1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghệ thuật kể chuyện trong tiểu thuyết lịch sử của lưu sơn minh

103 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghệ Thuật Kể Chuyện Trong Tiểu Thuyết Lịch Sử Của Lưu Sơn Minh
Tác giả Đặng Thị Thu Ngọc
Người hướng dẫn TS. Lê Thanh Nga
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những tác phẩm viết về đề tài lịch sử của các tác giả trong giai đoạn này không chỉ tái hiện lại các thời kỳ lịch sử của dân tộc với những thăng trầm của xã hội và vai trò nổi bật của cá

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

-

ĐẶNG THỊ THU NGỌC

NGHỆ THUẬT KỂ CHUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ

CỦA LƯU SƠN MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Nghệ An, 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

-

ĐẶNG THỊ THU NGỌC

NGHỆ THUẬT KỂ CHUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ

CỦA LƯU SƠN MINH

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 8.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ THANH NGA

Nghệ An, 2019

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát 8

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn 10

7 Cấu trúc của luận văn 10

NỘI DUNG 11

Chương 1 LƯU SƠN MINH TRONG DÒNG CHẢY TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 11

1.1 Những vấn đề của văn xuôi nghệ thuật viết về đề tài lịch sử trong văn học Việt Nam sau 1975 11

1.1.1 Văn xuôi nghệ thuật Việt Nam và việc xử lí đề tài lịch sử trong truyền thống 11

1.1.2 Những lựa chọn của việc xử lí đề tài lịch sử trong văn xuôi nghệ thuật Việt Nam đương đại 14

1.1.3 Một số thành tựu của văn xuôi nghệ thuật viết về đề tài lịch sử trong văn học Việt Nam đương đại 17

1.2 Lưu Sơn Minh với đề tài lịch sử 20

1.2.1 Hành trình đến với tiểu thuyết lịch sử của Lưu Sơn Minh 20

1.2.2 Lựa chọn của Lưu Sơn Minh trong việc xử lí đề tài lịch sử 24

1.2.3 Tổng quan về tiểu thuyết lịch sử của Lưu Sơn Minh 27

Tiểu kết chương 1 30

Chương 2 CỐT TRUYỆN, NHÂN VẬT VÀ THỜI GIAN KỂ CHUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA LƯU SƠN MINH 31

2.1 Cốt truyện trong tiểu thuyết lịch sử của Lưu Sơn Minh 31

2.1.1 Cốt truyện được cấu trúc theo nguyên tắc tôn trọng lịch sử 31

Trang 4

2.1.3 Cốt truyện cấu trúc theo nguyên lí của những dịch chuyển văn hóa 39

2.2 Sự kể, tả nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử của Lưu Sơn Minh 43

2.2.1 Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử của Lưu Sơn Minh 43

2.2.2 Sự tinh tế trong việc lựa chọn thủ pháp miêu tả nhân vật 47

2.2.3 Tính chất liên văn bản của nhân vật 51

2.3 Thời gian của sự kể trong tiểu thuyết lịch sử của Lưu Sơn Minh 55

2.3.1 Thời gian của người kể 55

2.3.2 Thời gian nhân vật 58

2.3.3 Tính chất liên thời gian 62

Tiểu kết chương 2 65

Chương 3 ĐIỂM NHÌN, BÚT PHÁP VÀ GIỌNG ĐIỆU TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA LƯU SƠN MINH 66

3.1 Điểm nhìn trong tiểu thuyết lịch sử của Lưu Sơn Minh 66

3.1.1 Khái niệm điểm nhìn 66

3.1.2 Điểm nhìn bên trong 68

3.1.3 Điểm nhìn bên ngoài 73

3.1.4 Điểm nhìn phức hợp hay sự di chuyển điểm nhìn 75

3.2 Bút pháp 78

3.2.1 Bút pháp sử ký 78

3.2.2 Bút pháp hiện thực 80

3.2.3 Bút pháp trữ tình lãng mạn 83

3.3 Giọng điệu 85

3.3.1 Giọng tráng ca 85

3.3.2 Giọng cảm khái, ngậm ngùi 87

Tiểu kết chương 3 91

KẾT LUẬN 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1 Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam những năm cuối thế kỷ XX và những năm

đầu thế kỷ 21 được Nguyễn Văn Long và nhiều nhà nghiên cứu đánh giá như “sự phục sinh của thể loại tiểu thuyết lịch sử” với sự phát triển đáng kể về số lượng cũng như lực lượng sáng tác Ở chặng này, nhiều cây bút tiêu biểu đã gây dựng cho mình những nét độc đáo riêng trong việc khai phá và sáng tạo hiện thực lịch

sử làm cho diện mạo tiểu thuyết lịch sử trở nên đa dạng với sử chuyển biến sâu sắc về quy mô, số lượng, nội dung tư tưởng, thi pháp Những tác phẩm viết về

đề tài lịch sử của các tác giả trong giai đoạn này không chỉ tái hiện lại các thời

kỳ lịch sử của dân tộc với những thăng trầm của xã hội và vai trò nổi bật của các nhân vật lịch sử mà hơn thế nữa, qua các nhân vật lịch sử đó họ còn thể hiện

quan điểm tư tưởng nhân văn của mình trước thời đại

2 Một trong số những cây bút sáng tạo của thời kỳ này là nhà văn Lưu

Sơn Minh Đây là một cây bút khá mới mẻ trên diễn đàn văn học, ông là người

cá tính tuy trẻ tuổi nhưng rất đam mê với lịch sử, luôn nặng nợ với các nhân vật lịch sử Sau 8 năm học chuyên Toán và 6 năm Đại học Y Hà Nội, Lưu Sơn Minh đột ngột chuyển sang viết văn, không những thế lại là tiểu thuyết lịch sử - thể loại mà từ trước tới nay vốn là đề tài thuộc về các nhà văn già, nghiêm túc, có

vốn sống dày dạn Thời gian đầu, ông cho ra đời các truyện ngắn Bến trần gian, Chim sâm cầm chưa về,… được một số nhà phê bình và bạn đọc đánh giá cao Tiếp đó, anh xuất bản hai tiểu thuyết Trần Quốc Toản, Trần Khánh Dư, mỗi

cuốn viết trong gần mười năm với sự tái hiện sinh động các nhân vật kiệt xuất của nhà Trần qua sự lý giải những uẩn khúc trong cuộc đời họ trong những

khung lịch sử cụ thể đã qua của đất nước

3 Viết về đề tài lịch sử, tác giả thường thông qua hình tượng văn học để

giải mã những câu chuyện của quá khứ, soi bóng vào hiện tại với cảm hứng nhân văn mang tính thời đại Với nhà văn trẻ Lưu Sơn Minh cũng vậy, ông đã mang đến cho người đọc một cảm giác mới mẻ, một sự khác lạ khi soi xét, nhìn nhận

và tái hiện sinh động các nhân vật lịch sử của mình bằng cái nhìn khách quan, đa chiều mà như Lưu Sơn Minh nói: “nếu chỉ đọc lướt qua, chúng ta sẽ không biết

ẩn sâu dưới những tầng chữ ấy là những diễn biến kinh thiên động địa, những số phận Việc của tôi là đi giải mã những bí mật ấy và diễn giải sao cho dễ đọc

Trang 6

nhất” Và sự khẳng định của ông “nếu còn được các nhân vật lịch sử yêu quý mà cho phép viết, tôi vẫn sẽ đi tiếp không ngại ngần gì trên con đường mà rất nhiều người bảo là khó đi này” đã thể hiện rõ sự lựa chọn lối đi riêng cho mình, đấy cũng là cách thể hiện bản lĩnh, cá tính của nhà văn

4 Tiểu thuyết Việt Nam đương đại đang có những cách tân mạnh mẽ trên

nhiều bình diện, trong đó có nghệ thuật kể chuyện Điều đó cũng xảy ra với các tiểu thuyết lịch sử Nghiên cứu nghệ thuật kể chuyện trong tiểu thuyết lịch sử của Lưu Sơn Minh hứa hẹn những khám phá lí thú ở quan niệm của nhà văn về lịch sử, về cách xử lí mối quan hệ giữa lịch sử với văn chương, với tiểu thuyết

Và, những kết quả nghiên cứu có được có thể sẽ góp thêm một tiếng nói nhận thức không chỉ về thể tài này, mà còn về tiểu thuyết Việt Nam đương đại nói

chung

Trên tinh thần đó, chúng tôi lựa chọn đề tài: Nghệ thuật kể chuyện trong

tiểu thuyết lịch sử của Lưu Sơn Minh

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Lịch sử nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử Lưu Sơn Minh

Trong những năm gần đây nhiều người đã chọn hướng viết về các đề tài lịch sử hướng về quá khứ, có rất nhiều tiểu thuyết lịch sử ra đời, trong đó nổi bật

như các tác phẩm: Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng ngàn (Nguyễn Xuân Khánh); Sương

mù tháng giêng (Uông Triều); Trần Khánh Dư, Trần Quốc Toản (Lưu Sơn Minh); Hội thề (Nguyễn Quang Thân); Tám triều Vua Lý, Bão táp triều Trần

(Hoàng Quốc Hải)… Sự nhanh chóng chiếm lĩnh của tiểu thuyết lịch sử với những bộ tiểu thuyết cỡ lớn đã đáp ứng yêu cầu của lịch sử và thời đại Đây là những tín hiệu khả quan để hình thành rõ nét hơn dòng văn học này trong tiến trình văn học của đất nước

Có rất nhiều bài viết và công trình nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử hiện đại, tác giả Hà Ân có bài “Vài ý kiến về sự thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử phục vụ các em” [1] Tác giả Bùi Văn Lợi trong Thông

tin KHXN, 1998, số có tiêu đề: “Mối quan hệ giữa tính chân thực lịch sử và hư cấu nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX” [30]; Trương Đăng Dung trong cuốn sách Từ văn bản đến tác phẩm văn học [11] có bài Tiểu thuyết lịch sử trong quan niệm mỹ học của G.Lukacs; bài viết Suy nghĩ

Trang 7

về lịch sử và tiểu thuyết lịch sử của Trần Đình Sử, được ông đăng trên trang cá nhân vào năm 2013; Tác giả Hải Thanh với Luận văn Tiểu thuyết lịch sử từ góc nhìn phương pháp sáng tác; Tác giả Nguyễn Văn Hùng có bài Kết cấu tự sự trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986 trên Tạp chí Khoa học Đại học Văn

Hiến số 11.2016 Các nhà nghiên cứu đã đánh giá việc hư cấu, tưởng tượng chính là một yêu cầu không thể thiếu trong tiểu thuyết lịch sử

Trong những năm gần đây, nhà văn trẻ Lưu Sơn Minh là được các nhà nghiên cứu đánh giá cao về chất lượng viết tiểu thuyết lịch sử Ông sinh năm

1974, hiện sống tại Hà Nội, là một trong số không nhiều các nhà văn trẻ nhận được những đánh giá cao của giới phê bình, nghiên cứu ngay từ khi ông viết tập

truyện ngắn đầu tiên có tên là Mưa sâm cầm, và đặc biệt là hai cuốn tiểu thuyết lịch sử Trần Quốc Toản và Trần Khánh Dư Đây là những tác phẩm có giá trị và

là tìm cho mình một cái nghề

Với sự xuất hiện thành công của hai tiểu thuyết lịch sử Trần Quốc Toản

và Trần Khánh Dư, trên diễn đàn Việt Nam ngày càng có nhiều bài báo , luận

văn tiếp cận các tác phẩm của ông theo nhiều hướng khác nhau Có thể kể đến

một số công trình như: Đặc điểm tiểu thuyết lịch sử Lưu Sơn Minh (qua hai tiểu thuyết Trần Khánh Dư và Trần Quốc Toản); [51]; Nhân vật trong tiểu thuyết lịch

sử Trần Quốc Toản của Lưu Sơn Minh [32], Nhân vật Trần Khánh Dư trong tiểu

thuyết lịch sử Việt Nam đương đại qua một số tác phẩm tiêu biểu [16],

Trang 8

Đánh giá về tiểu thuyết lịch sử của Lưu Sơn Minh, tác giả Nguyễn Ngọc

Trâm trong bài Khơi dòng mát trong để sử Việt làm say mê người Việt đã xem

đây “Như khơi một dòng nước mới mát trong để bắt vào nguồn mạch lịch sử tự hào, tiểu thuyết lịch sử kể lại câu chuyện để người đọc sống lại cảm giác của thời

đại đó, chia sẻ với những thân phận” [57] Đây là một lời khen rất khách quan

cho sự dày công khai thác, chuyển hóa các nhân vật lịch sử và những sử liệu khô khan thành một những tác phẩm với đầy đủ sự hình dung về muôn mặt đời sống sinh động của các nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử Lưu Sơn Minh Có thể thấy, ông đã trở về với quá khứ với một cách rất riêng, rất trân trọng, không hề khô khan mà hơn nữa, nó đã chạm tới trái tim người đọc bằng lối nhìn đa chiều, đa diện và hết mực nhân văn

Đánh giá về cốt truyện, tác giả T.Lê với bài viết Tiểu thuyết lịch sử miêu

tả chuyện tình yêu như ngôn tình, tiểu thuyết lịch sử Trần Khánh Dư “bên cạnh

Hào khí Đông A với cảnh tái hiện lại trận hải chiến Vân Đồn lịch sử, trong cuốn sách, người đọc còn thấy nhiều đoạn diễm tình ướt át về mối tình giữa Trần Khánh Dư và công chúa Thiên Thụy không thua gì những truyện ngôn tình thời thượng ” [27]

Trong bài viết Tiểu thuyết lịch sử Trần Quốc Toản: Khúc tráng ca về một chiến tướng oai hùng, Em Hoàng Thủy Vân cũng đã chia sẻ, khi đọc cuốn tiểu

thuyết lịch sử này chúng ta có thể biết Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản - một thiếu niên thuộc dòng dõi nhà Trần, không chỉ bóp nát quả cam quý vì lòng yêu nước, mà còn là một dũng tướng của Nhà Trần trong chống giặc, góp công lao to

lớn vào cuộc chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai (1285) [63]

Qua hai cuốn tiểu thuyết này, chúng ta thấy Lưu Sơn Minh là người có cái nhìn rất hợp thời đại, cốt truyện mà ông bồi tạo nên không chỉ là những sử liệu chính xác về con người, về những cuộc chiến hào hùng vốn có trong lịch sử, mà còn có sự nhuần nhị và sáng tạo về muôn mặt đời sống của các nhân vật, các mối quan hệ phức tạp, đa chiều của họ với qua sự đánh giá công bằng của chính tác giả

Khi đánh giá về nhân vật lịch sử Trần Khánh Dư trong tiểu thuyết của

Lưu Sơn Minh, tác giả Yên Ba trong bài Giữa hàng chữ Sử quan khi nhận xét

“Trần Khánh Dư là một trong những nhân vật kiệt xuất, cũng thuộc vào loại phức tạp bậc nhất trong lịch sử nước nhà Viết về một nhân vật như thế có thể

Trang 9

dễ vì đa tính cách, không “long lanh” một chiều như các nhân vật anh hùng cái thế khác trong lịch sử nước nhà, nhưng cũng cực khó bởi ngoài vài trang vẽ phác trong những cuốn sử, cần phải có một nội lực đủ thâm hậu để lấp vào khoảng trống mênh mông giữa những hàng chữ đơn sơ của sử quan ấy Với Trần Khánh

Dư, Lưu Sơn Minh đã làm được điều đó” [3]

Về cuốn tiểu thuyết lịch sử Trần Quốc Toản, Lưu Sơn Minh đã kể tiếp câu chuyện về nhân vật lịch sử anh hùng vô cùng thân thuộc với độc giả là Trần Quốc Toản, cùng những nhân vật có thật của đời Trần, những nhân vật được xây dựng mới một cách rất tự nhiên, và sinh động Hình tượng nhân vật chính được Lưu Sơn Minh xây dựng hoàn chỉnh từ nhiều góc độ khác nhau Tác giả V.V Tuân

khi đăng bài Tiểu thuyết lịch sử Trần Quốc Toản gặp lại bạn đọc sau 12 năm đã

nhận định “Nhà văn Lưu Sơn Minh cũng xây dựng nhiều nhân vật gây ấn tượng

Đó là các nhân vật có thật trong lịch sử thuộc hoàng tộc nhà Trần hay các nhân vật được tác giả xây dựng mới hoặc “nối dài” từ các tác phẩm của nhà văn Hà Ân: cô Thoan, Hoàng Chí Hiển, cụ Uẩn, Hoàng Đỗ, Hoàng Mãnh…”[59]

Rõ ràng, việc Lưu Sơn Minh đã xây dựng trọn vẹn nhân vật của mình qua những dữ liệu ít ỏi và phiến diện của lịch sử là một điều không hề đơn giản Phải

có bản lĩnh, tài năng và sức sáng tạo tác giả mới có thể hoàn thành tốt như thế Ông rất biết tiết chế điều độ các yếu tố phù hợp theo từng điều kiện, hoàn cảnh, ngoại hình và tính cách của các nhân vật vào trong cuốn tiểu thuyết để tái hiện sinh động, đa chiều cuộc đời của những nhân vật mà ông tâm huyết, nó đủ sức lôi cuốn và thuyết phục độc giả tham gia vào những câu chuyện lịch sử hùng tráng bởi ngòi bút của một sử gia tinh tường và tài năng

2.2 Lịch sử nghiên cứu truyện ngắn của Lưu Sơn Minh

Về truyện ngắn, Lưu Sơn Minh đã có nhiều tập truyện ngắn, kịch bản

phim Trong đó nổi tiếng được nhiều độc giả biết đến, với các tác phẩm như: Bền Trần gian, Mưa Sâm Cầm (Truyện ngắn), Duyên nghiệp (Kịch bản), Chủ biên cùng nhà văn Ngô Tự Lập bộ Đêm Bướm Ma - Tuyển tập Truyện ngắn Huyền ảo

ma quái Việt Nam và một số công trình khác

Trong trang Luutoc.vn, Lưu Quang Bình đã sưu tầm bài về Nhà văn Lưu Sơn Minh, có lời giới thiệu của nhà văn Ma Văn Kháng khi đánh giá về tập truyện ngắn Mưa Sâm cầm của tác giả Lưu Sơn Minh, tác giả viết: “Trong cái

màn sương khói của cách kể kỳ ảo, Bến trần gian để lại ấn tượng ray rứt và nỗi

Trang 10

khổ tâm của một con người hiếu thảo, một người mẹ nhân hậu và một người phụ

nữ thuỷ chung Lăng đã là liệt sĩ nhưng cái chết của Lăng chỉ là cái chết thể xác theo quan niệm phàm trần Còn âm dương không hề có ý nghĩa ngăn cách, Lăng vẫn đang sống ở một thế giới tồn tại song song với thế giới của mẹ và người yêu Kiểu viết này được các nhà nghiên cứu văn học gọi là kiểu viết trong đó người tường thuật có khả năng thấu thị, nghĩa là có khả năng cảm nhận và kể lại cả những điều xảy ra trong một cõi giới huyền bí, không nhìn thấy Lưu Sơn Minh

có sở trường viết kiểu truyện này.”[4]

Trên tạp chí Thông tin Khoa học xã hội (số 11/2014), tác giả Lê Hương

Thủy trong bài Những chặng đường của truyện ngắn Việt Nam đương đại đã dành sự khen ngợi cho : “Bến trần gian của Lưu Sơn Minh với bút pháp kỳ ảo để

khám phá thế giới tâm linh của con người – một phạm trù ít được đề cập trong

văn học trước đó, Người sót lại của Võ Thị Hảo với khả năng biểu hiện một kiểu dạng của con người nếm trải cô đơn trong chiến tranh; Hai người đàn bà xóm trại của Nguyễn Quang Triều là khả năng tạo dựng những trạng huống tâm lý

nhân vật ” [56]

Trên trang Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả Bùi Việt Thắng đã

đăng bài Văn chương kỳ ảo nhìn từ hai phía, có đoạn viết: “Với tôi bắt đầu

dường như có một sự thôi thúc từ bên trong, mơ hồ nhưng bền bỉ, sau khi đọc

truyện Bến trần gian của Lưu Sơn Minh (Giải thưởng cuộc thi truyện ngắn 1992

- 1994 của Tạp chí Văn nghệ Quân đội), là phải viết một cái gì đó về văn chương

kì ảo Việt Nam Nhưng rất tiếc là trong bộ sách mà quý vị đang thưởng thức lại

thiếu vắng Bến trần gian, một truyện kì ảo, theo tôi, là vào loại hay nhất trong

văn chương đương đại Việt Nam” [52]

Có thể thấy, các nhà nghiên cứu đánh giá rất cao về thể loại văn chương

kỳ ảo mà Lưu Sơn Minh thể hiện trong truyện ngắn của mình Trong nhiều tác phẩm truyện ngắn của mình, dường như Lưu Sơn Minh rất có sở trường thể hiện kiểu viết người tường thuật có khả năng thấu thị (theo cách gọi của các nhà nghiên cứu văn học), đó là khả năng nhận thức và miêu tả lại những gì có thể xảy ra trong thế giới siêu năng, huyền bí mà người thường khó có thể nhìn thấy được Ở đó, tác giả đã để các nhân vật, sự kiện, chi tiết trở nên đa chiều, với sự đan xen thực - ảo lẫn lộn, giữa điều trông thấy và cái kỳ bí tâm thức, quá khứ và

hiện tại

Trang 11

2.3 Những nghiên cứu về nghệ thuật kể chuyện trong tiểu thuyết lịch

sử Lưu Sơn Minh

Để có được cái “duyên” kể chuyện tiểu thuyết lịch sử, Lê Sơn Minh đã phối kết, xử lý điều độ ngôn ngữ, đủ tạo sức hút cho tác phẩm của mình trong mắt độc giả và các nhà nghiên cứu

Tác giả Nguyễn Ngọc Trâm trong bài Khơi dòng mát trong để sử Việt làm say mê người Việt khẳng định: “Đã 23 năm kể từ khi nhà văn Lưu Sơn Minh

dấn thân vào con đường tiểu thuyết lịch sử Đi trên con đường này, anh luôn tâm niệm: viết không được vội, không thể viết theo kiểu “ăn đấu, làm khoán”, hư cấu

trong biên độ và dù mừng rỡ khi cảm hứng đến, vẫn phải lý trí vô cùng” [57]

Những khẳng định đó đã cho thấy trong diễn tiến tiểu thuyết lịch sử của mình, Lưu Sơn Minh luôn đặt vấn đề lý trí, biết tôn trọng quá khứ lịch sử lên làm vấn

đề thứ yếu Điều này đã tạo nên sự thiện cảm và niềm tin trong việc tạo ra cho thế hệ trẻ một mạch nguồn cảm hứng về tình yêu lịch sử đối với sự ra đời các tiểu thuyết lịch sử của Lưu Sơn Minh

Trong bài Hút hồn theo những nhân vật kiệt xuất nhà Trần trên trang

anninhthudo.vn, Phạm Thu Hương cho rằng “Từ cuốn tiểu thuyết lịch sử đầu

tiên Trần Quốc Toản đến Trần Khánh Dư, Lưu Sơn Minh dành hẳn 8 năm chỉ để

tìm lại sự công bằng cho một nhân vật kiệt xuất và ghét cay ghét đắng cái nhìn phiến diện một chiều” [23] Qua đó ta thấy, ông không hề thỏa mãn với cách nhìn đơn giản của những thông tin tinh gọn mà sử liệu mang lại Cái ông muốn

là phải vén lên toàn bộ bức mành thần bí về số phận những nhân vật yêu thích của mình một cách một cách nhân văn, phù hợp với lòng người như kiểu “trả lại

về những số phận, những sự kiện lịch sử đã xảy ra

Trang 12

Trên Anninhthudo.vn, bài Tiểu thuyết lịch sử Trần Quốc Toản: Khúc tráng ca về một chiến tướng oai hùng, Hoàng Thủy Vân viết “Tiểu thuyết lịch

sử không chỉ ghi chép lại những sự kiện xảy ra trong quá khứ, mà còn phản ánh

cả một thời đại Văn chương “gây” cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẵn có Và “Trần Quốc Toản” thực sự làm được điều này Không hề bị ảnh hưởng bởi cuốn tiểu thuyết “Lá cờ thêu sáu chữ vàng” cũng viết về Hoài Văn hầu đã ra đời trước đó, cuốn sách này đã tái hiện sinh động cuộc đời chinh chiến của vị anh hùng tuổi trẻ tài cao này”[63]

Bên cạnh đó, trang news.zing.vn, tác giả Thanh Nhàn đăng bài Trần Quốc Toản: Từ chính sử đến tiểu thuyết lịch sử, cho rằng: “Khi câu chuyện lịch sử mà

người viết sáng tạo đang còn nhiều lẩn khuất chưa được giải đáp thì họ không nên dừng công việc làm sáng tỏ điều đó Đây cũng chính là lý do lớn nhất khiến cho

tác giả chấp bút để viết tiếp Trần Quốc Toản là tác phẩm được nhà văn sáng tạo thêm từ truyện ngắn Nước mắt trúc, đã khắc họa nhiều góc nhìn đan cài nhau về

người anh hùng nhỏ tuổi Đó là một người con hiếu thuận và muốn bảo vệ mẫu thân trước sự xa lánh của gia tộc cho đến sự mặc cảm tự ti khi số phận mình bị lãng quên trong triều đại Chính cách khắc họa nội tâm cá nhân người anh hùng dân tộc trong mối quan hệ phức tạp với tuổi trẻ, gia tộc, tổ quốc, thời đại đã đem đến điểm khác biệt nổi bật cho tác phẩm”[39]

Như vậy, Trần Quốc Toản và Trần Khánh Dư là những cuốn tiểu thuyết

lịch sử khá mới, trên diễn đàn hiện chưa có công trình, bài viết nào chuyên sâu

về vấn đề nghệ thuật kể chuyện tiểu thuyết lịch sử của Lưu Sơn Minh, mà chỉ đề cập khi bàn về những vấn đề khác như việc chú trọng khai thác 2 cuốn tiểu thuyết về đặc điểm tiểu thuyết hoặc một số nhân vật cụ thể, và những khía cạnh khác Các nhà nghiên cứu đã đánh giá rất cao đối với tài năng của ông trong vấn đề này qua quá trình tái tạo lại những sự kiện, nhân vật lịch sử đã cũ theo phong cách riêng, đặc sắc và đầy thuyết phục mà ông mang lại Những nghiên cứu đi trước vẫn là gợi ý quý báu cho chúng tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 13

Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là nghệ thuật kể chuyện trong tiểu

thuyết lịch sử Lưu Sơn Minh (Qua hai tác phẩm Trần Quốc Toản và Trần Khánh Dư)

mình về hai tiểu thuyết xuất sắc nhất của ông

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Đặt tiểu thuyết lịch sử của Lưu Sơn Minh trong bối cảnh tiểu thuyết lịch

sử Việt Nam đương đại, nghiên cứu một số biểu hiện cơ bản, cụ thể của cả hai bình diện nội dung và hình thức để chỉ ra những đặc điểm quan trọng của chúng,

từ đó đưa ra những đánh giá ban đầu về Lưu Sơn Minh trong tư cách một người viết tiểu thuyết lịch sử

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Nhận diện Lưu Sơn Minh trong dòng chảy tiểu thuyết lịch sử Việt

Nam đương đại

4.2 Tìm hiểu nghệ thuật kể chuyện lịch sử của Lưu Sơn Minh trên các

bình diện cốt truyện, nhân vật, và thời gian kể

4.3 Chỉ ra những đặc điểm cơ bản trong nghệ thuật kể chuyện lịch sử của Lưu Sơn Minh trên các bình diện điểm nhìn, bút pháp và giọng điệu

5 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn vận dụng và kết hợp nhiều phương pháp khác nhau để tìm hiểu nghiên cứu vấn đề, trong đó có các phương pháp chính:

Phương pháp lịch sử là thông qua các nguồn tư liệu để nghiên cứu và phục dựng đầy đủ các điều kiện hình thành, quá trình ra đời, phát triển của các

sự kiện, hiện tượng, đồng thời đặt quá trình phát triển đó trong mối quan hệ tác động qua lại với các nhân tố liên quan khác trong suốt quá trình vận động của

Trang 14

chúng, từ đó có thể dựng lại bức tranh chân thực của sự vật, hiện tượng như đã xảy ra trong tiểu thuyết lịch sử của Lưu Sơn Minh

Các phương pháp tiếp cận thi pháp học được luận văn chú trọng vì đây là đường dẫn khám phá những đặc sắc của nhân vật trên các phương diện cơ bản: nội dung và phương thức thể hiện

Phương pháp cấu trúc - hệ thống giúp hệ thống hóa các vấn đề về nội dung và phương thức thể hiện nhân vật theo một cấu trúc mang tính chỉnh thể, khoa học

Phương pháp so sánh - loại hình giúp chúng tôi nhận diện nét riêng của nhân vật Lưu Sơn Minh so với các cây bút cùng thời viết về các nhân vật lịch sử

Phương pháp phân tích - tổng hợp giúp người viết có thể đi sâu khám phá những khía cạnh cụ thể của từng tác phẩm, từ đó khái quát được những đặc điểm

cơ bản của các nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử của Lưu Sơn Minh

Phương pháp nghiên cứu liên ngành: đây là phương pháp nghiên cứu phù hợp với đặc thù trong tiểu thuyết lịch sử của Lưu Sơn Minh- vốn có sự tích hợp nhiều kiến thức liên ngành: lịch sử, chính trị, xã hội, văn hóa, nghệ thuật, v.v

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn đưa ra một cái nhìn tổng quan và có tính chuyên sâu về nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử Lưu Sơn Minh Kết quả của luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho việc tìm hiểu và nghiên cứu nghệ thuật kể chuyện nói riêng, đặc điểm tiểu thuyết lịch sử của Lưu Sơn Minh nói chung trong dòng văn xuôi đương đại

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận

văn được triển khai trong 3 chương:

Chương 1: Lưu Sơn Minh trong dòng chảy tiểu thuyết lịch sử Việt Nam

sau đương đại

Chương 2 Cốt truyện, nhân vật và thời gian kể chuyện trong tiểu thuyết lịch sử của Lưu Sơn Minh

Chương 3 Điểm nhìn, bút pháp và giọng điệu trong tiểu thuyết lịch sử

của Lưu Sơn Min

Trang 15

Chương 1 LƯU SƠN MINH TRONG DÒNG CHẢY TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

1.1 Những vấn đề của văn xuôi nghệ thuật viết về đề tài lịch sử trong văn học Việt Nam sau 1975

1.1.1 Văn xuôi nghệ thuật Việt Nam và việc xử lí đề tài lịch sử trong truyền thống

Tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, cộng với tư tưởng sùng cổ trong văn học trung đại đã khiến văn học Việt Nam sớm tìm đến đề tài lịch sử Người ta có thể thấy những tác phẩm viết về lịch sử (bao gồm cả những tác phẩm viết ngay trong thời điểm các sự kiện lịch sử diễn ra) xuất hiện khá sớm trong nền văn học

này Trường hợp Tụng giá hoàn kinh sư của Trần Quang Khải chẳng hạn Thời

trung đại đã có những tác giả dồn nhiều tâm huyết cho những bài thơ vịnh sử Cũng thời trung đại, người đọc đã thấy xuất hiện những tác phẩm văn xuôi nghệ

thuật viết về đề tài lịch sử như bộ tiểu thuyết trứ danh Hoàng Lê nhất thống chí của văn phái họ Ngô hoặc Nam triều công nghiệp diễn chí của Nguyễn Khoa

Chiêm

Trong những năm đầu thế kỷ XX, đất nước chịu sự tiến hành khai thác thuộc địa và xâm lược của thực dân Pháp Tinh thần đấu tranh chống lại đế quốc thực dân của nhân dân trên cả nước dâng cao với các hàng loạt các cuộc đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang, đình công, bãi công, nổi dậy vô cùng sôi nổi

và quyết liệt Tình hình văn hóa - xã hội của Việt Nam lúc này đã có sự biến động sâu sắc Tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội, nhất là sự hiện diện của người Pháp, cùng với hai cuộc khai thác, cùng với sự đàn áp, vơ vét, bóc lột đã khiến lịch sử, cũng như con người Việt Nam tổn thương sâu sắc Tình yêu nước, lòng

tự tôn dân tộc lại một lần nữa được đánh thức Theo cách mỗi cách riêng, có người đã cố gắng tìm đường giải phóng dân tộc; có người đã ngã xuống trong những cuộc nổi dậy; có người đã thể hiện tinh thần yêu nước trong những lời kêu gọi, những tâm trạng bi phẫn; có người thể hiện một chút ngậm ngùi thương nhớ một miền quê nào đó, một hình bóng vàng son kiểu ông đồ hay một hàng thành

Trang 16

quách cũ trong Thơ mới lãng mạn 1932 – 1945; có người lại thể hiện tình cảm ấy trong những bộ tiểu thuyết hay truyện lịch sử

Các nhà văn cũng muốn thể hiện tiếng nói yêu nước, chống thực dân đế quốc của mình bằng một lối đi riêng hợp thời đại mới, nhưng vẫn có thể tránh được sự kiểm duyệt của thực dân đế quốc Giải pháp được cho là an toàn nhất trong sáng tác của các nhà văn đó là lấy liệu cũ để gợi chuyện mới, cụ thể hơn là

họ đã mượn những câu chuyện hào hùng oanh liệt của sử liệu, tái hiện lại một cách điệu nghệ nhằm khơi dậy tình yêu quê hương đất nước, ý chí giữ nước của cha ông vào thế hệ con cháu hiện tại Có thể thấy, sự ra đời của tiểu thuyết lịch

sử và phát triển thành một khuynh hướng đã xuất phát từ yêu cầu của thời đại, từ cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân ta Những câu chuyện về các anh hùng dân tộc: Lê Lợi, Hai Bà Trưng, bà Triệu, Trần Hưng Đạo được kể với một tấm lòng nồng nhiệt ngợi ca

Bước sang giai đoạn 1945 - 1975, trong yêu cầu của sứ mệnh lịch sử, văn học Việt Nam tiếp tục xuất hiện những tác phẩm viết về lịch sử - những cuốn sách say sưa ca ngợi các nhân vật lịch sử với một tình cảm có thật, dù rằng tình cảm có thật ấy dành cho lịch sử, cho dân tộc đôi khi nhiều hơn là dành cho các

nhân vật lịch sử Lá cờ thêu sáu chữ vàng (1960) của Nguyễn Huy Tưởng, Sao Khuê lấp lánh (1975) của Nguyễn Đức Hiền, Hà Ân với một loạt các tác phẩm Tướng quân Nguyễn Chích (1962), Quận He khởi nghĩa (1963), Nguyễn Trung Trực (1964), Bên bờ Thiên Mạc (1967), Trên sông truyền hịch (1973), Trăng nước Chương Dương (1975) Cùng với cuộc tìm về với các nhân vật lịch sử ở

quá khứ xa, các nhà văn cũng mạnh dạn tìm đến những sự kiện lịch sử nóng bỏng đang diễn ra ngay trước mắt Hầu hết các tác phẩm văn xuôi viết trong giai

đoạn này đều mang trong mình hơi thở nóng hổi của lịch sử Những Cửa sông, Dấu chân người lính (Nguyễn Minh Châu), Xung kích của Nguyễn Đình Thi, Vùng trời của Hữu Mai, Hòn đất của Anh Đức là những bản tráng ca về một

lịch sử Việt Nam anh dũng

Cần chú ý là việc xử lý đề tài lịch sử trong các tác phẩm văn học của từng giai đoạn trên không phải là một xu hướng thuần nhất, dù rằng có những điểm chung nhất định Thời trung đại, cho đến nay mới phát hiện hai bộ tiểu thuyết

lịch sử Hoàng Lê nhất thống chí của văn phái họ Ngô và Nam triều công nghiệp diễn chí của Nguyễn Khoa Chiêm, nhưng giữa chúng đã có những điểm khác

Trang 17

biệt Cả hai tác phẩm nhìn chung đều viết với cảm hứng ngợi ca, nhưng Hoàng

Lê nhất thống chí cho thấy bên cạnh cảm hứng ngợi ca là một thái độ khác, tuy

không thể hiện một cách quyết liệt và trực tiếp Cảm hứng chung của toàn truyện

là ca ngợi Nguyễn Huệ - người quen được gọi là anh hùng áo vải Nhưng nếu để

ý, có thể thấy chân dung người anh hùng này có điều gì đó chưa đạt đến phần tuyệt mĩ, như nhiều tác phẩm khác hoặc chính sử hiện đại ca tụng Nguyễn Huệ hiện lên là một tướng tài, nhưng người đọc hầu như không thấy một chút nào vẻ nho nhã, nhân hậu mà người ta thường thấy ở các bậc nho tưởng, hay nhân tướng Đấy là con người luôn luôn hành động quyết liệt, giải quyết công việc bằng sức mạnh và phục chúng bằng sự nghiêm khắc đến bặm trợn Trong con mắt các nhà văn họ Ngô, Nguyễn Huệ là người vào nam ra bắc như quỷ thần, không ai có thể lường biết, giết Vũ Văn Nhậm như giết một con lợn, bắt Nguyễn Hữu Chỉnh như bắt một đứa trẻ, chỉ cần chỉ tay đưa mắt là ai nấy phách lạc hồn xiêu, sợ hơn sợ sấm sét Thật khó mà có thiện cảm tuyệt đối với một mẫu tướng quân như thế

Bước sang nửa đầu thế kỷ XX, khi không gian ảnh hưởng văn học được

mở rộng, với sự xuất hiện của loại hình truyện ngắn, tiểu thuyết hiện đại, các tác phẩm văn xuôi viết về đề tài lịch sử xuất hiện phong phú, đa dạng hơn Sự đa nguyên thẩm mĩ, điều kiện lịch sử cũng là cơ sở để người viết thoải mái hơn trước những lựa chọn khuynh hướng, thái độ Người ta thấy tiểu thuyết/truyện

lịch sử xuất hiện một cách khá sôi nổi từ Tỏ mặt anh thư của Phan Bội Châu đến Tiêu Sơn tráng sĩ của Khái Hưng hay đêm hội Long Trì của Nguyễn Huy

Tưởng Có thể thấy sự phong phú về mặt khuynh hướng trong tiểu thuyết/truyện lịch sử của thời kì này Ở khuynh hướng thứ nhất, tiểu thuyết lịch

sử vẫn thể hiện tinh thần tiếp nối cảm hứng truyền thống, ngợi ca, tự hào, hoặc mượn những nhân vật, những sự kiện lịch sử được tiểu thuyết hóa để giáo dục lòng yêu nước, kêu gọi, cổ vũ đấu tranh Ở khuynh hướng thứ hai, các tác giả không biến mình thành kẻ đồng lõa với chính sử Họ cho thấy một sự hoài nghi nhất định về các nhân vật, các sự kiện lịch sử nên họ đề xuất một cách nhìn khác với các ghi chép của lịch sử thời trung đại và hiện đại Các tiểu thuyết của Trương Tửu thể hiện khá rõ điều này Khuynh hướng thứ ba, dường như mượn nhân vật lịch sử, mượn lịch sử để “tỏ chí” Tiêu biểu cho khuynh hướng này là

Tiêu Sơn tráng sĩ của Khái Hưng Cuốn tiểu thuyết thấm đẫm tinh thần lãng

mạn, thấm đẫm nỗi niềm của một kẻ cô đơn, thất bại mang nặng tâm hồn của

Trang 18

một văn nhân lãng tử Có lẽ hình ảnh Phạm Thái trong tác phẩm là một hình tượng nghệ thuật khá đặc biệt trong văn học Việt Nam nói chung và văn học Việt Nam viết về lịch sử nói riêng Trên bình diện thi pháp, người ta cũng thấy

sự phong phú, đa dạng: có loại tiểu thuyết viết theo bút pháp truyền thống, có loại viết theo kiểu tiểu thuyết hiện đại phương Tây, cũng có loại mang màu sắc tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung

Văn học miền Bắc 1945 - 1975 có thể coi là thời kì “vạn tác quy nhất” Các tác phẩm viết về lịch sử vì thế cũng gần như chung một cảm hứng, chung cách biểu hiện, chung mục đích Trong các tiểu thuyết giai đoạn này, các sự kiện, nhân vật thường được viết khá trung thành với quan điểm của chính sử Những Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo lần lượt đi vào tác phẩm với tư cách là những anh hùng dân tộc, đại diện cho ý chí, nhân phẩm của dân tộc trong cái nhìn lí tưởng tuyệt đối Họ xuất hiện để gánh những trọng trách của lịch sử Về thi pháp, đấy là những đại tự sự, được viết bằng một ngòi bút nghiêm túc, với khoảng cách sử thi tuyệt đối Điều này khác với giai đoạn văn học liền sau đó

1.1.2 Những lựa chọn của việc xử lí đề tài lịch sử trong văn xuôi nghệ thuật Việt Nam đương đại

Sau 1975, nhất là sau 1986, với tinh thần dân chủ của xã hội, với tinh thần

“cởi trói” đối với văn học, nhu cầu nhận thức lại, nhu cầu đối thoại trở nên bức thiết trong văn học, trong đó có văn xuôi viết về lịch sử Văn xuôi nghệ thuật viết về đề tài lịch sử của Việt Nam đương đại phát triển mạnh mẽ về số lượng cùng sự thay da đổi thịt về chất lượng trở thành tiền đề cho các cuộc tranh luận sôi nổi trên diễn đàn văn học Chính văn xuôi nghệ thuật viết về lịch sử là một trong những nhân tố đầu tiên thu hút mạnh mẽ sự quan tâm của người đọc và những cuộc tranh luận, thậm chí là luận chiến văn chương, mà trường hợp

Nguyễn Huy Thiệp với Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết, Nguyễn Thị Lộ có thể kể

là tiêu biểu Rất nhiều ý kiến khác nhau xoay quanh các tác phẩm này Có nhiều

ý kiến khen ngợi, tán dương nồng nhiệt, nhưng cũng có những ý kiến chê bai không tiếc lời Thậm chí, có người còn quy kết nhà văn đủ thứ tội danh trên đời như đạp đổ thần tượng, hạ bệ vĩ nhân, xúc phạm lòng tự tôn dân tộc, bắn súng lục vào quá khứ Cũng từ những tác phẩm viết về lịch sử này, người ta chợt nhận ra và nhắc nhau về cách đọc: “đọc văn phải khác với đọc sử” Rồi cũng chính từ những tác phẩm này (cùng với một số sáng tác khác của nhà văn) khiến

Trang 19

có người cảm thấy cần phải viết khác đi Và hình như cũng chính từ những tác phẩm này mà người ta đặt vấn đề một cách nghiêm túc về mối quan hệ văn học với lịch sử, hiện thực với hư cấu

Nhìn chung, việc xử lý đề tài lịch sử của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam đương đại không còn mang quan niệm phản ánh chân thực các sự kiện nhân vật lịch sử như trong truyền thống, nó đã được tiếp nối bằng những hư cấu lịch sử và đối thoại với lịch sử

Các nhà văn Việt Nam đương đại đã thể hiện rõ kinh nghiệm và sự sáng tạo của mình bằng nhiều hướng đi khác nhau Một số người vẫn tương đối trung thành với truyền thống, nhưng hầu hết họ đã tiểu thuyết hóa lịch sử với sự đổi mới linh hoạt về tư duy lịch sử theo phong cách riêng của từng tác giả Việc khám phá lịch sử và những bí ẩn của nó được các tác giả tiếp cận một cách đa chiều thông thoáng, với họ lịch sử nay không đơn thuần là lịch sử mà đó là

những mảng đứt gãy ngoại biên Nói như Lukacs trong công trình Tiểu thuyết lịch sử của mình, ông cho rằng Walter Scotts là nhà tiểu thuyết đầu tiên nhận

thấy lịch sử không chỉ là cái khung nền thuận lợi cho tự sự đương đại mà còn là bối cảnh văn hóa xã hội đặc biệt

Theo diễn trình đổi mới của văn chương đương đại, để tạo cho mình một lối đi riêng để không bị hòa tan thì mỗi nhà văn đã không ngừng tìm kiếm các lối tiếp cận lịch sử theo tư duy tân lịch sử Có thể thấy, sự cởi mở trong việc nhận thức và xử lý đề tài lịch sử của các nhà văn được thể hiện rất rõ ở tiểu thuyết lịch

sử cũng như truyện ngắn viết về lịch sử trong văn xuôi nghệ thuật đương đại

Một cách khái quát, có thể thấy việc lựa chọn xử lý đề tài lịch sử trong văn xuôi Việt Nam đương đại (bao gồm cả tiểu thuyết và truyện ngắn) có mấy hướng chính sau:

Thứ nhất: Vẫn tiếp tục cách xử lý truyền thống: viết lịch sử để phục dựng lịch sử và nhân vật lịch sử Người viết có thể lựa chọn một sự kiện lịch sử, một nhân vật lịch sử, một giai đoạn lịch sử để tái hiện các vấn đề của lịch sử đúng với quan niệm của chính sử, ngợi ca những sự kiện hoặc nhân vật được ngợi ca trong chính sử, phê phán các nhân vật, các sự kiện bị phê phán theo quan niệm của chính sử Với kiểu xử lý này, tác phẩm ra đời dễ nhận được sự đồng thuận của số đông bởi nội dung tư tưởng chủ yếu đi theo quỹ đạo của số đông, và cả quỹ đạo của sự tiếp nhận lịch sử thông thường - thứ lịch sử mang tính “giáo khoa thư”

Trang 20

cao Ở cách xử lý này, người ta ít nhìn thấy những cách tân của người viết về mặt nghệ thuật Nó không tạo những cú sốc nhận thức, cú sốc thẩm mỹ Có thể

kể đến một số tác giả như Hà Ân (Ông trạng thả diều, Lưỡi gươm nhân ái,), Nguyên Hồng (Núi rừng Yên Thế), Hoàng Công Khanh (Danh tướng Trần Hưng Đạo, Vua Đen, Hoàn hậu hai triều vua Dương Vân Nga, Vằng vặc sao Khuê), Hoàng Quốc Hải (hai bộ tiểu thuyết Tám triều vua Lý và Bão táp triều Trần), có thể kể thêm Tô Hoài với các truyện “giả lịch sử”: Nhà Chử, Đảo hoang, Chuyện

nỏ thần…

Thứ hai: Xây dựng tiểu thuyết kiếm hiệp, võ hiệp kiểu Nguyễn Trãi của

Bùi Anh Tấn Đây là loại tiểu thuyết chịu ảnh hưởng từ hai nguồn: nguồn văn

học Việt Nam trước 1945, với các tác phẩm của Trương Tửu, Khái Hưng và một

số nhà văn khác, và nguồn thứ 2 là tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung Ở loại tiểu thuyết này, người viết về cơ bản lấy một sự kiện nào đó của lịch sử, hoặc viết theo quan điểm chính sử hoặc không, nhưng điểm đáng chú ý là cố gắng tạo

ra chất tiểu thuyết có tính chất võ hiệp, đề cao tinh thần thượng võ, nghĩa hiệp, đưa người đọc vào thế giới của những hành động bí hiểm, ly kì, những chiêu thức võ thuật… Loại tiểu thuyết này ở Việt Nam chưa có nhiều thành công

Thứ ba: Lựa chọn một nhân vật, một sự kiện lịch sử, hoặc một mảnh vỡ lịch sử, có thể xây dựng thành một tác phẩm lịch sử hoặc “giả lịch sử” Tác giả

cố gắng tiếp cận lịch sử bằng tư duy tiểu thuyết Ở đây, người viết không còn tuân thủ những gì được lịch sử viết ra, không còn khăng khăng trung thành với quan điểm của chính sử, của thứ lịch sử “giáo khoa thư”, mà cố gắng đưa ra những kiến giải, thể hiện những suy nghĩ mới về lịch sử, đối thoại với lịch sử, thậm chí đôi khi gây cảm giác là người viết đang tranh luận với lịch sử, cười cợt lịch sử Ở loại tác phẩm này, dễ thấy là người đọc dễ bị cuốn vào các cuộc tranh luận xung quanh tác giả, tác phẩm Tác phẩm nhận được nhiều phản ứng trái chiều, thậm chí đôi khi tác giả còn trở thành đối tượng bị công kích Ttất nhiên, bên cạnh đó là các ý kiến khen ngợi, ủng hộ Ở các tác phẩm này, do nhu cầu thể hiện nội dung nên về mặt nghệ thuật cũng có những cách tân đáng kể Ở một số tác phẩm, đi đôi với việc tạo những cú sốc về nội dung là việc tạo những cú sốc

về nghệ thuật kể chuyện Có thể kể đến Nguyễn Huy Thiệp với nhiều truyện,

truyện ngắn, tiêu biểu là Vàng Lửa, Phẩm tiết, Kiếm sắc, Nguyễn Thị Lộ… Hòa vang với Sự tích những ngày đẹp trời, Lưu Sơn Minh với Nước mắt trúc,

Trang 21

Nguyễn Xuân Khánh với Hồ Quý Ly, Đội gạo lên chùa, Mẫu Thượng ngàn, Nguyễn Quang Thân với Hội thề, Nguyễn Mộng Giác với Sông Côn mùa lũ…

Thứ tư: Mượn lịch sử, sử dụng nó như một tư liệu để nói chuyện hiện tại

Ở tác phẩm này, nếu người đọc cứ chú ý xem xét, đối chiếu lịch sử với những gì nhà văn viết ra trong tiểu thuyết thì nghĩa là đang bị tác giả đánh lừa Việc phê phán (nếu có) các tác phẩm này thực ra là hành động đánh cối xay gió Và đây cũng là một quan niệm về lịch sử, nó minh họa cho quan niệm của A.Dumas:

“Lịch sử chỉ là cái đinh để treo những bức họa” Nghệ thuật viết ở kiểu lựa chọn này cũng rất đáng chú ý, bởi rất có đóng góp Có thể kể đến Nguyễn Huy Thiệp

với Vàng lửa, Phẩm tiết, Kiếm sắc, Nguyễn Thị Lộ, Mưa Nhã Nam, Thương cả cho đời bạc, Hòa Vang với Sự tích những ngày đẹp trời…

Lưu Sơn Minh với hai cuốn Trần Quốc Toản và Trần Khánh Dư về cơ

bản tiếp cận đối tượng theo cách truyền thống Nghĩa là ở đó nhà văn cơ bản trung thành với quan điểm chính sử, và cảm hứng cơ bản chi phối toàn truyện là

cảm hứng ngợi ca Ở Trần Quốc Toản, điều này là khá rõ Còn với trường hợp Trần Khánh Dư, có thể thấy nhà văn đưa ra những nhận định ít nhiều khác với

quan điểm tiếp cận thông thường Thực sự thì Trần Khánh Dư là một nhân vật lịch sử khá phức tạp, công đấy, nhưng tội đấy Nhiều người thậm chí còn thấy ông tội lớn hơn công Nhưng, trong cái nhìn của Lưu Sơn Minh, công ông có vẻ nhiều hơn tội Nhà văn cố gắng khắc họa nhân vật trong tâm thế, trong tư thế của một dũng tướng đa tình và cô đơn; một kẻ chiến thắng trên chiến trường nhưng thất bại ê chề trong tình trường Điều đặc biệt hơn là khi miêu tả cả hai nhân vật,

dù là những nhân vật trước đó từng được tán tụng, người đọc vẫn có cảm giác nhà văn đang viết về những thân phận bên lề Điều này chúng tôi sẽ làm rõ hơn trong các phần sau

1.1.3 Một số thành tựu của văn xuôi nghệ thuật viết về đề tài lịch sử trong văn học Việt Nam đương đại

Từ 1975 đến nay, đặc biệt là từ sau 1986, trong xu thế đổi mới của văn học, văn xuôi viết về đề tài lịch sử trong văn học Việt Nam gặt hái được nhiều thành tựu trong cả truyện ngắn lẫn tiểu thuyết lịch sử

Trước hết, từ cái nhìn toàn cảnh, có thể thấy thành tựu quan trọng nhất, dễ thấy nhất là văn xuôi viết về lịch sử đã thực sự chiếm được một chỗ đứng quan trọng trong văn học Việt Nam nói chung và trong văn xuôi Việt Nam nói riêng

Trang 22

Thậm chí, trong cả mấy giai đoạn văn học trước đó, văn xuôi lịch sử chưa bao giờ có vị thế quan trọng đến vậy trên văn đàn Việt Nam Có thể thấy sự lớn mạnh của văn xuôi lịch sử thể hiện trên mấy điểm sau đây

Trước hết, đó là sự xuất hiện một số tác giả chuyên viết các tác phẩm sử dụng chất liệu lịch sử khá chuyên nghiệp, có phong cách rất rõ, thực sự có đóng góp Người ta có thể thấy một Nguyễn Huy Thiệp lừng lững chiếm một vị trí hàng đầu của làng văn xuôi lịch sử dù chỉ với một số truyện ngắn Nhưng tác giả của những truyện “giả lịch sử” này thực sự ngay từ khi mới xuất hiện đã chứng

tỏ được tài nghệ và bản lĩnh Nguyễn Huy Thiệp đã túm lấy nhân vật lịch sử, xoay, lật, nhìn ngắm từ mọi góc, cùng tài điều khiển ngôn ngữ đã khiến nhân vật trở nên sống động, với tư cách là những nhân vật đang sống Các nhân vật ấy, xuất hiện cùng mọi cảm xúc hỉ nộ ái ố, nhất là ở mỗi người đều có thể thấy nỗi

cô đơn tận cùng Viết về nhân vật lịch sử như thế, Nguyễn Huy Thiệp có lẽ cũng

là người đầu tiên ở Việt Nam mang đến cho lịch sử một không gian tươi mới, sống động và trần thế Người kể chuyện trong tác phẩm của ông có thể phát hiện được một Thăng Long thế kỷ XV mang vẻ đẹp của người đẹp mê ngủ với những hàng cây cơm nguội nở hoa; với đám mây trên trời mang hình dáng của một bậc hiền triết, nhưng khi gió thổi tới, nhà hiền triết bỗng trở thành con chó xồm lớn! Người đọc cũng có thể thấy một Nguyễn Xuân Khánh, sau bao năm “ẩn cư”

bỗng xuất hiện một cách chững chạc, đồ sộ với Hồ Quý Ly, và tiếp đến là Mẫu Thượng Ngàn, Đội gạo lên chùa, trong đó Hồ Quý Ly là một tiểu thuyết lịch sử

khó chối cãi Tham vọng chiêu tuyết cho Hồ Quý Ly và nhìn nhận lại một số vấn

đề lịch sử, đối thoại cùng lịch sử trong tiểu thuyết này của Nguyễn Xuân Khánh

là có thật Không còn bị coi là “giặc”, là “phẩn thần”, là kẻ tội đồ, Hồ Quý Ly xuất hiện trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh với tư cách là một người yêu nước, có trách nhiệm với dân tộc, với nhân dân Đấy cũng là một con người quyết đoán, quyết tâm Việc phế bỏ nhà Trần chỉ là việc không thể đừng nếu muốn bảo vệ và hưng định giang sơn Yêu nước, Hồ Quý Ly còn là một nhà cải cách mạnh mẽ Ông làm bất cứ điều gì có thể làm để nước nhà tồn tại, giàu mạnh Nhưng Hồ Quý Ly rốt cuộc trở thành một nhân vật bi kịch bởi lịch sử đã chống lại ông, hoặc chí ít là lịch sử không muốn cùng ông đồng hành Và thất bại của ông, xét đến cùng cũng là thất bại của lịch sử Không phải chỉ với Nguyễn Huy Thiệp và Nguyễn Xuân Khánh, còn nhiều tác giả khác viết về lịch

sử hoặc thỉnh thoảng “đá ngang” lịch sử, đều tạo được những thiện cảm với

Trang 23

người đọc bằng tác phẩm Trường hợp Nguyễn Việt Hà trong Cơ hội của chúa hay Nguyễn Bình Phương trong Người đi vắng chẳng hạn, không chăm chút chi

li viết về lịch sử, lịch sử chỉ thoáng qua trong các sáng tác của họ, nhưng đều tạo những ám ảnh đối với người đọc Có thể thấy, lịch sử đã trở thành một cảm hứng quan trọng trong văn xuôi Việt Nam sau 1975, và văn xuôi viết về lịch sử đã trở thành một thể tái hấp dẫn, thu hút nhiều cây bút, với một khối lượng tác phẩm có thể nói là đồ sộ

Tất nhiên, đánh giá thành tựu, vị thế của một hiện tượng văn học không chỉ xét trên đầu số tác giả, tác phẩm, mà còn, và thậm chí chủ yếu, là đánh giá trên bình diện chất lượng, là những đóng góp nghệ thuật của nó Văn xuôi lịch sử sau 1975 không đơn giản chỉ phát triển về số lượng, mà thực sự có chất lượng Ở phần đầu chúng tôi đã đề cập ít nhiều câu chuyện những đóng góp của văn xuôi lịch sử về sự khám phá nhân vật, bối cảnh Đấy chính là chúng tôi muốn nhấn mạnh những đóng góp ở nghệ thuật viết, ở sự viết Không thế phủ nhận rằng, cùng với việc thay đổi cách nhìn về lịch sử hay thay đổi mục đích sử dụng chất liệu lịch sử, văn xuôi viết về lịch sử sau 1975 đã có những đóng góp rất quan trọng về nghệ thuật kể chuyện Không còn trung thành với quan điểm chính sử, mọi ràng buộc dần được tháo gỡ hoặc tự tháo gỡ, nhà văn rộng đường lựa chọn hơn trong cách tiếp cận nhân vật và sự kiện Không phải đã tuyệt đối hủy bỏ khoảng cách sử thi, nhưng có thể thấy khoảng cách ấy đang mờ dần trong các tác phẩm văn xuôi lịch sử đương đại (ở một số trường hợp, khoảng cách ấy vô cùng mong manh) Tiếp cận lịch sử bằng tư duy tiểu thuyết, văn xuôi lịch sử sau 1975

về cơ bản đã đổi mới một cách toàn diện nghệ thuật kể chuyện, từ xây dựng cốt truyện, nhân vật đến sử dụng ngôn ngữ và thể hiện giọng điệu Các nhân vật không còn mang vẻ đẹp lí tưởng cao cả thuần khiết, mà được miêu tả một cách rất người với khả năng tham chính, khả năng chiến đấu, năng lượng tình yêu, tình dục và cả khả năng phát ngôn bậy bạ, rất bặm trợn, rất đời Trường hợp các nhân vật lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp chẳng hạn: vua Quang Trung sẵn sàng văng tục, với những từ ngữ “bậy bạ”, “nhạy cảm” nhất, Nguyễn Trãi yêu một tình yêu si cuồng và chỉ tìm thấy sự ản ủi mỗi khi vùi vào bộ ngực mảnh khảnh của Nguyễn Thị Lộ… Nhìn chung, văn xuôi viết về lịch sử sau 1975 đã thoát ly được một số quy phạm rất cơ bản của văn xuôi truyền thống trong nghệ thuật kể chuyện như xây dựng cốt truyện, miêu tả nhân vật, lời văn, bút pháp…

Trang 24

Văn xuôi nghệ thuật viết về đề tài lịch sử nói chung, tiểu thuyết lịch sử nói riêng trong văn học Việt Nam đương đại phát triển phong phú, đa dạng và có

sự nổi bật về vị thế Điều đó khó thể phủ nhận Nhưng sẽ là thiếu sót nếu nhắc đến thành tựu của thể tài này mà không ghi nhận giá trị thức tỉnh của nó đối với

sự đọc và sự viết Sự tác động của nó là khá toàn diện, không chỉ ở bình diện sáng tác mà còn cả ở bình diện nhận thức lý luận Có thể coi văn xuôi viết về lịch sử là một trong những nhân tố quan trọng khai thông thế bế tắc cho văn học Việt Nam sau chiến tranh Trong thực tế là sau chiến tranh, văn xuôi nói riêng, văn học nói chung của chúng ta ít nhiều có dấu hiệu chững lại bởi sự khan hiếm

đề tài, khả năng tái sinh cảm hứng hay thiết lập cảm hứng mới, thì văn xuôi lịch

sử, trước hết là truyện ngắn xuất hiện đã mở ra một hướng đi mới, một cảm hứng mới, tiếp đó là kỹ thuật mới… Chính cái mới đó đã khiến người đọc không thể đọc như trước nữa Rồi người viết cũng biết mình không thể viết như trước nữa Đến lượt các nhà phê bình lại nhận thấy không thể mang cái tâm thế của người phê bình uy quyền để phán xét, không thể mang cái biểu hiện vụn vặt của đời sống thế tục để đối chiếu rồi nhân đó quy kết tác phẩm và tác giả nhân danh văn học phản ánh hiện thực Cũng cần nói thêm, qua quan sát các cuộc tranh luận về sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp ở cuối thế kỷ trước, có thể thấy chính văn xuôi

về đề tài lịch sử là tác nhân quan trọng khiến văn đàng Việt Nam có một sinh khí mới, hăm hở, rộn ràng

1.2 Lưu Sơn Minh với đề tài lịch sử

1.2.1 Hành trình đến với tiểu thuyết lịch sử của Lưu Sơn Minh

Lưu Sơn Minh sinh năm 1974 tại Hà Nội, từng tốt nghiệp Đại học Y khoa, từng giữ những cương vị quan trọng cho một số báo, tạp chí ở vị trí Thư ký tòa soạn, là tác giả truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản phim Các tác phẩm đã in của

anh chưa nhiều so với một số nhà văn cùng thế hệ, mới chỉ gồm Bến trần gian, Mưa sâm cầm (tập truyện ngắn), Duyên nghiệp (kịch bản), Trần Quốc Toản, Trần Khánh Dư (tiểu thuyết)

Duyên nghiệp của Lưu Sơn Minh với đề tài lịch sử đã được nhiều người

nhận định là bén từ lâu, từ những truyện ngắn đầu tiên như Chim sâm cầm chưa

về, Nước mắt trúc Có thể thấy ngay trong những tác phẩm đầu tay này, nhà văn

đã cho thấy một thái độ tích cực trong xử lý đề tài lịch sử Một mặt, khá trung

thành với lịch sử nhưng mặt khác anh cũng không phải là người nệ sử Nước mắt

Trang 25

trúc chẳng hạn, viết về hành trình lên Yên Tử của hoàng đế - vị tổ phái Trúc

Lâm Yên Tử, một mặt, nhà văn thể hiện tinh thần ngưỡng mộ đối với quyết định của vị hoàng đế - cao tăng này trong việc lập chí, trong việc từ bỏ lầu son gác tía

để đi đến một xứ khác, tiếp nhận và xây dựng một cái khác Nhưng, nhà văn cũng nhận thấy đấy là một hành trình nhiều bi kịch Bi kịch không xảy đến với Trần Nhân Tông, nhưng xảy đến với nhiều người khác, nhất là hơn trăm cung

nữ Họ có thể yêu con người ấy, họ có thể thực hiện một nghĩa vụ theo quán tính,

họ có thể giữ lòng trinh bằng một niềm tin được giáo hóa nhưng tất cả đều đã

hy sinh Đấy là cái mất mát, cái tổn thất, là nỗi đau mà lịch sử đôi khi không nhìn ra được hoặc rất dễ bỏ qua Bởi với lịch sử, sinh mạng con người đôi khi thật nhỏ bé Nhưng để cái duyên ấy bén, nhà văn đã mất bao tâm sức, tốn bao thời gian đọc, học, nghiền ngẫm, lựa chọn hẳn đầy giằng xé Nhà văn đã từng bộc bạch:

“Năm 1983, sau khi xem vở chèo "Lý Nhân Tông kế nghiệp", tôi - một thằng bé lên 9 tuổi và đang học lớp 5 - đã cảm thấy rất bất bình về vai diễn thái

sư Lê Văn Thịnh Tôi cảm giác thấy một sự bất công lớn mà tác giả đã dành cho nhân vật này Nỗi ám ảnh đó đeo đẳng mãi cho tới 10 năm sau, khi tôi bước chân vào viết truyện ngắn Tôi lần mò đọc lại mọi tư liệu lịch sử có thể tìm kiếm được, và quyết định viết về Lê Văn Thịnh, sau những bất công mà cả tiền nhân

và hậu thế đã dành cho ông Có thể nói, nếu chỉ vì mê đọc truyện lịch sử từ nhỏ, tôi chưa chắc đã trở thành người viết về đề tài lịch sử Chính nỗi ám ảnh về một oan án lớn trong quá khứ "xô" tôi vào truyện ngắn đầu tiên về lịch sử” [37]

Lời nói đầu cho tập Mưa sâm cầm có đoạn viết: “Lưu Sơn Minh viết

không dễ dàng Từ 1992 đến nay, sau bảy năm trời, anh mới có được tập truyện

này Trừ Bến trần gian viết một mạch sáu giờ liền ngay trong giờ nghe giảng -

một ảnh chớp của cơn miệt hứng xuất thần, còn các truyện khác đều viết chậm

và là kết quả của một thời gian dài suy ngẫm Nói ví dụ như cái phôi của truyện

ngắn Chim sâm cầm chưa về nảy ra từ tám, chín năm trước khi anh xem một vở

chèo Số phận Thái sư Lê Văn Thịnh từ đó ám ảnh Lưu Sơn Minh và để viết truyện về nhân vật này, anh đã dành hai tháng trời để học, nghiền ngẫm vài trang

ngắn ngủi về thời gian xảy ra vụ án “Thái sư hóa hổ” trong Đại Việt sử ký toàn thư Anh học lịch sử ở đó, học lời nói ở đó, hơi văn ở đó, nhuần nhuyễn đến mức

cả một thời gian sau anh vẫn bị ám… Sức cuốn hút của những câu chuyện trong phần đất xưa nằm ở chất liệu, ở tính chủ định thông minh, ở năng lực khám phá,

Trang 26

tài năng vận dụng chữ nghĩa, nhập thân vào cái bề bộn của đời sống Ở đây, chất liệu thu nhận gián tiếp, một trường hợp Lê Văn Thịnh, một diện mạo vương phi Nguyễn Thị Anh… - những nhân vật và sự kiện lịch sử, chỉ có thể trở thành chất liệu văn học thực sự khi chúng được nhập vào sự sáng tạo của một tâm hồn đa cảm và tinh nhạy” [38]

Có thể thấy đó là một lựa chọn khó khăn, nhưng nó thể hiện sự kiên định, lòng tự tin của người viết, nhất là cho đến sau này, khi tác giả tiếp tục với hai

tiểu thuyết Trần Khánh Dư và Trần Quốc Toản Nói là lựa chọn khó khăn bởi đề

tài lịch sử cho đến Lưu Sơn Minh không còn là một đề tài dễ viết “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” (Nam Cao) Cái khó của sự viết đôi khi không chỉ nằm ở tác giả, mà còn nằm ở tình thế Trong một thế giới

mà đề tài, thể tài… đã có những thành tựu, thì nỗ lực của nhà văn đôi khi trở nên

lố bịch Lý Bạch đã không thể cất bút ở lầu Hoàng Hạc là vì vậy Trước Lưu Sơn

Minh, nhất là trước Trần Quốc Toản và Trần Khánh Dư đã có nhiều tác giả

thành công, thậm chí là thành công mỹ mãn với thể tài văn xuôi lịch sử Lựa chọn của Lưu Sơn Minh vì thế thực sự khá mạo hiểm Tuy nhiên, sau khi đọc hai tiểu thuyết, người đọc biết nhà văn đã lựa chọn không nhầm Các tác phẩm của Lưu Sơn Minh về lịch sử, dẫu không hẳn đã gây được sự chú ý của đông đảo bạn đọc ngay lập tức, không khiến người ta phải cuống quýt tìm đọc ngay khi mới ra đời nhưng luôn có một sức lôi cuốn ngấm ngầm bằng một thứ tư duy rất riêng dù không cực đoan Người đọc có thể nhận ra vẻ điềm tĩnh trong ngòi bút của anh

từ một lối viết rất đằm, âu yếm nhưng không kém phần mạnh mẽ

Qua những gì Lưu Sơn Minh từng phát biểu, và qua cả những tiểu thuyết của anh, có thể thấy Lưu Sơn Minh gắn bó với đề tài lịch sử không chỉ trong sự viết, mà ngay cả trong sự đọc Sự đọc của anh, một mặt vừa để phục vụ sự viết, vừa như một đam mê tình cờ: “Tôi mê đọc truyện lịch sử từ nhỏ Tôi đã lớn lên cùng những nhân vật trong các truyện lịch sử mà ông ngoại mua cho Mục tiêu đầu tiên khi viết truyện lịch sử của tôi là làm thế nào kể tiếp về những nhân vật tôi đã từng yêu Mục tiêu thứ hai: tạo ra một góc nhìn lại đối với những nhân vật

mà tôi cảm thấy đã bị đánh giá bất công Với tôi, mọi sáng tạo đều cô đơn, vì sự riêng biệt và cá tính của nó Tôi không băn khoăn về sự cô đơn, càng không băn khoăn về việc có người đồng hành hay không Có lẽ điều này xuất phát từ bản

Trang 27

tính bao lâu nay trong văn hay cả trong cuộc đời tôi vẫn lầm lũi, độc hành” [38].

Mặt khác, cũng như Hoàng Quốc Hải hay Hà Ân , người mà anh gọi là thầy - có

lẽ cũng là người mà anh chịu nhiều ảnh hưởng nhất, anh lựa chọn viết về triều Trần, về những nhân vật triều Trần , vừa như một hăm hở kế thừa, vừa như một liều lĩnh chấp nhận rủi ro Rủi ro vì cả hai nhân vật kể trên đều có những tác

phẩm có danh tiếng về chính triều đại này “Bộ ba truyện vừa Trên sông truyền hịch, Bên bờ Thiên Mạc, Trăng nước Chương Dương về thời Trần của Hà Ân đã

đồng hành suốt tuổi thơ ốm yếu của tôi Những ngày ốm phải nghỉ học nằm nhà, tôi đọc đi đọc lại không biết bao nhiêu lần những truyện đó Lâu dần, các nhân vật trở nên gần gũi với tôi như những người thân Tôi yêu họ và cảm thấy mình

hiểu họ Vì thế, khi viết Trần Quốc Toản, tôi xin phép nhà văn Hà Ân được “nối

dài” các nhân vật đó sang truyện của tôi Và rồi, càng viết thì các nhân vật càng trở nên máu thịt với tôi Tôi càng cảm thấy phải kể cho bằng hết những gì mình hiểu về họ Những câu chuyện về thời Trần, tôi kể mãi không hết, vậy thì làm sao tôi có thể viết về triều đại khác được!?” [37]

Trường hợp của Lưu Sơn Minh có lẽ ứng với câu nói định mệnh của

Nguyễn Huy Thiệp trong Sang sông: “đút tay vào lịch sử thì kẹt ở đấy còn lâu”

Quả là so với nhiều nhà văn khác, Lưu Sơn Minh viết chậm, rất chậm, nhất là các tác phẩm viết về lịch sử Chậm có khi còn lật đi trở lại, viết lần một, xuất bản, rồi sửa, rồi xuất bản Trường hợp Trần Khánh Dư ông viết trong tám năm trời Đây có thể coi là một con số kỉ lục Hoặc bộ tiểu thuyết đang viết về Trần triều dự kiến 4 - 4 tập, về toàn bộ cuộc kháng chiến chống quân Nguyên xâm lược lần thứ ba với điểm nhấn là trận Bạch Đằng lịch sử, anh “cũng đã kịp vứt đi hơn một nửa tập đã viết (15 chương) để viết lại từ đầu Hay cuốn Trần Quốc Toản, xuất bản lần đầu năm 2005, rồi tái bản, nhưng đến năm 2017, cuốn sách đã được sửa chữa, từ thể truyện dài thành thể tiểu thuyết, với số trang dày hơn, với

sự vụ bừa bộn hơn, với nhân vật phức tạp và cô đơn hơn Nhà văn chia sẻ về

điều này như sau: “Khi viết Trần Quốc Toản, lần đầu, lúc đó tôi xác định là viết

cho thiếu nhi do đó tôi đã giấu bớt đi những khắc nghiệt của cuộc đời, những toan tính của “người lớn” Tuy nhiên, mấy năm trước, khi hoàn thành tiểu thuyết

Trần Khánh Dư, tôi quyết định quay trở lại với Trần Quốc Toản (…) Tôi nghĩ

rằng đã tới lúc phảo bổ sung những góc khuất mà tôi đã cố tình giấu kín trước đây Hơn mười năm là quãng thời gian đủ dài để tôi thay đổi quan điểm Nếu giai đoạn 1999 – 2005, tôi vẫn muốn kể về Trần Quốc Toản với một cách tiếp

Trang 28

cận trong lành và nhẹ nhàng thì lúc này, tôi lại muốn kể thêm cho các độc giả trưởng thành và cả chính các em những điều trớ trêu, những xót xa thân phận

“bên lề” của Trần Quốc Toản” [18]

Viết chậm, nhà văn có thể lật trở, nhìn đi ngó lại để tác phẩm của mình đạt đến trình độ, sự lôi cuốn tối ưu Viết chậm, cũng là cơ hội để tác giả chậm chậm

cô đơn cùng nhân vật Nhà văn có lần nói rằng Trần Khánh Dư trong tiểu thuyết của ông là một nhân vật cô độc, một nhân vật vô trách nhiệm và ngang tàng Và chính nhà văn cũng chịu ảnh hưởng bởi cái vô tránh nhiệm và ngang tàng ấy Đây có thể chỉ là một câu nói để mà nói, nói để làm duyên, thậm chí để câu khách, nhưng dù sao cũng thể hiện cái tâm của nhà văn, sự nghiêm túc của nhà văn trước lựa chọn của chính mình, cho chính mình

1.2.2 Lựa chọn của Lưu Sơn Minh trong việc xử lí đề tài lịch sử

Trở lên, chúng tôi đã từng nhắc đến các khuynh hướng xử lý đề tài lịch sử trong văn xuôi Việt Nam và trong văn xuôi Việt Nam đương đại Dĩ nhiên, đấy không phải là công thức định trước, bắt buộc Đấy là sự lựa chọn hoàn toàn tự nhiên của nhà văn, thao cái “tạng” của anh ta Thậm chí, đôi khi nhà văn không hẳn có ý thức lựa chọn, mà là nhân vật, tư tưởng của anh ta sẽ tự chọn cách xử

lý, phương thức biểu đạt

Lựa chọn của Lưu Sơn Minh là lựa chọn có thể có được sự hài lòng của nhiều người Anh trung thành với chính sử, “không bao giờ vu vạ” (chữ dùng của nhà văn) cho nhân vật lịch sử, nhưng cũng không bị buộc chặt vào lịch sử hay nhân vật lịch sử Ngay từ việc lựa chọn thể tài, nhà văn cũng có những cân nhắc nhất định Theo tác giả, khi viết về Trần Quốc Toản, ban đầu anh định viết một truyện ngắn, nhưng sau cảm thấy dữ liệu lịch sử khá rộng, lại được sự động viên của nhà văn Hà Ân, anh đã quyết định tìm đến thể loại tiểu thuyết ” [37]

Về lựa chọn đề tài lịch sử, anh cho biết, khi viết Trần Quốc Toản: “Tôi vẫn cảm

thấy lịch sử là một đề tài gần gũi Trong cuốn tiểu thuyết này, tôi sẽ giữ giọng điệu cũ Hình thức tác phẩm không mới nhưng sẽ mới ở cách đặt vấn đề Trần Quốc Toản sẽ không còn là một bức tượng hoặc nhân vật sân khấu với vầng hào quang lung linh xung quanh Đội quân của vị tướng trẻ này sẽ là một đội quân đúng với tính cách những chàng trai tuổi mới lớn" Không đặt việc lấy lịch sử để nói chuyện hiện tại lên hàng đầu, không mạo hiểm lật lại lịch sử, đối thoại với lịch sử, không võ hiệp hóa các nhân vật lịch sử và tiểu thuyết lịch sử, Lưu Sơn

Trang 29

Minh, như chính nhà văn nói, chỉ đơn thuần kể lại những gì nhà văn cảm thấy về

sự hiện hữu của nhân vật lịch sử Người kể chuyện không phán xét họ, không áp đặt họ, càng không mượn họ để ám chỉ ai hay ám chỉ điều gì Họ đáp lại người

kể chuyện bằng việc “báo” cho anh biết mỗi khi viết những điều có vẻ như không đúng Cũng những lúc như thế, ngay lập tức nhà văn cảm thấy dòng viết của mình trở nên sống sượng và khô khốc Tác giả nhận ra “Khác với văn học thuần túy, những nhân vật hư cấu mà số phận và tính cách hoàn toàn phụ thuộc vào sự ngọt ngào hay tàn nhẫn của tác giả, văn học về lịch sử có cả một hệ thống nhân vật đã từng sống, không ít vị đã đi vào chính sử Rất nhiều nhân vật tôi đã

và đang viết hiện vẫn đang được người đời nay hương khói thành kính trong các miếu đền Nếu các nhân vật còn để cho tôi viết về họ, tôi đủ tự tin để viết tiếp” [37] Lưu Sơn Minh hiểu những phức tạp rắc rối và đầy điểm mù của lịch sử

Khi được hỏi rằng “Nhiều tiểu thuyết lịch sử khi ra mắt đã tạo nên những cuộc tranh luận nảy lửa vì chạm đến mối quan hệ sự thật - hư cấu, thậm chí là yếu tố sex lồng vào Cách nhà văn hư cấu nhân vật lịch sử với những chi tiết thể hiện con người trần tục, bản năng cũng bị phê phán Anh từng tuyên bố đừng bịa đặt

để viết tiểu thuyết lịch sử, vậy hư cấu đến mức nào là được?”, Anh nói: Chính

bản thân lịch sử đã luôn là một đề tài gây tranh cãi trong bất cứ cuộc trò chuyện hay nghiên cứu nào Vì vậy, những tác phẩm văn học nghệ thuật về đề tài lịch sử gây ra tranh cãi là chuyện không đáng để ngạc nhiên Tôi không cho việc mô tả cuộc hoan lạc của nhân vật lịch sử là ghê gớm (miễn là tả sao cho xứng và phù hợp với nhân vật đó) nếu so với việc vu cho một nhân vật lịch sử không bán nước là bán nước Nguyễn Bặc và Lê Văn Thịnh đã từng bị vu là bán nước trong

2 tác phẩm sân khấu lừng danh: "Thái hậu Dương Vân Nga" và "Lý Nhân Tông

kế nghiệp" Với tôi, sự bịa đặt như thế là không thể tha thứ được, bất chấp nó nhân danh nghệ thuật Có những ngưỡng mà hư cấu không thể vượt qua Đó là ngưỡng của chính lương tâm tác giả đối với lịch sử Không thể vì đề cao người này mà dìm người khác xuống bùn nhơ Càng không thể mượn nhân vật lịch sử

để chuyển những thông điệp đầy tính cá nhân của chính tác giả” [37]

Với quan niệm ấy, và có lẽ với sự ảnh hưởng những cây bút đi trước, mà trực tiếp và sâu đậm nhất là Hà Ân, trong các tác phẩm viết về lịch sử của Hà

Ân, người đọc ít thấy các chi tiết gây sốc, ít thấy các chi tiết khiến một số người đọc có thể nhảy dựng lên mà thể hiện nỗi bất bình với tác giả vì đã “bôi nhọ lịch sử”, “xuyên tạc lịch sử”, “đạp đổ thần tượng”, “hạ bệ vĩ nhân”… Tiểu thuyết và

Trang 30

truyện ngắn lịch sử của Lưu Sơn Minh dễ nhận được sự đồng thuận của người đọc mọi giới Thực ra thì lựa chọn cách viết an toàn trong bối cảnh văn học hiện tại chưa hẳn đã nhận được sự đồng thuận của nhiều người, cũng như chưa cho thấy sự dũng cảm, “máu” phiêu lưu của tác giả Nhưng, lựa chọn đôi khi cũng chỉ là lựa chọn Vấn đề là tác giả có thực sự thành công với lựa chọn của mình hay không mà thôi

Chính vì tinh thần này, mà các nhân vật lịch sử của Lưu Sơn Minh, trừ Trần Khánh Dư, thường xuất hiện trong tinh thần cơ bản của chính sử Đã là anh hùng, họ đương nhiên là anh hùng, không tì vết; là kẻ gian tham hèn hạ, dĩ nhiên

là gian tham hèn hạ Những Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, đẹp bằng vẻ đẹp của chính sử, chỉ là đôi lúc, sống động hơn Ai giỏi đánh trận vẫn là giỏi đánh trận, ai tài ngoại giao vẫn là tài ngoại giao, ai tài trị quốc vẫn là tài trị quốc Đến hàng tì tướng, gia tướng, gia nô như Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Khoái, Nguyễn Địa Lô, Yết Kiêu, Dã Tượng… đều hiện lên với cái vẻ họ đã xuất hiện trong chính sử hoặc trong các tác phẩm văn học truyền thống Ở phía bên kia, Trần Ích Tắc, Trần Kiện, Trần Lộng… đều là tiểu nhân bán nước…

Nhưng ở một chừng mực nào đó, Lưu Sơn Minh cũng không phải là nhà văn quá nệ sử Cả trong những phát biểu, và cả trong tác phẩm, người ta thấy dường như tác giả luôn hướng đến các nhân vật - trừ những kẻ bán nước - với một tinh thần sẻ chia, thấu hiểu Anh không nhục mạ nhân vật, thậm chí, chỉ cần một lý do nào đó, anh có thể khiến nhân vật đẹp hơn hay chí ít là đáng được thông cảm hơn Trần Khánh Dư chẳng hạn, vốn là một nhân vật nhiều tì vết trong chính sử, từng đã bị lột hết tước vị, chức vụ, đuổi khỏi hoàng cung, sau được phục chức, tham gia đánh giặc Thua trận thứ nhất, để đoàn thuyền Toa Đô lọt qua trận địa, thẳng đến Thăng Long, bèn tổ chức chặn đánh đoàn lương thuyền của Trương Văn Hổ thắng lợi Công đấy chuộc tội đấy Sau chiến thắng, ngựa quen đường cũ, lại tham nhũng, vơ vét, đàn áp nhân dân, khi bị vua Trần trách mắng, thản nhiên nói rằng: “Tướng là chim ưng, quân dân là vịt, lấy vịt mà nuôi chim ưng thì có gì là lạ” Đại Việt sử ký toàn thư dành trọn phần viết về ông tướng này để kể tội Nhưng khi bước vào tiểu thuyết của Lưu Sơn Minh, Trần Khánh Dư trở thành một con người khác Đó là một dũng tướng, một kiêu tướng lắm tài nhiều tật theo thói đời Nhưng ngoài những thú vui cá nhân như uống rượu đánh bạc, Trần Khánh Dư là một mưu tướng, một dũng tướng luôn biết cách đánh thắng, nhất là ở trong những thời khắc khó khăn nhất Ông cũng

Trang 31

là kẻ biết dùng người, liên tài Đặc biệt, đấy là người có cá tính mạnh mẽ, ngang tàng vì hiểu rõ tài năng, vai trò của mình Đây cũng là người biết, dám yêu một tình yêu cuồng điên nhưng cũng biết dừng lại khi cần thiết để bảo đảm sự vận hành trơn tru cho đại cuộc, và vì thế âm thầm nhận lấy những thiệt thòi, những xót đau về mình Một điểm khác nữa là, khi viết về Trần Khánh Dư và Trần Quốc Toản, khác với thông lệ, Lưu Sơn Minh lựa chọn và đã thực sự viết về họ như là viết về những thân phận ngoại biên Họ, mỗi người một cách, nhưng đều

đã từng chịu đựng nỗi tủi hổ bên lề Điều này luận văn xin được tiếp tục trong một số phần viết sau đây

1.2.3 Tổng quan về tiểu thuyết lịch sử của Lưu Sơn Minh

Chưa nhiều tiểu thuyết lịch sử, cho đến nay, ngoài những dự định về vài

ba cuốn tiểu thuyết đã nhắc đến ở phần trên, Lưu Sơn Minh mới chỉ có Trân Quốc Toản và Trần Khánh Dư Riêng về nhân vật Trần Quốc Toản, cũng có thể

coi là nhà văn đã có hai cuốn, nếu xét theo thời điểm sáng tác, sự bổ sung, sửa đổi và thể loại Tuy ít ỏi, nhưng không thể phủ nhận những thành công của nhà văn, và không thế phủ nhận sự xứng đáng được gọi là nhà tiểu thuyết lịch sử của

tác giả Trần Quốc Toản và Trần Khánh Dư cũng không phải là những tác phẩm

đồ sộ Không dày dặn, trùng trùng sự kiện như các tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh hay Hoàng Quốc Hải, các tác phẩm này của Lưu Sơn Minh tương đối gọn ghẽ trong khoảng chưa đầy ba trăm trang, chữ nhỏ (cỡ 13) trên khổ giấy 16 x 24

cm Song, tác phẩm không vì thế mà thiếu đi sự đầy đặn, phong phú của những thông điệp, không giới hạn sự thể hiện bản lĩnh, năng lực của người viết

Có những điểm mới nhất định trong hai tiểu thuyết này, trước hết là lựa chọn cái nhìn về nhân vật lịch sử Đấy là sự đan cài giữa góc nhìn lịch sử và góc nhìn thân phận Một mặt, tác giả - người kể chuyện vẫn nhìn các nhân vật trong cái nhìn đại tự sự Họ vẫn là những nhân vật có tác động mạnh mẽ lên lịch sử, là nhân vật đáng được cả cộng đồng ngưỡng mộ với cái nhìn từ xa, dưới thấp Trên tinh thần ấy, họ đại diện cho ý chí, nhân phẩm của dân tộc Một già, một trẻ, Trần Khánh Dư và Trần Quốc Toản đều cho thấy phẩm chất và cả xuất thân sang quý, tài năng, đảm lược của mình trong cuộc chiến chống xâm lăng để bảo vệ giang sơn và hoàng vị của tông tộc Họ sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng xả thân và trong dòng máu nóng luôn hừng hực hào khí Đông A Các nhân vật (chính diện) khác trong hai tác phẩm cũng vậy Trước hết, đó là những người có xuất thân

Trang 32

cao sang, toàn bậc vương hầu Tất cả những gì họ thể hiện đều ngời lên ánh sáng của dòng họ Trần lẫy lừng của thế kỷ XII, XIII Những Trần Nhân Tông, Trần Thánh Tông, Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật đều dư sức để người ta ngưỡng mộ Các bậc tướng lĩnh khác đều vậy, Nguyễn Khoái hay Hoa Xuân Hùng, Hoàng Chí Hiển hay ba anh em họ Phạm đều mang trong mình phẩm chất nhân dũng của trai thời loạn Nhưng bên cạnh góc nhìn mang màu sắc điển phạm chính thống ấy, người viết đã bổ sung thêm một góc nhìn khác: góc nhìn về thân phận bên lề của một số nhân vật Trần Khánh Dư vốn là người nhiều tai tiếng, điều đó ai cũng biết Nhưng mấy dòng viết súc tích của lịch sử không đủ bày tỏ những xúc cảm thân phận khi nhìn về nhân vật Trong một số tác phẩm văn học, thảng hoặc có được nhắc đến, người ta cũng chỉ thấy ông xuất hiện với quan niệm ấy, hoặc kèm với một chiến công bổ sung cho chiến thắng oanh liệt của những lần chống quân nguyên, bổ sung cho bức tranh hào sảng lẫm liệt dòng họ Đông A và Đại Việt thời Trần Biến Trần Khánh Dư thành nhân vật trung tâm của một tiểu thuyết, nhân căn cứ vào thân thế lịch sử của Trần Khánh

Dư, Lưu Sơn Minh đã thực sự có cái nhìn thấu suốt về thân phận bên lề của nhân vật này Tình trạng bên lề ấy được cắt nghĩa từ hai nguyên nhân cơ bản: một, thân phận của một kẻ tội đồ một thuở; hai: cá tính, sự ngông ngạo và kiêu bạc của một hoàng thân tự biết tài của mình và không chịu gò vào khuôn khổ, mặc

dù vẫn cố gắng thực hiện trọn vẹn, thậm chí nhiệt tình, xuất sắc nhiệm vụ được lịch sử giao phó Trần Khánh Dư bên lề lịch sử, bên lề hoàng tộc, bên lề tình yêu Thậm chí ngay sau những chiến công hiển hách, ông bỗng chốc lại trở về với thân phận bên lề Điều đó không hẳn do bậc quân vương, không hẳn do thái

độ của những người trong tộc, không hẳn do cộng đồng , điều đó có thể do chính ông Nết và tật không cho phép ông làm một người bình thường chỉn chu hòa nhập với cộng đồng, ông đành phải tự tìm một lối thoát trong nỗi cô đơn Trần Quốc Toản là một tướng trẻ, người ta ít biết đến thân phận lịch sử của chàng, chỉ biết rằng đấy là một thiếu niên vốn thuộc hoàng tộc, được phong hầu tước, cha mất sớm, sống cùng mẹ ở một làng quê cách xa kinh kỳ, cách xa

những phồn hoa đô hội, Biết, nhưng người ta ít chú ý đến chi tiết này Lá cờ thêu sáu chữ vàng của Nguyễn Huy Tưởng tuyệt nhiên không đề cập các chi tiết

đời tư của Trần Quốc Toản, thậm chí cũng không cho biết thân phụ của chàng là

ai Lưu Sơn Minh có cách làm khác Anh chỉ ra vị trí tồn tại đáng tủi nhục (thân phận con thêm vợ lẽ) trong tông tộc của chàng trai trẻ Và cái không gian làng

Trang 33

quê Vũ Ninh mà chàng tồn tại, ở các tác phẩm khác thì không, nhưng bước vào tiểu thuyết của Lưu Sơn Minh đã thực sự mang ý nghĩa biểu tượng của thân phận ngoài rìa Ngay cả việc không được phép dự hội nghị Bình Than, theo cách cắt nghĩa của người kể chuyện, không chỉ đơn thuần là vì Hoài Văn hầu chưa đủ mười tám tuổi, mà cũng có phần nguyên nhân từ thân phận bạc bẽo của chàng

Và việc tập hợp hơn nghìn thiếu niên nghĩa dũng để thành lập một đạo quân, xếp ngang với quân binh của các vương hầu khác, lại vinh quang và nhọc nhằn được đánh ba trận quan trọng nhất của cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông lần thứ ba, cũng xuất phát một phần từ lòng yêu nước, tự tôn dòng tộc, nhưng một phần chính từ sự “cay cú đời sống” (chữ dùng của Nguyễn Huy Thiệp khi nói về

các bậc vĩ nhân, danh nhân trong Vàng lửa) Và nếu tinh ý, có thể thấy chính sự

trẻ trung sôi nổi, lòng yêu nước và dũng khí, tài năng của chàng, ở một mặt nào

đó, là đang bị lợi dụng Hoài Văn hầu, một kẻ không được tham dự hội nghị Bình Than, một đứa con không thuộc hàng “chính ngạch” của họ Trần, đã tham

dự những trận đánh khốc liệt nhất, và ngã xuống ngay trong trận đánh cuối cùng Người ta đã dự liệu được sự khốc liệt của trận chiến, người ta đã, thậm chí, dự liệu được kết cục không thể trở về của chàng trai trẻ tài năng chín sớm, đứa con duy nhất của một vương gia yểu mệnh, của một góa phụ tủi nhục, nhưng vẫn để chàng đương diện với cái chết Việc truy phong Hoài Văn vương sau khi hầu ngã xuống nghe chừng như một việc hết sức đãi buôi, trớ trêu

Bên cạnh các nhân vật chính là Trần Khánh Dư (Trần Khánh Dư) và Trần Quốc Toản (Trần Quốc Toản), trong hai cuốn tiểu thuyết này có thể thấy xuất

hiện một số nhân vật khác cũng mang thân phận bên lề Đó là Trê, là Hoàng Chí Hiển, là Hoàng Phủ Tín, là Triệu Trung Bọn họ, kẻ xuất thân chài lưới thấp kém, người là tướng quân vong quốc tất cả đều có chung nỗi buồn, chung niềm cảm khái của kẻ vạ vật Người ta có thể thấy tấm tình của Trê hay Hoàng Chí Hiển trong nỗi nhớ những người thân yêu đã mất, do loạn lạc, do chiến tranh; người ta cũng có thể thấy những thổn thức nhớ nước, mối hận mất nước của vị tướng quân Tống Triều đang lưu lạc nơi đất khách Ở đó có ngọn gió thiểm Tây Cam Túc, ngọn sóng Trường Giang hùng vĩ, mà mỗi đợt âm thanh của nó vang lên là một lần trái tim người vong quốc một lần nhói đau

Các tiểu thuyết lịch sử của Lưu Sơn Minh có lối kể chuyện không quá hiện đại, nhưng cũng không thuần túy tuân theo lối kể của các tiểu thuyết truyền thống Người đọc có thể thấy sự linh hoạt nhất định trong việc xây dựng cốt

Trang 34

truyện Xung quanh cái trục bất biến là cấu trúc theo nguyên tắc tôn trọng lịch

sử, cốt truyện của Lưu Sơn Minh ở đây còn có những biến thể theo nguyên tắc tâm lí nhân vật hay theo nguyên tắc của những dịch chuyển văn hóa Nhân vật không đông đúc nhưng đa dạng với sự tinh tế trong miêu tả và đặc biệt là tính liên văn bản của nhân vật Đây có thể coi là một điểm độc đáo của tiểu thuyết lịch sử Lưu Sơn Minh Cùng với tính chất liên văn bản của nhân vật là tính chất liên thời gian được tạo bởi không khí kể hoặc bằng những chú thích, bằng tên các chương, mục Tác giả cũng vận dụng khá linh hoạt điểm nhìn và điều này tạo

ra những hô ứng nhất định với sự thể hiện, sự tự biểu hiện của nhân vật Cái nhìn

từ bên trong đặc biệt có giá trị soi sáng thân phận bên lề của các nhân vật trong tiểu thuyết, nhìn sâu vào các ngõ ngách của đời sống tâm hồn Nhân vật vì thế, hiện lên như là đang sống Sự phối kết hợp nhiều bút pháp, giọng điệu cũng là

điểm cần chú ý khi nghiên cứu hai tác phẩm Trần Khánh Dư và Trần Quốc Toản

Tiểu kết chương 1

Lưu Sơn Minh, như chúng ta thấy, không phải là một nhà văn đình đám Anh viết ít, và khá lặng lẽ Số trang viết của anh so với một số nhà văn cùng trang lứa là khá khiêm tốn Nhưng với chỗ đứng có thể còn đang khiêm nhường

ấy, tác giả vẫn ít nhiều tạo được cho mình một thương hiệu, nhất là trên đề tài lịch sử và thể tài tiểu thuyết lịch sử Đến với lịch sử từ thuở nhỏ bằng lòng đam

mê của một người đọc, bén duyên sớm để trở thành một tác giả viết về lịch sử, một tác giả của tiểu thuyết lịch sử, những nỗ lực của nhà văn ít nhiều đã được đền đáp bằng danh tiếng và có lẽ là cả doanh thu từ tác phẩm Không quá cổ điển, cũng không mặn mà lắm với những đổi mới quyết liệt, Lưu Sơn Minh lặng

lẽ tiếp cận lịch sử, thể hiện lịch sử bằng con đường riêng của mình, nhã nhặn,

chia sẻ, đồng cảm mà da diết Hai cuốn tiểu thuyết Trần Quốc Toản và Trần Khánh Dư thể hiện một cách khá tập trung phong cách ấy của nhà văn

Trang 35

Chương 2

CỐT TRUYỆN, NHÂN VẬT VÀ THỜI GIAN KỂ CHUYỆN

TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA LƯU SƠN MINH

2.1 Cốt truyện trong tiểu thuyết lịch sử của Lưu Sơn Minh

2.1.1 Cốt truyện được cấu trúc theo nguyên tắc tôn trọng lịch sử

Trong văn xuôi đương đại nói chung và tiểu thuyết đương đại nói riêng viết về lịch sử, các nhà văn thường mạnh mẽ vượt thoát khỏi những ám ảnh lịch

sử để tạo ra cách nhìn nhận, đánh giá riêng, từ đó tạo ra một thế giới nghệ thuật riêng, không giống hoặc chí ít không trùng khít lên thứ hiện thực được lịch sử

mô tả Cũng từ đó, nhà văn có rất nhiều cách thức tổ chức cốt truyện, cũng giống như nhà văn nói chung không còn nhất thiết phải dựa vào một sơ đồ cốt truyện như những thế kỷ trước đã từng Hình như Lưu Sơn Minh chưa hề quan niệm lịch sử là cái đinh để treo bức họa của chính mình, nên anh tiếp cận lịch sử một cách khá điềm đạm, thận trọng Không ưu tiên cho việc mượn lịch sử để nói chuyện hiện tại, không tranh đoạt lịch sử, không tranh đoạt các loại hoạt động ghi chép lịch sử, Lưu Sơn Minh thực sự là người kể lại lịch sử bằng phương tiện văn học Chính vì thế, một trong những ưu tiên của nhà văn khi xây dựng cốt

truyện là cấu trúc cốt truyện theo nguyên tắc tôn trọng lịch sử

Trước hết, đó là sự chuẩn mực trong việc tiếp cận và tái hiện các nhân vật, các sự kiện lịch sử Các tiểu thuyết của Lưu Sơn Minh men theo các sự kiện đã được ghi chép trong các cuốn cổ sử, và “học theo” cách kể chuyện lịch sử của các tiểu thuyết trước đó Có thể thấy ở đây sự vận hành trơn tru giống như những cuốn sử biên niên nếu ta lược bỏ hết những trường đoạn miêu tả phong cảnh, hoàn cảnh hay tâm lí nhân vật Đành rằng rất nỗ lực tiếp cận nhân vật từ góc nhìn mới mẻ hơn bằng sự đồng cảm, sự chia sẻ về mặt thân phận, nên yếu tố hư cấu của hai cuốn tiểu thuyết là khá phong phú, nhưng như trên đã nói, người kể chuyện tiếp cận họ trước hết từ góc độ lịch sử, nên việc trung thành với lịch sử

và trung thành với kiểu cẩu trúc biên niên sử là điều dễ hiểu

Trần Quốc Toản được kể bắt đầu từ những câu chuyện diễn ra ở quê

hương, trong gia đình, sau đó lên kinh thành, đi “trải nghiệm” ở các vùng miền

Trang 36

khác Tiếp đó kể đến tình hình đất nước với nguy cơ ngoại xâm, dòng máu Đông

A trong chàng trai trẻ được đánh thức, chuyện chàng không được tham dự Hội nghị Bình Than, sau đó về chiêu binh mãi mã và trải qua các trận đánh lớn, cho đến khi chàng ngã xuống Những sự kiện lớn mang màu sắc lịch sử được kể một cách tuần tự, lớp lang, đầu trước đuôi sau theo thời gian tuyến tính Cũng trong quá trình đó, người đọc có thể chứng kiến sự trưởng thành của chàng ngay trong

sự vận động của lịch sử Về cơ bản, sự vận động của sự kiện, tình huống của nhân vật lịch sử Trần Quốc Toản được tổ chức tương tự kết cấu cốt truyện của

Lá cờ thêu sáu chữ vàng

Trần Khánh Dư cũng được kể như vậy Bắt đầu bằng tổ chức sự kiện gối

lên sự kiện, bắt đầu từ bữa tiệc trong phủ của Nhân Huệ vương, tiếp đó là câu chuyện luyện binh, chuyện âm mưu ám sát, chia rẽ của nhà Nguyên, rồi câu chuyện thao luyện binh mã, chuyện bắt cóc, giải cứu, chuyện đánh nhau với Toa

Đô, chuyện đánh nhau với đoàn thuyền tải lương của Trương Văn Hổ, đến khi cuộc chiến kết thúc, mọi thứ an bài và Trần Khánh Dư trở về với nỗi cô độc của chính mình Dĩ nhiên là có nhiều chuyện khác chen vào, như câu chuyện tông tộc họ Trần, chi anh chi em, con trưởng con đích, con chính danh và con không chính danh , rồi chuyện yêu đương bi kịch của Nhân Huệ vương với vợ Hưng Nhượng vương, chuyện Hưng Đạo vương yêu vợ Tĩnh Quốc vương, đến mức vua Trần phải gả luôn nàng cho Hưng Đạo Nhưng tất cả những câu chuyện ấy không giữ vai trò chính trong vận động của cốt truyện Đó chỉ như những phụ đề

để giải thích bổ sung sự kiện, để người đọc thấy sự phức tạp của các mối quan hệ nội tộc Trần triều và cái cách họ xử lí để tạo được mối kết đoàn làm nên sức mạnh vô địch; hoặc để tô đậm bi kịch, tô đậm nỗi cô độc, bất hạnh của nhân vật

Tôn trọng lịch sử, xây dựng cốt truyện chủ yếu theo nguyên tắc tôn trọng lịch sử, tiểu thuyết lịch sử của Lưu Sơn Minh cũng thỉnh thoảng sử dụng lối kể chuyện sử ký, nghĩa là ghi chép sự kiện nghiêm chỉnh, đặt sự kiện trong thời

gian được định danh theo kiểu cổ sử Chương mở đầu cuốn Trần Khánh Dư

Trang 37

“Trần Liễu là anh ruột Thái Tông, nên được đặc chỉ phong tước Hiển Hoàng Nhưng ông hoàng này đi thuyền ngang cung điện cũ của nhà Lý, trông thấy cung nữ xinh đẹp liền rẽ vào quây màn hưởng thú trần gian Thế là bị hạ xuống thành Hoài Vương Rồi sau vụ nổi loạn vì bị “cướp vợ”, lại hạ xuống thành An Sinh vương Con cả của Trần Liễu là Trần Quốc Doãn, được bố chọn

mĩ hiệu là Vũ Thành vương Lúc đầu, không ai hiểu ra sao, đến khi phát hiện Trần Liễu không phục triều đình, không phục Thái sư ngấm ngầm chiêu binh thì mọi người mới hiểu chữ “Vũ” tỏng mỹ hiệu của Trần Quốc Doãn Dĩ nhiên, hồi

ấy chưa ai biết, sau này Trần Quốc Doãn dẫn cả nhà trốn sang Tống rồi lại bị người Tống trả về Đại Việt

Cuộc loạn của Trần Liễu xảy ra rồi, tới khi chọn mỹ hiệu cho Trần Tung, phủ Tông Chính cương quyết chọn chữ “An” của Trần Liễu nối xuống Trần Liễu nhất nhất đòi dùng chữ “Vũ” Phủ Tông Chính nói vụng với nhau: “Con ông Liễu mà cứ cho chữ “Vũ”, thì hai chi Vạn Kiếp - Tức Mặc còn động binh đao không biết đến bao giờ” Biết chuyện tranh cãi, Trần Thủ Độ nổi cáu, mắng

cả Trần Liễu lẫn phủ Tông Chính Chỉ Trần Toàn mới biết Thái sư lẳng lặng vào kinh nói với Thái tông: “Việc này xử không khéo, họ Đông A hỏng mất”

Thế là Thái Tông nhận Trần Tung làm con nuôi, chọn mĩ hiệu bắt đầu bằng chữ “Hưng” Từ ấy, chi Vạn Kiếp chuyên dùng chữ “Hưng” được vua ban” [35;211-212] (mọi trích dẫn, chúng tôi để nguyên tự dạng của văn bản, nên

họ Hoàng Phủ đã tham gia vào mọi cuộc chiến Tống – Liêu, Tống – Kim Dẫu rằng họ Hoàng Phủ chống Tống nhưng vẫn có mặt mỗi khi đất nước lâm nguy Nhưng sức của dân chúng không thể bù đắp nổi sự ngu muội của triều đình nhà Tống Tống nhận lời liên kết với Mông để đánh Kim Và Kim mất nước, Kim Ai Tông tự ải, thì đoàn quân Tống kéo đến nhận thành theo như thỏa ước đã bị người Mông tháo nước sông Hoàng Hà dìm chết Thấy cơ mất nước đã đến, cụ

Trang 38

bốn đời của Hoàng Phủ Tín lặng lẽ dẫn cả nhà theo lối Giang Đông, chuyển sang nghề buôn đường biển Ông cụ dặn lại con cháu: “Hễ thấy động gì thì giương buồm mà đi, đi càng xa càng tốt” Ông nội Hoàng Phủ Tín hỏi cha xem nếu đi thì đi về phương nào Ông cụ trả lời: “Cao Ly khó đi, Đại Việt dễ đến” [35;18]

Một trong những điểm thường gặp trong các cuốn sử ký, hoặc các văn bản

tự sự thời trung đại, nhất là tiểu thuyết, là tinh thần lịch sử, là sự truy nguyên cả

lịch sử cá nhân Không nhắc đến Sử ký của Tư Mã Thiên, ngay trong Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, tinh thần này cũng được thể hiện khá triệt để

Không tính đến những nhân vật xuất thân dòng dõi, ngay cả những nhân vật có xuất thân bình thường, thậm chí thấp kém, đôi khi cũng được tác giả truy nguyên nguồn gốc, miễn là nhân vật đó có tác động nhất định đến bàn cờ Tam quốc Đoạn trích trên cho thấy, không chỉ là những nhân vật có nguồn gốc xuất thân từ Đại Việt, từ vương triều Trần, ngay cả với những kẻ vong quốc, người kể chuyện cũng chú ý miêu tả lịch sử của anh ta Điều này góp phần tăng tính xác thực và thuyết phục của chuyện kể (mặc dù người kể có thể “bịa” ra)

Bản chất của văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng là hư cấu Lưu

Sơn Minh với Trần Quốc Toản và Trần Khánh Dư là không ngoại lệ Hàm lượng

hư cấu trong hai tác phẩm là khá đậm đặc, và kết cấu tràn thuật do vậy khá linh hoạt, nhưng bản chất sự kiện lịch sử và trật tự vận hành của sự kiện về cơ bản được giữ nguyên, và theo tuyến tính thời gian Người đọc có thể thấy sự tương ứng giữa điểm mở đầu với điểm kết thúc của sự kiện trong tiếu thuyết với sự kiện trong lịch sử

2.1.2 Cốt truyện cấu trúc theo nguyên tắc vận động của tâm lí nhân vật

Chuyện kể trong tiểu thuyết hiện đại thường không bỏ qua kiểu kết cấu cốt truyện theo nguyên tắc phát triển của tâm lý nhân vật, dù đó là chuyện kể về lịch sử Chúng ta có thể thấy lối kết cấu này trong phần lớn các tác phẩm văn

xuôi, nhất là truyện dài và tiểu thuyết Khi viết Hồ Quý Ly, Đội gạo lên chùa, Mẫu Thượng Ngàn, Hội thề, Vạn Xuân Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Quang Thân, Yveline Féray đều sử dụng lối kết cấu này Trần Quốc Toản và Trần Khánh Dư, bên cạnh góc nhìn lịch sử là góc nhìn thân phận Chính vì thế, việc

miêu tả tâm lý được người kể chuyện thực hiện một cách khá triệt để Cả hai nhân vật của hai tiểu thuyết cùng nếm trải nỗi tủi nhục của thân phận bên lề Cả

Trang 39

hai cùng có những tình cảm riêng tư, nhất là tình yêu, dẫu rằng tình yêu giữa họ

có những điểm khác nhau Với Trần Quốc Toản, đó là thứ tình cảm đầu đời vừa chớm, dù đẹp nhưng chưa đủ để mang đến sự cảm nhận về bi kịch thân phận Chính những yếu tố này đã thôi thúc cốt truyện tìm đến sự nới lỏng khung kết cấu biên niên sử để tìm đến một kết cấu hoạt hơn, đa dạng hơn men theo sự phát

triển của tâm lý nhân vật Trong Trần Khánh Dư, một phần cốt truyện phát triển

theo sơ đồ biên niên, nhưng một phần phát triển theo suy tư, theo dòng hồi ức,

dòng ý thức nhân vật Vì thế, kết cấu truyện khá phức tạp so với Trần Quốc Toản (hiển nhiên, cũng không thể nói là kết cấu Trần Quốc Toản đơn giản) Trần Quốc Toản kết cấu theo tuần tự thời gian với 15 chương, trong khi Trần

Khánh Dư được chia 25 chương, xen giữa các chương là các khúc vọng, khúc vô thanh Ngay việc xen vào các khúc vọng và khúc vô thanh này cũng đã nói lên tính chất phức tạp của cốt truyện, cho thấy sự chi phối của yếu tố tâm lý đến cấu trúc cốt truyện

Hai mươi lăm chương của tiểu thuyết là các chương thuật chuyện, kể lại các sự kiện bắt đầu từ khi Trần Khánh Dư được cử trấn giữ Vân Đồn, đến lúc chiến tranh kết thúc Các khúc vọng là lời tự bạch, là tâm sự của Trần Khánh Dư

về chính mình, về những suy tư của bản thân, gia đình, dòng họ trong những lật trở về cuộc cờ thế sự nhân tâm Khúc vô thanh của Thiên Thụy và khúc vô thanh của Thị Thảo là tâm sự của những người phụ nữ duyên nợ với Nhân Huệ vương, nhưng bằng lí do này hay lí do khác, hoặc không đến được với nhau, hoặc nếu đến được với nhau cũng chỉ khiến tình hình thêm rối ren và người trong cuộc thêm đau khổ Chính sự nương theo tâm lý mà tác giả tạo ra một cốt truyện tùy biến, lồng ghép, đa cốt Trên tinh thần đó, hệ chủ đề của tác phẩm cũng trở nên phong phú, người kể chuyện, người đọc và cả các sử gia nếu đọc tác phẩm cũng phải chấp nhận những đối thoại như là chuyện mặc nhiên, tiền định Cũng trên tinh thần đó, người đọc có nhiều lớp chủ đề: chủ đề lịch sử, chủ đề thân phận Trước hết, người đọc vẫn có thể thấy được vai trò của các anh hùng đối với sự vận động, phát triển của lịch sử, nếu nhìn vào những công trạng và lợi ích mà họ

đã mang đến cho lịch sử Việc Trần Quốc Toản tham dự và thành công trong ba trận đánh quan trọng nhất của cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai, việc Trần Khánh Dư trấn ngự để đảm bảo an ninh Vân Đồn - cửa ngõ đường thủy, đảm bảo cho sự tồn vong quốc gia, và chiến thắng trong trận đánh lương thuyền Trương Văn Hổ - một trận thắng có ý nghĩa quyết định cho chiến thắng

Trang 40

chống Nguyên Mông lần thứ ba, là những sự kiện làm nổi bật vai trò của các nhân vật ấy đối với lịch sử Đại Việt Mặt khác, đặt các nhân vật ấy trong tương quan với lịch sử, mô tả những mất mát, những thiệt thòi mà họ phải chịu, tác giả cũng cho thấy sự bấp bênh của số phận con người khi dính líu vào lịch sử Khi dính vào lịch sử, con người phải chấp nhận số phận thân bất do kỷ Trần Quốc Toản, Trần Khánh Dư, nếu chỉ là những thường dân, có thể an phận, thậm chí vui vẻ, hạnh phúc với những niềm vui đơn sơ nơi xóm mạc, hay trên con thuyền chở than lênh đênh sông nước Nhưng họ trót sinh ra trong hoàng tộc, là người của hoàng tộc, nên họ buộc phải nhận thức và tủi hổ về thân phận ngoại biên của mình Cũng bởi họ được lịch sử lựa chọn, nên người thì phải chết khi vừa kịp trưởng thành, người phải ôm mối hận thiên thu khi những mối tình lần lượt qua

đi, bởi, tư cách lịch sử, thân phận lịch sử không cho phép họ trở thành người bình thường Không phải ngẫu nhiên mà nhà văn xây dựng Trần Khánh Dư thành một nhân vật cô độc đến thế! Thêm nữa, với những suy tư, trăn trở về thân phận con người ấy, cốt truyện giúp người đọc, cùng tác giả có thể soi rọi quá khứ, bàn luận với quá khứ về câu chuyện thân phận, về những đòi hỏi và khả năng đáp ứng những đòi hỏi hỏi chính đáng của con người: tình yêu, hạnh phúc,

sự giải phóng cá nhân, cá tính

Tuân thủ quy tắc phát triển tâm lí nhân vật trong xây dựng cốt truyện, tác giả cho thấy sự cao tay ở chỗ, vẫn thể hiện một thái độ tôn trọng lịch sử, nhưng

một mặt hướng đến một kết cấu hiện đại với tính lỏng của cốt truyện Ngoài việc

sắp xếp các sự kiện lịch sử theo tuyến tính thời gian, phần kể về những chuyện riêng tư, phần để nhân vật độc thoại được bố trí khá ngẫu nhiên, tùy biến Trần Khánh Dư có thể trong một đêm khó ngủ, trong cái bừa bộn của chính sự: âm mưu ám sát, âm mưu chia rẽ trong cái mệt mỏi cô đơn của mình mà nghĩ về Thiên Thụy công chúa, nghĩ về những khoảnh khắc hạn phúc ngắn ngủi, nghĩ về nỗi bất hạnh đằng đẵng của chính mình Cùng với những nỗi niềm ấy là những trường đoạn hoặc đoản khúc về các miền văn hóa Thiên Thụy với khúc vô thanh của mình tạo nên một cộng hưởng về hạnh phúc, một cộng hưởng về bất hạnh tạo nên sự hòa điệu, hô ứng nhịp nhàng giữa những khắc khoải, từ đó nhấn mạnh thêm tình thế bi đát của thân phận Đây là một đoạn trong khúc vọng của Thiên Thụy:

“Đôi khi, ta lại nhớ những ngày người ấy đưa ta đi chơi núi Sài Người ấy đưa ta vào thăm hang xưa, nơi được truyền là chốn ẩn tu của pháp sư Đạo

Ngày đăng: 01/08/2021, 15:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hà Ân (1979), Vài ý kiến về sự thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử phục vụ các em, Văn học (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài ý kiến về sự thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch "sử phục vụ các em
Tác giả: Hà Ân
Năm: 1979
2. Lại Nguyên Ân (2017), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2017
3. Ba Yên (2017), Giữa những hàng chữ của sử quan, http://tonvinh vanhoadoc.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giữa những hàng chữ của sử quan
Tác giả: Ba Yên
Năm: 2017
4. Bakhtin, M. (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, (Phạm Vĩnh Cƣ tuyển chọn, dịch và giới thiệu), Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: Bakhtin, M
Năm: 1992
5. Lưu Quang Bình st (2012), Nhà văn Lưu Sơn Minh, http://www. luutoc.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Lưu Sơn Minh
Tác giả: Lưu Quang Bình st
Năm: 2012
6. Nguyễn Huệ Chi, Trần Hữu Tá Đỗ Đức Hiểu, Phùng Văn Tửu ( chủ biên, 2005), Từ điển văn học (bộ mới), Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ "điển văn học (bộ mới)
Nhà XB: Nxb Thế giới
7. Nguyễn Hụê Chi, Vũ Thanh (1996), Những đóng góp của Nguyễn Tử Siêu cho loại hình tiểu thuyết lịch sử giai đoạn đầu thế kỷ, Văn học (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đóng góp của Nguyễn Tử Siêu cho loại "hình tiểu thuyết lịch sử giai đoạn đầu thế kỷ
Tác giả: Nguyễn Hụê Chi, Vũ Thanh
Năm: 1996
9. Nguyễn Văn Dân (2011), Mấy xu hướng chủ yếu trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại, http://toquoc.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy xu hướng chủ yếu trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam "đương đại
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Năm: 2011
10. Phan Cự Đệ (2003), Tiểu thuyết lịch sử, Nhà văn (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết lịch sử
Tác giả: Phan Cự Đệ
Năm: 2003
11. Phong Điệp (2017), Sáng tạo giữa những dòng sử liệu, http://nhandan.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tạo giữa những dòng sử liệu
Tác giả: Phong Điệp
Năm: 2017
12. Trương Đăng Dung (1994), Tiểu thuyết lịch sử trong quan niệm mỹ học của G.Lukacs, Văn học (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết lịch sử trong quan niệm mỹ học của G.Lukacs
Tác giả: Trương Đăng Dung
Năm: 1994
13. Trương Đăng Dung (1998), Từ văn bản đến tác phẩm văn học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ văn bản đến tác phẩm văn học
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1998
14. V. Hà (2017), “Ra mắt tiểu thuyết lịch sử Trần Quốc Toản của nhà văn Lưu Sơn Minh”, cand.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ra mắt tiểu thuyết lịch sử "Trần Quốc Toản" của nhà văn Lưu Sơn Minh
Tác giả: V. Hà
Năm: 2017
15. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên, 2000), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn "học
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
16. Nguyễn Thị Hằng (2018), Nhân vật Trần Khánh Dư trong tiểu thuyết Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Hằng (2018)
Tác giả: Nguyễn Thị Hằng
Năm: 2018
17. Võ Thị Hảo (2003), Giàn thiêu, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giàn thiêu
Tác giả: Võ Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2003
18. Thƣ Hoàng (2017), Đã viết văn thì không được vội, http://daidoanket.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thƣ Hoàng (2017), "Đã viết văn thì không được vội
Tác giả: Thƣ Hoàng
Năm: 2017
20. Đoàn Thị Huệ (2017), Tiểu thuyết lịch sử từ góc nhìn phương pháp sáng tác, Khoa học ĐHSP TPHCM (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết lịch sử từ góc nhìn phương pháp sáng tác
Tác giả: Đoàn Thị Huệ
Năm: 2017
21. Nguyễn Văn Hùng (2014), Diễn ngôn người kể chuyện trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986, Khoa học ĐHSP TPHCM (63) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn ngôn người kể chuyện trong tiểu thuyết lịch sử Việt "Nam sau năm 1986
Tác giả: Nguyễn Văn Hùng
Năm: 2014
22. Nguyễn Văn Hùng (2016), Kết cấu tự sự trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986, Khoa học đại học Văn Hiến (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết cấu tự sự trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986
Tác giả: Nguyễn Văn Hùng
Năm: 2016

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm