế học hiện đại thì tín dụng là quan hệ giữangười đi vay và người cho vay, giữa họ có mối quan hệ với nhau thông qua sựvận động của vốn tín dụng được thể hiện dưới hình thái tiền tệ hoẵc hàng hoá.Qua đây ta thấy rằng quan hệ tín dụng chỉ dựa vào lòng tin, chỉ trên cơ sở lòngtin thì quan hệ tín dụng mới được thực hiện, và họ cũng cho rằng tín dungmang tính tạm thời, hoàn trả cả gốc và lãi

Điều 49: “Tổ chức tín dụng đựoc cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân dướihình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh vàcác hình thức giấy tờ có giá khác theo quy định của Ngân hàng Nhà Nước”

Cùng với tốc độ phát triển của thị trường với trình độ khoa học ngàycàng cao đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn, do vậy tín dụng ngân hàng ngày càngtrở nên quan trọng và nó đã khắc phục được những hạn chế của các hình thứctrước đây, đáp ứng được nhu cầu phát triển của kinh tế, chính vì vậy đối với sựphát triển của mỗi quốc gia thì không thể thiếu tín dụng ngân hàng

Trang 14

Cấp tín dụng có các nguyên tắc nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năngsinh lời: Các nguyên tắc này được cụ thể hoá trong các quy định của ngân hàngNhà nước và các Ngân hàng Thương mại:

- Khách hàng phải cam kết hoàn trả cả gốc lẫn lãi

- Khách hàng phải cam kết sử dụng vốn đúng mục đích đã thoả thuậnvới ngân hàng

- Ngân hàng tài trợ dựa trên phương án có hiệu quả

1.2.2 Phân loại tín dụng

Hoạt động tín dụng của ngân hàng là một hoạt động rất phức tạp vì vậyứng với mỗi tiêu chí khác nhau sẽ có cách phân loaị khác nhau

1.2.2.1 Phân loại theo thời gian

Phân loại theo thời gian có ý nghĩa rất quan trọng với ngân hàng vì thờigian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lời của tín dụng cũng như khảnăng hoàn trả của khách hàng Theo thời gian thì tín dụng được phân như sau

- Tín dụng ngắn hạn: Từ 12 tháng trở xuống

- Tín dụng trung hạn: Từ 12 tháng đến 60 tháng

- Tín dụng dài hạn: Trên 60 tháng và không quá 15 năm đối vớicác dự án đầu tư phục vụ đời sống

1.2.2.2 Phân loại theo hình thức

Theo cách phân loại này thì tín dụng bao gồm các loại sau đây:

+ Chiết khấu thương phiếu: là việc ngân hàng ứng trước tiền cho kháchhàng tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngânhàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn.Về mặt pháp lý thì Ngân hàngkhông phải đã cho vay đối với chủ thương phiếu Đây chỉ là hình thức hỗ trợtrái quyền Tuy nhiên đối với Ngân hàng việc bỏ tiền ra hiện tại để thu về mộtkhoản lớn hơn trong tương lai với lãi xuất xác định trước được coi như là hoạtđộng tín dụng

Trang 15

+ Bảo lãnh: Là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính

hộ khách hàng của mình.Mặc dù không phải xuất tiền ra,xong ngân hàng đãcho khách hàng sử dụng uy tín của mình để thu lợi

+ Cho thuê: Là việc ngân hàng bỏ tiền ra mua tài sản để cho khách hàngthuê theo những thoả thuận Sau một thời gian nhất định khách hàng phải trả cảgốc lẫn lãi cho ngân hàng

+ Cho vay: Là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kếtkhách hàng phải trả cả gốc lẫn lãi trong một khoảng thời gian xác định

1.2.2.3 Phân loại theo rủi ro tín dụng

Để phân loại theo tiêu thức này, ngân hàng phải nghiên cứu các mức độ,các căn cứ để phân chia loại rủi ro Một số ngân hàng lớn chia tới mười thangbậc rủi ro theo các dấu hiệu từ thấp đến cao cho các khoản mục tài sản Cáchphân loại này giúp ngân hàng thường xuyên đánh giá lại tính an toàn của cáckhoản tín dụng, trích lập dự phòng tổn thất kịp thời

- Tín dụng theo cách phân loại này bao gồm:

+ Tín dụng lành mạnh: Các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao+ Tín dụng có vấn đề: Các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnhnhư khách hàng chậm tiêu thụ, tiến độ thực hiện kế hoạch chậm, khách hànggặp thiên tai, khách hàng chì hoãn nộp báo cáo tài chính

+ Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: Các khoản nợ đã quá hạn với thờihạn ngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo giá trị lớn

+ Nợ quá hạn khó đòi: Nợ quá hạn quá lâu, khả năng trả nợ rất kém, tàisản thế chấp nhỏ hoặc bị giảm giá, khách hàng chây ì

1.2.2.4 Phân loại theo phương pháp cho vay

+ Tín dụng trực tiếp: Là loại tín dụng mà người vay trực tiếp nhận tiền vay vàtrực tiếp trả nợ vay cho Ngân hàng

+ Tín dụng gián tiếp: Là loại tín dụng được thực hiện thông qua người thứ ba

Trang 16

1.2.2.5 Phân loại theo hình thái giá trị

+ Tịn dụng bằng tiền: Là loại tín dụng được cấp dưới hình thái giá trị là tiền+ Tín dụng tài sản: Là loại tín dụng được cấp dưới hình thái giá trị là tài sản

1.2.2.6 Phân loại theo phương pháp hoàn trả

+ Tín dụng trả góp: Là loại tín dụng mà khách hàng phải trả cả gốc và lãi theođịnh kỳ

+ Tín dụng trả một lần: Là loại tín dụng mà trả cả gốc và lãi được thanh toánmột lần theo thời hạn đã thoả thuận

1.2.2.7 Phân loại theo tài sản đảm bảo

Tài sản đảm bảo các khoản tín dụng cho phép ngân hàng có được nguồnthu nợ thứ hai bằng cách bán tài sản đó khi nguồn thu nợ thứ nhất không cóhoặc không đủ

Theo tài sản đảm bảo, tín dụng đựoc phân chia thành: tín dụng có đảmbảo bằng uy tín của chính khách hàng, có đảm bảo bằng cầm cố tài sản, thếchấp tài sản

Cam kết đảm bảo là cam kết của ngưòi nhận tín dụng về việc dùng tàisản mà mình đang sở hữu hoặc sử dụng, hoặc khả năng trả nợ của người thứ ba

để trả nợ cho ngân hàng

Tín dụng không cần tài sản đảm bảo có thể được cấp cho khách hàng có

uy tín, thường là khách hàng làm ăn thưòng xuyên có lãi, tình hình tài chínhvững mạnh, ít xảy ra tình trạng nợ nần dây dưa, hoặc món vay tương đối nhỏ

so với vốn của ngưòi vay Các khoản cho vay theo chỉ định của Chính Phủ,không cần tài sản đảm bảo, các khoản cho vay với các đơn vị tài chính lớn, cáccông ty lớn, hoặc các khoản cho vay trong thời gian ngắn mà ngân hàng có thểgiám sát việc bán hàng cũng có thể cho vay không cần tài sản đảm bảo

Tín dụng dựa trên cam kết đảm bảo yêu cầu của ngân hàng và kháchhàng phải ký hợp đồng đảm bảo Ngân hàng phải kiểm tra đánh giá được tình

Trang 17

trạng của tài sản đảm bảo, có khả năng giám sát việc sử dụng hoặc khả năngbảo quản tài sản đảm bảo.

1.2.2.8 Phân loại khác

+ Theo ngành kinh tế (công, nông nghiệp)

+ Theo đối tượng tín dụng (tài sản lưu động, tài sản cố định )

+ Theo mục đích (sản xuất, tiêu dùng)

Cách phân loại này cho thấy tính chất đa dạng hoặc chuyên môn trongcấp tín dụng của ngân hàng Với xu hướng đa dạng các ngân hàng sẽ mở rộngphạm vi tài trợ song vẫn có thể duy trì những lĩnh vực mà ngân hàng có lợi thế

1.3 Kinh tế ngoài quốc doanh trong nền kinh tế thị trường

1.3.1 Kinh tế ngoài quốc doanh và xu hướng phát triển của nó trong nền kinh tế thị trường

1.3.1.1 Khái niệm kinh tế ngoài quốc doanh

Trong xu thế phát triển của thế giới ngày càng mạnh mẽ thì việc đổi mới

cơ cấu kinh tế là một trong những biện pháp sử dụng nhiều nhất của các quốcgia, Việt nam cũng không là ngoại lệ

Ngay từ đại hội đảng toàn quốc lần thứ VI đã khẳng định đường lốichính cho sự phát triển kinh tế, cụ thể là phát triển kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhà nướctheo định hướng XHCN

Tuỳ những quốc gia khác nhau số lượng thành phần kinh tế khác nhaunhưng tựu chung lại chúng đều thuộc một trong hai khu vực kinh tế đó là kinh

tế nhà nước hay còn gọi ( kinh tế quốc doanh).Và khu vực kinh tế phi nhànước ( khu vực kinh tế ngoài quốc doanh )

Hai khu vực kinh tế này được phân chia dựa trên hai hình thức sở hữu :

Sở hữu nhà nước và sở hữu phi nhà nước

+ Trong sở hữu nhà nước thì sở hữu tư nhân và sở hữu tập thể chiếm đasố,như vậy KTNQD là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân và sở

Trang 18

hữu tập thể về tư liệu sản xuất là chủ yếu.Không có sở hữu nhà nước hoặc nhànước góp vốn trong thành phần kinh tế này.

KTNQD tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau,như kinh tế hợp tác xã, kinh tế

tư bản tư nhân, kinh tế cá thể… KTNQD ở nước ta tồn tại dưới những hìnhthức sau

- Kinh tế hợp tác xã mà nòng cốt là các hợp tác xã: Là thành phần kinh

tế dựa trên hình thức sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất,kinh tế hợp tác xã được

tổ chức dưới nhiều hình thức đa dạng, phát triển theo nguyên tác tự nguyện vàbình đẳngcùng có lợi quản lý dân chủ, các hợp tác xã được tổ chức trên cơ sởđóng góp cổ phần và sự tham gia lao động trực tiếp của các xã viên phân phốitheo kết quả lao động và theo cổ phần Kinh tế hợp tác cùng với kinh tế nhànước hợp thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân

- Kinh tế cá thể: Là thành phần kinh tế dựa trên hình thức sở hữu cá thể

về tư liệu sản xuất và lao động của bản thân họ, tồn tại ở phạm vi tương đốilớn, được phát triển trong nhiều nghành nghề ở cả thành thị và nông thônkhông hạn chế kinh doanh,nó có thể tồn tại độc lập, hoặc có thể tham gia vàoloại hình hợp tác xã hoặc liên kết với các doanh nghiệp lớn dưới nhiều hìnhthức.Con đường đi vào hợp tác xã của họ phải dựa trên nguyên tắc tự nguyện,không gò ép và cùng có lợi

- Kinh tế tư bản tư nhân: Là thành phần kinh tế dựa trên hình thức sởhữu tư nhân về tư liệu sản xuất, hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp tưnhân hoặc Công ty trách nhiệm hữu hạn,Công ty cổ phần theo quy định củapháp luật

+ Công ty trách nhiệm hữu hạn: Là loại hình doanh nghiệp trong đó cácthành viên cùng góp vốn và chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công tytrong phạm vi góp vốn của mình

+ Doanh nghiệp tư nhân: Là đơn vị kinh doanh có mức vốn không thấphơn mức vốn pháp định, do một cá nhân làm chủ tự chịu trách nhiệm bằngtoàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp

Bên cạnh các thành phần kinh tế cơ bản cũng có một hình thức kinh tếsong song cùng tồn tại, đó là hình thức liên doanh liên kết giữa các chủ thểkinh tế trong nước cũng như với nước ngoài Như vậy bên cạnh vai trò chủ đạo

Trang 19

của kinh tế quốc doanh thì kinh tế ngoài quốc doanh đã được đảng và nhà nướccông nhận và tạo điều kiện phát triển với nhiều hình thức hoạt động khácnhau.Kinh tế ngoài quốc doanh đã và đang huy động tối đa mọi nguồn lựctrong xã hội phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế việt nam

1.3.1.2 Đặc điểm kinh tế ngoài quốc doanh

Một trong những thành tựu hết sức quan trọng của khu vực KTNQD đó

là khu vực này hoạt động hầu hết trong các lĩnh vực của kinh tế chỉ trừ một sốlĩnh vực độc quyền đó là an ninh quốc phòng, quản lý nhà nước

Hầu hết các chủ thể trong khu vực KTNQD tham gia vào các nghànhnông lâm thuỷ sản và các ngành cung cấp dịch vụ, một số tham gia vào lĩnhvực khoa học, công nghệ giáo dục, hiện nay khu vực này tập chung nhiều vàolĩnh vực thông tin vì nó hứa hẹn sẽ mang lại lợi nhuận cao hơn Khu vực nàyhiện đang cung cấp 50% GDP trong các nghành nghề,và tỷ trọng này ngàycàng gia tăng và có xu hường ngày càng phát triển mạnh và có hiệu quả Trongqua trình phát triển kinh tế ngoài quốc doanh có những đặc điểm như sau

+ Xét theo loại hình kinh tế, KTNQD hoạt động dưói nhiều hình thứckhác nhau, rất đa dạng và phong phú như kinh tế cá thể, kinh tế tiểu chủ, kinh

tế hợp tác xã, kinh tế tư bản tư nhân và hình thức liên doanh liên kết.Các hìnhthức này vừa mang đặc điểm chung của thành phần KTNQD nhưng đồng thời

nó cũng mang những đặc điểm riêng, đặc điểm này do lịch sử phát triển củatừng loại hình kinh tế ở nước ta quyết định, hơn nữa với mỗi hình thức tồn tạikhác nhau sẽ có những điều kiện,yêu cầu đòi hỏi khác nhau về vốn tín dụngngân hàng.Vì thế khi xây dựng chính sách tín dụng, chính sách lãi xuất,chínhsách khách hàng, ngân hàng không thể đồng nhất họ về một nhóm.Nhómkhách hàng thuộc khối KTNQD mà ngân hàng cần nắm đặc điểm riêng củatừng loại khách hàng để xây dựng các chính sách cho phù hợp tạo điều kiệnthuận lợi cho cả ngân hàng và khách hàng khi lập và duy trì mối quan hệ “như chính sách cho vay đối với khách hàng cá thể sẽ khác với chính sách chovay đối với doanh nghiệp tư nhân, các công ty cổ phần, các hợp tác xã Nếunhư ngân hàng không nắm được các đặc điểm này mà đồng nhất thành phần

Trang 20

KTNQD trong việc xây dựng chính sách tín dụng của mình thì không nhữngviệc mở rộng cho vay của ngân hàng sẽ gặp khó khăn mà chất lượng tín dụngcung cấp cho khách hàng cũng không được đảm bảo

Kinh tế ngoài quốc doanh có những hạn chế về vốn và khả năng tích luỹ,

do sự tồn tại của khu vực kinh tế này chỉ mới đựơc công nhận gần 20 năm vàđang hoạt động trong môi trường pháp luật mới tạo dựng còn nhièu vướng mắctrong quá trình phát triển Mặc dù trong những năm gần đây Đảng và nhà nướckhuyến khích tạo điiêù kiện cho khu vực này nhưng nhìn chung tập trung vốncủa khu vực này chưa cao.Nguyên nhân do nhiều yếu tố tác động

- Thứ nhất: Là do quy mô hoạt động của các đơn vị kinh tế này còn nhỏ

kỹ thuật và công nghệ sản xuất lạc hậu, hàng hoá sản xuất giá thành cao vàkém tính cạnh tranh

-Thứ hai: Quy mô vốn và lao động nhỏ,cùng với khả năng quản lý, khả

năng tiếp cận công nghệ còn hạn hẹp đã dẫn đến các thiết bị mà các doanhnghiệp đang dùng là thiết bị cũ đã qua sử dụng và bị hao mòn theo thời giandân tới khả năng để sản xuất các sản phẩm với mẫu mã chất lượng là không

có, chi phí sản xuất do vậy cũng rất cao Theo số liệu điều tra của viện nghiêncứu kinh tế thì chỉ có khoảng 24% doanh nghiệp và 21%Công ty sủ dụng côngnghệ tương đối hiện đại, 36,3% doanh nghiệp và 18,6% công ty sử dụng côngnghệ cổ truyền 35,5 % doanh nghiệp và 61,5% công ty kết hợp cả công nghệhiện đại và công nghệ cổ truyền

Qua sự thống kê của viện nghiên cứu kinh tế đã cho thấy trình độ sảnxuất của các doanh nghiệp là còn đang thấp, công nghệ lạc hậu làm cho cácsản phẩm kém sức cạnh tranh và đã gây khó khăn cho khu vực kinh tế nàytrong việc mở rộng thị phần

Chính vì vậy đổi mới công nghệ nhằm sản xuất được những hàng hoá cótính cạnh tranh cao đang là nhu cầu càn thiết của KTNQ, để đạt được yêu cầunhư mong muốn, tự bản thân các doanh nghiệp phải xoay sở, phải nâng cao

Trang 21

nguồn tài chính cho mình,có những đề án sản xuất kinh doanh hiệu quả nhằmthu hút vốn đầu tư có như vậy khu vực KTNQD mới có thể cạnh tranh đứngvững trên thị trường, do vậy để khắc phục những hạn chế về vốn, công nghệkhu vực KTNQD rất cần sự hỗ trợ của các NHTM,vì vậy NHTM cần phải nắmđược những khó khăn của khu vực kinh tế này để mở rộng tín dụng kịp thời.Tuy nhiên cũng thấy rằng đặc điểm này có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượngtín dụng mà ngân hàng cung cấp,nếu ngân hàng cho vay mà không trọng tâmthì không những tháo gỡ được khó khăn mà còn có thể gây ra ảnh hưởng rấtsấu đến khu vực kinh tế này và cả chất lượng tín dụng của ngân hàng Do vậy,cùng với việc mở rộng tín dụng thì các ngân hàng cũng cần phải nâng cao chấtlượng tín dụng đối với KTNQD.Bên cạnh khả năng tài chính cò hạn hẹp thì độingũ lao động khu vực KTNQD cũng là vấn đề cần quan tâm bởi số lượng vàchât lượng lao động còn ít và kém,doanh nghiệp có lao động dưới 10 ngườivào khoảng 48% tổng số các doanh nghiệp, doanh nghiệp có từ 10- 50 ngườichiếm khoảng 37%, từ 50-200 người khoảng 9% còn lại là doanh nghiệp có sốlao động 200 người trở lên Đội ngũ lao động khu vực KTNQD nói riêng vàtrong toàn bộ nền kinh tế nói chung đều có kỹ năng và tay nghề còn thấp chưađáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp.

Mặc dù còn nhiều hạn chế nhưng trong thời gian vừa qua khu vựcKTNQD cũng đã đóng góp rất nhiều cho nền kinh tế Chúng ta phải thừa nhậnrằng do tính đa dạng về hình thức tồn tại nên hoạt động của khu vực KTNQDtương đối rộng, nó có mặt hầu hết các lĩnh vực các nghành nghề kinh tế đặcbiệt là trong nghành thương mại Trong quá trình hoạt động cũng gặp nhiềuphiền toái từ các cơ quan chức năng mặc dù đã giảm đi nhiều nhưng đối vớikinh tế ngoài quốc doanh về thủ tục hành chính dường như vẫn gặp rắc rối vàkhó tháo gỡ

Khu vực KTNQD tập chung chủ yếu ở các thành phố lớn như Hà Nội,TPHCM, Đà Nẵng, Hải Phòng là những thành phố trực thuộc TW khá pháttriển nhưng đồng thời cũng lại có sự cạnh tranh rất khắc nghiệt giữa nhiều sản

Trang 22

phẩm cùng chủng loại Đặc điểm này sẽ là căn cứ để NHTM quyết định hướng

mở rộng cho vay khu vực KTNQD để vừa đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệpvừa góp phần thúc đẩy sự chuyển dịch kinh tế của đất nước

- Thứ ba: Trình độ quản lý rất thấp trừ các doanh nghiệp có vốn đầu tư

của nước ngoài.Có rất nhiều người đứng ra thành lập công ty cho riêng mình,

tự mình điều hành và quản lý Tuy vậy còn thực trạng là nhiều người đứng đầucác công ty,các doanh nghiệp có trình độ hiểu biết kinh tế trình độ quản lý conngười còn yếu kém Điều đó dẫn tới các doanh nghiệp khi tham gia thị trườngmắc nhiều sai phạm và không phát triển hay hoạt động không có hiệu quả Hơnnữa do việc thực hiện pháp lệnh tài chính và thống kê của nhà nước trong cácDNNQD chưa nghiêm túc dẫn tới việc chứng thực năng lực kinh doanh cũngnhư năng lực tài chính của họ còn gặp nhiều khó khăn Điều ảnh hưởng rất lớnđến quyết định mở rộng cho vay của NHTM nếu năng lực kinh doanh kém, tàichính không rõ ràng của người vay thì với bất kỳ một quyết định cho vay nàocũng rất mạo hiểm có thể dẫn đến rủi ro và ảnh hưởng đến chất lượng tín dụngcủa ngân hàng.Mặc trong quá trình phát triển kinh doanh của mình có nhiềuhạn chế nhưng cũng phải khẳng định rằng hạn chế đó một phần cũng bắt nguồn

từ mô hình kinh tế cũ ở đó thành phần KTNQD không có điều kiện để pháttriển.Với chủ trương của đảng và nhà nước khu vực KTNQD ngày càng cóđiều kiện mở rộng và phát triển vì thế mà những hạn chế đó sẽ mất dần đi và

để làm được điều đó thì khu vực kinh tế này cần sự hỗ trợ rất lớn của cácNHTM

1.3.1.3 Vai trò của khu vực KTNQD

Việc thực hiện cơ chế thị trường đã làm cho nền kinh tế nước ta trở nênsôi động hơn, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định, Việt nam đã trở thànhmột trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới,là môitrường hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư.Chính vì vậy KTNQD đóng vai tròkhông thể thiếu trong nền kinh tế thị trường

Trang 23

Khu vực KTNQD góp phần tối đa hoá nguồn lực của đất nước,tạo việclàm thu hút lao động,giảm tỷ lệ thất nghiệp đóng góp vào sự tăng trưởng kinh

tế của đất nước,tăng thu cho ngân sách nhà nước chính nhờ đó mà hiện tại khuvực này đóng góp khoảng hơn 40% GDP của toàn bộ nền kinh tế Trong khi đó

số việc làm mới tại khu vực kinh tế nhà nươc lại tăng không đáng kể Bên cạnhviệc giải quyết việc làm cho dân cư thì khu vưc KTNQD sẽ thúc đẩy mọi thànhviên trong nền kinh tế bỏ sức bỏ vốn, năng động trong việc khai thác mọinguồn lực làm ra của cải đáp ứng nhu cầu xã hội Việc phát triển kinh tế khuvực KTNQD góp phần nâng cao chất lượng lực lượng lao động trong xãhội,nâng cao trình độ hiểu biết của người lao động

Ngoài việc đóng góp trên thì việc phát triển khu vực KTNQD cũng đãhoàn thiện hơn cho bộ máy quản lý nhà nước và làm đồng bộ hơn hệ thống vănbản pháp luật Sự phát triển của KTNQD có tác dụng tạo ra môi trường cạnhtranh lành mạnh giữa kinh tế nhà nước với KTNQD

Trên đây là những vai trò quan trọng mà khu vực KTNQD mang lại chonền kinh tế cũng như cho xã hội, với sự phát triển như hiện nay thì trong tươnglai không xa khu vực này sẽ mang lại nhiều kết quả tốt đẹp hơn

1.3.1.4 Những vấn đề về vốn đối với sự phát triển khu vực KTNQD

Đây là những vấn đề nan giải của khu vực KTNQD bởi khả năng huyđộng vốn tự do của khu vực này còn hạn chế rất nhiều Bất kỳ một doanhnghiệp nào thì vốn là một yếu tố không thể thiếu trong quá trình thành lậpdoanh nghiệp cũng như trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cầnphải có vốn để mua máy móc trang thiết bị, thuê lao động trong quá trình sảnxuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần có vốn để duy trì hoạt động sản xuấtkinh doanh, chính vì vậy nguồn vốn tự có của các doanh nghiệp phải huy động

từ nguồn khác nhau Hiện nay trên thực tế thì việc tiếp xúc với tín dụng là rátkhó khăn phải cần đến tài sản đảm bảo, phải có phương án kinh doanh hợp lý

Trang 24

mới có thể nhận được sự giúp đỡ của ngân hàng,và đây cũng là những nguyênnhân chính mà các daonh nghiệp đang phải đói phó.

1.4 Tín dụng Ngân hàng đối với KTNQD

1.4.1 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với phát triển KTNQD

Hoạt động kinh tế luôn đòi hỏi vốn để duy trì Trong cơ chế cạnh tranhnhư hiện nay khi mà các đơn vị kinh tế đang dần phát huy hiệu quả kinh doanh

ở mức cao nhất thì khu vực KTNQD cũng đang nỗ lực hết mình để cung cấp rathị trường những sản phẩm ngày càng phong phú và chất lượng hơn, chính vìthế yêu cầu về vốn của khu vực này phải nhiều hơn bởi vì vốn là điều kiệnquyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp, do đó tín dụng ngânhàng ngày càng quan trọng hơn cần thiết hơn đặc biệt là các doanh nghiệpNQD, hoạt động cho vay của ngân hàng giúp doanh nghiệp làm ăn có hiệu quảhơn Hầu hết tất cả các doanh nghiệp đều sử dụng vốn vay để tiến hành sảnxuất và duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, chính vì vậy mà doanh nghiệpphải cố gắng sử dụng vốn có hiệu quả nhất để bù đắp lại phần lãi xuất màdoanh nghiệp phải trả cho ngân hàng, đồng thời đem lại thu nhập cho bản thândoanh nghiệp, nguồn vay từ ngân hàng là động lực để doanh nghiệp đẩy mạnhsản xuất làm ăn có hiệu quả

Mặt khác Ngân hàng cùng được coi là một doanh nghiệp, vì lợi thế làmục tiêu quan trọng mà ngân hàng rất quan tâm, việc mở rộng sản xuất kinhdaonh là yêu cầu của bất kỳ một ngân hàng nào muốn tồn tại và phát triển

- Tín dụng Ngân hàng là đòn bẩy kinh tế hỗ trợ sự ra đời và phát triểnKTNQD.Ngày nay trong nền kinh tế thị trường bất cứ một chủ thể nào khimuốn đầu tư đều nghĩ đến mục đích sinh lời, chính vì vậy những người có vốnnhàn rỗi họ săn sàng cho vay để kiếm lời và những người thiếu vốn thì sẵnsàng vay để đầu tư mở rộng sản xuất, với tư cách là trung gian dẫn vốn ngânhàng đã giải quyết mâu thuẫn đó

- Tín dụng ngân hàng tác động điều tiết sự di chuyển vốn đầu tư làmbình quân hoá tỷ suất lợi nhuận, thúc đẩy sự phát triển của khu vực KTNQD

Trang 25

- Tín dụng ngân hàng luôn chuyển hướng đầu tư vào doanh nghiệp có tỷsuất lợi nhuận cao, hạn chế và không đầu tư vào doanh nghiệp có tỷ suất lợinhuận thấp.

Qua đây thấy rằng tín dụng ngân hàng làm thay đổi cung cầu hàng hoá

và làm thay đổi cơ cấu nghành nghề kinh tế

- Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện trong việc tiếp cận vốn nứoc ngoài:bên cạnh việc kích thích các tổ chức kinh tế và cá nhân trong nước thực hiệntiết kiệm, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập chung vốn tiền tệ, tín dụng ngânhàng còn thu hút nguồn vốn nước ngoài dưới nhiều hình thức như trực tiếp chovay bằng tiển, bảo lãnh cho các doanh nghiệp khi mua thiết bị trả chậm, tạođiều kiện kinh doanh cho các nhà kinh tế đặc biệt trong lĩnh vực xuất nhậpkhẩu

- Tín dụng Ngân hàng thúc đẩy các doanh nghiệp NQD hoạt động kinhdoanh và đầu tư có hiệu quả: Để tiếp cận tín dụng ngân hàng một cách dễ dàngtrước hết doanh nghiệp phải nỗ lực kinh doanh có hiệu quả

Khi cấp tín dụng một dự án thì trước đó quá trình thẩm định khắt khecủa ngân hàng thấy được tính hiệu quả khả thi của nó, chính tín dụng đã có khảnăng loại trừ các dự án không khả thi, điều này góp phần nâng cao hiệu quảkinh doanh của doanh nghiệp

- Tín dụng ngân hàng góp phần tăng nguồn vốn nâng cao khả năng cạnhtranh của các chủ thể kinh tế ngoài quốc doanh.Muốn tăng trưởng và phát triểnthì việc tạo ra hình ảnh và vị thế của doanh nghiệp là không thể thiếu, vì vậycác doanh nghiệp đang có xu hướng tìm cách liên doanh liên kết nhằm bổ sung

và hoàn thiện mình mà đặc biệt là hạn chế về vốn ngày càng được các doanhnghiệp ngày càng quan tâm hơn

1.4.2 Chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với KTNQD

Trong nền kinh tế thị trường bất kỳ một sản phẩm nào muốn được kháchhàng chấp nhận đều phải thoả mãn về chất lượng giá cả, mẫu mã và sự phục

vụ, các yếu tố này có sự khăng khít với nhau Trong đó chất lượng tín dụng là

Trang 26

yếu tố quan trọng nhất, khi chất lượng của sản phẩm được nâ ng lên trong điềukiện hợp lý thì sẽ làm cho khách hàng hài lòng khi mỏ rộng hoạt động sản xuấtcủa mình, đối với nhà kinh doanh Ngân hàng cũng vậy họ luôn phải quan tâmđến việc nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng, bởi vì chất lượng tín dụng làđiều kiện để ngân hàng quyết định mở rộng hay thu hẹp hoạt động cho vay.

Vậy chất lượng là sự phù hợp với mục đích sử dụng, là một trình độ dựkiến trước về độ đồng đều độ tin cậy với chi phí thấp và phù hợp với thịtrường Qua đây ta cũng có thể hiểu chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầucủa người vay tiền phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự pháttriển của ngân hàng, chất lượng tín dụng được thể hiện dưói giác độ sau đây

+ Đối với khách hàng: hoạt động tín dụng của ngân hàng phải phù hợpvới mục đích sử dụng của khách hàng,thủ tục đơn giản thuận tiện chính xác antoàn của sản phẩm dịch vụ,sẽ mở rộng được nhiều khách hàng trên cơ sở thoảmãn các điều kiện vay vốn của ngân hàng

+ Đối với NHTM; chất lượng tín dụng là sự phù hợp giữu hoạt động tíndụng và năng lực ngân hàng, đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trường vàhiệu quả của đồng vốn bỏ ra, chất lượng tín dụng thể hiện ở việc giảm tỷ lệ nợquá hạn xuống mức hợp lý và tăng nhanh lợi nhuận từ hoạt động cho vay

+ Đối với sự phát triển kinh tế; hoạt động tín dụng có chất lượng phảiđáp ứng được yêu cầu của sản phẩm và lưu thông hàng hoá góp phần giảiquyết công ăn việc làm, khai thác mọi nguồn lực kinh tế thúc đẩy quá trinh tích

tụ và tập chung sản xuất

Như vậy chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánhmức độ thích nghi của NHTM trước sự thay đổi của môi trường kinh doanh, nóthể hiện sức mạnh của ngân hàng trong cạnh tranh để tồn tại và phát triển

1.4.3 Chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng Ngân hàng

* Tỷ lệ nợ quá hạn: Trong quan hệ tín dụng khả năng trả nợ của ngườivay là yếu tố quan trọng nhất để cấu thành lên chất lượng tín dụng, khi một

Trang 27

khoản cho vay không được trả đúng hạn như cam kết mà không có lý do chínhđáng thì sẽ vi phạm nguyên tắc tín dụng và bị chuyển thành nợ quá hạn Songnếu có một NHTM có nhiều khoản nợ quá hạn sẽ khó khăn trong kinh doanh

vì có nguy cơ mất vốn dẫn tới khả năng mất khả năng thanh toán và giảm thunhập

+ Tỷ lệ thanh toán do bán tài sản của người đi vay

+ Trong quan hệ tín dụng, nguồn trả nợ cho ngân hàng được lấy từ phầnthu nhập do hoạt động sản xuất kinh doanh mang lại Tuy nhiên không phảidoanh nghiệp nào sau một quá trình kinh doanh cũng đạt dược kết quả nhưmong muốn

Tỷ lệ thanh toán nợ do án tài sản của người đi vay = (số tiền thu nợ do KH bán tài sản / tổng doanh số thu nợ) 100%

tỷ lệ này được tính theo định kỳ

+ Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng

+ Chỉ tiêu này được tính toán để đánh giá khả năng tổ chức quản lý vốntín dụng và chất lượng tín dụng trong việc thoả mãn nhu cầu của khách hàng

Vòng quay vốn TD= doanh số thu nợ /dư nợ bình quân

Hệ số này phản ánh số vòng chu chuyển vốn tín dụng hệ số này mà càngcao chứng tỏ trình độ quản lý sử dụng vốn càng có hiệu quả

Ngoài ra còn có một số chỉ tiêu khác, tuy nhiên trong các chỉ tiêu trên thìchỉ tính nợ quá hạn là phương pháp phổ biến nhất và đơn giản nhất

Trang 28

1.4.4 Sự cần thiết phải mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng đối với KTNQD

Do định hướng phát triển của cac nghành kinh tế của đảng và nhà nước

và qua những kết quả mà khu vực kinh tế này đã đạt được Thị trường tín dụngkhu vưc KTNQD đang tỏ ra có nhiều tiềm năng phát triển cùng với sự pháttriển thành phần kinh tế ngoài quốc doanh Đối với khu vực KTNQD vốn vẫnđang là vấn đề bức xúc nhưng họ cũng đang dần tiếp cận nguồn vốn này và cácNHTM đang cố gắng hết sức để đáp ứng tốt hơn mong muốn của khu vực này

Như vậy việc mở rộng nâng cao chất lượng tín dụng đối với khu vựcKTNQD là một vấn đề rất quan trong và càn thiết cho nền kinh tế mở rộng vànâng cao chất lượng tín dụng giúp KTNQD khẳng định vi trí của mình trong

sự phát triển kinh tế Khi đã đựợc đáp ứng đầy đủ về vốn KTNQD sẽ có điềukiện mở rộng sản xuất kinh doanh vươn lên chiếm lĩnh ở nhiều nghành nghề

mà kinh tế ngoài quốc doanh khó có thể làm tốt để khẳng định vai trò của mìnhtrong nền kinh tế

Đối với NHTM mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng đối vớiKTNQD tạo điều kiện để các ngân hàng làm tốt vai trò trung tâm thanh toán,khi chất lượng tín dụng được đảm bảo sẽ tạo điều kiện tăng vòng quay vốn tíndụng với một lượng tiền không đổi Hơn nữa việc mở rộng tín dụng đói vớiKTNQD sẽ đáp ứng nhu càu về vốn ngày càng tăng

Mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng đối với KTNQD giúp ngânhàng đa dạng khách hàng, là cơ hội để các ngân hàng có thể củng cố vữngchắc hơn

Trang 29

1.4.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng mở rộng và nâng cao chất lương tín dụng của NHTM đối với KTNQD

1.4.5.1 Nhóm nhân tố khách quan

* Nhân tố xã hội

Tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên cơ sở lòng tin, sự tín nhiệm là cầu nối giữa ngân hàng với khách hàng KH càng có lòng tin thì việc tiếp cận với nguồn tín dụng của ngân hàng càng dễ dàng, và ngược lại ngân hàng càng

có uy tín thì sẽ thu được nhiều KH tham gia giao dịch với NH, chính vì vậy lòng tin cũng là cơ sở để mở rộng tín dụng ngân hàng

* Nhân tố pháp lý

Nhân tố pháp lý bao gồm tín đồng bộ của hệ thống văn bản pháp luật ban hành, đồng thời gắn liền với quá trình chấp hành luật và trình độ dân trí Luật pháp có nhệm vụ tạo môi trường pháp lý lành mạnh cho các tổ chức có thể yên tâm tham gia vào nền kinh tế và cũng tạo cơ sở cho các NHTM yên tâm khi cung cấp TD cho KH.chỉ trong điều kiện các chu thể tham gia quan hệ tín dụng tuân thủ pháp luật một cách nghiêm túc thì quan hệ tín dụng mới demlại lợi ích cho cả hai phía, và lúc này chất lượng tín dụng mới được đảm bảo

và quy mô tín dụng mới được mở rộng

ro, nợ quá hạn sẽ tăng lên và quy mô về tín dụng sẽ bị giảm sút

Trang 30

1.4.5.2 Nhân tố chủ quan

* Về phía khách hàng

Nếu các chủ thể kinh tế trong khu vực KTNQD làm ăn có hiệu quả y tínthì chắc chắn nhu cầu tín dụng của họ sẽ được ngân hàng đáp ứng đầy đủ, ngược lại nếu làm ăn thua lỗ không khả thi ngân hàg không thể tiếp tục cho khách hàng đó vay nữa.Chính vì vậy để nâng cao chất lượng tín dụng thì sự nỗlực hoạt động kinh doanh có hiệu quả và uy tín của khách hàng cũng là một nhân tố rất quan trọng tác động đến quy mô và chất lượng tín dụng

* Về phía ngân hàng thương mại

Chính sách tín dụng là kim chỉ nan cho hoạt động tín dụng của ngân hàng nếu một chính sách tín dụng đứng đắn sẽ thu hút nhiều khách hàng, đảm bảo khả năng sinh lời từ hoạt động tín dụng trên cơ sở phân tán những rủi ro, tuân thủ pháp luật, đường lối chính sách của Đảng và nhà nước Thông qua đó

có thể đánh giá các NHTM có được chính sách tín dụng hợp lý hay không + +

+ Thông tin tín dụng: để hoạt động tín dụng thực sự có chất lượng thì cần phải

nắm rõ các thông tin tín dụng chính xác, kịp thời Nếu thông tin tín dụng càng chính xác thì khả năng phòng ngừa rủi ro càng lớn, chất lượng tín dụng càng được nâng cao, ngoài ra ngân hàng có nhiều thông tin và có thể đưa ra lời khuyên hữu ích làm cho khách hàng tin tưởng hơn nhue vậy sẽ mở rộng được quy mô tín dụng

+ Công tác tổ chức của ngân hàng: Đây là yếu tố không ảnh hưởng trực tiếp

đến chất lượng cho vay, nhưng nếu công tác tổ chức của ngân hàng không khoa học, có sự chồng chéo thì việc thực hiện các hoạt động tín dụng của phòng tín dụng sẽ hoạt động không tốt

Trang 31

+ Quy trình tín dụng: Bao gồm các quy định phải thực hiện trong quá trình

cho vay, chất lượng tín dụng có được đảm bảo hay không phụ thuộc vào việc thực hiện tốt các quy định của từng khâu, sự phối hợp đúng đắn giữa các bước trong quá trình đó đảm bảo tốt sự luân chuyển đúng kế hoạch Do đó làm hài lòng khách hàng như vậy không những nâng cao được chất lượng tín dụng mà còn mở rộng nó

+Tình hình huy động vốn: Đặc trưng nhất của nghành ngân hàng là “Đi vay

để cho vay” Vì vậy muốn mở rộng tín dụng thì ngân hàng phải luôn sẵn sàng đáp ứng yêu cầu của khách hàng, chính vì vậy mà ngân hàng phải quan tâm đến vấn đề huy động vốn trong hoạt động của mình.Châta lượng nhận sự Thể hiện ở trình độ nghiệp vụ, khả năng giao tiếp, kiến thức tổng hợp, tin học,ngoạingữ … Trách nhiệm với công việc, vấn đề đạo đức của cán bộ tín dụng.Dưói con mắt của Khách hàng, Cán bộ tín dụng là hình ảnh của ngân hàng , phong cách giao tiếp của cán bộ tín dụng tạo niềm tin và sự hài lòng của khách hàng cũng là yếu tố quan trọng để thu hút khách hàng đến với ngân hàng, nhưng trình độ nghiệp vụ là yếu tố quan trọng nhất vì nó đảm bảo quá trình thực thi nghiệp vụ chính xác, linh hoạt trong mọi tình huống khi cho vay.Hơn nữa những hiểu biết mang tính tổng hợp sẽ tạo điều kiện cho cán bộ tín dụng thực hiên công việc tốt hơn đặc biệt là khâu thẩm định

Ngoài Các nhân tố trên thì trang thiết bị cũng là một trong những yếu tố gây ảnh hướng tới chất lượng cho vay, nếu trang thiết bị hiện đại có thể giúp ngân hàng thực hiện nghiệp vụ nhanh tróng, chính xác như việc ứng dụng tin học vào việc quản lý khách hàng, ngoài ra hình thức cua rtrang thiết bị của ngân hàng có thể đánh giá vào thị giác của khách hàng, tạo tâm lý tin tưởng Đây cụng là yếu tố để thu hút khách hàng đên với ngân hàng

Trang 32

Chương II:

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KTNQD TẠI

NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG BA ĐÌNH 2.1 Tổng quan về Ngân hàng Công thương Ba đình

2.1.1 Khái quát về ngân hàng Công thương Ba đình

Là thành viên của Ngân hàng Công thương Việt nam Ngân hàng Côngthương Ba đình được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ năm1959.Ngân hàng đã có quan hệ đại lý với trên 400 ngân hàng tai hơn 40 nước

và khu vực, là thành viên của hệ thống tài chính viễn thông liên ngân hàng nênNgân hàng Công thương Ba đình có khả năng đáp ứng đầy đủ các yêu cầu vàdịch vụ ngân hàng quốc tế một cách nhanh chóng và hiệu quả

Ngân hàng Công thương Ba đình trực thuộc Ngân hàng Hà Nội Địađiểm đặt tại phố Đội Cấn Hà Nội,nay là 142 Phố Đội Cấn Nhiệm vụ chủ yếucủa Ngân hàng là vừa xây dựng cơ sổ vật chất, vừa củng cố tổ chức Hoạtđộng dưới hình thức cung ứng cấp phát theo chỉ tiêu kế hoạch được giao, sốlượng lúc đó có trên 10 nguời, mục tiêu hoạt động của Ngân hàng lúc đó mangtính bao cấp, phục vụ không lấy lợi nhuận làm mục tiêu hoạt động theo môhình quản lý một cấp, mô hình này được duy trì từ khi thành lập cho tới năm1987

Ngày 1/7/1988 thực hiện nghị định 53 của Hội đồng Bộ trưởng (nay làchính phủ) Nghành Ngân hàng đã chuyển hoạt động từ cơ chế hành chính kếhoạch hoá sang hạch toán kinh tế kinh doanh theo hệ thống quản lý ngân hànghai cấp ( NHNN- NHTM) lấy lợi nhuận là mục tiêu của hoạt động kinh doanh,các Ngân hàng Thương Mại Quốc doanh lần lượt ra đời Trong hoàn cảnhchuyển đổi đó Ngân hàng Ba đình cũng được chuyển đổi thành một chi nhánhngân hàng Thương mại quốc doanh vói tên chi nhánh Ngân hàng Công thươngquận Ba đình trực thuộc Ngân hàng TW Thành phố Hà nội Hoạt động kinh

Trang 33

doanh mang tính kinh doanh thực sự, thông qua việc đổi mới phong cách giaotiép, phục vụ, lấy lợi nhuận làm muc tiêu kinh doanh,cùng với việc đa dạnghoá loại hình kinh doanh dịch vụ, khai thác và mở rộng thị trường đưa thêmcác sản phẩm mới vào kinh doanh, lúc này Ngân hàng Công thương Ba đìnhhoạt động theo mô hình quản lý Ngân hàng Công thương ba cấp (TW- TP-Quận) Với mô hình quản lý này, trong những năm đầu thành lập tháng 7 năm

1988 đến tháng 3 năm 1993)hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Côngthương Ba đình kém hiệu quả, không phát huy đựơc thế mạnh và ưu thế củamột chi nhánh Ngân hàng thương mại trên đia bàn thủ đô, do hoạt động kinhdoanh phụ thuộc hoàn toàn vào Ngân hàng thành phố Hà nội, cùng với nhữngkhó khăn thử thách của những năm đầu chuyển đổi mô hình kinh tế theođường lối mới của đảng Trước những khó khăn vướng mắc từ mô hình tổchưc quản lý, cũng như từ cơ chế, bắt đàu từ 1/4/1993 Ngân hàng Công thươngViệt nam thực hiện thí điểm mô hinh Ngân hàng Công thương hai cấp (cấpTW- Quận) xoá bỏ cấp trung gian là Ngân hàng Công thương Thành phố Hànội, cùng với sự đổi mới và tăng cường tổ chức cán bộ trẻ có năng lực thì hoạtđộng kinh doanh của Ngân hàng Công thương Ba đình đã có sức bật mới, hoạtđộng kinh doanh theo mô hình một NHTM đa năng, có đầy đủ năng lực, uytín để tham gia cạnh tranh một cách tích cực trên thị trường và không ngừng tựđổi mỏi, hoàn thiện mình để thích nghi với các môi trường kinh doanh trong cơchế kinh tế thị trường

Kể từ khi chuyển đổi mô hình quản lý mới cho đến nay, hoạt động kinhdoanh của chi nhánh Ngân hàng Công thương Ba đình không ngừng phát triểntheo định hướng”ổn định, an toàn hiệu quả và phát triển” Cả về quy mô, tốc độtăng trưởng, địa bàn hoạt động cũng như cơ cấu, mạng lưới, tổ chức bộ máy.Cho đến nay bộ máy hoạt động của chi nhánh Ngân hàng Công Thương Bađình có trên 300 cán bộ nhân viên trong đó trên 85% có trình độ Đại học,10%

có trình độ Trung cấp và đang đào tạo Đại học,còn lại là lao động giản đơn,với 12 phòng nghiệp vụ, một phòng giao dịch, 12 quỹ tiết kiệm, hoạt động trên

Trang 34

địa bàn rộng bao gồm các quận như Ba đình – Hoàn kiếm -Tây Hồ Từ năm

1995 đến nay hoạt động của NHCT Ba đình liên tục được Ngân hàng CôngThương Việt nam công nhận là một trong những chi nhánh xuất sắc nhất trong

hệ thống ngân hàng Việt nam

2.1.2 Tổ chức bộ máy của chi nhánh

Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Công Thương Ba Đình bao gồm các bộphận sau:

Các bộ phận chức Năng đựoc tổ chức thành 11 phòng ban

Ngoài ra chi nhánh còn có các đơn vị trực thuộc như : Phòng giao dịch,quỹ tiết kiệm, Phòng nghiệp vụ

Trang 35

Sơ đố I: Cơ cấu tổ chức bộ máy của Ngân hàng Công thương Ba đình

2.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Công Thương Ba Đình

2.2.1 Hoạt động huy đông vốn

Trong những năm gần đây số lưọng các ngân hàng ngày càng xuất hiệncàng nhiều, do vậy đã xẩy ra một cuộc cạnh tranh giữa các ngân hàng Đặc biệt

là trong hoạt động huy động vốn và hạot động tín dụng Ngân hàng Côngthương Ba đình với một chính sách huy động vốn hợp lý đã thu hút nguồn vốnlớn phục vụ cho hoạt động tín dụng và thanh toán của chi nhánh Tổng nguồnvốn của chi nhánh đã huy động liên tục tăng trong những năm gần đây

KH c¸

nh©n

Tæng hîp TM

Phßng GD1

Ngày đăng: 29/08/2012, 13:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS. Phan Thị Thu Hà – TS. Nguyễn Thị Thu Thảo. 2002 Ngân hàng thương mại. Nhà xuất bản thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân hàng thương mại
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
2. TS. Lê Thẩm Dương, TS Hồ Sĩ Diệu., Tín dụng Ngân hàng 3. PGS.TS Lê Văn Tư, 1997. Tiền tệ tín dụng ngân hàng 4. Các tạp chí ngân hàng, 2003, 2004,2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín dụng Ngân hàng"3. PGS.TS Lê Văn Tư, 1997. "Tiền tệ tín dụng ngân hàng
9. Hoàng Xuân Quế,Nghiệp vụ ngân hàngTW. Nhà xuất bản thống kê,2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ ngân hàngTW
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
7. Luật các tổ chức tín dụng , nhà xuất bản chính trị quốc gia Khác
8. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh NHCT Ba đình, 2003,2004,2005 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2:Tình hình tín dụng qua các năm của  NHCT Ba đình - Giải pháp mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng đối với KTNQD tại Ngân hàng Công thương Ba đình.DOC
Bảng 2 Tình hình tín dụng qua các năm của NHCT Ba đình (Trang 38)
Bảng 3:  Dư nợ của chi nhánh phân theo thành phần kinh tế - Giải pháp mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng đối với KTNQD tại Ngân hàng Công thương Ba đình.DOC
Bảng 3 Dư nợ của chi nhánh phân theo thành phần kinh tế (Trang 42)
Bảng   4a:   Doanh   số   cho   vay(VNĐ)của   chi   nhánh   qua   các   năm   2003,  2004,2005 - Giải pháp mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng đối với KTNQD tại Ngân hàng Công thương Ba đình.DOC
ng 4a: Doanh số cho vay(VNĐ)của chi nhánh qua các năm 2003, 2004,2005 (Trang 44)
Bảng   4b:   Doanh   số   cho   vay(USD)của   chi   nhánh   qua   các   năm   2003,  2004,2005 - Giải pháp mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng đối với KTNQD tại Ngân hàng Công thương Ba đình.DOC
ng 4b: Doanh số cho vay(USD)của chi nhánh qua các năm 2003, 2004,2005 (Trang 44)
Bảng 5a: Doanh số cho vay(VNĐ) KTNQD phân theo thời hạn của chi  nhánh năm 2003,2004,2005 - Giải pháp mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng đối với KTNQD tại Ngân hàng Công thương Ba đình.DOC
Bảng 5a Doanh số cho vay(VNĐ) KTNQD phân theo thời hạn của chi nhánh năm 2003,2004,2005 (Trang 45)
Bảng 5b: Doanh số cho vay( USD) KTNQD phân theo thời hạn của chi  nhánh qua các năm 2003, 2004, 2005 - Giải pháp mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng đối với KTNQD tại Ngân hàng Công thương Ba đình.DOC
Bảng 5b Doanh số cho vay( USD) KTNQD phân theo thời hạn của chi nhánh qua các năm 2003, 2004, 2005 (Trang 45)
Bảng 6a:Doanh số thu nợ (VNĐ)của chi nhánh năm 2003, 2004, 2005 - Giải pháp mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng đối với KTNQD tại Ngân hàng Công thương Ba đình.DOC
Bảng 6a Doanh số thu nợ (VNĐ)của chi nhánh năm 2003, 2004, 2005 (Trang 47)
Bảng 6b:Doanh số thu nợ ( USD)của chi nhánh năm 2003, 2004, 2005 - Giải pháp mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng đối với KTNQD tại Ngân hàng Công thương Ba đình.DOC
Bảng 6b Doanh số thu nợ ( USD)của chi nhánh năm 2003, 2004, 2005 (Trang 47)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w