1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tính đa dạng thực vật của họ ngọc lan (magnoliaceae) và họ máu chó (myristicaceae) tại xã thông thụ, thuộc khu bảo tồn thiên nhiên pù hoạt, nghệ an

71 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 4,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẬU ĐÌNH CƯỜNG NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT CỦA HỌ NGỌC LAN MAGNOLIACEAE VÀ HỌ MÁU CHÓ MYRISTICACEAE TẠI XÃ THÔNG THỤ, THUỘC KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PÙ HOẠT, NGHỆ AN LUẬN VĂN THẠC

Trang 1

ĐẬU ĐÌNH CƯỜNG

NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT CỦA HỌ NGỌC LAN (MAGNOLIACEAE) VÀ HỌ MÁU CHÓ (MYRISTICACEAE) TẠI XÃ THÔNG THỤ, THUỘC KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PÙ HOẠT,

NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ THỰC VẬT HỌC

Nghệ An, năm 2019

Trang 2

ĐẬU ĐÌNH CƯỜNG

NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT CỦA HỌ NGỌC LAN (MAGNOLIACEAE) VÀ HỌ MÁU CHÓ (MYRISTICACEAE) TẠI XÃ THÔNG THỤ, THUỘC KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PÙ HOẠT,

Trang 3

Thầy Cô, cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập nghiên cứu và thực hiện Luận văn thạc sĩ

Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Thầy giáo TS Nguyễn Anh Dũng,

Cô giáo TS Lê Thị Thúy Hà, những người đã hết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành Luận văn này Xin chân thành bày tỏ lòng biết

ơn đến toàn thể quý thầy cô trong Viện Sư phạm tự nhiên, phòng Sau đại học trường Đại học Vinh đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu

và cho đến khi thực hiện đề tài Luận văn

Cảm ơn tập thể Lãnh đạo và cán bộ, công chức, viên chức của Ban quản

lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt đã tạo điều kiện, hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

và thực hiện đề tài Luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh./

Nghệ An, ngày 10 tháng 8 năm 2019

HỌC VIÊN THỰC HIỆN

Đậu Đình Cường

Trang 4

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Những đóng góp mới của đề tài 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 3

Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 8

1.1 Họ Ngọc lan (Magnoliaceae) 8

1.2 Họ Máu chó (Myristicaceae) 14

1.3 Các nghiên cứu về họ Ngọc lan (Magnoliaceae) và họ Máu chó (Myristicaceae) 14 Chương 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 16 2.1 Điều kiện tự nhiên 16

2.1.2 Vị trí địa lý 16

2.1.1 Khí hậu thủy văn 16

2.1.2 Địa chất, thổ nhưỡng 17

2.2 Tình hình kinh tế và xã hội trong khu vực 18

2.3 Đánh giá chung về điều kiện dân sinh, kinh tế xã hội 19

2.3.1 Thuận lợi 19

2.3.2 Khó khăn 20

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21

3.1 Đa dạng về thành phần loài họ Ngọc lan (Magnoliaceae) và họ Máu chó (Myristicaceae) 21

3.2 Hiện trạng phân bố thực vật thuộc họ Ngọc lan (Magnoliaceae) và họ Máu chó (Myristicaceae) 26

3.3 Đa dạng về dạng sống 28

3.4 Đa dạng về yếu tố địa lý 29

3.5 Các loài thực vật thuộc họ Ngọc lan và Máu chó nguy cấp quý hiếm 31

3.5.1 Vàng tâm 31

Trang 5

3.7 Đề xuất giải pháp quản lý và bảo tồn thực vật thuộc họ Ngọc lan và họ Máu chó 48

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 51

1 Kết luận 51

2 Kiến nghị 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

PHỤ LỤC: 56

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

3 UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên

Hiệp Quốc

6 WWF Qu Quốc tế về Bảo vệ Thiên nhiên

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

TT Số hiệu

1 Bảng 1.1 Danh sách các loài thuộc bộ Ngọc lan trong danh lục của BTTN Pù Hoạt năm 2013 15

2 Bảng 3.1

Thành phần loài thuộc họ Ngọc lan (Magnoliaceae)

và họ Máu chó (Myristicaceae) tại xã Thông Thụ, huyện Quế Phong

22

3 Bảng 3.2

Thành phần loài, chi trong các họ của họ Ngọc lan (Magnoliaceae) và họ Máu chó (Myristicaceae) tại Việt Nam, Danh lục thực vật Khu BTTN Pù Hoạt năm 2013 và kết quả nghiên cứu năm 2019

24

4 Bảng 3.3 Danh lục các loài thực vật bổ sung cho Khu BTTN Pù Hoạt 25

5 Bảng 3.4

Tỷ lệ của các dạng sống thuộc cây chồi trên (Ph) của

họ Ngọc lan và Máu chó ở xã Thông Thụ 28

6 Bảng 3.5 Yếu tố địa lý của các loài trong họ Ngọc lan và Máu chó ở xã Thông Thụ thuộc Khu BTTN Pù Hoạt 29

7 Bảng 3.6

Kết quả điều tra phân bố loài Vàng tâm tại xã Thông

8 Bảng 3.7

Kết quả điều tra phân bố loài Giổi lông tại xã Thông

9 Bảng 3.8

Kết quả điều tra phân bố loài Giổi lụa tại xã Thông

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

TT Số hiệu

1 Hình 2.1 Bản đồ khu vực nghiên cứu, xã Thông Thụ, khu bảo

tồn thiên nhiên Pù Hoạt, tỉnh Nghệ An 19

2 Hình 3.1

Bản đồ hiện trạng rừng và tuyến thu mẫu các loài thực vật thuộc họ Ngọc lan và họ Máu chó tại xã Thông Thụ, huyện Quế Phong thuộc Khu BTTN Pù Hoạt (Tỷ lệ 1:10.000)

21

3 Hình 3.2

Bản đồ hiện trạng phân bố của các loài thực vật thuộc

họ Ngọc lan và họ Máu chó tại xã Thông Thụ, huyện Quế Phong thuộc Khu BTTN Pù Hoạt (Tỷ lệ

29

5 Hình 3.4

Tỷ lệ % các yếu tố địa lý của họ Ngọc lan và Máu chó

ở xã Thông Thụ, huyện Quế Phong thuộc Khu BTTN

33

7 Hình 3.6

Vàng tâm - Manglietia dandyi (Gagnep.) Dandy (họ

Ngọc lan - Magnoliaceae) tại xã Thông Thụ, huyện Quế Phong

Giổi lông - Michelia balansae (DC.) Dandy (họ Ngọc

lan - Magnoliaceae) tại xã Thông Thụ, huyện Quế Phong

38

10 Hình 3.9 Bản đồ phân bố Giổi xương tại xã Thông Thụ, huyện

Quế Phong năm 2019

40

11 Hình 3.10

Giổi xương - Paramichelia baillonii (Pierre) S Y

Hu (họ Ngọc lan - Magnoliaceae) tại xã Thông Thụ huyện Quế Phong

41

12 Hình 3.11 Bản đồ phân bố Giổi lụa tại xã Thông Thụ, huyện

Quế Phong năm 2019

44

13 Hình 3.12

Giổi lụa - Tsoongiodendron odorum Chun (họ Ngọc

lan - Magnoliaceae) tại xã Thông Thụ huyện Quế Phong

45

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Pù Hoạt nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Nghệ An, cách thành phố Vinh 180km, được chuyển đổi từ Ban Quản lý Rừng phòng hộ Quế Phong theo Quyết định số 1109/QĐ-UBND, ngày 02/04/2013 của

Uỷ ban Nhân dân tỉnh Nghệ An Sau khi thành lập đơn vị đã phối hợp với Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng Bắc Trung Bộ tiến hành quy hoạch bảo vệ và phát triển bền vững rừng đặc dụng và được UBND tỉnh Nghệ An phê duyệt tại Quyết định số 590/QĐ-UBND ngày 19/02/2014 Với diện tích quản lý 85.761,43 ha, trong đó rừng đặc dụng 34.589,89 ha, rừng phòng hộ 51.171,54 ha, Khu BTTN Pù Hoạt là một trong 3 khu rừng đặc dụng nằm trong “Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An”, là nơi có giá trị đa dạng sinh học cao chứa đựng nhiều hệ sinh thái, cảnh quan, đa dạng loài và đa dạng nguồn gen Tuy nhiên công tác điều tra nghiên cứu khoa học vẫn chưa được sự quan tâm thích đáng, các chương trình nghiên cứu khoa học chưa có sự đầu tư chuyên sâu mà chỉ thực hiện ở mức độ chuyên đề nhỏ như năm 2013 có nghiên cứu đa dạng động, thực vật tại Khu BTTN Pù Hoạt [2]; năm 2014, chuyên đề nghiên cứu phân bố và đặc tính sinh thái của loài Sa mu dầu [3] và năm 2015 có chuyên đề nghiên cứu phân

bố loài Lùng trong rừng đặc dụng [4]

Họ Ngọc lan (Magnoliaceae) và Máu chó (Myristicaceae) là hai trong số

ba họ thực vật thuộc bộ Ngọc lan (Magnoliales) có phân bố ở nước ta nhưng hệ thống cơ sở dữ liệu và hiểu biết về đa dạng loài, đặc tính sinh thái, phân bố và tình trạng bảo tồn của các loài trong các họ này tại Khu BTTN Pù Hoạt còn rất ít

ỏi Đặc biệt trong những thập niên gần đây cùng với sự công nghiệp hóa và tăng trưởng về dân số áp lực lên tài nguyên rừng đặc biệt những loài thực vật quý hiếm có giá trị làm gỗ, dược liệu ngày một mạnh mẽ, trong đó có các loài thuộc

họ Ngọc Lan (Magnoliaceae) và Máu chó (Myristicaceae)

Trang 10

Xã Thông Thụ thuộc Khu BTTN Pù Hoạt, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ

An là nơi có nguồn tài nguyên sinh học đa dạng Tại đây có nhiều loài thực vật quý hiếm như: Giổi, Vàng Tâm, Pơ Mu, Sa Mu Dầu, Táu Mật, Sến Mật… Do điều kiện kinh tế - xã hội của người dân còn nhiều khó khăn, phong tục tập quán còn lạc hậu, đời sống kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông - lâm nghiệp là chính, một số hộ dân còn tùy thuộc vào tài nguyên rừng cùng với sự khai thác buôn bán trái phép các loài thực vật quý hiếm dẫn đến nguồn tài nguyên thực vật ngày càng bị suy giảm trong đó có các loài thuộc họ Ngọc lan và họ Máu chó Vì vậy cần có những công trình nghiên cứu nhằm cung cấp những dẫn liệu về họ Ngọc lan (Magnoliaceae) và Máu chó (Myristicaceae) ở Khu BTTN Pù Hoạt góp phần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về thành phần loài, đặc điểm hình thái, sinh thái, sinh vật học và phân bố của chúng phục vụ cho công tác bảo tồn, khai thác hợp lí và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng ở Khu BTTN Pù Hoạt

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài; “Nghiên cứu tính đa dạng thực vật của họ Ngọc lan (Magnoliaceae) và họ Máu chó (Myristiaceae) tại xã Thông thụ, thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, Nghệ An”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Xác định được thành phần loài thực vật của họ Ngọc lan (Magnoliaceae)

và họ Máu chó (Myristicaceae) tại xã Thông Thụ, thuộc Khu BTTN Pù Hoạt,

Trang 11

Toàn bộ các loài thực vật của họ Ngọc lan (Magnoliaceae) và họ Máu chó (Myristicaceae) tại xã Thông Thụ mang tính đại diện cho hệ thực vật của Khu BTTN Pù Hoạt

4 Những đóng góp mới của đề tài

- Bổ sung vào Danh lục thành phần các loài thực vật thuộc họ Ngọc lan và

họ Máu chó tại xã Thông Thụ, thuộc Khu BTTN Pù Hoạt

- Cung cấp những dẫn liệu của các loài về dạng sống, phân bố và các yếu

tố địa lý thực vật

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Lập danh lục thành phần loài thực vật của họ Ngọc lan (Magnoliaceae)

và họ Máu chó (Myristicaceae) tại xã Thông Thụ, thuộc Khu BTTN Pù Hoạt,

Nghệ An

- Phân tích tính đa dạng họ Ngọc lan (Magnoliaceae) và họ Máu chó (Myristicaceae) về các mặt như phân loại học, dạng sống, yếu tố địa lý và phân

bố của các loài

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nghiên cứu tài liệu

Thu thập tất cả các tài liệu có liên quan đến đối tượng nghiên cứu Tìm hiểu k đối tượng nghiên cứu trước khi điều tra thực địa, để công tác điều tra ngoại nghiệp được hiệu quả nhất, tiết kiệm chi phí và sức lực nhất

6.2 Điều tra thực địa

Sử dụng phương pháp điều tra theo tuyến rộng 2 m chạy qua tất cả các sinh cảnh nhằm thu k hết các loài thực vật có ở trên sinh cảnh Tuyến được vạch sẵn trên bản đồ địa hình, được lựa chọn dựa trên các đường mòn có sẵn

để dễ tiếp cận khu vực hơn Các tuyến điều tra có chiều dài không giống nhau được xác định đảm bảo đi qua tất cả các trạng thái rừng để điều tra xác định tất cả các loài cây thuộc họ Ngọc lan và họ Máu chó theo các nội dung đề ra

6.3 Phương pháp thu mẫu và định loại

Trang 12

Thu mẫu và xử lý mẫu: Thu mẫu và xử lý mẫu theo nguyên tắc của

Nguyễn Nghĩa Thìn (2008) [8]

- Mẫu được xử lý ngay sau khi đem về nhà, loại bỏ phần dập nát, sâu, nếu

có nhiều cành lá thì chỉ giữ lại những cành lá, hoa, quả đặc trưng nhất Nên cắt mỏng quả để ép giữ lại phần quả có cuống Sau đó đặt lên tờ báo có kích thước lớn gấp đôi mẫu Xếp mẫu lên giấy theo nguyên tắc:

- Có lá sấp, lá ngửa để có thể quan sát cả hai mặt

- Không để các bộ phận đè lên nhau

- Các mẫu có đầy đủ hoa, quả (quả nhỏ) thì cần giữ đầy đủ hoa quả

- Không xếp tất cả các mẫu ở giữa vỉ vì khi ép mẫu như vậy bó mẫu sẽ quá dày ở giữa

- Sau khi đã ép mẫy giáy báo ta gập ½ tờ báo còn lại lên trên mẫu, cho mẫu vào cặp ép và lót đến 2-3 tờ báo ở phía ngoài Dùng dây buộc chặt đem phơi nắng và sấy khô

Sấy mẫu: Mẫu sau khi ép đã được sấy ngay Khi sấy để mẫu dựng đứng để

nước bốc hơi dễ dàng và mẫu chóng khô Hàng ngày tiến hành thay giấy báo mới cho mẫu chóng khô

Xác định và kiểm tra tên khoa học: Phương pháp dùng để nghiên cứu

phân loại là phương pháp hình thái so sánh Đây là phương pháp nghiên cứu truyền thống nhưng vẫn là phương pháp thông dụng được sử dụng hiện nay Trong phương pháp này chúng tôi dựa trên các đặc điểm của cơ quan sinh dưỡng

và cơ quan sinh sản để nghiên cứu trong đó chủ yếu dựa vào cơ quan sinh sản như

vị trí cụm hoa, cấu tạo của hoa…

Tài liệu chính dùng trong quá trình xác định tên khoa học là Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ (1999) [6],[7]

Lập danh lục thành phần loài: Danh lục thành phần loài được sắp xếp

theo Brummitt (1992)

6 4 Phương pháp đánh giá tính đa dạng

Trang 13

Sau khi xác định được tên khoa học của các loài họ Ngọc lan và họ Máu chó, tác giả tiến hành thống kê, phân tích và đánh giá sự đa dạng của họ Ngọc lan và họ Máu chó về các mặt như phân loại học, dạng sống, yếu tố địa lý và phân bố của các loài

- Đa dạng về các yếu tố địa lý thực vật: Việc thiết lập phổ các yếu tố địa

lý, áp dụng sự phân chia của các tác giả Nguyễn Nghĩa Thìn (2008)

1 Yếu tố toàn thế giới

2 Yếu tố liên nhiệt đới

2.1 Yếu tố nhiệt đới châu Á, châu Úc và châu M

2.2 Yếu tố nhiệt đới châu Á, châu Phi và châu M

2.3 Yếu tố nhiệt đới châu Á và châu M

3 Yếu tố cổ nhiệt đới

3.1 Yếu tố nhiệt đới châu Á và châu Úc

3.2 Yếu tố nhiệt đới châu Á và châu Phi

4 Yếu tố nhiệt đới châu Á (Ấn Độ - Malêzi)

4.1 Yếu tố lục địa Đông Dương - Malêzi

4.2 Lục địa châu Á nhiệt đới

4.3 Yếu tố lục địa Đông Nam Á (Đông Dương - Himalaya, trừ Malêzi

và Ấn Độ)

4.4 Đông Dương - Nam Trung Quốc

4.5 Đặc hữu Đông Dương

5 Yếu tố Ôn đới Bắc

5.1 Ôn đới Đông Á - Bắc M

5.2 Ôn đới cổ thế giới

5.3 Ôn đới Địa Trung Hải - châu Âu - châu Á

5.4 Đông Á

6 Đặc hữu Việt Nam

6.1 Cận đặc hữu Việt Nam

Trang 14

7 Các loài cây trồng

8 Yếu tố chưa xác định

Xây dựng yếu tố địa lý thực vật: Sau khi đã phân chia các loài thuộc vào

từng yếu tố địa lý thực vật, chúng ta tiến hành lập phổ các yếu tố địa lý để dễ dàng so sánh và xem xét cấu trúc các yếu tố địa lý thực vật giữa các vùng với nhau

Thông tin về dạng sống của các loài được xác định qua các bộ thực vật chí đã kể trên và các tài liệu chuyên khảo thực vật khác Dạng sống của các loài được xác định theo thang phân loại dạng sống của Raukiaer (1934) chi tiết như sau:

1 Nhóm cây chồi trên (Phanerophytes - Ph) - Gồm những cây gỗ, dây

leo, kể cả cây bì sinh, ký sinh và bán ký sinh có chồi trên đất, nằm cách mặt đất

25 cm trở lên, chia ra làm các loại sau:

1-1 Cây chồi trên to (Mega - phanerophytes - Mg) - Cây gỗ cao từ 25 m

trở lên như Sâng, Chò chỉ, Lim,…

1-2 Cây chồi trên nhỡ (Meso - phanerophytes - Me) - Cây gỗ cao từ 8-25

m như: Gội, Sung, Máu chó, Trường,…

1-3 Cây chồi trên nhỏ (Micro - phanerophytes - Mi) - Cây gỗ cao từ 2-8

m như Chòi mòi, Dâu da, Ngái, Mận, Đào,…

1-4 Cây chồi trên lùn (Nano - phanerophytes - Na) - Cây gỗ nhỏ, bụi,

nửa bụi, cây hoá gỗ, cỏ cao từ 25-200 cm như một số loài trong họ Cà phê, Thầu dầu, Ô rô, Gai, dưới tán rừng hay các loài như Bồng bồng, Dứa m , Hoa hồng, Nhài,…

1-5 Cây bì sinh (Epiphytes - Ep) - Các loài cây bì sinh sống lâu năm trên

thân, cành, cây gỗ, trên vách đá, như các loài thuộc Dương xỉ, Phong lan,…

1-6 Cây sống ký sinh hoặc bán ký sinh (Parasit - Hemiparasit -

phanerophytes - Pp - Cây sống ký sinh hoặc bán ký sinh trên cây gỗ như Tầm gửi, Tơ xanh, Tơ hồng, một vài loài thuộc chi Hoya trong họ Thiên Lý

Trang 15

1-7 Cây mọng nước (Succulentes - Suc) - Cây chồi trên mọng nước,

thường có nước và chất dinh dưỡng được tích trữ ở thân như Xương rồng, thuốc bỏng,…

1-8 Cây dây leo (Liano - phanerophytes - Lp) - Cây leo, thân hoá gỗ có

chồi trên leo quấn như Kim ngân, Bàm bàm, Mã tiền, Vằng,…

1-9 Cây chồi trên thân thảo (Herbaces phanerophytes - Hp) - Cây chồi

trên thân không có chất gỗ, sống lâu năm

Việc xây dựng bản đồ phân bố các loài thuộc họ Ngọc lan và họ Máu chó dựa trên nguyên tắc thu thập tọa độ địa điểm bắt gặp và thu mẫu các loài thông qua máy định vị GPS, sau đó chồng xếp lên bản đồ nền vùng nghiên cứu với tỷ

lệ 1:10.000 hệ tọa độ VN 2000

6.5 Xử lý số liệu

Từ các số liệu điều tra thực địa, tác giả sử dụng phương pháp thống kê để

xử lý số liệu thu thập được

Trang 16

Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Bộ Ngọc lan (Magnoliales) là nhóm thực vật nguyên thủy trong Ngành Hạt kín (Angiospermae) Bộ có đặc điểm: Thường là cây gỗ hay cây bụi, bản ngăn mạch thủng lỗ hình thang hay thủng lỗ đơn Lá đơn nguyên, mọc cách, gân lông chim, khí khổng dạng sọng bào Hoa to đơn lẻ đều, lưỡng tính hoặc đơn tính, thụ phấn nhờ côn trùng Các bộ phận trong hoa nhiều, rời (hoặc ít khi hợp) thường chưa phân hóa rõ, xếp trên đế hoa lồi Chỉ nhị dẹp, 3 gân Hạt phấn 2 tế bào, 1 rãnh ở lưng Lá noãn gấp đôi, thường chứa 2-6 noãn, đầu nhụy ven theo mép Noãn đảo, 2 lớp vỏ, phôi tâm dày, đính noãn mép Quả kép hoặc quả đơn, dạng quả thịt, đại hoặc nang mềm đôi khi dạng quả kín có cánh Hạt có nội nhũ

to, nhiều dầu, phôi nhỏ Bộ Ngọc lan mang nhiều đặc điểm nguyên thủy đứng gần nhất với tổ tiên của ngành Hạt kín [18]

1.1 Họ Ngọc lan (Magnoliaceae)

Họ Ngọc lan (Magnoliaceae) là một trong những nhóm thực vật có hoa (flowering plant) sớm nhất và đóng vai trò then chốt trong việc hình thành các khái niệm về hoa trong ngành thực vật Hạt kín (Angiospermae) Họ có khoảng trên 300 loài, phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và ôn đới của Đông Nam Á (4/5) và phần còn lại thuộc về Châu M Latinh (1/5) [11] Họ được đặc trưng bởi các đặc điểm nguyên thủy như bao hoa chưa phân hóa hay phân hóa chưa rõ ràng, số lượng nhiều và rời, nhị và nhụy hoa nhiều, rời và sắp xếp thành hình xoắn ốc trên đế hoa hình nón thuôn dài Các loài trong họ Ngọc lan có dạng thân

gỗ hoặc bụi, thường xanh, có tán lá đẹp, hoa có kích cỡ lớn, đa dạng về màu sắc, hương rất thơm, gỗ thơm và mịn, hạt nhiều loài có thể dùng làm gia vị và làm thuốc Với những tính chất quan trọng trên, họ Ngọc lan đã và đang được nhiều nhà khoa học trong các lĩnh vực khác nhau như hình thái, tế bào, cổ sinh vật, phân tử, hệ thống, cảnh quan… quan tâm nghiên cứu

Trang 17

1.1.1 Đặc điểm họ Ngọc lan

Cây gỗ lớn, nhỡ hay nhỏ Thân thường có tế bào chứa tinh dầu thơm Cành non thường màu xanh Lá đơn, mép nguyên, ít khi xẻ thuỳ, mọc cách Lá kèm to, bao chồi, hình búp, khi rụng để lại vết sẹo vòng quanh cành Hoa tự đơn

lẻ ở nách lá hoặc đầu cành Hoa to, đều, lưỡng tính Bao hoa chưa phân hoá rõ, đài và tràng xếp lợp Nhị nhiều rời, chỉ nhị ngắn, bao phấn thuôn dài Nhuỵ gồm nhiều lá noãn rời khép kín nhưng chưa rõ bầu, vòi và đầu nhuỵ Các bộ phận của hoa đều xếp xoắn ốc trên đế hoa lồi Quả đại kép gồm nhiều đại rời xếp cạnh nhau Hạt có dây rốn dài, chứa phôi nhũ dầu

1.1.2 Nghiên cứu phân loại họ Ngọc lan trên Thế giới

Năm 1703, Charles Plumier (1646-1704) đã công bố một loài mới

(Magnolia plumierii) ở miền Tây Ấn (West Indian species) trên “Plantarum

Americanarum Genera 38” để ghi nhận những công lao khoa học cho nhà thực vật học người Pháp – Pierre Magnol (1638-1715), một giáo sư về cây thuốc,

đồng thời làm giám đốc vườn thực vật ở Montpellier, Pháp Tên Magnolia sau

đó được nhà thực vật học người Thụy Điển Carolus Linnaues (1707-1788) sử dụng trong tác phẩm „Genera Plantarum I, 1937‟ để mô tả cho loài thực vật ở

Bắc M (Magnolia glauca) sau này được chuẩn hóa với tên Magnolia

virginiana L Đó là sự xuất hiện và ra đời chính thức của tên Magnolia và sau

này chính là tên của họ Ngọc lan – Magnoliaceae [10]

Tiếp sau đó, Linnaeus (1753) trong tác phẩm „Species Plantarum‟ đã đề

cập tới 8 loài thuộc 3 chi, đó là: Liriodenron L (L tulipfera L.), Magnolia L (M virginiana L., M.glauca L., M.foetida L., M.grisea L., M tripetala L.,

M.acuminata L.) và Michelia L (M.chamaca L.) Joanniis de Loureiro (1790)

tiếp tục mô tả 3 loài mới từ Ma Cao, Trung Quốc trong „Flora Cochichinensis‟:

Liriodendron liliifera, L figo và L.coco [22]

Augustin Pyramus De Candolle (1824) trong công trình „Prodromus Systematis Naturalis‟ đã đưa ra hệ thống cho Magnoliaceae với 2 tông, 9 chi

Trang 18

Spach (1939) trong công trình „Histore Naturelle Végétaux: Phanérogames VII‟

đã đề xuất hệ thống mới cho Magnoliaceae, trong đó có 4 chi mới (Lirianthe,

Liriopsis, Tulipastrum, Yulamia) Sau đó, Siebold & Zaccuarinii (1845) thiết lập

thêm chi Buergeria Siebold & Zucc Bentham and Hooker (1862) trong „Genera

Plantarum‟ đã tiếp tục sử dụng hệ thống với các chi truyền thống D H Baillon (1866) trong „Recueil périodique D‟ observations Botaniques: Mesnoire sur la

Famille des Magnolicées‟ cho rằng các dấu hiệu để tách biệt các chi Magnolia,

Manglietia, Michelia và Talauma là quá yếu và ông đã đề xuất hệ thống rút gọn

gồm 2 chi như sau: Magnolia L và Liriodendron L [24]

Tiếp sau này, có một số các tác giả cũng đã đề cập đến hệ thống của họ Magnoliaceaea, trong đó cũng có một vài sai khác trong việc sử dụng vị trí của các chi hay nhánh trong hệ thống (Miquel, 1868; George King, 1891; Paul Parmentier, 1895) [24]

Năm 1927, trong công trình „The Genera of Magnoliacae‟ (Kew Bull 7:257-264), Jame Edgar Dandy, nhà thực vật học xuất chúng người anh đã lần đầu tiên phát hiện ra các đặc trưng đối lập ở một vài taxa, dựa trên các đặc điểm

truyền thống của các chi đã biết trước là Talauma (quả có kiểu mở đặc biệt, hoa đầu cành), Magnolia (hai noãn/ lá noãn, hoa đầu cành), Manglietia (trên 4 noãn /

lá noãn, hoa đầu cành) và Michelia (hoa mọc nách lá), đã công bố thêm 4 chi mới đó là: Alcimandra (vị trí hoa đầu cành giống Magnolia, nhưng nhụy lại có cuống giống Michelia), Pachylarnax (quả mở đặc biệt giống Talauma, số noãn giống Manglietia), Elmerrillia (vị trí hoa ở nách lá giống Michelia, nhưng nhụy lại không có cuống như Magnolia) và Kmeria (hoa đơn tính khác gốc và tâm bì

mở bụng) và giới thiệu hệ thống 10 chi dựa trên hệ thống 4 chi của Bentham và

Trang 19

Manglietiastrum Law vào Magnolia L.; gộp các chi Paramichelia Hu, Tsoongiodendron Chun và Alcimandra Dandy vào Michelia L Theo cách này

phân họ Magnolioideae chỉ còn 6 chi [23]

Các tác giả của các hệ thống khác nhau đều đồng ý về sự phân tách giữa 2 phân họ rõ ràng trong Magnoliaceae, đó là: (1) Liriodendroideae và (2)

Magnolioideae; trong đó phân họ Liriodendroideae, chỉ với hai loài là L

tulipiera L và L chinense (Hemsl.) Sarg., có sự khác biệt nổi bật với

Magnolioideae bởi các đặc điểm như: Phiến lá phân thành 2-10 thùy, bao phấn

mở hướng ngoài, sớm rụng, quả có cánh, không mở khi chín Những nghiên cứu

về phân tử gần đây (Chase et al., 1993; Quy et al., 1993; Ueda et al., 2000) cũng

đều khẳng định sự tách rời của hai phân họ này Phân họ Magnolioideae vẫn tồn tại nhiều quan điểm hệ thống khác nhau vì vậy cần có sự nghiên cứu tiếp theo về phân tử và hình thái để có những khẳng định chắc chắn hơn về vị trí của các taxon trong loại bậc kế tiếp [11], [12], [29]

1.1.3 Nghiên cứu họ Ngọc lan ở Việt Nam

Việt Nam được biết đến như là một trong những nước có độ phong phú và tính đa dạng thực vật cao do những đặc trưng về vị trí, địa lý và địa hình cũng như do nằm giữa vị trí lai tạp và giao lưu của nhiều luồng thực vật khác nhau đến từ phương Bắc là Nam và Tây Nam của Trung Hoa, từ phía Nam là In-đô-nê-xi-a và Ma-lai-xi-a, và từ phía Tây là Ấn Độ, Miến Điện và Thái Lan Mặc

dù được lợi thế trên, việc nghiên cứu và khám phá từ thế giới tự nhiên vẫn còn rất hạn chế, đặc biệt trong lĩnh vực thực vật và phân loại thực vật Họ Ngọc lan cũng không nằm ngoài tình cảnh chung như trên, bằng chứng là rất nhiều loài hiện đang được sử dụng rộng rãi nhưng vẫn bị mù mờ về tên khoa học cũng như

sự lẫn lộn trong việc sử dụng tên địa phương, trong khi nhiều loài trong tự nhiên vẫn chưa một lần được đặt tên cho khoa học

Nghiên cứu sớm nhất công bố về loài thuộc chi Mộc lan Magnolia tại

Việt Nam là của Loureiro, nhà truyền giáo và tự nhiên học người Bồ Đào Nha,

Trang 20

trong đó lần đầu tiên đã ghi nhận và mô tả loài Hoa dạ hợp Liriodendron coco Lour và ghi nhận loài Hoa sứ nam Michelia champaca L (đã được sắp xếp lại vào chi Magnolia) cho hệ thực vật Việt Nam (Cochinchina) [22] Sau đó, Dandy

(1928; 1929; 1930) đã mô tả mới và ghi nhận được 18 loài thuộc họ Ngọc lan

cho Việt Nam, trong đó có những loài thuộc chi Mộc lan Magnolia như M

annamensis, M talaumoides, Gagnepain (1938; 1939) mô tả 2 loài

(Manglietia blaoensis, Michelia braianensis, hiện nay đã được sắp xếp lại vào chi Mộc lan), và 2 thứ mới thuộc chi Mộc lan Magnolia (M annamensis Dandy var affinis, và M eriostepta Dandy var poilanei) cho khoa học từ các mẫu thu ở

Việt Nam [16], [17], [18] Tính tới thời điểm này, Gagnepain đã ghi nhận được trên 30 loài và thứ thuộc họ Ngọc lan cho hệ thực vật Việt Nam trong đó nhiều loài thuộc chi Mộc lan [20], [21] Phạm Hoàng Hộ (1991) đã mô tả 44 loài thuộc

8 chi (Kmeria (Pierre) Dandy: 1 loài, Liriodendron L.: 1 loài, Magnolia L.: 11 loài, Manglietia Blume: 9 loài, Michelia L.: 19 loài, Pachylarnax Dandy: 1 loài,

Paramichelia S.Y.Hu: 1 loài, và Tsoongiodendron Chun: 1 loài) trong họ

Magnoliaceae [6] Năm 1999, thêm 7 loài thuộc chi Magnolia đã được bổ sung thêm, đưa số lượng loài thuộc chi này lên 18 [7] Nguyễn Tiến Bân (2003) ghi

nhận 46 loài, và 3 thứ thuộc 9 chi cho hệ Ngọc lan ở Việt Nam (Alcimandra Dandy: 1 loài, Kmeria: 1 loài, Liriodendron: 1 loài, Magnolia: 12 loài & 2 thứ,

Manglietia: 9 loài, Michelia: 18 loài & 1 thứ, Pachylarnax: 1 loài, Paramichelia: 2 loài, Tsoongiodendron: 1 loài) [1] Võ Văn Chi (2004) đã ghi

nhận 18 loài thực vật thông dụng trong 7 chi (Liriodendron: 1 loài, Magnolia: 3

loài, Manglietia: 4 loài, Michelia: 6 loài, Pachylarnax: 1 loài, Paramichelia: 2 loài, Tsoongiodendron: 1 loài) thuộc họ Ngọc lan Khi nghiên cứu về phân loại

các loài trong họ Ngọc lan ở Việt Nam, Vũ Quang Nam (2011) đã mô tả 5 loài mới cho khoa học, bổ sung 12 loài, hiệu chỉnh một loạt các taxon trong họ Ngọc lan ở Việt Nam Võ Văn Chi (2012) công bố 15 loài có giá trị làm thuốc thuộc 5

chi (Liriodendron: 1 loài, Magnolia: 2 loài, Manglietia: 3 loài, Michelia: 7 loài,

Trang 21

Paramichelia: 2 loài) trong họ Ngọc lan ở Việt Nam Hiện nay nhiều loài thuộc

các chi khác trong họ Ngọc lan đã được sắp xếp lại hoặc được đề nghị xếp vào chi Mộc lan, căn cứ trên những nghiên cứu k lưỡng về hình thái và phân tử làm tăng số lượng loài thuộc chi Mộc lan [13], [14], [15] Như đã trình bày ở trên, hiện tồn tại song song các quan điểm khác nhau về hệ thống phân loại các bậc taxon trong họ Ngọc lan và trong chi Mộc lan Trong đề tài này chúng tôi lựa chọn việc gộp các taxon của phân họ Magnolioideae thành chi Magnolia trong việc xác định tên khoa học của chi Mộc lan ở Việt Nam Điều này cũng phù hợp với quan điểm của The Plant List hiện nay sử dụng nghĩa rộng đối với chi Mộc lan

Nhiều loài mới cho khoa học thuộc chi Ngọc lan được phát hiện tại Việt

Nam trong những năm gần đây như Dạ hợp bidoup M bidoupensis Q.N.Vu [26], Mỡ lông dày Manglietia crassifolia [29] - loài này sau đó được đề nghị chuyển tên thành Magnolia fansipanensis [14], Ngọc lan cát tiên M cattiensis Q.N.Vu [25], Ngọc lan tiếp, giổi lá to M tiepii V.T Tien, N.V Duy & V.D Luong, Dạ hợp lâm đồng M lamdongensis V.T Tran, N.V Duy & N.H Xia

[27] Bên cạnh đó, một số loài thuộc chi Mộc lan được ghi nhận có phân bố ở

Việt Nam như Giổi bắc M macclurei (Dandy) Figlar (syn Michelia macclurei Dandy) (Vũ Quang Nam và cộng sự, 2011), Dạ hợp hồng kông M championii

Benth (Vũ Quang Nam, Bùi Thế Đồi 2013) Từ Bảo Ngân và cộng sự (2015) đã ghi nhận 4 loài và 1 thứ thuộc chi Mộc lan bổ sung cho hệ thực vật Việt Nam

gồm: Giổi lá to, giổi na M grandis (Hu & W C Cheng) V S Kumar, Giổi hồng M hongheensis (Y.M Shui & W.H Chen) V.S Kumar, Giổi móc, Đa-xia

M hookeri var longirostrata D X Li & R Z Zhou, Giổi lá dai, giổi đá M coriacea (Hung T Chang & B.L Chen) Figlar (syn Michelia coriacea), và Giổi

quảng tây, giổi quả tròn, miên mộc M kwangsiensis Figlar & Noot (syn

Woonyoungia septentrionalis) Tính tới nay, khoảng 60 loài trong chi Mộc lan

Trang 22

đã được mô tả và ghi nhận ở Việt Nam, chứng tỏ rằng chi Mộc lan ở Việt Nam

là khá đa dạng về thành phần loài

1.2 Họ Máu chó (Myristicaceae)

Họ Máu chó có đặc điểm thường là cây nhỡ hay nhỏ, thân thường có tế bào chứa dầu thơm và nhiều nhựa màu đỏ vàng Khi lớn cây thường có múi tròn dọc thân Lá đơn mép nguyên, mọc cách, không có lá kèm

Hoa đơn tính khác gốc, hoa tự xim hoặc mọc cụm ở nách lá Hoa đực có 3 cánh đài, ít khi 2-5; không có tràng; nhị nhiều hợp thành ống hình trụ hay đĩa, bao phấn đính trên ống hoặc đĩa Hoa cái cũng không có tràng, bầu trên, 1 ô, 1 noãn

Quả đại đơn, nứt theo 1 đường Hạt có vỏ giả nguyên hoặc xẻ sợi bao bọc

Họ gồm 8 chi 100 loài phân bố chủ yếu ở nhiệt đới

Theo tài liệu Danh lục các loài thực vật Việt Nam (tập 2, 2003), Việt Nam

có 3 chi và khoảng 22 loài [1] Số loài trong họ Máu chó không nhiều, tuy nhiên tại Việt Nam loài thường chiếm hệ số tổ thành cao trong các rừng kín thường xanh nhiệt đới núi thấp Cây trong họ Máu chó xuất hiện hiện ở hầu hết các trạng thái rừng, thường gặp ở các rừng thứ sinh đang phục hồi Cây trong họ Máu chó có khả năng tái sinh tự nhiên tốt Gỗ của các loài trong họ Máu chó có thể sử dụng làm các đồ gia dụng, gỗ bao bì, vỏ giả có thể làm thực phẩm Hạt làm thuốc trị ghẻ rất hiệu quả

Các công trình nghiên cứu chuyên sâu về họ Máu chó ở Việt Nam, hiện không nhiều, chủ yếu là tập chung thống kê và phân loại một số loài đại điện của Việt Nam, trong các tài liệu của Phạm Hoàng Hộ (1999) [7], Nguyễn Tiến Bân (2003) [1]

1.3 Các nghiên cứu về họ Ngọc lan (Magnoliaceae) và họ Máu chó (Myristicaceae) tại Khu BTTN Pù Hoạt

Do khu bảo tồn mới thành lập nên các nghiên cứu chuyên sâu về các họ thực vật triển khai trực tiếp tại khu BTTN Pù Hoạt còn khá hạn chế Trong tài

Trang 23

liệu "Bảo tồn cảnh quan hệ sinh thái đa dạng loài và gen, đa dạng văn hóa truyền thống" của vùng Tây Nghệ An đã xác định được phân bố và các kiểu thảm thực vật, cũng như các luồng di cư thực vật chủ yếu của Pù Hoạt và đã xây dựng được danh lục thực vật với 763 loài thuộc 427 chi, 124 họ Trong đó bộ Ngọc lan có 3 họ, 12 chi, 18 loài, họ Ngọc lan có 4 chi 7 loài, họ Máu chó có 2 chi và

3 loài [2] (thông tin cụ thể trong bảng 1.1.) Đây chỉ là kết quả điều tra thống kê thành phần loài ban đầu, nên chắc chắn còn nhiều thông tin trong danh lục cần làm rõ hoặc cập nhật thêm các loài mới phát hiện cho Khu bảo tồn Ngoài các kết quả nghiên cứu trên, các thông tin về đặc tính sinh học, sinh thái học, phân

bố của thực vật thuộc họ Ngọc lan (Magnoliaceae) và họ Máu chó (Myristicaceae) còn thiếu hoặc rất chung chung Việc làm rõ các thông tin này, nhằm xây dựng các giải pháp bảo tồn thực vật thuộc bộ Ngọc lan tại Pù Hoạt là việc làm cấp thiết hiện nay

Bảng 1.1: Danh sách các loài thuộc bộ Ngọc lan trong danh lục của BTTN

Pù Hoạt năm 2013

1 Hoa trứng gà Magnolia coco (Lour.) DC

2 Mỡ phú thọ Manglietia chevalieri Dandy

4 Vàng tâm Manglietia fordiana Oliv

5 Giổi lông Michelia balansae (A.DC.) Dandy

6 Giổi xanh Michelia mediocris Dandy

7 Giổi nhung Paramichelia braianensis (Gagnep.) Dandy

1 Sang máu quả đỏ Horsfieldia amygdalina (Wall) Warb

2 Máu chó lá nhỏ Knema conferta Warb

3 Máu chó lá lớn Knema pierrei Warb

Trang 24

Chương 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI TẠI KHU

VỰC NGHIÊN CỨU 2.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1 Vị trí địa lý

Xã Thông Thụ là một xã biên giới cách thị trấn Quế Phong 45 km về phía Tây Bắc có đường Quốc lộ 48B đi qua dẫn lên cửa khẩu Thông Thụ, có 29,5 km giáp với Cụm Viêng Phăn – huyện Sầm Tớ - Lào từ cột mốc 358 đến 366 nhiều đường tiểu mạch qua lại biên giới thuận lợi cho việc giao thương hàng hóa phát triển kinh tế, xã hội

Tọa độ địa lý:

- Từ 190 43‟ 57” đến 190 59‟ 35” độ Vĩ Bắc

- Từ 1040 49‟ 49” đến 1050 02‟ 44” độ Kinh Đông

Ranh giới:

- Phía Bắc giáp với tỉnh Thanh Hóa

- Phía Nam giáp với xã Hạnh Dịch và xã Tiền Phong thuộc huyện Quế Phong

- Phía Tây giáp với xã Nậm Táy, huyện Sầm Tớ - Nước CHDC Nhân Dân Lào

- Phía Đông giáp với xã Đồng Văn thuộc huyện Quế Phong

2.1.2 Khí hậu thủy văn

Với đặc điểm vị trí địa lý của khu vực tiếp giáp giữa Việt – Lào mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều, có độ ẩm cao, đồng thời bị chi phối bởi đặc trưng của khí hậu miền Trung với những đặc điểm riêng của thời tiết miền núi phía Tây Bắc xứ Nghệ Trong năm có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa

từ tháng 4 đến tháng 9 và mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ cao nhất trong năm vào khoảng 400C, nhiệt độ thấp nhất trong năm khoảng 50

C, nhiệt độ bình quân hàng năm vào khoảng 26,50C Lượng mưa bình quân hàng

Trang 25

năm 1.549 mm, năm cao nhất 2.346 mm, năm thấp nhất 1.268 mm Độ ẩm trung bình trong năm khoảng 85%, cao nhất trong năm 90%, thấp nhất trong năm 70% Có 2 hướng gió chính là gió phơn tây nam (gió Lào) thổi từ tháng 4 đến tháng 10 thường gây khô hạn và gió mùa đông bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau thường gây giá rét, gây sương muối nhiều Xã Thông Thụ là vùng đầu nguồn của hệ sông: Sông Chu bắt nguồn từ phía Tây Pù Hoạt (Lào) với tên là Nậm Xam chảy qua huyện Hủa Phăn vào Việt Nam với tên là sông Chu Hệ suối chính kể trên chảy từ Tây Bắc xuống Đông Nam, cách nhau từ 10-25 km Dòng chảy mạnh, thường xuyên có nước cả mùa khô, mật độ suối nhánh từ 2-4 km/suối Do địa hình chia cắt sâu, đôi chỗ do đứt gẫy mạnh đã hình thành nên nhiều thác nước trong khu vực nghiên cứu [9]

2.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng

Xã Thông Thụ, huyện Quế Phong có cấu trúc địa chẩt rất phức tạp, với nhiều loại đá có tuổi trên 2 triệu năm: Đá cổ sinh (Paleozoi), đá trung sinh (Mezozoi) phát triển khá rộng rãi trên khu vực và ít hơn là đá tân sinh (Cenozoi) Khu vực đã hình thành các tiểu vùng lập địa có nhiều đặc thù riêng biệt như vùng núi cao dốc, có xen lẫn những vùng đất thấp giữa núi, những thung lũng hẹp và sâu Mặc dù ở kiểu địa hình nào thì các sườn núi trong khu vực đều có độ dốc khá lớn, đất đai chưa bị thoái hoá [9]

Do ảnh hưởng của cấu trúc địa hình, đặc điểm địa chất, đá mẹ, của khí hậu, thực bì che phủ và tác động của con người đã tạo cho Khu BTTN Pù Hoạt

có sự phong phú và đa dạng về đất đai với sự xuất hiện các nhóm đất chính sau [9]:

- Nhóm dạng đất mùn Alít trên núi cao (H): Phân bố ở độ cao >1.700m, nhóm dạng này có rất nhiều mùn và các tính chất khác cũng có nhiều thay đổi

- Nhóm dạng đất Feralít mùn trên núi trung bình (FH): Loại đất này - - được hình thành ở độ cao từ 700m - 1.700m

Trang 26

- Nhóm dạng đất Feralít điển hình trên vùng đồi và núi thấp (F): Loại đất này phân bố ở độ cao dưới 700m Đặc biệt nổi bật là có quá trình Feralít xảy ra rất mạnh mẽ, đất có cấu tượng khá bền vững Một số diện tích vùng đồi đã bị kết von nhưng không có đá ong chặt

- Nhóm dạng đất đồng bằng (D), thung lũng (T): Nhóm đất này được hình thành trên các kiểu địa hình máng trũng, thung lũng, bồn địa [9]

2.2 Tình hình kinh tế và xã hội trong khu vực

Thông Thụ là một xã biên giới nền kinh tế còn nghèo nàn, phong tục tập quán còn lạc hậu Cơ cấu hành chính gồm 13 bản Toàn xã có 1.142 hộ với 4.807 khẩu, gồm 3 thành phần dân tộc đó là: Kinh, thái, thổ Chủ yếu là đồng bào dân tộc thái chiếm 99% Diện tích lúa nước ít, tập quán canh tác của họ còn nhiều lạc hậu như đốt nương làm rẫy, săn bắn động vật rừng, thu hái lâm sản trong rừng, đánh bắt cá trên khu vực lòng hồ Thủy điện Hủa Na, chủ yếu phần

đa số bà con nơi đây còn phụ thuộc nhiều vào tài nguyên rừng Nhận thức của nhân dân trong vùng chưa cao còn bị nhiều đối tượng xấu lợi dụng Giao thông

có nhiều thuận lợi, tuy cách thành phố vinh gần 200 km nhưng có Quốc lộ 48 đi qua và trong xã đã có nhiều đường bê tông nhờ sự đầu tư của nhà máy thủy điện Hủa Na khi di dời khỏi lòng hồ Trong xã đã có 10 thôn bản có điện lưới, nguồn nước sạch thuận lợi trong sinh hoạt đời sống của bà con nhân dân Có 1 Trạm Y

tế xã chăm sóc sức khỏe cho bà con nhân dân tuy nhiên chất lượng khám chữa bệnh của địa phương chưa cao Trong xã có 3 cấp trường học là Trường Mầm non, Trường Cấp I, Trường Cấp II khang trang sạch đẹp, được trang thiết bị đẩy

đủ về cơ bản đã xóa được nạn mù chữ nhưng chất lượng Giáo dục chưa cao [9]

Vì thế nên để đảm bảo và phát huy được công tác quản lý bảo vệ rừng bền vững trên một địa bàn rộng và phức tạp như Thông Thụ cần có những chính sách và chủ trương tạo ra sinh kế gắn liền với lợi ích của người dân vào công tác quản lý bảo vệ rừng

Trang 27

Hình 2.1 Bản đồ khu vực nghiên cứu, xã Thông Thụ, khu bảo tồn thiên

Trang 28

- Điều kiện tự nhiên có nhiều yếu tố thuận lợi, chế độ nhiệt, ẩm phù hợp với nhiều loài cây trồng lâm, công nghiệp, cây ăn quả, cây đặc sản ;

- Qu đất chưa sử dụng có khả năng lâm nghiệp đang còn nhiều, đất đai

đa dạng thích hợp cho nhiều loài cây trồng sinh trưởng và phát triển;

- Lực lượng lao động dồi dào, đồng bào siêng năng, cần cù chịu khó, suốt đời gắn bó với rừng, nên khi được hướng dẫn sản xuất lâm nghiệp để xoá đói giảm nghèo, tự làm giàu cho mình và cho xã hội thì đồng bào sẽ phấn khởi tin tưởng và tuân thủ nghiêm chỉnh các biện pháp k thuật;

- Cơ bản đồng bào các dân tộc trong khu vực đã định canh, định cư, cuộc sống ổn định và đang được nâng cao tạo điều kiện tốt để thực thi dự án;

2.3.2 Khó khăn

- Do địa hình cao dốc, chia cắt hiểm trở, điều kiện khí hậu thuỷ văn có một số yếu tố bất lợi gây tác hại cho sản xuất, đời sống của đồng bào trên khu vực và công tác trồng rừng, bảo vệ rừng;

- Trên địa bàn có nhiều dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp, nguồn lao động chủ yếu thuần nông, nên thiếu lao động k thuật và quản lý, phương thức canh tác lạc hậu, năng suất cây trồng không cao, thu nhập bình quân đầu người thấp Việc đưa tiến bộ k thuật và công nghệ mới vào sản xuất sẽ gặp khó khăn Mặt khác do chính sách đãi ngộ chưa phù hợp, nên không hấp dẫn được lao động k thuật từ miền xuôi lên sống và làm việc;

- Phân bố dân cư không đều, cơ sở hạ tầng còn yếu kém, đặc biệt là giao thông đường bộ, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển Kinh tế xã hội trong đó có phát triển lâm nghiệp;

- Hầu hết rừng, đất rừng của khu vực đều thuộc đối tượng phòng hộ đầu nguồn và rừng đặc dụng Nếu không tổ chức sản xuất tốt thì đồng bào sẽ không

có nguồn thu và có nhận thức sai lệch, tiếp tục trở lại phá rừng, huỷ hoại môi trường sinh thái

Trang 29

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Đa dạng về thành phần loài họ Ngọc lan (Magnoliaceae) và họ Máu chó (Myristicaceae) tại xã Thông Thụ, thuộc Khu BTTN Pù Hoạt,

Nghệ An

Hình 3.1: Bản đồ hiện trạng rừng và tuyến thu mẫu các loài thực vật thuộc

họ Ngọc lan và họ Máu chó tại xã Thông Thụ, huyện Quế Phong thuộc Khu

BTTN Pù Hoạt (Tỷ lệ 1:10.000) Kết quả điều tra trên 08 tuyến trong với tổng số chiều dài tuyến trên 132

km tại xã Thông Thụ, huyện Quế Phong, thuộc Khu BTTN Pù Hoạt, chúng tôi

Trang 30

đã xác định được 13 loài thực vật thuộc họ Ngọc lan (Magnoliaceae) và 05 loài thực vật thuộc họ Máu chó (Myristicaceae) phân bố trong khu vực nghiên cứu Danh lục thành phần loài thực vật thuộc bộ Ngọc lan tại Khu BTTN Pù Hoạt được tổng hợp ở bảng: 3.1

Bảng 3.1: Thành phần loài thuộc họ Ngọc lan (Magnoliaceae) và họ Máu chó (Myristicaceae) tại xã Thông Thụ, huyện Quế Phong

TT Tên khoa học Tên Việt

Giá trị

sử dụng

Danh lục cũ (2013)

Trang 31

Ghi chú: Cây chồi trên (Ph); Cây chồi một năm (Th), cây chồi sát đất (Ch), cây

chồi nửa ẩn (Hm); Cây chồi ẩn (Cr); cây chồi sống dưới nước (Hy); 4 Nhiệt đới Châu Á: 4.1 Đông Dương - Malêzi; 4.2 Đông Dương-Ấn Độ; 4.4 Đông Dương - Nam Trung Quốc; 4.5 Đông Dương; 6 Đặc hữu; 6.1 Cận đặc hữu; M: Cây làm thuốc, F: Cây ăn được; Or : Cây làm cảnh

Có 02 loài thực vật thuộc họ Ngọc lan (Magnoliaceae) có trong danh lục của Khu BTTN Pù Hoạt nhưng không phát hiện trong nghiên cứu, đó là các loài:

Giổi nhung (Paramichelia braianensis) (Gagnep.) Dandy in S Nilsson và Mỡ (Manglietia conifera Dandy).

Khi so sánh số loài của hai họ Ngọc lan (Magnoliaceae) và họ Máu chó (Myristicaceae) tại Việt Nam và Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, kết quả thu được tại Bảng 3.2

Trang 32

Bảng 3.2: Thành phần loài, chi trong các họ của họ Ngọc lan (Magnoliaceae) và họ Máu chó (Myristicaceae) tại Việt Nam [1], Danh lục thực vật Khu BTTN Pù Hoạt năm 2013 [2] và kết quả nghiên cứu năm 2019

Số loài của Việt Nam

Số loài trong danh lục

2013

Số loài của nghiên cứu

Trang 33

Bảng 3.3: Danh lục các loài thực vật bổ sung cho Khu BTTN Pù Hoạt

1 Magnolia nitida W.W.Sm Dạ hợp nitida

2 Manglietia dandyi (Gagnep.) Dandy Vàng tâm

3 Manglietia insignis (Wall.) Blume Giổi đá

4 Michelia foveolata Merr ex Dandy Giổi lá láng

5 Michelia macclurei Dandy Giổi macclurei

6 Michelia mannii King Giổi lá bóng

7 Paramichelia baillonii (Pierre) S Y Hu Giổi xương

8 Tsoongiodendron odorum Chun Giổi lụa

9 Horsfieldia kingii (Hook.f.) Warb Xăng máu king

Từ kết quả của các bảng 3.1, 3.2, cho thấy: Nghiên cứu năm 2019 của đề tài đã bổ sung 10 loài cho Khu bảo tồn Pù Hoạt Nhiều loài bổ sung có giá trị bảo tồn cao (bảng 3.1) Nghiên cứu đã phát hiện tại xã Thông Thụ, huyện Quế Phong thuộc Khu BTTN Pù Hoạt có 4 loài cây quý, hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam, 2007 [05] Mức sẽ nguy cấp (VU) có 4 loài thuộc họ Ngọc lan

(Magnoliaceae): Vàng tâm - Manglietia dandyi (Gagnep.) Dandy; Giổi lông -

Michelia balansae (DC.) Dandy; Giổi xương - Paramichelia baillonii (Pierre) S

Y Hu; Giổi lụa - Tsoongiodendron odorum Chun Nghiên cứu cũng khẳng định

2 loài Dạ hợp nitida - Magnolia nitida W.W.Sm và Xăng máu king -

Horsfieldia kingii (Hook.f.) Warb có phân bố tại Việt Nam Hai loài này được

Vũ Quang Nam, Pham Hoàng Hộ [07] ghi nhận có ở Việt Nam, tuy nhiên trong Danh lục các loài thực vật Việt Nam (2003) [01] không ghi nhận các loài này có phân bố tại Việt Nam

Trang 34

Ngoài ra nếu so với danh lục năm 2013, nghiên cứu của chúng tôi chưa kiểm chứng được sự phân bố tại Khu BTTN Pù Hoạt 02 loài thuộc họ Ngọc lan

(Magnoliaceae) là Giổi nhung (Paramichelia braianensis (Gagnep.) Dandy in S.Nilsson); Mỡ (Manglietia conifera Dandy) tại xã Thông Thụ, huyện Quế

Phong, tỉnh Nghệ An

3.2 Hiện trạng phân bố thực vật thuộc họ Ngọc lan (Magnoliaceae)

và họ Máu chó (Myristicaceae) tại xã Thông Thụ, huyện Quế Phong thuộc Khu BTTN Pù Hoạt

Kết quả nghiên cứu hiện trạng phân bố của các loài thực vật thuộc họ Ngọc lan (Magnoliaceae) và họ Máu chó (Myristicaceae) tại xã Thông Thụ, huyện Quế Phong thuộc Khu BTTN Pù Hoạt được tổng hợp trong Hình 3.1

Trang 35

Hình 3.2: Bản đồ hiện trạng phân bố của các loài thực vật thuộc họ Ngọc lan và họ Máu chó tại xã Thông Thụ, huyện Quế Phong thuộc Khu BTTN Pù

Hoạt (Tỷ lệ 1:10.000)

Ngày đăng: 01/08/2021, 16:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Azuma, H., Thien, L.B. & Kawano, S. (1999) Molecular phylogeny of Magnolia (Magnoliaceae) inferred from cpDNA sequences and evolutionary divergence of the floral scents. Journal of Plant Research 112: 291–306 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Magnolia "(Magnoliaceae) inferred from cpDNA sequences and evolutionary divergence of the floral scents. "Journal of Plant Research
13. Brambach F., Nooteboom H.P., Culmsee H. (2013) Magnolia sulawesiana described, and a key to the species of Magnolia (Magnoliaceae) occurring in Sulawesi. Blumea 58: 271–276 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Magnolia sulawesiana" described, and a key to the species of "Magnolia
14. Callaghan C. and Png S. K. (2013) A new name and seventeen new combinations in the Magnolia (Magnoliaceae) of China and Vietnam. Botanical Studies 54:53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Magnolia" (Magnoliaceae) of China and Vietnam. "Botanical Studies
15. Chalermglin P.& Nooteboom H.P. (2007) A new species of and a new combination in Magnolia (Magnoliaceae). Blumea 52: 559–562 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Blumea
19. Figlar R. B. and Nooterboom H. P. (2004) Notes on Magnoliaceae IV. Blumea, 49; 87-100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Blumea
25. Vu Q. N. (2014) Magnolia cattienensis sp. nov. (Magnoliaceae) from Vietnam. Nordic Journal of Botany 32: 815–818.doi: 10.1111/njb.00536 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Magnolia cattienensis
26. Vu Q. N., Xia N. H. (2011) Magnolia bidoupensis (Magnoliaceae), a new species from Vietnam. Ann. Bot. Fennici 48: 525-527 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Magnolia bidoupensis" (Magnoliaceae), a new species from Vietnam. "Ann. Bot. Fennici
27. Vu Q. N., Xia N. H., Sima Y. K. (2011) Manglietia crassifolia (Magnoliaceae), a New Species from Vietnam. Novon 21: 375–379. doi:10.3417/2010022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Manglietia crassifolia" (Magnoliaceae), a New Species from Vietnam. "Novon
28. Sauquet H., Doyle J. A., Scharaschkin T., Borsch T., Hilu K. W., Chatrou L., Le Thomas A., 2003. Phylogenetic analysis of Magnoliaceae and Myristicaceae based on multiple data sets: Implications for character evolution. Bot. J. Linnean Soc. 142(2):125-186 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bot. J. Linnean Soc
29. Xia N. H. et al., In: Z. Y. Wu and P. H. Raven (eds.) (2008) Flora of China Beijing. Science Press & St. Louis. Missouri Botanical Garden Press.USA, Vol 48-91.3. Trang web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Flora of China Beijing
11. Azuma, H., José G. García-Franco, J.G., Rico-Gray, V. & Thien, L.B Khác
16. Dandy, J.E. (1927) The Genera of Magnolieae. in: Bulletin of Miscellaneous Information, Royal Gardens, Kew 1927(7): 257-264 Khác
17. Dandy, J.E. (1928) New or Noteworthy Chinese Magnolieae. Notes from the Royal Botanic Garden, Edinburgh (Notes Roy. Bot. Gard. Edinburgh) 16(77) pp: 123-133, in nota Khác
18. Dandy, J.E. (1930) New Magnolieae from China and Indochina. Journal of Khác
20. Gagnepain, F. (1938) Magnoliacées. In: H. Humbert (eds.). Supplément à la Flore générale de l'Indo-Chine. Paris: 29-59 Khác
21. Gagnepain, F. (1939) Magnoliacées Nouvelles ou Litigieuses. Notulae Systematicae, Muséum National d'Histoire Naturelle (Paris) 8 (1): 63–65 Khác
22. Loureiro Joannis de (1790) Flora Cochinchinensis, Tomus I, 346-348 Khác
24. Nooteboom H. P. & Chalermglin P. (2009) The Magnoliaceae of Thailand. Thai Forest Bulletin (Botany) 37 pp:111 – 138 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w