NGUYỄN THI THANH HUYỀN DẠY HỌC HỢP PHẦN PHONG CÁCH NGÔN NGỮ TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn Mã số: 8.14.. Đ
Trang 1NGUYỄN THI THANH HUYỀN
DẠY HỌC HỢP PHẦN PHONG CÁCH NGÔN NGỮ
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2019
Trang 2NGUYỄN THI THANH HUYỀN
DẠY HỌC HỢP PHẦN PHONG CÁCH NGÔN NGỮ
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn
Mã số: 8.14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS PHAN HUY DŨNG
NGHỆ AN - 2019
Trang 3Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến, PGS.TS Phan Huy Dũng
- Viện Sư phạm Xã hội, trường Đại học Vinh đã giành nhiều thời gian tận tình hướng dẫn, giúp đỡ cho tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin được cảm ơn tất cả các thầy cô giáo đã giảng dạy trong suốt thời gian học cao học để tôi có được nhiều kiến thức hỗ trợ khi viết luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học, Ban lãnh đạo Viện Sư phạm Xã hội, Trường Đại học Vinh, đã giúp
đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn thành khóa học
Tôi cũng xin cảm ơn tất cả những người thân trong gia đình, Ban Giám hiệu Trường THPT Lê Lợi, Tân Kỳ, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp
Vinh, ngày 5 tháng 7 năm 2019
Tác giả
Nguyễn Thị Thanh Huyền
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp của luận văn 3
6 Cấu trúc luận văn 3
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 4
1.1.1 Những nghiên cứu chung về phong cách ngôn ngữ 4
1.1.2 Những nghiên cứu về dạy học hợp phần phong cách ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông hiện hành 8
1.2 Cơ sở khoa học của đề tài 12
1.2.1 Cơ sở lý thuyết 12
1.2.2 Cơ sở thực tiễn 18
Tiểu kết chương 1 23
Chương 2 NỘI DUNG DẠY HỌC, CÁC NGUYÊN TẮC VÀ BIỆN PHÁP DẠY HỌC HỢP PHẦN PHONG CÁCH NGÔN NGỮ TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 24
2.1 Nội dung dạy học hợp phần phong cách ngôn ngữ xét từ yêu cầu phát triển năng lực học sinh 24
2.1.1 Đánh giá cấu trúc kiến thức- kỹ năng của các bài học về phong cách ngôn ngữ trong sách giáo khoa Ngữ văn 24
2.1.2 Vấn đề xác định trọng tâm kiến thức- kỹ năng của các bài học về phong cách ngôn ngữ 34
Trang 52.2.1 Kết hợp hài hòa dạy học lý thuyết và hướng dẫn luyện tập 42
2.2.2 Chú trọng hoạt động ứng dụng tri thức lý thuyết về phong cách ngôn ngữ vào nhận diện, đánh giá những văn bản có liên quan 46
2.2.3 Chú trọng hoạt động ứng dụng của tri thức lý thuyết về phong cách ngôn ngữ vào việc tạo lập các văn bản phù hợp 49
2.3 Một số biện pháp dạy học hợp phần phong cách ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông 51
2.3.1 Chọn ngữ liệu điển hình 51
2.3.2 So sánh - đối lập các ngữ liệu thuộc những phong cách ngôn ngữ khác nhau cùng đề cập một nội dung 56
2.3.3 Xây dựng các tình huống giao tiếp nhằm vận dụng tri thức về phong cách ngôn ngữ 60
Tiểu kết chương 2 65
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 66
3.1 Mục đích yêu cầu thực nghiệm 66
3.1.1 Mục đích của thực nghiệm 66
3.1.2 Yêu cầu thực nghiệm 66
3.2 Đối tượng, địa bàn, thời gian và quy trình thực nghiệm 66
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm 66
3.2.2 Địa bàn thực nghiệm 67
3.2.3 Thời gian thực nghiệm 67
3.2.4 Qui trình thực nghiệm 67
3.3 Thiết kế giáo án thực nghiệm 69
3.3.1 Giáo án thể nghiệm (TN1): Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, Ngữ Văn 10, tập 2 69
Trang 63.3.3 Giáo án TN 3: Phong cách ngôn ngữ khoa học (SGK Ngữ
văn 12, tập 1) 97
3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm 108
3.4.1 Tiêu chuẩn đánh giá 108
3.4.2 Đánh giá kết quả thực nghiệm về phía giáo viên 109
3.4.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm từ phía học sinh 110
3.4.4 Đánh giá chung 112
3.5 Kết luận thực nghiệm 112
Tiểu kết chương 3 113
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 114
1 Kết luận 114
2 Khuyến nghị 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118 PHỤ LỤC
Trang 7Viết tắt Viết đầy đủ
ĐC : Đối chứng GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo
GV : Giáo viên
HS : Học sinh Nxb : Nhà xuất bản PPDH : Phương pháp dạy học SGK : Sách giáo khoa
SGV : Sách giáo viên THPT : Trung học phổ thông
TN : Thực nghiệm
Cách chú thích tài liệu trích dẫn: số thứ tự tài liệu đứng trước, số
trang đứng sau Ví dụ: [12;20] nghĩa là số thứ tự của tài liệu trong mục Tài liệu
tham khảo là 12, nhận định trích dẫn nằm ở trang 20 của tài liệu này
Trang 8Bảng 2.1 Bảng thống kê tỉ lệ tiết học về phong cách ngôn ngữ trong
sách giáo khoa Ngữ văn 10,11,12 (bộ cơ bản và nâng cao) 24Bảng 2.2 Bảng thống kê các tiết học cụ thể của phần phong cách ngôn
ngữ ở 3 khối lớp 10,11,12 24Bảng 2.3 Bảng thống kê nội dung kiến thức của các bài học về phong
cách ngôn ngữ trong 3 khối lớp 10,11,12 25Bảng 2.4 Bảng phụ về đặc điểm ngôn ngữ sinh hoạt và ngôn ngữ
nghệ thuật 81Bảng 2.5 Bảng đánh giá thực nghiệm và đối chứng 1 82Bảng 2.6 Bảng tổng hợp tên và đặc điểm cơ bản của các phong cách
ngôn ngữ đã học 95Bảng 2.7 Bảng đánh giá thực nghiệm và đối chứng 2 97Bảng 2.8 Bảng đánh giá thực nghiệm và đối chứng 3 108Bảng 2 9 Mức độ tích cực của học sinh ở lớp thực nghiệm và lớp đối
chứng khối 10 111Bảng 2.10 Mức độ tích cực của HS ở lớp thực nghiệm và lớp đối
chứng khối 11 111Bảng 2.11 Mức độ tích cực của học sinh ở lớp thực nghiệm và lớp đối
chứng khối 12 111
Trang 9
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Mục tiêu giáo dục của bậc Trung học phổ thông (THPT) đã được
xác định rõ trong Luật giáo dục 2005 Đó là đào tạo con người Việt Nam
phát triển toàn diện có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, có hiểu biết thẩm mĩ, có phẩm chất và năng lực của công dân đáp ứng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Trong bối cảnh hội nhập, quốc tế hoá sâu rộng ngày nay, giáo dục phổ thông phải hướng tới trang bị cho người học một tư duy năng động, sáng tạo có khả năng liên kết và giải quyết vấn đề, đề xuất được các ý tưởng độc đáo, có thể làm việc trong môi trường đa quốc gia như những công dân toàn cầu Như vậy, môn Ngữ văn bậc THPT nói chung và phân môn Tiếng Việt,
(bao gồm trong đó hợp phần phong cách ngôn ngữ) nói riêng cũng phải
hướng tới mục tiêu trên với những đổi mới căn bản về nội dung và phương pháp - biện pháp dạy học
1.2 Chương trình Ngữ văn trung học phổ thông hiện hành có nhiều
điểm khác so với bộ sách hợp nhất năm 2000 Phong cách ngôn ngữ là
hợp phần hoàn toàn mới, gồm sáu bài học được phân đều cho ba khối lớp
10, 11 và 12 Hợp phần này được biên soạn theo hướng tích hợp có liên quan đến phần đọc hiểu và làm văn Vì vậy trong quá trình dạy học các bài
về từng phong cách ngôn ngữ cụ thể, giáo viên
cần tìm tòi, nghiên cứu những đặc điểm cơ bản của mỗi bài để có được cách tổ chức dạy học phù hợp
1.3 Đổi mới phương pháp dạy - học đang là vấn đề được quan tâm trong toàn ngành giáo dục hiện nay Tổ chức dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh (HS) là yêu cầu cơ bản đối với giáo viên trong giờ dạy học Đối với môn Ngữ văn, phương pháp dạy học của các phân môn Đọc hiểu, Tiếng Việt và Làm văn có những khác biệt mang tính
Trang 10
đặc thù Ngay trong phần Tiếng Việt, hợp phần phong cách ngôn ngữ có vai
trò rất quan trọng Tìm tòi, đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng dạy học tích hợp nhằm phát huy các năng lực cần thiết, nhất là năng lực ngôn ngữ cho học sinh là điều mà chúng tôi hết sức quan tâm
Đó là những lí do để chúng tôi đi vào thực hiện đề tài: Dạy học
hợp phần phong cách ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nội dung và phương pháp -
biện pháp dạy học hợp phần phong cách ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn
trung học phổ thông
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn đi sâu xác định nét đặc thù của nội dung dạy học và biện
pháp dạy học hợp phần phong cách ngôn ngữ (giới hạn ở những bài học
mang tính lý thuyết về các phong cách ngôn ngữ sau: sinh hoạt, nghệ thuật, báo chí, chính luận và hành chính), chú trọng làm rõ ý nghĩa thiết thực của hợp phần này trong việc rèn luyện năng lực ngôn ngữ cho học sinh trung học phổ thông
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Góp phần dạy học có hiệu quả các bài học về phong cách ngôn ngữ trong sách giáo khoa Ngữ văn, từ Ngữ văn 10 đến Ngữ văn 12
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.2.1 Tìm hiểu, đánh giá những nghiên cứu đã có về nội dung và
phương pháp - biện pháp dạy học hợp phần phong cách ngôn ngữ trong
chương trình Ngữ văn trung học phổ thông; làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Trang 11
3.2.2 Xác định nội dung trọng tâm của các bài học về phong cách ngôn ngữ, đề xuất các nguyên tắc và biện pháp dạy học hợp phần này theo định hướng phát triển năng lực học sinh
3.2.3 Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính hiệu quả của những biện pháp dạy học đã được đề xuất
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phối hợp các phương pháp thuộc cả hai nhóm
phương pháp nghiên cứu lý thuyết và phương pháp nghiên cứu thực tiễn Cụ thể là:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp thực nghiệm
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn trình bày quan điểm riêng có căn cứ về ưu điểm cũng như hạn chế của các bài soạn về phong cách ngôn ngữ trong sách giáo khoa
Ngữ văn, đồng thời nêu một số thể nghiệm dạy học hợp phần phong cách
ngôn ngữ đạt hiệu quả tích cực, có giá trị tham khảo cho đồng nghiệp và
những người có quan tâm đến hoạt động dạy học tiếng Việt trong nhà trường phổ thông
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính
của luận văn được triển khai trong ba chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở khoa học của đề tài Chương 2: Nội dung dạy học, các nguyên tắc và biện pháp dạy học
hợp phần phong cách ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn
trung học phổ thông
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 12
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Những nghiên cứu chung về phong cách ngôn ngữ
1.1.1.1 Khái niệm phong cách ngôn ngữ
Nghiên cứu về phong cách ngôn ngữ - phong cách học đã có một lịch sử lâu dài Trước khi lí thuyết ngôn ngữ học đại cương của F de Saussure ra đời, việc nghiên cứu phong cách ngôn ngữ chưa có hệ thống Ở giai đoạn này,
“phong cách học chưa phải là một bộ môn khoa học thực sự vì nó chưa trang bị được cho mình những phương pháp nghiên cứu cụ thể” [9;5] “Phải đợi đến thế
kỷ XX, sau khi F de Saussure tiến hành một cuộc cách mạng vĩ đại trong ngôn ngữ học đại cương thì phong cách mới có đủ những điều kiện để trở thành một
bộ môn khoa học độc lập thực sự với đầy đủ ý nghĩa của nó” [9;9]
Tư tưởng phong cách học có lẽ được bắt đầu từ thời cổ đại Hi Lạp, các nhà triết học như Platon, Democrit, Aristote trước công nguyên đã bàn về diễn thuyết của nhà hùng biện, gọi là phép mĩ từ Đến những năm đầu công nguyên những ý kiến này được các nhà thơ, nhà hùng biện như Vigrile, Ciceron (La Mã) bổ sung và phát triển thêm Sau đó các học giả phương Tây, phương Đông trong đó có cả Việt nam đã bàn đến vấn đề biến hóa của lời nói, các biện pháp trau dồi lời nói, đặc biệt trong lĩnh vực sáng tác văn chương
Đến nửa cuối XIX, đầu thế kỷ XX, người đã đặt nền móng cho phong cách học hiện đại là Ch Bally (1865-1947) là một trong những học trò xuất
sắc của F de Saussure Tác phẩm quan trọng nhất của ông là Khảo luận về
phong cách học (tiếng Pháp gồm 2 tập), trong đó ông dành riêng một tập cho
lí thuyết phong cách ngôn ngữ Ch Bally cho rằng “phong cách học nghiên
Trang 13
cứu các sự kiện biểu đạt của ngôn ngữ trên quan điểm nội dung biểu cảm của chúng, nghĩa là sự biểu đạt các sự kiện tình cảm bằng ngôn ngữ và tác động của ngôn ngữ đối với tình cảm” [Dẫn theo 15;27] Qua công trình đó, Ch Bally
đã có đóng góp to lớn trong việc xác định đối tượng, phương pháp nghiên cứu cho ngành ngôn ngữ học về sau và đánh dấu bước chuyển quan trọng từ tu từ học cổ điển sang phong cách học hiện đại
Các công trình nghiên cứu về phong cách ngôn ngữ tiếp tục diễn ra tại một số nước trên thế giới như Pháp, Liên Xô cũ, Tiệp Khắc… Người ta đã tập trung vào xác định đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu và phân loại phong cách chức năng…
Ở Việt Nam, môn phong cách học tiếng Việt hình thành vào những
năm 1964 Ban đầu gọi là Tu từ học tiếng Việt và được biên soạn với tư cách
là một bộ phận trong Giáo trình việt ngữ của Đại học Sư phạm Hà Nội Từ
năm 1968 trở đi phong cách ngôn ngữ tiếng Việt được tách riêng ra, giảng dạy ở trường Đại học với tư cách là môn khoa học độc lập
Sau Giáo trình Việt ngữ - Tu từ học do tác giả Đinh Trọng Lạc viết
1964, phong cách học - khoa học về phong cách ngôn ngữ được xem như một khoa học mới ở Việt Nam Các giáo trình về sau chủ yếu tập trung đề cập đến khái niệm, phân loại và đặc điểm các phong cách chức năng Nhiều giáo trình
về phong cách ngôn ngữ xuất hiện như Mấy bài giảng về phong cách học của Nguyễn Thái Hòa; Giáo trình phong cách học tiếng Việt hiện đại của nhóm tác giả Cù Đình Tú, Lê Anh Hiền, Nguyễn Nguyên Trứ; Tư liệu phong cách
học của Đinh Xuân Hiền; Phong cách học của Hoàng Văn Hành; Giáo trình phong cách học của Võ Bình; Phong cách học tiếng Việt hiện đại của Hoàng
trọng Phiến…
Về sau, trong thư mục nghiên cứu phong cách ngôn ngữ ở nước ta có
nhiều công trình tiêu biểu như: Phong cách học tiếng Việt (1982) của nhóm
Trang 14
tác giả Cù Đình Tú, Lê Anh Hiền, Võ Bình, Nguyễn Thái Hòa; Phong cách
và từ điển tu từ tiếng Việt của Cù Đình Tú (1983); Giáo trình phong cách học tiếng Việt và thực hành phong cách học của Đinh Trọng Lạc (chủ biên) và
Nguyễn Thái Hòa (1994); 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt của Đinh Trọng Lạc (1995); Phong cách học và các phong cách chức năng tiếng
Việt của Hữu Đạt (2000); Dẫn luận phong cách học (1997) và Từ điển-tu từ - Phong cách - Thi pháp học (2005) của Nguyễn Thái Hòa; Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học của Diệp Quang Ban (2010)… Về thực hành đã có một số công
trình vận dụng lí thuyết phong cách để cắt nghĩa đặc trưng thể loại cũng như
nghiên cứu phong cách tác giả Tiêu biểu có Phong cách Nguyễn Du trong
Truyện Kiều (1985) của Phan Ngọc; Con mắt thơ (1994), tái bản năm 2000
đổi tên thành Mắt thơ của Đỗ Lai Thúy; Những vấn đề thi pháp của truyện của Nguyễn Thái Hòa; Một số kiến thức bổ trợ cho bài dạy Hoạt động giao
tiếp bằng ngôn ngữ (Ngữ văn 10 nâng cao), Kỉ yếu hội thảo khoa học Dạy học Ngữ văn ở trường THPT theo chương trình và sách giáo khoa mới của
Đỗ Thị Kim Liên (2007)…
Chúng tôi đồng quan điểm: “Phong cách ngôn ngữ là những biến thể
sử dụng các phương tiện ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) được lặp đi lặp lại trở thành dấu hiệu đặc trưng sử dụng ở mỗi cá nhân, mỗi môi trường giao tiếp xã hội và làm thành những ngôn ngữ đặc trưng của cộng đồng; có khả năng phân biệt ngôn ngữ cá nhân này với cá nhân khác, môi trường này với môi trường khác và cách diễn đạt của ngôn ngữ này với ngôn ngữ khác”[ 27,11] Như vậy, phong cách học là khoa học về các quy luật nói và viết có
hiệu lực cao
Qua nghiên cứu về lí thuyết cũng như thực hành về phong cách ngôn ngữ tiếng Việt, ta thấy được bước tiến đáng kể của chuyên ngành phong cách học Đó là cơ sở quan trọng để hình thành phương pháp dạy học phong cách
Trang 15
ngôn ngữ trong nhà trường trung học phổ thông
1.1.1.2 Phân loại và nhận diện đặc điểm của từng phong cách ngôn ngữ
Giao tiếp là nhu cầu tất yếu trong đời sống con người Đó là quá trình
sử dụng ngôn ngữ để trao đổi thông tin giữa người nói và người nghe nhằm đạt mục đích nhất định Ngôn ngữ tồn tại ở hai dạng là dạng nói và dạng viết Muốn giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ thì cần có các yếu tố:
- Người nói/viết: là chủ thể giao tiếp tạo ra văn bản nói hoặc viết nhằm truyền thông tin đến người nghe/ người đọc
- Người nhận/ người đọc: Tiếp nhận thông tin từ người nói/viết và hiểu thông tin đó Trong hoạt động giao tiếp người nói/viết và người nghe/đọc luân phiên lượt lời
- Lời nói/văn bản là tổ hợp các tín hiệu ngôn ngữ theo một quy tắc sắp xếp để người tham gia giao tiếp có thể hiểu
- Nội dung giao tiếp: thông tin về một chủ đề, nội dung nào đó
- Phương tiện giao tiếp: gồm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Trong một ngôn ngữ từ được coi là tín hiệu và các quy tắc ngữ pháp được coi là mã thông tin
- Hoàn cảnh giao tiếp: là điều kiện để người tham dự có thể mở đầu hoặc duy trì hoạt động giao tiếp
Trường hợp, trong quá trình trao đổi thông tin mà người tham dự vắng mặt (người phát tin và nhận tin) thì phải có những quy tắc chung để tạo ra văn bản có thể hiểu nhau và ngôn ngữ thực hiện chức năng mới là chức năng thông báo Ngoài ra, ngôn ngữ còn có chức năng khác là chức năng tác động, trong đó tác động thẩm mĩ giữ vai trò quan trọng
Căn cứ vào chức năng và dấu hiệu biến thể sử dụng ngôn ngữ các nhà nghiên cứu đã phân loại phong cách chức năng ngôn ngữ như sau:
- Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, thực hiện chức năng giao tiếp hàng ngày
Trang 16
- Phong cách ngôn ngữ văn hóa (ngôn ngữ gọt giũa, ngôn ngữ sách vở), thực hiện chức năng thông báo (Giáo trình phong cách học tiếng Việt,
Nguyễn Thái Hòa, tr 22)
Chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn hiện hành đã phân loại ra làm
6 phong cách chức năng ngôn ngữ:
- Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt: thực hiện giao tiếp hàng ngày
- Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật: sử dụng trong phạm vi tác phẩm văn chương nghệ thuật
- Phong cách ngôn ngữ báo chí: thuộc phạm vi báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng
- Phong cách ngôn ngữ chính luận: đặc trưng cho lĩnh vực ngôn ngữ chính luận
- Phong cách ngôn ngữ khoa học: chủ yếu thuộc phạm vi giao tiếp khoa học
- Phong cách ngôn ngữ hành chính công vụ: đặc trưng cho lĩnh vực ngôn ngữ giao tiếp trong hành chính công vụ
Mỗi phong cách ngôn ngữ có đặc điểm riêng, phù hợp cho mỗi loại văn bản
1.1.2 Những nghiên cứu về dạy học hợp phần phong cách ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông hiện hành
1.1.2.1 Hợp phần phong cách ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông
Trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn THCS có cung cấp những bài học có liên quan đến phần tu từ học ở chương trình lớp 6, 7, 8 và phong cách học ở lớp 9 Điểm qua chương trình Ngữ văn trung học cơ sở ta có thể thấy điều đó:
- Một số bài trong chương trình Ngữ văn THCS hướng tới nội dung phong cách ngôn ngữ:
Trang 17
+ Lớp 7: “Tìm hiểu chung về văn bản hành chính; Văn bản đề nghị; Văn bản báo cáo”
+ Lớp 8: “Văn bản tường trình; Văn bản thông báo”
+ Lớp 9: “Biên bản; Hợp đồng; Thư, Điện”
Như vậy giữa chương trình của các bậc học luôn có sự kế thừa từ thấp đến cao và hợp phần phong cách ngôn ngữ trong chương trình trung học phổ thông cũng vậy
Trong bộ sách Tiếng Việt hợp nhất năm 2000 (là cơ sở của phần Tiếng
Việt trong sách Ngữ văn hiện nay), phần phong cách ngôn ngữ trong chương
có tên là Phong cách học tiếng Việt được học trong 12 tiết; những bài còn lại
đi vào sáu chức năng ngôn ngữ Tronng đó bài phong cách chức năng khoa học và phong cách ngôn ngữ chính luận; phong cách ngôn ngữ báo chí - công luận và phong cách ngôn ngữ hành chính được gộp lại thành hai bài Sau phần
lí thuyết mỗi bài có các bài tập thực hành luyện tập riêng Song nhìn chung nội dung và cấu trúc đó không đáp ứng mục tiêu và yêu cầu dạy học Tiếng Việt ngày nay Đó là mục tiêu dạy học phát triển năng lực người học, vận dụng kiến thức lí thuyết và thực hành, học sinh cần vận dụng linh hoạt kiến thức ngôn ngữ tiếng Việt vào trong hoạt động thực tiễn của đời sống
Chương trình sách giáo khoa hiện hành đã chú ý đến điều này Phần phong cách ngôn ngữ được bố trí đều trong ba phân khối lớp và được sắp xếp xen kẽ giữa các bài học văn bản và làm văn theo nguyên tắc dạy học tích hợp Các bài học về phong cách ngôn ngữ trong hai bộ sách cơ bản và nâng cao
được bố trí giống nhau Lớp 10: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (2 tiết),
Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật (2 tiết); Lớp 11: Phong cách ngôn ngữ báo chí (2 tiết), Phong cách ngôn ngữ chính luận (2 tiết); Lớp 12: Phong cách ngôn ngữ khoa học (2 tiết), Phong cách ngôn ngữ hành chính (2 tiết)
Như vậy, mỗi bài học về phong cách ngôn ngữ trong chương trình Ngữ
Trang 18
văn THPT hiện nay đều được tổ chức dạy học trong 2 tiết và các bài học gồm học lí thuyết và thực hành Đối sánh với chương trình cũ thì bài học về phần phong cách ngôn ngữ không nhiều hơn so với chương trình cũ nhưng 12 tiết học của phần bài học này đã chú trọng tính thực hành nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho học sinh Thông qua những bài học này hướng học sinh đạt được mục tiêu về kiến thức và kỹ năng cần thiết:
+ Học sinh nắm vững kiến thức về đặc điểm và vai trò của từ, câu, đoạn văn khi chúng xuất hiện trong văn bản
+ Học sinh vận dụng kiến thức bài học ngôn ngữ để đọc hiểu tốt các bài học thuộc phân môn văn và làm văn vì văn bản nào cũng thuộc về một phong cách chức năng nhất định
+ Học sinh biết tạo lập văn bản theo phong cách chức năng phù hợp và khả năng vận dụng vào trong hoạt động giao tiếp thực tiễn
1.1.2.2 Phương pháp - biện pháp dạy học các bài về phong cách ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông
Hợp phần phong cách ngôn ngữ là tập hợp những bài học về phong cách ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn THPT Đã có nhiều công trình nghiên cứu về phương pháp - biện pháp dạy học nhóm bài học này Một trong
những công trình nghiên cứu đầu tiên về vấn đề này là giáo trình Phương
pháp dạy học Tiếng Việt của nhóm tác giả Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi
Minh Toán
Hợp phần phong cách ngôn ngữ là phần quan trọng trong chương trình THPT nên giáo trình đã dành chương VII để bàn về phương pháp dạy học các bài phong cách ngôn ngữ Cùng bàn về những vấn đề có tính chất khái quát về phần phong cách ngôn ngữ, tác giả đi vào những nội dung trọng tâm, quan
trọng như Những cơ sở của việc dạy học phong cách ngôn ngữ, Phương pháp
dạy học phong cách ngôn ngữ (lí thuyết và thực hành) Đây là những đóng
Trang 19
góp có tính chất phương pháp luận quan trọng có ý nghĩa về dạy học các bài phong cách ngôn ngữ Tuy nhiên, đây là giáo trình được biên soạn theo chương trình và sách giáo khoa cũ nên có một số nội dung không còn phù hợp với nội dung và chương trình của sách giáo khoa mới
Công trình khoa học tiếp theo đó là bộ sách giáo khoa Ngữ văn THPT được biên soạn theo chương trình tích hợp và đã bắt đầu được sử dụng từ tháng 7 năm 2000 Tại diễn đàn Hội thảo khoa học quốc gia bàn về phương pháp dạy học ngữ văn và sách giáo khoa mới do Khoa Ngữ văn Trường Đại học Vinh phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa tổ chức, đã có một số ý kiến bàn về nội dung và phương pháp dạy học
nhóm bài phong cách ngôn ngữ trong sách Ngữ văn 10 Trong đó bài “Trao
đổi về nội dung bài Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” (Ngữ văn 10 tập 1) của
Lê Thời Tân [31;79-84], “Để dạy - học tốt phần tiếng Việt trong sách giáo
khoa trung học phổ thông (bộ mới)” của Đặng Lưu [31;165-168]; “Một số suy
nghĩ về việc dạy học bài Phong cách nghệ thuật (Ngữ văn 10 tập 2 nâng cao)” của Lê Thị Sao Chi [31; 210-212] và “Trao đổi về cách dạy bài phong cách ngôn ngữ nghệ thuật (Ngữ văn 10 tập 2, chương trình nâng cao)” của
Đoàn Mạnh Tiến [31; 213-216]
Đó là những ý kiến mới mẻ và quý báu khi chương trình và sách giáo khoa mới ban hành Vì vậy những ý kiến cũng chỉ mới là những suy nghĩ ban đầu cần phải được nghiên cứu lưỡng và sâu sắc hơn nữa để phù hợp với thực trạng dạy học
Trước những đòi hỏi của đổi mới phương pháp dạy học tích cực, dạy học theo định hướng phát triển năng lực của người học như hiện nay, chúng tôi thấy được yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học nhất là đổi mới phương pháp dạy học các bài học phong cách ngôn ngữ là vấn đề cấp thiết trong dạy học ở trường THPT hiện nay
Trang 20
1.2 Cơ sở khoa học của đề tài
1.2.1 Cơ sở lý thuyết
1.2.1.1 Định hướng dạy học phát triển năng lực của người học
Sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa đã đặt ra những yêu cầu mới đối với người lao động và cho ngành giáo dục nói chung Giáo dục cần đào tạo đội ngũ nhân lực có khả năng đáp ứng những đòi hỏi mới của thị trường lao động, đặc biệt là năng lực hành động, tính năng động, sáng tạo, tính tự lực và trách nhiệm, năng lực công tác làm việc, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, trở thành một công dân toàn cầu của thời đại công nghệ 4.0
Phương pháp dạy học truyền thống hay gọi là chương trình định hướng nội dung, “định hướng đầu vào” thì chú trọng việc truyền thụ tri thức cho người học Một phương pháp dạy học mang tính thụ động hạn chế khả năng sáng tạo và năng động, khả năng ứng dụng - vận dụng tri thức vào giải quyết vấn đề thực tiễn…
Trước bối cảnh đó, ngành giáo dục nước ta đã có những đổi mới cần
thiết với định hướng quan trọng của việc đổi mới dạy học theo định hướng
phát triển năng lực học sinh
Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giữa giáo viên - học sinh theo định hướng hợp tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp
Những định hướng chung, tổng quát về đổi mới dạy học các môn học thuộc chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực là:
- Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin…), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập,
Trang 21
sáng tạo của tư duy
- Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện và cần đảm bảo nguyên tắc:
“Học sinh tự mình hoàn thiện nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”
- Dựa vào mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm, học trong lớp, học ngoài lớp… Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học
- Sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đã quy định Tích cực vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học
1.2.1.2 Năng lực ngôn ngữ trong hệ thống các năng lực cần phát triển cho học sinh
Cùng với các môn học khác, Ngữ văn là môn học quan trọng trong đào tạo con người Đây là môn học không chỉ góp phần bồi dưỡng tâm hồn, trí tuệ, nhân cách cho học sinh mà còn là phương tiện để học tốt các môn học khác Vì vậy, trong mục tiêu chương trình phổ thông môn Ngữ văn sau năm
2015 nêu rõ một trong những quan điểm là phát triển chương trình theo định
hướng năng lực của người học Năng lực con người bao gồm sự vận dụng
tổng hợp nhiều yếu tố như phẩm chất, kiến thức, kỹ năng người học được thể hiện thông qua các hoạt động cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào
đó Trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (ban hành tháng 7 năm 2017) đã xác định 8 năng lực cốt lõi đối với con người nói chung
Các năng lực chung cốt lõi được sắp xếp theo các nhóm sau:
- Năng lực làm chủ và phát triển bản thân gồm: năng lực tự học, Năng lực giải quyết vấn đề, Năng lực sáng tạo, Năng lực quản lí bản thân Năng lực
Trang 22
tự học được thể hiện trong mối quan hệ của mỗi người với bản thân mình Mỗi người tự nhận thức và giải quyết vấn đề tùy thuộc vào trình độ, năng lực chuyên môn, khả năng nắm bắt đối tượng, hiểu biết yêu cầu đặt ra của vấn đề Trong công việc của mỗi người cần phải sáng tạo nhằm tạo hiệu quả cao cho năng suất công việc vá đó chính là năng lực sáng tạo
- Năng lực xã hội bao gồm: Năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác Trong đó năng lực giao tiếp đòi hỏi người học biết sử dụng thành thạo tiếng Việt và vận dụng vào trong hoạt động giao tiếp với người khác trong những hoàn cảnh nhất định Còn năng lực hợp tác được thể hiện qua sự tương tác giữa người này với người kia trong công việc
- Năng lực công cụ gồm: Năng lực tính toán, Năng lực sử dụng ngôn ngữ, Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin (ICT) Ở đây, năng lực tính toán gắn với Toán và các môn khoa học tự nhiên Năng lực sử dụng ngôn ngữ bao gồm khả năng sử dụng ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ tiếng nước ngoài Đây là nhóm năng lực đặc thù do một hoặc một vài môn học kiến tạo thành
Cùng với các năng lực đó thì năng lực sử dụng ngôn ngữ và năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mĩ là các năng lực mang tính đặc thù của môn Ngữ văn Trong đó, năng lực ngôn ngữ là năng lực thể hiện, biểu đạt đầy
đủ, rõ ràng, mạch lạc nhận thúc, suy nghĩ, tình cảm của bản thân bằng lời nói, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ Điều đó chứng tỏ người có năng lực ngôn ngữ là người sử dụng tốt ngôn ngữ tiếng Việt và ngôn ngữ tiếng nước ngoài
Năng lực ngôn ngữ về tiếng Việt là năng lực cần thiết của HS Việt Nam
Kế thừa môn tiếng Việt ở bậc Tiểu học, THCS và bộ môn ngữ Văn THPT được xem là môn học có vai trò quan trọng nhất giúp cho thế hệ trẻ phát triển năng lực ngôn ngữ
Năng lực ngôn ngữ của HS trung học gồm ba năng lực chủ yếu:
+ Năng lực làm chủ ngôn ngữ (tiếng Việt)
Trang 23
+ Năng lực sử dụng ngôn ngữ tiếng mẹ để để giao tiếp
+ Năng lực sử dụng ngôn ngữ để tạo lập văn bản
Trong đó, năng lực làm chủ ngôn ngữ yêu cầu học sinh phải có vốn ngôn ngữ nhất định, hiểu và cảm nhận được sự phong phú và giàu đẹp của tiếng Việt; nắm vững qui tắc cấu tạo tiếng Việt (cấu tạo từ, câu, qui tắc chính tả) để sử dụng tốt tiếng mẹ đẻ Để giao tiếp tốt trong các tình huống khác nhau với những đối tượng khác nhau đòi hỏi học sinh phải sử dụng thành thạo tiếng Việt Một trong những đặc trưng quan trọng của năng lực ngôn ngữ là việc sử dụng ngôn ngữ để tạo lập nên những văn bản đúng chuẩn mực như văn bản nghệ thuật, văn bản chính luận, các văn bản khác…
Trên thực tế, việc tạo lập được những văn bản như trên là việc không
hề dễ dàng Để tạo lập được các văn bản đó thì người học cần biết tạo lập ý, sắp xếp ý thành dàn bài và viết thành một bài văn hoàn chỉnh Nhiều học sinh sau khi ra trường vẫn còn lúng túng và thậm chí không viết nổi một đơn xin việc hay một bản tổng kết cá nhân Nên việc bồi dưỡng và phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh trung học là việc làm cần thiết
Đối với học sinh trung học cơ sở và thung học phổ thông thì năng lực ngôn ngữ chính là khả năng sử dụng ngôn ngữ để tạo lập văn bản nói và văn bản viết Với ba phân môn: Tiếng Việt, đọc hiểu và làm văn, bộ môn Ngữ văn thực hiện mục tiêu quan trọng mang tính đặc thù của môn học nhất là phân môn Tiếng Việt nhằm rèn luyện năng lực giao tiếp cho học sinh được thể hiện
ở 4 kỹ năng cơ bản:
+ Năng lực nói: phát âm, diễn đạt, đối thoại, trao đổi…
+ Năng lực nghe: hiểu nghĩa tường minh và hàm ý, nhận xét, phản hồi, nghe, cảm nhận thông tin …
+ Năng lực đọc: yêu cầu đọc đúng, đọc diễn cảm, đọc sáng tạo, tóm tắt, đọc nhanh thu thập thông tin
đọc-+ Năng lực viết: viết đúng ngữ pháp, viết được cảm xúc của bản thân,
Trang 24sử dụng ngôn ngữ cho HS Để phát góp phần hình thành và phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh Mỗi văn bản đều thuộc một phong cách ngôn ngữ nhất định Vì vậy, giáo viên cần định hướng phát triển khả năng sử dụng ngôn ngữ cho học sinh giúp họ nhận thức được khi nào cần nói, nói gì, nói với ai, ở đâu và nói như thế nào cho hiệu quả Thực tế để người học có được kỹ năng trên là cả một quá trình rèn luyện, học tập của người học
1.2.1.3 Hiểu biết về phong cách ngôn ngữ - một yếu tố hợp thành của năng lực ngôn ngữ
Phong cách nghĩa là Style trong tiếng Anh và từng được hiểu là nghệ
thuật viết, nghệ thuật diễn đạt sao cho hiệu quả, độ vênh so với thông thường, gợi nhắc đến màu sắc cá nhân
Từ phong cách vừa được dùng trong phong cách học vừa được dùng
trong đời sống như phong cách làm việc, phong cách sống, phong cách ăn mặc… Và phong cách được hiểu là nét riêng biệt, cá tính, độc đáo được lặp đi lặp lại của hành động trong mối quan hệ giữa hình thức và nội dung
Trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, các nhân tố tham gia giao tiếp và ảnh hưởng đến cuộc giao tiếp bao gồm: nhân vật giao tiếp (giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, độ tuổi, vùng miền, cá tính mỗi người…), nội dung giao tiếp, mục đích giao tiếp, cách thức giao tiếp, phương tiện giao tiếp (ngôn ngữ
Trang 25
khác nhau, cách diễn đạt khác nhau như ngôn ngữ tiếng Việt khác tiếng Hán, tiếng Anh…, trong ngôn ngữ dân tộc tiếng Việt cách nói của người Kinh khác với người Thái, Mường, Thanh…) Như vậy các ngôn ngữ khác nhau không chỉ ở ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp mà còn khác nhau ở cách diễn đạt nên có những phong cách ngôn ngữ khác nhau
“Phong cách ngôn ngữ chính là những biến thể sử dụng các phương
tiện ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp; được lặp đi lặp lại trở thành dấu hiệu đặc trưng sử dụng ở mỗi cá nhân, mỗi môi trường giao tiếp xã hội
và làm thành những ngôn ngữ đặc trưng của cộng đồng, có khả năng phân biệt ngôn ngữ cá nhân này với cá nhân khác, môi trường này với môi trường khác và cách diễn đạt của ngôn ngữ này với ngôn ngữ khác” (Giáo trình Phong cách học tiếng Việt, Nxb Đại học Sư phạm, Nguyễn Thái Hòa, tr 11)
Năng lực ngôn ngữ là một trong những năng lực cốt lõi, quan trọng của môn Ngữ văn sẽ hình thành và phát triển cho học sinh Sử dụng ngôn ngữ là năng lực sử dụng tiếng Việt hiệu quả trong giao tiếp nhằm tạo ra những văn bản phù hợp với tình huống, mục đích, yêu cầu của cuộc giao tiếp Vì vậy việc nắm vững kiến thức về các đặc trưng cơ bản của từng phong cách ngôn ngữ sẽ rất thuận lợi cho việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp của người học
Hoạt động giao tiếp có thể được tiến hành bằng nhiều phương tiện song phương tiện quan trọng nhất là ngôn ngữ Để đạt được mục đích giao tiếp người nói (người viết) sử dụng các quy tắc của hệ thống ngôn ngữ để chuyển tải nội dung thông tin, trong từng hoàn cảnh/ngữ cảnh nhất định và đối tượng
cụ thể nhằm thể hiện thái độ phù hợp với đối tượng và bối cảnh giao tiếp Với đặc thù bộ môn Ngữ văn, hình thành và phát triển năng lực ngôn ngữ/năng lực
sử dụng Tiếng Việt là mục tiêu quan trọng Năng lực ngôn ngữ được thể hiện qua 4 kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết; khả năng vận dụng kiến thức và kỹ năng
ấy vào các tình huống giao tiếp khác nhau trong đời sống Vì vậy, bên cạnh
Trang 26
những kiến thức cần thiết của phân môn tiếng Việt như đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, biện pháp tu từ,, ngữ cảnh, đặc điểm loại hình tiếng Việt… thì hợp phần phong cách ngôn ngữ là yếu tố quan trọng hợp thành năng lực ngôn ngữ của học sinh
Bậc THCS, chương trình sách giáo khoa chủ yếu cung cấp những hiểu biết về tu từ học và một phần nhỏ các bài học liên quan đến phong cách ngôn
ngữ như biên bản, hợp đồng, thư, điện… Đến chương trình THPT, hợp phần
phong cách ngôn ngữ (gồm 6 bài học về phong cách ngôn ngữ được bố trí ở 3
khối lớp 10, 11, 12) là nhóm bài học về phong cách ngôn ngữ mới mẻ trong hai bộ sách cơ bản và nâng cao Cụ thể:
+ Lớp 10: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (2 tiết), Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật (2 tiết)
+ Lớp 11: Phong cách ngôn ngữ báo chí (2 tiết), Phong cách ngôn ngữ chính luận (2 tiết)
+ Lớp 12: Phong cách ngôn ngữ khoa học (2 tiết), phong cách ngôn
Trang 27
ngữ hành chính (2 tiết)
Tổng số tiết hợp phần phong cách ngôn ngữ là 12 tiết Trong chương trình bố trí dạy học phần lí thuyết và thực hành, nhất là chú trọng phần thực hành Tuy chương trình không bố trí phần hợp phần phong cách ngôn ngữ liền mạch, thống nhất nhưng qua các bài học đó đặc biệt coi trọng việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho học sinh
Chương trình giáo dục của bộ môn Ngữ văn nói chung và hợp phần phong cách ngôn ngữ trong phân môn tiếng Việt nói riêng trên thực tế chưa thực sự được coi trọng Việc nhận thức về tầm quan trọng của hiểu biết về phong cách ngôn ngữ của giáo viên và học sinh còn chưa tương xứng với vai trò, vị trí và tầm quan trọng của hợp phần phong cách ngôn ngữ trong chương trình dạy học bộ môn Ngữ văn Khả năng đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học chưa thật sự mang lại hiệu quả; vẫn còn ảnh hưởng bởi lối dạy học cũ nặng nề Trong kiểm tra đánh giá năng lực người học mặc dù có phần kiến thức về các bài phong cách ngôn ngữ song lượng kiến thức được kiểm tra không nhiều, chỉ một phần nhỏ trong cấu trúc bài thi phần đọc hiểu
Thực trạng đó đòi hỏi cần có sự thay đổi trong nhận thức của người dạy
và người học Chúng ta phải thật sự nỗ lực thay đổi cách nhìn nhận, đánh giá
về tầm quan trọng của hiểu biết về phong cách ngôn ngữ từ phía GV và HS
Để khắc phục được thực trạng trên cần sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của ngành, tổ chuyên môn ở các trường phổ thông
1.2.2.2 Thực trạng dạy học hợp phần phong cách ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông
Trước khi đổi mới phương pháp dạy học thì phương pháp dạy học truyền thống - dạy học thuyết trình vẫn được coi là phương pháp dạy học chủ yếu đối với người dạy đối với tất cả các môn học Đó là cách thầy giảng, trò
Trang 28
chép; học sinh thụ động trong chiếm lĩnh tri thức, người thầy là trung tâm của giờ dạy học… Chúng ta không thể phủ nhận đây là phương pháp tối ưu giúp người dạy có thể truyền đạt một lượng kiến thức lớn trong khoảng thời gian ít ỏi; giáo viên có thể chủ động trong giờ giảng bài của mình và ít gặp trở ngại
về những tình huống nảy sinh trong giờ dạy học Học sinh thì thu nhận được nhiều kiến thức từ giáo viên dạy Nhưng một thực tế thì phương pháp dạy học thuyết trình dễ gây sự nhàm chán, mệt mỏi cho người dạy và người học; người dạy chịu trách nhiệm chính trong thành công hay thất bại của giờ học Học sinh vận dụng kiến thức vào hoạt động thực tiễn là rất khó khăn vì học sinh không có cơ hội để chia sẻ, đóng góp những kiến thức và suy nghĩ cá nhân trong giờ học
Đổi mới phương pháp dạy học là yêu cầu tất yếu của giáo dục nước ta hiện nay Dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh là yêu cầu cần thiết của dạy học trong thời đại ngày nay nhằm đáp ứng nhu cầu của
xã hội trong thời kỳ hội nhập về đào tạo công dân toàn cầu Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực người học vừa chú ý tích cực hóa hoạt động trí tuệ vừa chú ý năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống thực hành, thực tiễn Nhằm tăng cường hoạt động nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên và học sinh theo hướng cộng tác nhằm phát triển năng lực xã hội
Trên thực tế dạy học phân môn Tiếng Việt nói chung và dạy học hợp phần phong cách ngôn ngữ nói riêng trong trường phổ thông đã có những bước tiến đáng kể trong đổi mới dạy học theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học của ngành Trong giờ dạy học giáo viên đứng lớp đã có lựa chọn linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù để vận dụng trong giờ dạy học bộ môn Văn nói chung Đa số giáo viên hứng mục tiêu của giờ dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành năng lực tự học và trau dồi phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy
Trang 29
của học sinh Một số tiết học Tiếng Việt, nhất là dạy học các bài phong cách ngôn ngữ đã chú trọng dạy học lý thuyết và thực hành Tuy nhiên thực trạng dạy học hợp phần phong cách ngôn ngữ trong trường phổ thông cho thấy một
số hạn chế nhất định khi tổ chức dạy học nhóm bài này
Thứ nhất: Việc tổ chức dạy học nhóm bài phong cách ngôn ngữ theo định hướng phát triển năng lực của học sinh ở trường phổ thông chủ yếu được tiến hành bằng phương pháp phân tích và phương pháp luyện tập Phương pháp phân tích ngôn ngữ là một phương pháp thường được sử dụng khi dạy học Tiếng Việt, đặc biệt là dạy học về phong cách ngôn ngữ Trong phương pháp này giáo viên tổ chức, hướng dẫn học sinh tìm hiểu các hiện tượng ngôn ngữ/ ngữ liệu, quan sát và phân tích các ngữ liệu đó theo định hướng của bài học; từ đó rút ra những nội dung lý thuyết hoặc thực hành cần ghi nhớ
Như trong bài học về phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (Ngữ văn 10, tập1, tr 113), sách giáo khoa có dẫn ra ngữ liệu sau:
Hãy thể hiện đúng giọng điệu đoạn ghi chép sau đây:
(Buổi trưa tại khu tập thể X, hai bạn Lan và Hùng gọi bạn Hương đi học)
- Hương ơi! Đi học đi! (im lặng)
- Hương ơi! Đi học đi! (Lan và Hùng gào lên)
- Gì mà ầm ầm thế chúng mày! Không cho ai ngủ ngáy nữa à! (tiếng
một người đàn ông nói to)
- Các cháu ơi, khẽ chứ ! Để cho các bác ngủ trưa với! Nhanh lên con,
hương! (tiếng mẹ Hương nhẹ nhàng, ôn tồn)
- Đây rồi, ra đây rồi! (tiếng Hương nhỏ nhẹ)
- Gớm, chậm như rùa ấy! Cô phê bình chết thôi! (tiếng Lan càu nhàu)
- Hôm nào cũng chậm Lạch bà lạch bạch như vịt bầu! (tiếng Hùng
tiếp lời)
Căn cứ vào ngữ liệu, giáo viên tổ chức học sinh phân tích ngữ liệu bằng
Trang 30và mục đích giao tiếp… Từ đó có thể giúp học sinh hình thành kiến thức về ngôn ngữ sinh hoạt Học sinh vừa phát triển ngôn ngữ vừa phát triển tư duy Tuy vậy, đây là phương pháp khá mất nhiều thời gian cho việc quan sát và phân tích ngữ liệu, hình thành khái niệm lí thuyết; giáo viên cần nắm chắc mục tiêu, nội dung bài học nếu không dễ lan man, lạc đề Trong quá trình tổ chức giờ học nếu không bao quát được toàn lớp thì sẽ khiến một bộ phận học sinh bị “bỏ rơi” trong giờ học
Thứ hai: Bên cạnh việc nắm bắt kiến thức lý thuyết như khái niệm và các đặc trưng của phong cách ngôn ngữ thì thực hành để rèn luyện kỹ năng
cũng rất quan trọng Vì vậy, phương pháp luyện tập được vận dụng trong dạy
học hợp phần phong cách ngôn ngữ Thông qua luyện tập, học sinh lặp đi lặp
lại nhiều lần những kỹ năng cần thiết của giờ học nhằm hình thành những kỹ năng, kỹ xảo của môn học và hình thành phương pháp học tập cho học sinh Khi dạy học nhóm bài phong cách ngôn ngữ bằng việc vận dụng phương pháp luyện tập/thực hành nhằm đạt được những mục tiêu của bài học như:
- Dạy học bài phong cách ngôn ngữ sinh hoạt nhằm nâng cao kĩ năng
phân tích và sử dụng ngôn ngữ theo phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
- Hoặc khi dạy bài phong cách ngôn ngữ nghệ thuật rèn luyện kỹ năng
phân tích và sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật…
Tuy nhiên, trong quá trình luyện tập năng lực người học không giống nhau nên giáo viên gặp khó khăn trong lựa chọn bài tập thực hành Đồng thời tốc độ hoàn thành bài tập của người học phụ thuộc vào năng lực mỗi người
Trang 31
nên không như nhau, giáo viên mất rất nhiều thời gian
Không có một phương pháp nào là “vạn năng”, phù hợp với tất cả các bài học Mỗi phương pháp có những ưu điểm và tồn tại riêng của nó Cần vận dụng kết hợp có hiệu quả các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học nhóm bài phong cách ngôn ngữ nói riêng và dạy học môn Ngữ văn nói chung
Tiểu kết chương 1
Qua chương 1 chúng tôi đã trình bày tổng quan vấn đề nghiên cứu và
cơ sở khoa học của đề tài nghiên cứu về các vấn đề dạy học phát triển năng lực, hiểu biết về phong cách ngôn ngữ - một yếu tố hợp thành của năng lực sử dụng ngôn ngữ, phát triển năng lực ngôn ngữ trong dạy tiếng Việt ở chương trình Ngữ văn THPT Dạy học hợp phần phong cách ngôn ngữ có ý nghĩa quan trọng trong phát triển năng lực sử dụng tiếng Việt cho học sinh
Trang 32
Chương 2 NỘI DUNG DẠY HỌC, CÁC NGUYÊN TẮC VÀ BIỆN PHÁP DẠY HỌC HỢP PHẦN PHONG CÁCH NGÔN NGỮ TRONG CHƯƠNG TRÌNH
NGỮ VĂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
2.1 Nội dung dạy học hợp phần phong cách ngôn ngữ xét từ yêu cầu phát triển năng lực học sinh
2.1.1 Đánh giá cấu trúc kiến thức- kỹ năng của các bài học về phong cách ngôn ngữ trong sách giáo khoa Ngữ văn
Bằng phương pháp khảo sát, thống kê chương trình trong sách giáo khoa Ngữ văn 10,11,12 (bộ cơ bản và nâng cao), chúng tôi nhận thấy số bài phong cách ngôn ngữ gồm 6 đơn vị, được phân bố đều ở 3 khối lớp trong chương trình Cụ thể như sau:
Bảng 2.1 Bảng thống kê tỉ lệ tiết học về phong cách ngôn ngữ
trong sách giáo khoa Ngữ văn 10,11,12 (bộ cơ bản và nâng cao)
Lớp Cơ bản Nâng cao
Lớp Tuần Tiết Bài Số tiết
10 12,14 36,42 Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt 2
28 83,84 Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật 2
31,32 109,112 Phong cách ngôn ngữ chính luận 2
31 91,92 Phong cách ngôn ngữ hành chính 2
Trang 33
Bảng 2.3 Bảng thống kê nội dung kiến thức của các bài học
về phong cách ngôn ngữ trong 3 khối lớp 10,11,12
10 Phong cách ngôn ngữ
sinh hoạt
I Ngôn ngữ sinh hoạt
II Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt III Luyện tập
I Văn bản chính luận và ngôn ngữ chính luận
II Các phương tiện diễn đạt và đặc trưng của phong cách ngôn ngữ chính luận
12 Phong cách ngôn ngữ
khoa học
I Văn bản khoa học và ngôn ngữ khoa học
II Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ khoa học
Trang 34
thức lý thuyết vào giải quyết các bài tập liên quan đến phong cách ngôn ngữ như nhận diện đặc điểm của từng phong cách ngôn ngữ, tạo lập văn bản thuộc các phong cách ngôn ngữ khác nhau
2.1.1.1 Bài Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (Ngữ văn 10, tập 1)
Trong chương trình dạy học hiện hành của lớp 10, đây là tiết học 36:
I Ngôn ngữ sinh hoạt:
1 Khái niệm ngôn ngữ sinh hoạt
Ngữ liệu: đoạn hội thoại giữa các nhân vật
Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích ngữ liệu và rút ra kết luận:
Ngôn ngữ sinh hoạt là gì? Tại sao ngôn ngữ sinh hoạt còn được gọi là ngôn ngữ khẩu ngữ, ngôn ngữ nói, ngôn ngữ hội thoại…?
Đánh giá: ngữ liệu là phù hợp Đây là một đoạn hội thoại sinh động giúp học sinh nhận ra được đặc điểm của ngôn ngữ sinh hoạt vì ngôn ngữ sinh hoạt tồn tại trong đời sống hàng ngày Tuy nhiên, ngữ liệu cũng chỉ mới là lời nói được tái hiện bằng văn bản dạng viết, không thể đảm bảo tính sinh động như phương tiện nghe nhìn hiện đại Qua khảo sát, chúng tôi thấy phần ngữ liệu chỉ đề cập đến một dạng biểu hiện của ngôn ngữ sinh hoạt là dạng nói, trong khi phần lí thuyết phần 2 đề cập đến dạng biểu hiện khác của ngôn ngữ sinh hoạt là dạng viết như nhật kí, hồi kí, thư từ… Vì vậy cần dẫn thêm ngữ liệu về dạng biểu hiện trên để ngữ liệu phong phú hơn
2 Các dạng biểu hiện của ngôn ngữ sinh hoạt
Sách giáo khoa cung cấp lí thuyết về hai dạng tồn tại chủ yếu của ngôn ngữ sinh hoạt là dạng nói và dạng viết Dạng nói gồm độc thoại, đối thoại; dạng viết gồm có: nhật kí, hồi ức cá nhân, thư từ Trong tác phẩm văn học, lời thoại của nhân vật là dạng lời nói tái hiện, mô phỏng ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày
3 Luyện tập
Câu a: mục tiêu bài học là yêu cầu học sinh trình bày ý kiến về nội
dung, ý nghĩa của hai câu tục ngữ nói về đặc điểm và vai trò của lời nói trong
Trang 35
việc thể hiện phẩm chất, trí tuệ, tư cách, đạo đức, tình cảm của con người và
là lời khuyên cần thận trọng khi nói năng
Bài tập này giúp học sinh thấy được vai trò của ngôn ngữ nói trong đời sống hàng ngày và trách nhiệm của bản thân trước lời nói của mình Bài tập mang tính giáo dục cao
Câu b: sách giáo khoa dẫn ra ngữ liệu (Theo Sơn Nam, Bắt sấu rừng U Minh Hạ) yêu cầu học sinh qua bài tập nhận ra một dạng tồn tại khác của
ngôn ngữ sinh hoạt đó là dạng lời nói tái hiện, mô phỏng ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày trong các văn bản văn học
Nhận xét: bài tập ở tiết 1 này chủ yếu kiểm tra mức độ nhận biết và thông hiểu của học sinh nhằm củng cố lí thuyết về ngôn ngữ sinh hoạt
Tiết 42:
II Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
Tiết học này, sách giáo khoa làm rõ ba đặc trưng của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt Căn cứ vào ngữ liệu ở mục I để phân tích làm rõ: tính cụ thể, tính cảm xúc, tính cá thể Như vậy, ta thấy được sự thống nhất trong bài học, học sinh dễ dàng theo dõi và cũng hiểu sâu sắc hơn về ngữ liệu Tuy nhiên, ngôn ngữ sinh hoạt còn có dạng lời nói tái hiện trong các tác phẩm văn học vì vậy nên đưa thêm ngữ liệu phần này để dẫn chứng thêm sinh động, hấp dẫn
III Luyện tập
Phần thực hành gồm ba bài tập khái quát đặc trưng của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt và cách sử dụng phương tiện ngôn ngữ trong phong cách
ngôn ngữ sinh hoạt Đặc biệt bài tập 3 có tích hợp với bài học Đặc điểm ngôn
ngữ nói và ngôn ngữ viết
2.1.1.2 Bài Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật (Ngữ văn 10, tập 2)
Thời lượng và cấu trúc bài học cũng giống với bài phong cách ngôn ngữ sinh hoạt: dạy trong 2 tiết (tiết 83+84) và nội dung gồm ba mục lớn:
Trang 36+ Ngôn ngữ sân khấu
- Chức năng: Ngôn ngữ nghệ thuật ngoài chức năng thông tin còn thực hiện chức năng thẩm mĩ: biểu hiện cái đẹp và khơi gợi, nuôi dưỡng cảm xúc thẩm mĩ ở người nghe, người đọc (ví dụ)
- Nhận xét: sách giáo khoa đã cung cấp một số tri thức cần thiết về ngôn ngữ nghệ thuật, có ngữ liệu cụ thể dễ hiểu Nhưng các đề mục trình bày chưa có tính hệ thống, khoa học như mục I chỉ có mục 1 mà không có mục 2, 3…
Phần ngữ liệu trong sách giáo khoa cơ bản cần dẫn thêm ví dụ về loại ngôn ngữ tự sự hay ngôn ngữ kịch, tích hợp với phần văn bản đọc hiểu để hệ thống ngữ liệu phong phú hơn
II Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
Sách ngữ văn 10 tập trung trình bày ba đặc trưng của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật qua các dẫn chứng cụ thể:
- Tính hình tượng
- Tính truyền cảm
- Tính cá thể
Trang 37
III Luyện tập
Để củng cố kiến thức lí thuyết về phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, sách giáo khoa đưa ra 4 bài tập với những mức độ khác nhau: nhận biết, thông hiểu, vận dụng Theo chúng tôi phần này cần dẫn thêm bài tập theo tinh thần của phần kiểm tra đánh giá năng lực và kỹ năng của HS ở phần đọc hiểu nhằm giúp người học làm quen với dạng bài tập mang tính chất tổng hợp này
Ví dụ: Bài tập liên quan đến các yêu cầu như: Văn bản trên thuộc phong
cách ngôn ngữ nghệ thuật không? Nêu nội dung thông tin và nội dung thẩm
mĩ của văn bản? Kể tên một số hình ảnh được gợi ra từ văn bản Phân tích BPTT được thể hiện trong văn bản - Đó có phải biểu hiện tính hình tượng không? Chỉ ra biểu hiện tính các thể hóa của văn bản khi so sánh với tác phẩm
Đồng chí (Chính Hữu)? Hãy phân tích tính truyền cảm của văn bản?
2.1.1.3 Bài Phong cách ngôn ngữ báo chí (Ngữ văn 11, tập 1)
Tiết 47:
I Ngôn ngữ báo chí
1 Tìm hiểu một số thể loại văn bản báo chí
Sách giáo khoa dẫn ra 3 ngữ liệu minh họa với ba thể loại cụ thể:
a, Bản tin
b, Phóng sự
c, Tiểu phẩm
2 Nhận xét chung về văn bản báo chí và ngôn ngữ báo chí
a, Báo chí có nhiều thể loại: ngoài các thể loại trên còn có các thể loại khác như: thư bạn đọc, phỏng vấn, quảng cáo, trao đổi ý kiến, bình luận thời sự…
b, Yêu cầu về sử dụng ngôn ngữ: mỗi thể loại có yêu cầu riêng về sử dụng ngôn ngữ
c, Ngôn ngữ báo chí có chức năng chung: cung cấp tin tức thời sự, phản ánh dư luận và ý kiến của quần chúng đồng thời nêu lên quan điểm, chính kiến của tờ báo, nhằm thúc đẩy sự phát triển của xã hội
Trang 38II Các phương tiện diễn đạt và đặc trưng ngôn ngữ báo chí
1 Các phương tiện diễn đạt
a,Về từ vựng
b, Về ngữ pháp
c, Về các biện pháp tu từ
2 Đặc trưng của ngôn ngữ báo chí
a, Tính thông tin thời sự
b, Tính ngắn gọn
c, Tính sinh động, hấp dẫn
So với phong cách ngôn ngữ nghệ thuật thì bài học này nhà biên soạn
chương trình có thêm phần Các phương tiện diễn đạt, đây là phần kiến thức
quan trọng, cần thiết cho học sinh giúp các em dễ phân biệt đặc điểm sự khác nhau giữa các phong cách chức năng ngôn ngữ
III Luyện tập
Bài tập luyện tập gồm hai bài Bài 1: phân tích đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ báo chí qua ngữ liệu cho sẵn Bài 2: Thực hành viết phóng sự ngắn mang tính thời sự (về một vấn đề mà dư luận quan tâm: môi trường sống, nạn
cờ bạc, hủ tục mê tín ở địa phương…)
Đánh giá: Hai bài tập đánh giá năng lực người học ở cấp độ nhận biết, thông hiểu ở bài tập 1 và cấp độ vận dụng ở bài tập 2 Qua đó giáo viên nắm được thông tin phản hồi từ người học về khả năng vận dụng kiến thức lí thuyết vào viết văn bản báo chí
Trang 39
2.1.1.4 Bài Phong cách ngôn ngữ chính luận (Ngữ văn 11, tập 2)
Tiết 109:
I Văn bản chính luận và ngôn ngữ chính luận
1 Tìm hiểu văn bản chính luận
- Sách giáo khoa giới thiệu một số văn bản chính luận thời xưa như: hịch, cáo, thư, sách, chiếu, biểu… và giới hạn ngữ liệu tìm hiểu trong bài học
là văn bản chính luận hiện đại: cương lĩnh, tuyên bố, tuyên ngôn, lời kêu gọi; các bài bình luận, xã luận…
- Ngữ liệu: tuyên ngôn, bình luận thời sự, xã luận
- Qua ngữ liệu học sinh tìm hiểu mục đích văn bản và quan điểm người viết đối với những vấn đề được đề cập đến
2 Nhận xét chung về văn bản chính luận và ngôn ngữ chính luận
Phần này sách giáo khoa hướng dẫn khái quát nhận biết về văn bản chính luận và ngôn ngữ chính luận Đặc biệt phân biệt giữa khái niệm chính luận và nghị luận
2 Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ chính luận
a, Tính công khai về quan điểm chính trị
b, Tính chặt chẽ trong diễn đạt và suy luận
c, Tính truyền cảm, thuyết phục
III Luyện tâp
Bài 1: Chỉ ra các biện pháp tu từ trong đoạn văn chính luận
Trang 40+ Hệ thống bài tập luyện tập cũng phân loại cấp độ nhận thức của học sinh từ nhận biết, thông hiểu đến vận dụng
Tuy nhiên, theo chúng tôi cần bổ sung phần bài tập tạo lập văn bản chính luận về chủ đề gần gũi, thiết thực với các em như viết đoạn văn kêu gọi các bạn học sinh giúp đỡ bạn nghèo vượt khó hoặc kêu gọi giúp đỡ đồng bào miền Trung bị lũ lụt…
2.1.1.5 Bài Phong cách ngôn ngữ khoa học (Ngữ văn 12, tập 1)
Tiết 13+14:
I Văn bản khoa học và ngôn ngữ khoa học
1 Văn bản khoa học
- Ngữ liệu: ba loại văn bản khác nhau và hệ thống câu hỏi gợi ý tìm hiểu
- Giới thiệu ba loại văn bản khoa học chính: Các văn bản khoa học chuyên sâu, văn bản khoa học giáo khoa, văn bản khoa học phổ cập
2 Ngôn ngữ khoa học
- Khái niệm về ngôn ngữ khoa học
- Các dạng tồn tại: dạng nói, dạng viết
II Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ khoa học
1 Tính khái quát, trừu tượng
2 Tính lí trí logic
3 Tính khách quan, phi cá thể