1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dấu ấn truyện dân gian và truyện truyền kì trung đại trong truyện ngắn việt nam đương đại

119 52 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì thế, trong truyện ngắn đương đại Việt Nam, chúng ta nhận thấy rõ những dấu ấn rất đậm của văn học dân gian và truyện truyền kì trung đại: yếu tố kì ảo, màu sắc huyền thoại, motif liêu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÊ THẢO NHI

DẤU ẤN TRUYỆN DÂN GIAN

VÀ TRUYỆN TRUYỀN KÌ TRUNG ĐẠI TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN – 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÊ THẢO NHI

DẤU ẤN TRUYỆN DÂN GIAN

VÀ TRUYỆN TRUYỀN KÌ TRUNG ĐẠI TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 8.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

T.S Nguyễn Thị Thanh Trâm

NGHỆ AN – 2019

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 8

TỔNG QUAN VỀ TRUYỆN DÂN GIAN, TRUYỆN TRUYỀN KÌ TRUNG ĐẠI VÀ SỰ KẾ THỪA VĂN HỌC TRUYỀN THỐNG TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 8

1.1 Truyện dân gian 8

1.1.1 Khái niệm truyện dân gian 8

1.1.2 Đặc điểm truyện dân gian 9

1.2 Truyện truyền kì trung đại 21

1.2.1 Khái niệm truyện truyền kì trung đại 21

1.2.2 Đặc điểm truyện truyền kì trung đại 21

1.3 Sự kế thừa văn học truyền thống trong truyện ngắn Việt Nam đương đại 27

1.3.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội, văn học của truyện ngắn Việt Nam đương đại 27

1.3.2 Đặc điểm của sự kế thừa văn học truyền thống trong truyện ngắn Việt Nam đương đại 31

Chương 2 36

DẤU ẤN TRUYỆN DÂN GIAN VÀ TRUYỆN TRUYỀN KÌ TRUNG ĐẠI TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 36

2.1 Cảm hứng nghệ thuật 36

2.1.1 Cảm hứng thế sự 36

2.1.2 Cảm hứng châm biếm, trào lộng 43

2.2 Hình tượng nhân vật 49

2.2.1 Hình tượng nhân vật lịch sử 49

2.2.2 Hình tượng nhân vật siêu nhiên 52

2.2.3 Hình tượng nhân vật nghịch dị 59

2.3 Hình tượng không gian, thời gian 59

2.3.1 Không gian kì ảo 61

2.3.2 Thời gian kì ảo 64

2.3.3 Sự kết hợp giữa không - thời gian kì ảo và đời thực 67

Trang 4

Chương 3 70

DẤU ẤN TRUYỆN DÂN GIAN VÀ TRUYỆN TRUYỀN KÌ TRUNG ĐẠI TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 70

3.1 Kết cấu/Cốt truyện 70

3.1.1 Cốt truyện huyền thoại và phương thức “giải huyền thoại” 70

3.1.2 Cốt truyện “nhại cổ tích” 76

3.2 Motif 83

3.2.1 Motif “hóa thân” 83

3.2.2 Motif trừng phạt 86

3.2.3 Motif “giấc mơ, điềm báo” 90

3.3 Yếu tố kì ảo 93

3.3.1 Sử dụng yếu tố kì ảo của truyện dân gian 93

3.3.2 Sử dụng yếu tố “kì” của truyện truyền kì trung đại 96

3.4 Ngôn ngữ, nghệ thuật kể chuyện 99

3.4.1 Sử dụng ngôn ngữ đời sống dân gian 99

3.4.2 Sử dụng ngôn ngữ vùng miền 101

3.4.3 Phương thức “kể chuyện” của truyện dân gian và truyện truyền kì 104

KẾT LUẬN 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Sau đại thắng mùa Xuân năm 1975, đặc biệt từ sau Đại hội Đảng toàn

quốc lần thứ VI (1986), nền văn học Việt Nam đã có những chuyển biến sâu sắc Trong sự chuyển biến mạnh mẽ của nền văn học, văn xuôi thời kì này đã có những bứt phá ngoạn mục và đã đem đến cho văn học Việt Nam đương đại một diện mạo mới mẻ Vì thế, văn xuôi nói chung, truyện ngắn nói riêng cần được

tiếp tục khám phá, phân tích, nghiên cứu một cách toàn diện

1.2 Sáng tác trong hoàn cảnh lịch sử, xã hội nhiều chuyển biến, các thế

hệ nhà văn Việt Nam có điều kiện hơn để nhìn thẳng vào sự thật, để thể hiện tài năng, phong cách nghệ thuật và ý thức cá nhân của mình Từ sau năm 1986 đến nay, trên văn đàn Việt Nam đã xuất hiện một đội ngũ đông đảo các nhà văn với nhiều cá tính sáng tạo Họ đã tạo ra những truyện ngắn có sự đổi mới

rõ rệt trên phương diện nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật Sự đổi mới mạnh mẽ ấy vẫn chảy trong mạch ngầm của văn học truyền thống Điều đặc biệt là các nhà văn đương đại đã chủ động tìm về nguồn văn học dân gian, sử dụng chất liệu văn học truyền thống để sáng tạo nên thi pháp truyện ngắn độc đáo mà các nhà phê bình đã gọi là thi pháp huyền thoại, nhại huyền thoại hay phương thức huyền thoại hóa Vì thế, trong truyện ngắn đương đại Việt Nam, chúng ta nhận thấy rõ những dấu ấn rất đậm của văn học dân gian và truyện truyền kì trung đại: yếu tố kì ảo, màu sắc huyền thoại, motif liêu trai… Việc nghiên cứu những dấu ấn này không những khẳng định sự kế thừa văn học truyền thống trong truyện ngắn đương đại mà còn khám phá tài năng sáng tạo nghệ thuật, sự thể nghiệm bút pháp mới lạ trong việc thể hiện những trăn trở của con người hiện đại trên hành trình tìm kiếm chân lí, vẻ đẹp nhân bản trước đời

sống mới nhiều thách thức và xáo trộn

1.3 Dấu ấn truyện dân gian và truyện truyền kì trung đại trong truyện

ngắn đương đại Việt Nam chính là kết quả của quá trình tương tác đa dạng, nhiều chiềugiữa truyền thống và hiện đại, giữa yếu tố nội sinh và ngoại lai, giữa

Trang 6

kế thừa và sáng tạo Đó là sự trở lại của những huyền thoại, cổ mẫu, motif kì ảo, liêu trai trong văn hóa dân gian và trong văn học truyền thống Đó là sự tác động sâu sắc của văn học huyền thoại trên thế giới… Những truyện ngắn huyền thoại,

kì dị đó còn thể hiện tài năng sáng tạo của các nhà văn Việt Nam thời kì Đổi mới Vì thế, việc nghiên cứu đề tài dấu ấn truyện dân gian và truyện truyền kì trung đại trong truyện ngắn Việt Nam đương đại còn nhận diện vai trò, vị trí của văn học dân gian và truyện truyền kì trong việc hình thành bút pháp nghệ thuật truyện ngắn đương đại, khẳng định màu sắc dân tộc, tính truyền thống bên cạnh màu sắc hiện đại, tính cách tân mạnh mẽ của văn học đương đại Việt Nam trong

bối cảnh văn học đương đại thế giới

Với những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài Dấu ấn truyện dân gian và truyện truyền kì trung đại trong truyện ngắn Việt Nam đương đại với mong

muốn khảo sát, nhận diện những dấu vết, sự chi phối của truyện dân gian và truyện truyền kì đến truyện ngắn đương đại, khả năng vận dụng chất liệu, bút pháp văn học truyền thống trong thi pháp truyện ngắn đương đại, từ đó, khẳng định tài năng

sáng tạo nghệ thuật của các nhà văn Việt Nam giai đoạn sau năm 1986

2 Lịch sử vấn đề

Tương xứng với những thành tựu nghệ thuật trong cuộc cách tân mạnh mẽ của văn xuôi đương đại Việt Nam, trên diễn đàn phê bình và nghiên cứu văn học, nhiều học giả đã có những công trình đánh giá, phân tích văn xuôi Việt Nam đương đại trên nhiều bình diện: bối cảnh, xu hướng, cách tân, thành tựu về nội dung tư tưởng và đổi mới trên phương diện nghệ thuật Có thể kể ra rất nhiều những công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Bùi Việt Thắng (2000),

Truyện ngắn những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại, Nxb Đại học Quốc gia

Hà Nội; Nguyễn Văn Long, Lã Nhâm Thìn (đồng chủ biên, 2006), Văn học Việt Nam sau 1975 Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Giáo dục, Hà Nội; Trần Viết Thiện (2016), Tương tác thể loại trong văn xuôi Việt Nam đương đại, Nxb

Đại học Quốc gia, TP Hồ Chí Minh; Nguyễn Đức Toàn (2016), Văn xuôi Việt Nam đương đại hiện tượng và bút pháp, Nxb Văn học… Truyện ngắn, với tư

cách là một thể loại đi tiên phong trên con đường đổi mới, với dung lượng sáng

Trang 7

tác phong phú và đội ngũ nhà văn đông đảo cũng được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu Rất nhiều công trình đánh giá cao thành tựu đổi mới toàn diện cả về phương diện quan niệm văn học, nội dung và bút pháp của thể loại này Trong

cuốn bài Quan niệm về thể tài truyện ngắn trong văn học Việt Nam sau 1975 (Văn học Việt Nam sau 1975 - Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy - Nxb

Giáo dục, Hà Nội 2006): Phùng Ngọc Kiếm khẳng định: “Như một biểu hiện của quá trình ấy, truyện ngắn là một thể tài phát triển năng động, có nhiều thành

tựu” [56, tr.193] Bùi Việt Thắng trong cuốn Truyện ngắn những vấn đề lí thuyết

và thực tiễn thể loại cũng cho rằng thành tựu của truyện ngắn sau 1976 có sự

đóng góp không nhỏ của những nhà văn tiên phong, mở đường như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp “Thành tựu truyện ngắn 1976 - 2000 trước hết

là nhờ vào phong trào, đội ngũ chung nhưng cũng cần công bằng nhận xét về vai trò và sự đóng góp của những nhà văn có tài và phong cách, tiêu biểu như

Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Huy Thiệp” [72, tr.181]… Tuy nhiên, trong giới

hạn của đề tài này, chúng tôi chỉ xin tổng quan điểm luận những công trình liên quan trực tiếp đến đề tài Đó là những cuốn sách, bài viết, luận án, luận văn đề cập ở mức độ nhiều hay ít, trực tiếp hay gián tiếp, khái quát hay qua một sáng tác cụ thể đến dấu ấn, sự chi phối của truyện dân gian và truyện truyền kì trung đại đến truyện ngắn đương đại Việt Nam

Bùi Thanh Truyền là một trong những tác giả có nhiều đóng góp trong nghiên cứu về truyện ngắn đương đại trong mối quan hệ với truyện dân gian Với

nhiều bài viết như Nhân vật ngụ ngôn - nét mới trong văn xuôi những năm gần đây (Tạp chí khoa học Đại học Huế, số 5, 2001), Những môtip kì ảo trong văn xuôi sau Đổi mới (Kỉ yếu Hội nghị khoa học Đại học Huế Lần thứ 1, 2002), Truyện kì ảo Việt Nam trong đời sống văn học đương đại (Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 12,

2005)… Tác giả vừa chỉ ra nguyên nhân của sự trở lại của yếu tố kì ảo trong truyện ngắn, vừa khẳng định tâm huyết của văn học thời hậu chiến: “…Sự trân trọng, gắn

bó, thêm vào đó là cái “gu” đối với truyện kì ảo là nhân tố quan trọng khiến họ vượt qua những rào cản, e ngại ban đầu để tập hợp những bông hoa lạ này dành tặng độc giả” [87] Bùi Thanh Truyền còn có nhiều bài viết về ảnh hưởng của văn

Trang 8

học dân gian trong văn xuôi nói chung và trong truyện ngắn đương đại nói riêng

như: Sự đổi mới của truyện có yếu tố kì ảo sau 1986 qua hệ thống ngôn từ, (Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 12, năm 2008); Yếu tố kì ảo trong văn xuôi đương đại Việt Nam (Nxb Văn học - Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội 2014)…

Trần Lê Bảo cũng cho rằng truyện ngắn Việt Nam sau 1975 ngoài sự đổi mới căn bản về nội dung, phản ánh kịp thời về những biến động dữ dội của đời sống xã hội cũng như những chuyển biến sâu sắc trong đời sống của con người còn

có sự cách tân mạnh mẽ về nghệ thuật thể hiện Ông cũng đề cập đến sự trở lại của chất liệu truyện truyền kì trong một hình thức mới của văn xuôi đương đại Trong

bài viết “Liêu trai” hiện đại Việt Nam (Văn học Việt Nam sau 1975- Những vấn

đề nghiên cứu và giảng dạy – Nxb Giáo dục, Hà Nội 2006), tác giả nhấn mạnh

đến các nhân tố tiền đề tạo nên chất “liêu trai hiện đại” cho văn xuôi và truyện ngắn sau 1975: “Hiện thực cuộc sống tươi rói, phức tạp và bề bộn… được chưng cất, thăng hoa thành những hình tượng nhân vật kì lạ…” [32, tr.309]

Nguyễn Huy Thiệp với nhiều truyện ngắn đặc sắc được xem là người tiên phong trong cuộc cách tân văn xuôi Việt Nam sau 1975 với phong cách nghệ thuật độc đáo Ông cũng là người sử dụng tài tình và sáng tạo chất liệu văn hóa dân gian tạo nên bút pháp lạ trong truyện ngắn của mình Vì thế, sáng tác của nhà văn được

nhiều nhà phê bình quan tâm Thái Hòa trong bài Có nghệ thuật Ba - Rốc trong các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp hay không? (Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp -

Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2001) đã có những đánh giá khá khách quan về truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp - một trong những hiện tượng gây chấn động làng văn từ sau thời kì Đổi mới: “Trong truyện của Nguyễn Huy Thiệp, cái thực luôn đi kèm cái ảo, tạo ra sự đối lập: thực đến rợn người và ảo đến bang

hoàng kinh dị” [51, tr.96] Trong bài Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp (Tạp chí Nghiên cứu văn học, Viện Văn học

- Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, số 4, 2019), Nguyễn Thị Kiều Hương cũng thể hiện dấu ấn của yếu tố huyền thoại trong hình tượng con người nổi loạn: “Tác giả vẫn giữ motif câu chuyện tình dang dở giữa chàng lái đò Trương

Trang 9

Chi với nàng Mỵ Nương kiều diễm nhưng lại đặc tả rất sâu hình ảnh một chàng Trương được đời thường hóa đến tận cùng” [53, tr.109]

Hai tác giả Trần Thị Lý và Nguyễn Văn Thuấn cũng có bài viết: Giải huyền thoại trong truyện ngắn huyền thoại Việt Nam (Tạp chí Khoa học và Giáo

dục, Trường Đại học Sư phạm Huế, số 4, 2016) Trong bài viết này, hai tác giả

đã giúp người đọc nhận diện đầy đủ hơn về hình thức giải huyền thoại trong truyện ngắn đương đại trên các khía cạnh nổi bật như trần thuật đa điểm nhìn, cốt truyện mang tính chất phi tuyến tính hay yếu tố kì ảo gắn liền với diễn biến tâm lí của con người… Đây chính là đánh giá cách tân nghệ thuật táo bạo trong việc sáng tạo huyền thoại văn chương của văn xuôi đương đại Trong chuyên

luận Tương tác thể loại trong văn xuôi Việt Nam đương đại, 2016, tác giả Trần

Viết Thiện đã cho thấy có “sự trở về của huyền thoại trong truyện ngắn đương đại cuối thế kỉ XX, tất nhiên, với những tính chất mới, những giá trị mới” [74, tr.115] Tác giả Trần Viết Thiện cũng khẳng định rằng có “một ngã rẽ thú vị trong truyện ngắn Việt Nam sau 1986” (https://vanchuongviet.org) Như vậy, truyện dân gian, truyện truyền kì đã thực sự xâm lấn trở lại văn đàn Việt Nam sau 1975 và nhất là sau 1986

Nhiều luận văn, luận án cũng nghiên cứu về sự chi phối của yếu tố kì ảo, thi pháp huyền thoại… trong sáng tác của một số nhà văn đương đại: Nguyễn Thị

Ngọc Anh (2008), Yếu tố kỳ ảo trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, Luận

văn Thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên; Cao Thị Thu Hoài (2009),

Yếu tố kỳ ảo trong sáng tác Võ Thị Hảo (Qua tiểu thuyết Giàn Thiêu và tập truyện ngắn Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm), Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên; Hoàng Thị Bích Thảo (2014), Thi pháp huyền thoại trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học quốc gia Hà Nội; Nguyễn Thị Nhiệm (2014), Tiếp nhận văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, Luận văn Thạc sĩ, Thư viện Đại học

quốc gia Hà Nội…

Có thể thấy, đã có khá nhiều công trình liên quan đến dấu ấn truyện dân gian và truyện truyền kì trung đại trong truyện ngắn Việt Nam đương đại, nhất là

Trang 10

nghiên cứu về huyền thoại, yếu tố kì ảo Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu toàn diện về dấu ấn của truyện dân gian và truyện truyền

kì trung đại trong truyện ngắn đương đại Việt Nam Vì thế, trên cơ sở tham khảo, kế thừa các thành tựu nghiên cứu liên quan của các tác giả đi trước, trong

đề tài này, chúng tôi sẽ đi sâu nghiên cứu Dấu ấn truyện dân gian và truyện truyền kì trung đại trong truyện ngắn Việt Nam đương đại với mức độ khái

quát và toàn diện hơn

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc khảo sát, phân tích những dấu ấn của truyện dân gian và truyện truyền kì trung đại trong truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến nay trên các phương diện như cảm hứng nghệ thuật, phương thức tư duy, hình tượng, thủ pháp nghệ thuật…, luận văn nhằm đánh giá vai trò, sự chi phối của văn học truyền thống đến văn học Việt Nam đương đại cũng như tài năng sáng tạo nghệ

thuật của các tác giả truyện ngắn đương đại

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.2.1 Tổng quan về truyện dân gian, truyện truyền kì trung đại và sự kế

thừa văn học truyền thống trong truyện ngắn Việt Nam đương đại

3.2.2 Tìm hiểu và phân tích dấu ấn của truyện dân gian và truyện truyền kì

trung đại trong truyện ngắn Việt Nam đương đại nhìn từ phương diện nội dung

3.2.3 Tìm hiểu và phân tích dấu ấn của truyện dân gian và truyện truyền kì

trung đại trong truyện ngắn Việt Nam đương đại nhìn từ phương diện nghệ thuật

4 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi tƣ liệu khảo sát

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là dấu ấn truyện dân gian và truyện truyền kì trung đại trong truyện ngắn Việt Nam đương đại Khái niệm “truyện ngắn Việt Nam đương đại” được chúng tôi sử dụng nhằm chỉ các truyện ngắn

được sáng tác trong giai đoạn từ năm 1986 đến nay

Trang 11

4.2 Phạm vi tư liệu khảo sát

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là khảo sát những dấu ấn, sự chi phối của truyện dân gian và truyện truyền kì trung đại trong truyện ngắn được sáng tác từ

1986 đến nay Danh mục các truyện ngắn khảo sát được chúng tôi tập hợp trong

“Danh mục truyện ngắn khảo sát” ở phần Tài liệu tham khảo Hệ thống truyện ngắn Việt Nam đương đại hết sức phong phú, tuy nhiên chúng tôi chỉ tập trung khảo sát những sáng tác mang dấu ấn truyện dân gian và truyện truyền kì trung đại, nhằm nhận diện những đặc điểm chung của sự chi phối, sự tiếp biến truyện

dân gian và truyện truyền kì trung đại trong truyện ngắn đương đại

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện tốt nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp sau:

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận

văn được triển khai qua 3 chương:

Chương 1 Tổng quan về truyện dân gian, truyện truyền kì trung đại và sự

kế thừa văn học truyền thống trong truyện ngắn Việt Nam đương đại

Chương 2 Dấu ấn truyện dân gian và truyện truyền kì trung đại trong

truyện ngắn Việt Nam đương đại nhìn từ phương diện nội dung

Chương 3 Dấu ấn truyện dân gian và truyện truyền kì trung đại trong

truyện ngắn Việt Nam đương đại nhìn từ phương diện nghệ thuật

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TRUYỆN DÂN GIAN, TRUYỆN TRUYỀN KÌ TRUNG ĐẠI VÀ SỰ KẾ THỪA VĂN HỌC TRUYỀN THỐNG TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

1.1 Truyện dân gian

1.1.1 Khái niệm truyện dân gian

Văn học dân gian xuất hiện ngay khi chưa có văn học viết Nó là toàn bộ nền văn học sơ khai của mỗi dân tộc Khi văn học viết xuất hiện, văn học dân gian trở thành một trong hai bộ phận của nền văn học dân tộc Hai bộ phận đó vừa song song tồn tại vừa tác động, ảnh hưởng lẫn nhau Với nền văn học mỗi dân tộc, văn học dân gian là dòng suối mát nơi chứa những truyền thống nghệ thuật, truyền thống thẩm mĩ của dân tộc, thường đóng vai trò là ngọn nguồn nuôi dưỡng văn học viết Văn học dân gian, ở góc độ ngôn từ, thường được xem là những tác phẩm văn học do tập thể nhân dân lao động sáng tác và được lưu truyền bằng miệng Tuy nhiên, nhìn từ góc độ diễn xướng và sự hình thành, tồn tại trên thực tế của bộ phận nghệ thuật ngôn từ này thì văn học dân gian còn được xem là một thành tố quan trọng trong tổng thể sinh hoạt văn hóa dân gian,

có mối liên quan chặt chẽ với tín ngưỡng, nghi lễ, các loại hình sinh hoạt văn nghệ dân gian như vũ đạo, âm nhạc, sân khấu Vì thế, có thể định nghĩa: “Văn học dân gian là một loại nghệ thuật ngôn từ do tập thể nhân dân lao động sáng tác và lưu truyền bằng miệng từ đời này sang đời khác, là thành tố quan trọng

trong tổng thể văn hóa dân gian mang tính nguyên hợp” [81, tr.2].

Truyện dân gian (folktale), còn gọi là truyện kể dân gian là những sáng tác thuộc loại hình tự sự dân gian Đó là những câu chuyện do tập thể nhân dân lao động sáng tác, có thể bằng văn xuôi hoặc văn vần, dùng phương thức diễn xướng kể hoặc hát kể, thông qua các nhân vật và sự kiện, tác giả nhằm phản ánh, biểu đạt những quan niệm, triết lí và ước mơ, lí tưởng của nhân dân về tự nhiên

và đời sống xã hội

Trang 13

1.1.2 Đặc điểm truyện dân gian

Truyện dân gian (TDG) mang đặc trưng chung của văn học dân gian (VHDG) như tính nguyên hợp, tính diễn xướng, tính tập thể, tính truyền miệng

và tính dị bản Ngoài ra, nó còn có đặc điểm tính dân tộc và tính quốc tế Tính dân tộc thể hiện ở vai trò biểu hiện và lưu giữ bản sắc văn hóa dân tộc của văn học dân gian Trong mối quan hệ chặt chẽ với văn hóa, VHDG phản ánh các tín ngưỡng, phong tục, các quan niệm văn hóa, hệ biểu tượng văn hóa truyền thống của dân tộc Trong TDG, truyền thống tư tưởng, thẩm mĩ và truyền thống nghệ thuật cũng như các triết lí về đời sống của dân tộc được biểu hiện rất rõ Hình thức tự sự dân gian vẫn được các nhà nghiên cứu xem là những hạt nhân tự sự, hình thức ban đầu của nghệ thuật ngôn từ trong nền văn học dân tộc Bên cạnh đặc điểm mang đậm bản sắc dân tộc thì TDG lại là hình thức truyện kể mang đậm tính quốc tế Hiện tượng đồng hình cũng như sự giao lưu văn hóa đã khiến nhiều hình thức truyện kể dân gian mang tính phổ biến trên thế giới, đặc biệt là

ở thần thoại, truyện cổ tích và truyện cười Càng tiếp xúc rộng rãi với kho tàng TDG các dân tộc ở khắp nơi trên thế giới, ta càng thấy rõ những đặc sắc trong nội dung và nghệ thuật của TDG dân tộc mình không hề biệt lập mà chỉ biểu hiện trong tương quan với những cái phổ quát và tương đồng mang tính nhân loại Nghiên cứu so sánh các thể loại TDG của các dân tộc, ta có thể bắt gặp những hiện tượng trùng lặp tương tự nhau về đề tài, về cốt truyện, hình tượng

nhân vật, các motif nghệ thuật, các yếu tố thi pháp Ví như kiểu truyện Tấm Cám phổ biến ở các dân tộc Việt Nam, Trung Quốc, Đức, Nga và nhiều dân tộc

khác trên thế giới Các dân tộc sống gần gũi nhau về địa lí càng có điều kiện giao lưu văn hóa, tạo nên sự tiếp nhận ảnh hưởng và vay mượn lẫn nhau về văn hóa nói chung và TDG nói riêng Ví như văn hóa dân gian Việt Nam và văn hóa dân gian Trung Hoa, thần thoại, các motif truyện cổ tích Việt Nam và Trung Hoa có sự giao thoa rất rõ Trong giai đoạn đầu tiên của sự nảy sinh và phát triển, TDG là hình thức sơ khai của nghệ thuật tự sự, đồng thời cũng là hình thức nguyên hợp của sự sản xuất tinh thần nói chung, về sau đã chuyển

Trang 14

thành hình thức tổng hợp tự nhiên của sáng tạo văn hóa và sáng tác nghệ thuật của nhân dân lao động

Kho tàng TDG Việt Nam rất phong phú với nhiều thể loại: thần thoại (TT), truyền thuyết (TT), truyện cổ tích (TCT), truyện ngụ ngôn (TNN), truyện cười (TC) Mỗi thể loại của TDG với những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật làm nên những giá trị to lớn, vượt qua cuộc chọn lọc tự nhiên của thời gian, khẳng định được sức sống ngay cả trong thời đại mới Ở phần này, chúng tôi xin điểm qua đặc điểm của mỗi thể loại, từ đó làm cơ sở để đối sánh dấu ấn truyện dân gian trong truyện ngắn đương đại

1.1.2.1 Đặc điểm thần thoại

Ở góc độ nghệ thuật ngôn từ, thần thoại là một thể loại TDG xuất hiện sớm nhất, vào giai đoạn sau của chế độ nguyên thủy Thuật ngữ này có nguồn

gốc từ tiếng Hy Lạp cổ là mythos Thời cổ đại, mythos thường được dùng để chỉ

những truyện hoang đường xuất hiện nơi dân gian Ở Việt Nam, thần thoại

thường được định nghĩa là những chuyện kể về các vị thần Cuốn Từ điển Văn học viết: Thần thoại là “tập hợp những truyện kể dân gian về các vị thần, các

nhân vật anh hùng, các nhân vật sáng tạo văn hóa, phản ánh quan niệm của người thời cổ về nguồn gốc của thế giới, và của đời sống con người” [71 tr.1646] Theo K.Marx, thần thoại là hình thức nhận thức thế giới đặc trưng của con người thời cổ Khi con người chưa đủ trình độ để lí giải khoa học các hiện tượng tự nhiên và xã hội bí ẩn xung quanh, họ đã thần thánh hoá thế giới đó bằng trí tưởng tượng ngây thơ và gán cho các vị thần vai trò trợ giúp hay gây hại cho con người Nhận thức đó là sai lầm nhưng hết sức hấp dẫn, bởi nó không chỉ

là tưởng tượng mà bắt nguồn từ niềm tin tôn giáo của người nguyên thủy Các nhà nghiên cứu phương Tây lại nhấn mạnh tính chất tôn giáo và văn hóa của thần thoại, xem thần thoại là những câu chuyện linh thiêng về nguồn gốc thế giới và con người P.Sellier quan niệm thần thoại là câu chuyện khai nguyên, kiến tạo, là công trình tập thể, vô danh, được coi là có thật bởi là “chuyện thiêng” có hiệu quả phù phép Thần thoại có sức mạnh và sự thuần khiết của một tổ chức chặt chẽ về cấu trúc, mỗi chi tiết đều nằm trong hệ thống những mã

Trang 15

có ý nghĩa.

Bên cạnh thuật ngữ thần thoại với tư cách là một thể loại của văn học dân gian, ở Việt Nam còn có thuật ngữ tương đương là huyền thoại Xét về đối tượng nghiên cứu, thần thoại thường chỉ hệ thống thần thoại cổ đại chỉ xuất hiện trong một giai đoạn lịch sử nhất định thì huyền thoại là một khái niệm rộng hơn

Nó không chỉ bao gồm những câu chuyện về các vị thần mà còn chỉ những quan niệm hoang đường về thế giới, hệ thống những hình tượng hoang đường về chúa trời và thần linh đang điều khiển thế giới, và cả những điều huyền bí, kì ảo nói chung trong cuộc sống đời thường Huyền thoại còn được hiểu như là một kiểu

tư duy: “Huyền thoại là khái niệm chỉ một hình thức tư duy đặc thù của con người thời nguyên thủy, trong đó, cái kì ảo che giấu những sự thật, được bảo lưu dưới nhiều dạng thức của đời sống tinh thần của nhiều nhóm cư dân trên thế giới

và đi vào văn học nghệ thuật” [71, tr.668] Trong đời sống đương đại, huyền thoại có thể được dùng để chỉ những yếu tố siêu nhiên, hoang đường, không có thật Ngoài ra, huyền thoại còn được hiểu như là phương thức nghệ thuật thần thoại ở thời kì đã định hình một cung cách sáng tạo Những tác phẩm văn chương sử dụng thi pháp huyền thoại hoặc tái tạo lại những yếu tố thần thoại cổ xưa cũng được gọi là huyền thoại (huyền thoại văn chương)

Một đặc điểm của thần thoại là tính thần bí, chứa đựng yếu tố hoang đường, gắn với quan niệm vạn vật hữu linh của người xưa Đằng sau những hình tượng siêu nhiên là niềm tin của người nguyên thủy vào sự tác động thực sự của thần lên cuộc sống của họ Vì thế, thần thoại không chỉ là sự sáng tạo của trí tưởng tượng mà còn gắn liền với tín ngưỡng, tôn giáo nguyên thuỷ và các hình thức nghi lễ cổ xưa Với tư cách là hình thái văn hóa tinh thần đầu tiên của loài người, thần thoại chứa đựng trong nó những nền móng đầu tiên của tôn giáo, nghệ thuật, khoa học, chứa đựng những minh triết nguyên thủy, những quan niệm văn hóa mà chúng có khả năng tồn tại bền vững trong các nền văn hóa như những mẫu gốc, sẵn sàng được tái lập trong các giai đoạn phát triển văn hóa về sau

Trang 16

Một đặc điểm nữa của thần thoại là nó chứa đựng một hệ biểu tượng văn hóa khổng lồ Hệ biểu tượng này trở thành nền tảng, mẫu gốc của mỗi nền văn hóa cụ thể, được biểu thị trong truyện kể dưới dạng các hình tượng, motif Thần thoại cổ đại có thể “một đi không trở lại”, nhưng những hình tượng, motif và các biểu tượng được tiếp tục tái hiện trong các thể loại ra đời sau như truyền thuyết, truyện cổ tích và có thể được tái xuất trong văn học nghệ thuật thời hiện đại Ở Việt Nam, thần thoại cổ đại đã không còn giữ được dạng nguyên sơ mà phần nhiều bị tản mát, dần thất truyền, nhưng những biểu tượng, motif của nó vẫn được lưu giữ và tham gia vào cốt truyện truyền thuyết, truyện cổ tích, tất nhiên

là dưới những hình thức mới Vì thế mà, nhiều thần thoại, truyền thuyết, truyện

cổ tích Việt Nam đã thường bị lẫn lộn, không tách bạch về mặt thể loại và có khi chúng được gọi chung là huyền thoại Những đặc điểm nói trên của thần thoại/ huyền thoại là cơ sở để chúng được trở lại với diện mạo mới trong truyện ngắn đương đại, với sự sáng tạo huyền thoại văn chương như một thành tựu đổi mới nghệ thuật của các tác giả đương đại

1.1.2.2 Đặc điểm truyền thuyết

Truyền thuyết còn được gọi là dã sử, sử lưu truyền trong dân gian, thường

có yếu tố thực (lịch sử) xen lẫn yếu tố hoang đường, huyền thoại được nhân dân thêu dệt trong quá trình lưu truyền bằng miệng Phạm Văn Đồng nhận xét:

“Những truyền thuyết dân gian thường có một cái lõi là sự thật lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế hệ đã lí tưởng hoá, gửi gắm vào đó tâm tình thiết tha của mình cùng với thơ và mộng Chắp đôi cánh của sức tượng tưởng và nghệ thuật dân gian làm nên những tác phẩm văn hoá mà đời đời con cháu còn ưa thích” [44]

Nếu thần thoại xây dựng hình tượng các thần linh, thể hiện quan niệm hoang đường về nguồn gốc khởi nguyên của thế giới và con người thì truyền thuyết hướng đến thể hiện ý thức về lịch sử, dân tộc Vì thế, thần thoại thường mang tính phổ quát nhân loại còn truyền thuyết mang tính địa vực, gắn với quốc gia dân tộc Tuy nhiên, truyền thuyết đặc biệt là ở thời kì sơ sử đã kế thừa thần thoại ở các hình tượng, motif hoang đường Vì thế màu sắc huyền thoại của chúng rất đẫm, như các truyền thuyết về Âu Cơ và Lạc Long Quân, truyền

Trang 17

thuyết An Dương Vương, Sự tích Hồ Gươm… Dù đã mang đậm ý thức sáng tạo

và sự phát triển của cốt truyện, nhưng màu sắc huyền thoại trong truyền thuyết còn đẫm tính huyễn hoặc, khơi gợi niềm tin tâm linh bởi truyền thuyết luôn lấy điểm tựa là các tín ngưỡng và nghi lễ dân gian, đặc biệt là tín ngưỡng thờ cúng

tổ tiên, tín ngưỡng anh hùng - những tín ngưỡng rất thịnh hành trong văn hóa Việt Nam

Truyền thuyết cũng dung chứa các biểu tượng văn hóa dân gian của dân tộc Nếu thần thoại hướng đến những biểu tượng mang tính phổ quát và siêu hình, biểu đạt các vấn đề mang tính triết lí về số phận con người, ý nghĩa, nguồn gốc sự sống, cái chết… thì truyền thuyết lại nghiêng về các biểu tượng mang tính dân tộc, gắn với truyền thống tư tưởng, tình cảm của nhân dân, quan niệm, lí tưởng của nhân dân về các vấn đề chung của cộng đồng Vì thế, truyền thuyết và các biểu tượng truyền thuyết có sức sống trường tồn, được diễn xướng mang tính chu kỳ trong các lễ hội, nghi lễ, trở thành những vấn đề quen thuộc gắn liền với đời sống văn hóa tinh thần, đời sống tâm linh của con người trong mọi thời đại lịch sử Đây là ưu điểm để các nhà văn đương đại tiếp nhận các biểu tượng, cốt truyện, motif của truyền thuyết trong sáng tạo truyện ngắn của mình Hình tượng mẹ Âu Cơ, biểu tượng Sơn Tinh, Thủy Tinh, An Dương Vương, Mỵ Châu, Rùa Vàng, thanh gươm thần… trong truyền thuyết Việt Nam đều đã trở lại trong văn học viết hiện đại và đương đại

1.1.2.3 Đặc điểm truyện cổ tích

Truyện cổ tích (TCT) là một bộ phận phong phú bậc nhất trong kho tàng TDG của người Việt cũng như nhiều dân tộc khác trên thế giới Nó là thể loại ra đời sau thần thoại, nảy sinh trong xã hội đã có phân chia giai cấp và phát triển mãi đến thời hiện đại Định nghĩa sau đã nói lên đầy đủ những đặc điểm cơ bản của truyện cổ tích: “Truyện cổ tích là những truyện kể dân gian được sáng tác dựa trên sự hư cấu nghệ thuật có chủ tâm, thường có yếu tố hư cấu kì ảo Nó ra đời cùng với quá trình tan rã của chế độ công xã nguyên thủy, đặc biệt nở rộ trong xã hội có sự phân hóa giai cấp Thông qua những số phận khác nhau của các nhân vật, truyện phản ánh và lí giải những mâu thuẫn và xung đột trong đời

Trang 18

sống gia đình và xã hội, qua đó thể hiện quan niệm đạo đức, lí tưởng xã hội và

mơ ước của nhân dân” [81, tr.38]

Tính chất thế sự là một đặc điểm của truyện cổ tích Ra đời trong thời đại

mà cộng đồng tan rã, sự phân chia giai cấp, giàu nghèo, tốt xấu ngày càng rõ, truyện cổ tích quan tâm đến con người với tư cách là những số phận cá nhân đời thường trong các mối quan hệ gia đình và xã hội Mục đích tìm kiếm của con người trong cổ tích là những cái cần có cho cuộc sống hạnh phúc riêng, hàng ngày của nhân vật như vàng, thức ăn, thuốc chữa bệnh cho cha, được cưới người mình yêu Nhân vật được làm vua, được làm hoàng hậu là một cách để nâng cao địa vị xã hội và được hưởng hạnh phúc Nếu thần thoại quan tâm đến mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, truyền thuyết hướng tới xung đột giữa cộng đồng này với cộng đồng khác mang tầm vóc lịch sử thì truyện cổ tích chủ yếu phản ánh những mâu thuẫn, xung đột xã hội diễn ra trong đời sống thường ngày giữa con người với con người Trong truyện cổ tích, mâu thuẫn xã hội không chỉ bó hẹp ở mâu thuẫn và đấu tranh giai cấp giữa tầng lớp thống trị

và bị trị mà bao gồm cả xung đột giữa cái tốt và cái xấu trong phẩm chất con người Mâu thuẫn xã hội cũng thường được khúc xạ thành mâu thuẫn về mặt đạo đức giữa thiện - ác, tốt - xấu, về mặt kinh tế giữa giàu - nghèo Vì thế, trong truyện cổ tích, xung đột thường được thể hiện trực tiếp và rất rõ qua sự phân cực nhân vật thành hai tuyến đối lập chính diện và phản diện

Tuy TCT giàu tính hiện thực và cảm hứng thế sự, nhưng nhân vật, nội dung, cốt truyện lại hướng tới tính triết lí và tính phổ quát Những triết lí về chân, thiện, mĩ như ở hiền gặp lành, ác giả ác báo, khát vọng hướng thiện, cái thiện thắng cái ác, khát vọng lương tri chở che, bảo vệ những con người nhỏ bé, yếu ớt trong TCT và khát vọng về lí tưởng xã hội nhân văn đã trở thành những nội dung xuyên suốt trong quan niệm thẫm mĩ và trong dòng chảy văn hóa, văn học của dân tộc Những hình tượng nhân vật trong truyện cổ tích vừa được chắt lọc từ đời sống thực tế phong phú của nhân dân nhưng vừa mang tính khái quát, tính biểu tượng, tính triết lí Tấm, Cám trở thành những biểu tượng của cái thiện - ác, Trương Chi là biểu tượng của cái đẹp và bi kịch của khát vọng cái

Trang 19

đẹp trước cuộc sống hiện thực phũ phàng… Chính vì thế, TCT không đơn thuần là truyện kể mang chức năng sinh hoạt, giải trí, thẩm mỹ mà còn trường tồn cùng lịch sử, nuôi dưỡng tâm hồn, khát vọng của bao thế hệ và lưu giữ truyền thống văn hóa tinh thần của nhân dân Nó trở nên quen thuộc trong tâm thức mỗi người dân Việt Đây chính là điều kiện để thể loại VHDG này dễ dàng

đi vào văn chương viết của các nhà văn ở mọi thời đại

TCT tuy là những câu chuyện cổ từ xưa truyền lại, nhưng lại trở nên gần gũi với bao thế hệ con người từ lịch sử xa xưa đến thời hiện đại Bởi vì nhiều TCT có mối quan hệ chặt chẽ với phong tục, địa danh, thắng cảnh của đất nước Theo quy luật chung của văn nghệ dân gian, TCT thường liên quan đến những phong tục lâu đời của dân tộc Vì thế, chúng ta dễ dàng tìm thấy những TCT có nội dung giải thích một cách lí thú những phong tục mà nhân dân không hiểu tại sao lại có và bắt đầu như thế nào với lời kết luận đại khái là: “ Từ đó, người

nước Nam có tục lệ ”; truyện Trầu cau gắn liền với tục ăn trầu, các sự tích Ông bình vôi, Ông đầu rau, Cây nêu ngày Tết đều gắn với những phong tục

cổ xưa của nhân dân ta Tuy nhiên, không phải TCT gắn với một tục lệ nào đó thì cũng nhằm mục đích chính là giải thích phong tục Trong đa số truyện, nội

dung chính không nhằm giải thích tục lệ Truyện Trâu vàng Hồ Tây liên quan

tới tục đúc con Kim ngưu để yểm núi sông Nhưng truyền cho đến bây giờ,

truyện Trâu vàng Hồ Tây không hề biểu hiện mối liên quan đó Truyện Tấm Cám cũng thế, mặc dù gắn với tục lệ liên quan với đôi giầy trong sinh hoạt của

một số dân tộc và có vai trò quan trọng trong sự phát triển của tình tiết truyện Nhưng đến nay, nội dung của truyện đã mở rộng rất nhiều Ngoài ra còn có kiểu truyện sự tích, gắn với địa danh, phong tục hiện hữu trên đất nước và của đời sống thường ngày, dễ dẫn dụ những liên tưởng trong đời sống thực tế và được người đời sau lưu truyền Nhiều TCT được sáng tác ra để giải thích các sự vật trong thiên nhiên của đất nước ta, đặc biệt là những sự vật quen thuộc, gắn bó với đời sống của nhân dân Có thể nói bất cứ vùng nào trên đất nước tươi đẹp của ta cũng đều có khả năng gợi mở trí tưởng tượng phong phú của người xưa

để những quả núi, những khúc sông, những cánh đồng trở thành đối tượng

Trang 20

giải thích của nhiều TCT như: Sự tích núi Bà đội om, Sự tích Vịnh Hạ Long…

Đặc điểm này khiến TCT dễ khơi gợi, dẫn dụ đến các sự việc, địa danh, con người trong đời sống thực tế ngay cả thời đương đại

Yếu tố kì ảo là một đặc trưng nổi bật về hình thức nghệ thuật của TCT Một mặt, yếu tố này có nguồn gốc từ các quan niệm hoang đường trong thần thoại Con chim Phượng Hoàng, thần Mưa, thần Sét, motif hóa thân, đôi giày kì diệu, lọ nước thần… đều kế thừa từ thần thoại Mặt khác, rất nhiều yếu tố kì ảo

có nguồn gốc từ tôn giáo hoặc tín ngưỡng dân gian Phật, Bụt, Tiên, ông lão râu tóc bạc phơ… đều thoát thai từ tôn giáo Điều này khiến dù yếu tố kì ảo là hình thức hư cấu nghệ thuật có chủ tâm nhưng hoàn toàn không phải là sự sáng tạo tùy tiện, nhất thời mà chúng có bề sâu văn hóa, mang chứa những tầng quan niệm văn hóa cổ xưa, có tính ẩn dụ và tượng trưng Vì thế, chúng có khả năng lưu giữ bền vững trong tâm thức cộng đồng, trong dòng chảy văn hóa, hoàn toàn có khả năng được tái hiện trong văn học nghệ thuật ở các thời đại sau Tác giả TCT đã sáng tạo yếu tố kì ảo như những hình thức ẩn dụ nhằm thực hiện mơ ước chống lại cái ác, phủ nhận hiện thực đầy bất công và xây dựng một xã hội công bằng Mặc dù nó phần nào thể hiện sự ảo tưởng của nhân dân, nhưng trong hoàn cảnh xã hội cái ác còn mạnh, nhân dân lao động thấp cổ

bé họng chưa thể đấu tranh bằng các hình thức khác thì đó là một sự lựa chọn khôn ngoan Thông thường, trong văn học viết, khi bất mãn với các thế lực thống trị mà chưa thể đấu tranh trực diện thì các nhà văn cũng tìm đến lối biểu thị ẩn dụ, tìm đến các phương thức huyền thoại, các biểu tượng hai mặt trong sáng tác của mình Nhiều nhà thơ Mới hiện đại đã tìm đến chốn bồng lai, suối Đào nguyên, tìm đến Chúa trong niềm tin tôn giáo như Tản Đà, Thế Lữ, Hàn Mạc Tử… Phải chăng, các nhà văn đương đại tìm đến hình thức huyền thoại văn chương cũng nằm trong ý đồ nghệ thuật và hoàn cảnh sáng tác tương tự? TCT của ta bao gồm một số truyện có nguồn gốc trong nước và một số truyện có nguồn gốc từ bên ngoài Những truyện có nguồn gốc từ bên ngoài nhưng để được nhân dân ta chấp nhận thì đó cũng phải là những truyện phù hợp với tâm hồn dân tộc, đời sống dân tộc Và cũng tuân theo tính chất không ổn

Trang 21

định của TCT, những truyện có nguồn gốc nước ngoài dần dần được bổ sung, biến đổi để ngày càng theo khuôn khổ tư tưởng và tình cảm của dân tộc

Trong quá trình lưu truyền bằng miệng, một bộ phận truyện cổ tích Việt Nam có sự trộn lẫn, giao thoa với Phật thoại, cùng với sự tiếp nhận văn hóa Phật giáo của người Việt Một số truyện không khỏi chịu tác động của các quan niệm từ bên ngoài vào hoặc ảnh hưởng từ giai cấp thống trị phong kiến như thuyết “thiên mệnh”, thuyết đầu thai, quan niệm bùa chú phù thủy, thuyết

“chính thống” Một số truyện do giai cấp thống trị đặt ra như Giếng Việt, Từ Đạo Hạnh, Mục Liên, Quỷ nhập tràng… đã ảnh hưởng vào nội dung của các

TCT do nhân dân sáng tác theo quy luật chung của những tác phẩm truyền miệng

1.1.2.4 Đặc điểm truyện ngụ ngôn

TNN là loại truyện dân gian mượn truyện về loài vật, đồ vật hoặc về chính con người để nêu lên những bài học luân lí, triết lí, hay một kinh nghiệm sống nhằm khuyên nhủ, răn dạy người ta Và như vậy, TNN có hai phần: phần

cụ thể là truyện kể; phần trừu tượng là ý niệm rút ra từ truyện đó, có thể gọi là lời quy châm

TNN phát triển đồng thời với TCT, khi tư duy đã đạt tới trình độ phân biệt được ý niệm trừu tượng ẩn ở đằng sau sự tích cụ thể, khi nhân dân thấy cần đến một thứ vũ khí thích hợp để có thể vừa tiến công vào giai cấp thống trị mà lại vừa bảo vệ được người sử dụng vũ khí ấy

TNN có thể được xem như vở kịch nhỏ mà nhân vật có thể là bất cứ vật gì trong vũ trụ, sân khấu có thể là bất cứ ở đâu Nhân vật trong TNN có thể là con người thuộc các nghề nghiệp khác nhau (như thầy bói, chị bán nồi đất, anh thợ cày ) cũng có thể là các bộ phận của cơ thể sống (tay, chân, mắt, miệng ) Nhân vật trong TNN phần lớn là các loại động vật từ gia súc đến dã thú, từ chim chóc đến cá tôm, từ động vật bậc thấp đến động vật bậc cao Nhưng cũng

có khi nhân vật là cây cỏ, hoa lá, trăng sao Nhân vật có thể rất gần gũi với người như đồ đạc, dụng cụ nhưng cũng có khi rất xa con người như thần, phật,

Trang 22

ma, quỷ Dù là mượn cái gì làm nhân vật thì nhân vật của TNN cũng chỉ là phương tiện chứ không phải là mục đích hay đối tượng của sự phản ánh

Kho tàng TNN dân gian chứa đựng tư tưởng triết học, phản ánh những kinh nghiệm sống và đấu tranh của nhân dân, xét cho kĩ bản thân những kinh nghiệm này cũng đã được đúc kết thành một thứ triết lí hành động Khi nhận định về nội dung TNN có lẽ cần nhấn mạnh vào đặc điểm của truyện thiên về mặt giáo dục hơn là phản ánh hiện thực

Nhìn chung, TNN đã nói lên nhu cầu của nhân dân về nhận thức chân lí đời sống, đặc biệt là những triết lí về đời sống tinh thần, những ứng xử trong quan hệ giữa con người và con người Từ những câu chuyện sinh động, cụ thể, TNN đưa ra những bài học triết lí sâu sắc, nhiều khi được thể hiện thành các lời quy châm, dạng như những câu tục ngữ, có ý nghĩa to lớn và được nhân dân lưu truyền trong pho kinh nghiệm sống của mình ở mọi thời đại TNN đã được các triết gia, văn gia, các nhà văn hóa đem dùng từ lâu bởi chính những giá trị của

nó trong việc diễn đạt tư tưởng

1.1.2.5 Đặc điểm truyện cười

Truyện cười là những truyện dân gian kể về những hiện tượng đáng cười trong xã hội Lấy tiếng cười làm phương tiện, truyện phát hiện và phủ nhận, phê phán những hiện tượng đáng cười trong xã hội Mọi hiện tượng mâu thuẫn với khuynh hướng phát triển khách quan của lịch sử - khuynh hướng này được phản ánh trong những tư tưởng tiên tiến của xã hội - đều có thể mang tính chất hài hước Cho nên tiếng cười hài hước còn có thể tìm thấy đối tượng cả trong những hành vi nào đó của một số người trong nhân dân lao động khi mà nhân dân một mặt đấu tranh chống giai cấp bóc lột, một mặt lại vẫn cứ chịu ảnh hưởng xấu xa của nó Tiếng cười này cũng có ý nghĩa đấu tranh mạnh mẽ, không phải là đấu tranh chống giai cấp bóc lột mà là đấu tranh trong nội bộ nhân dân

Gây cười là đặc trưng bản chất của truyện cười Tiếng cười vừa được sử dụng là phương tiện, vừa là mục đích của truyện cười Truyện cười chỉ có thể

Trang 23

đạt được giá trị của nó khi tiếng cười được cất lên một cách sảng khoái và truyện cũng chỉ dừng lại khi cái cười được bật ra Vì thế, các đặc điểm kết cấu, nhân vật, các biện pháp ngôn ngữ trong truyện cười cũng nhằm mục đích gây cười Truyện cười gắn với tính lí tính, tính phê phán, tính cách mạng Truyện cười vừa

là hình thức đặc biệt của nhận thức, vừa là một hình thái đặc biệt của sự phê phán Ý nghĩa xã hội của truyện cười chính là sự phủ định, phê phán những thế lực xã hội, những quan niệm còn tồn tại trong xã hội nhưng thực ra đã lạc hậu, trái với lương tri của con người Tác dụng tẩy rửa những cái xấu chính là chức năng xã hội, chức năng mĩ học của truyện cười K.Marx đã chỉ ra: cười để cho nhân loại dứt khoát với quá khứ một cách vui vẻ

Truyện cười chỉ nẩy sinh trong điều kiện lịch sử xã hội nhất định, khi cái đáng cười trong xã hội phơi bày đầy rẫy và nhân dân - những người sáng tạo ra truyện cười phải có đủ ý thức dân chủ và sức mạnh tinh thần dám phơi bày và lên án bản chất xấu xa của giai cấp thống trị Trong thực tế, truyện cười Việt Nam hiện còn sưu tầm được chủ yếu nảy sinh và nở rộ trong xã hội phong kiến giai đoạn từ thế kỉ XVIII trở đi - thời kì mà tầng lớp thống trị đã trở nên thối nát

và ý thức dân chủ của nhân dân thức tỉnh mạnh mẽ

Kho tàng TC dân gian bao gồm hai loại chính là truyện khôi hài và truyện trào phúng Phần lớn TC sáng tác ra không chỉ nhằm mục đích là mua vui Bên cạnh mục đích mua vui, nhiều truyện còn có mục đích khác sâu xa hơn, còn có

ý nghĩa đấu tranh xã hội Những truyện này thuộc loại truyện trào phúng Tiếng cười hài hước trong các truyện trào phúng là tiếng cười hài hước có ý nghĩa xã hội Qua những truyện trào phúng, tác giả dân gian không những làm chúng ta cười mà còn kích động tình cảm của chúng ta Chúng ta có thể vui, có thể buồn,

có thể phẫn nộ, căm ghét, khinh bỉ hoặc đau xót Những tình cảm ấy bao giờ cũng gắn với những ý tưởng chính trị và mĩ học của nhân dân Truyện trào phúng lại có hai loại nhỏ Truyện trào phúng có ý nghĩa giáo dục, phê phán những thói xấu trong nội bộ nhân dân thuộc loại truyện trào phúng bạn Truyện trào phúng chế giễu, đả kích mạnh mẽ vào giai cấp phong kiến, trở thành vũ khí

Trang 24

sắc bén của nhân dân trong cuộc đấu tranh lật đổ chế độ phong kiến đang suy vong thuộc loại truyện trào phúng thù

Ngoài ra còn có truyện tiếu lâm Tiếu lâm có nghĩa là rừng cười Như vậy, lúc đầu danh từ truyện tiếu lâm có ý nghĩa rất rộng để gọi TC nói chung (gồm

cả truyện khôi hài và truyện trào phúng) Nhưng theo quan niệm hiện nay thì truyện tiếu lâm là những truyện khôi hài và trào phúng mang yếu tố “tục” Việc dùng yếu tố tục để gây cười là một biện pháp có ở nhiều loại văn học dân gian như ở câu đối, ở ca dao… Yếu tố tục trong TC dân gian chỉ có một số ít là được

sử dụng dễ dãi, không có hoặc có rất ít nội dung ý nghĩa triết lí, nhân sinh, còn phần lớn đều là phương tiện gây cười vừa là vũ khí đấu tranh đả kích Nếu như

lễ giáo phong kiến muốn tô vẽ cho các nhân vật phong kiến nét mặt đạo mạo thì

TC đã phá tan không khí nghiêm trang đạo mạo ấy, rồi lại còn pha thêm vào việc đáng cười yếu tố “tục” Yếu tố “tục” trong TC thường làm cho tính chất trào phúng được nâng đến độ chót của nó, làm cho tiếng cười giòn giã hơn sự chế giễu cay độc hơn

Truyện cười thể hiện tính dân chủ của nhân dân Nhân vật chính trong truyện cười không phân biệt ngôi thứ, địa vị xã hội, đều mang những nhược điểm, thói hư tật xấu và đều có thể trở thành cái đáng cười Có khi nhân vật là sự phóng đại và hình tượng hoá những nét tính cách xấu xa của con người, có khi

nó là nhân vật mang cái xấu có tính bản chất của tầng lớp thống trị Nhân vật truyện cười được đặt trong không gian đời thường đầy rẫy những xấu xa, giả dối, những mâu thuẫn giữa nội dung và hình thức Nhân vật chỉ được nhìn ở những nét tầm thường, thấp kém, những cái đáng cười Vì thế, nhân vật là đối tượng của tiếng cười

Truyện cười gây cười bằng các hình thức nghệ thuật đặc sắc như xây dựng cốt truyện hết sức chặt chẽ Truyện cười ko dựng lại cả số phận nhân vật mà chỉ chớp lấy lát cắt đồng đại, nhất thời trong cuộc đời nhân vật, ở đó nhân vật tự phơi bày cái đáng cười Vì thế, sự kiện trong truyện cười rất ngắn gọn, mọi chi tiết phải được lựa chọn, bố trí chặt chẽ sao cho cái cười tiến nhanh đến chỗ bị

Trang 25

bung ra một cách bất ngờ Kết cấu thường mang kịch tính, thắt nút chặt dần đến cao trào thì mở nút nhanh, gây ra tiếng cười bất ngờ Truyện cười thường tạo ra những tình huống bất ngờ, chứa đựng mâu thuẫn nhằm gây cười Thường chú ý chọn lọc hành động, lời nói của nhân vật Ngoài ra truyện còn sử dụng các thủ

pháp gây cười như tạo tình huống chứa đựng mâu thuẫn nhằm tạo kịch tính, thủ

pháp phóng đại để gây cười, các biện pháp ngôn ngữ như nói lái, chơi chữ, yếu

tố tục Truyện cười thường gắn với không khí hội hè dân gian, vì thế, ngoài mục đích đấu tranh và tính cách mạng, nó còn đáp ứng nhu cầu giải trí của nhân dân

1.2 Truyện truyền kì trung đại

1.2.1 Khái niệm truyện truyền kì trung đại

Truyện truyền kì có nguồn gốc từ Trung Hoa và lan toả ảnh hưởng trong toàn khu vực đồng văn Tuy nhiên, khi du nhập vào mỗi nước, tuỳ hoàn cảnh lịch

sử cụ thể mà chúng được biến thái, tạo nên nét đặc sắc riêng cho mỗi dân tộc

Về cơ bản, truyền kì có hai đặc điểm nổi bật:

- Tuy là văn học viết, nhưng truyện truyền kì dựa trên cơ sở truyền thống

tự sự dân gian, khai thác motif, nhân vật, cốt truyện, thậm chí cả lối kể dân gian Cho nên, muốn tìm nét đặc trưng hoặc so sánh ảnh hưởng của truyền kì giữa các dân tộc trong khu vực đồng văn, một nguyên tắc bắt buộc là phải xuất phát từ kho tàng truyện dân gian của dân tộc đó

- Truyền kì lấy yếu tố kì ảo làm phương thức thể hiện nội dung Nhưng, mức độ của cái kì ảo phụ thuộc vào truyền thống thẩm mĩ dân tộc và nhu cầu lịch sử của dân tộc ấy Như vậy, phải bám sát lịch sử và truyền thống thẩm mĩ dân tộc khi nghiên cứu truyền kì của họ

1.2.2 Đặc điểm truyện truyền kì trung đại

1.2.2.1 Đặc trưng về nội dung

Truyền kì là một thể loại giàu giá trị phản ánh hiện thực Dù thế giới trong truyền kì là một thế giới hoang đường, kì ảo nhưng đằng sau những yếu tố hoang đường đó là hiện thực lịch sử, xã hội cùng với những số phận con người trong những hoàn cảnh xã hội cụ thể

Trang 26

Các tác giả truyện truyền kì thường mượn hình ảnh của quỷ thần, loài vật

để ẩn dụ cho bọn quan lại phong kiến thời bấy giờ Đọc Tân truyền kì lục của Phạm Quý Thích, ta thích thú với hình ảnh Nhặng xanh và Ve sầu (Truyện Ve sầu và Nhặng xanh) Cuộc đối đáp của hai côn trùng này vẽ nên tích cách của

hai loại người Ve sầu tượng trưng cho nhà Nho quân tử giàu lòng tự trọng, trong khi đó Nhặng xanh là hình ảnh của bọn mọt nước sâu dân, không chút tự trọng, liêm sỉ, chỉ cần biết vơ vét cho túi tham của mình

Trong hoàn cảnh xã hội như vậy, cuộc sống của nhân dân muôn phần khổ

sở Quyền sống của con người không được trân trọng, hạnh phúc bị chà đạp, đặc biệt người phụ nữ phải chịu nhiều bất hạnh hơn cả Có những gia đình nghèo khó đến nỗi chẳng có tiền làm ma khi người thân qua đời, phải bán vợ đợ

con, như trong Chuyện yêu quái ở Xương Giang (Truyền kì mạn lục), người mẹ

vì không tiền để đưa ma chồng về quê đã bán người con gái nhỏ cho một nhà phú thương Những người phụ nữ trong xã hội ấy,dù đoan chính, dịu hiền, mẫu

mực như Vũ Nương (Chuyện người con gái Nam Xương – Truyền kì mạn lục), Nhị Khanh (Chuyện người nghĩa phụ Khoái Châu – Truyền kì mạn lục) hay táo bạo, phá phách như Túy Tiêu (Chuyện nàng Túy Tiêu) thì cũng đều chịu kết cục

đau đớn, hoặc bị nghi oan đến phải trầm mình (Vũ Nương), hoặc bị biến thành vật gán nợ thua bạc (Nhị Khanh) hoặc bị cướp về làm thê thiếp (Túy Tiêu), hoặc bị ép uổng không lấy được người mình yêu để đến nỗi đau buồn mà mất

(Chuyện tình ở Thanh Trì – Lan Trì kiến văn lục)

Không chỉ giàu giá trị hiện thực, những sáng tác thuộc thể loại truyền kì còn đầy giá trị nhân đạo và đậm chất nhân văn Các tác phẩm truyền kì ca ngợi tàinăng và phẩm chất tốt đẹp của con người, thể hiện niềm cảm thương sâu sắc của các tác giả với những số phận bất hạnh, từ đó lên tiếng đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho con người bị chà đạp trong xã hội xưa; đồng thời cũng đồng cảm với những khát vọng chân chính của con người như khát vọng khẳng định mình, khát vọng tình yêu, hạnh phúc

Đọc truyện truyền kì, từ Truyền kì mạn lục đến Truyền kì tân phả, Lan Trì kiến văn lục…, ta đều có thể bắt gặp những nhân cách cao thượng đáng quý,

Trang 27

những con người vì dân trừ hại, đặc biệt là những người phụ nữ tài sắc, tiết

nghĩa, thủy chung Đọc Truyền kì mạn lục, ta sẽ gặp những con người chọn

cách sống nghèo khó mà thanh bạch, không chấp nhận vào luồn ra cúi, công hầu giàu sang mà hại dân, hại nước Họ không màng đến bổng lộc triều đình, nếu đó là một triều đình mục rỗng, thối nát

Trong các sáng tác truyền kì, ta cũng bắt gặp không ít những nhân vật, có thể là hàn nho, có thể là nông dân, nhưng đều không sợ gian tà, ma quái mà

giúp dân trừ hại Chuyện chức phán sự đền Tản Viên trong Truyền kì mạn lục

ghi lại sự việc chàng Ngô Tử Văn vì bất bình trước việc ngôi đền nổi tiếng là linh thiêng nay lại bị hồn ma quấy nhiễu, tác oai tác quái trong dân lành mà ra tay đốt đền, dù biết rằng có thể gặp tai vạ Đến khi bị bắt xuống âm ti, trước những lời lẽ vu khống của Bách hộ họ Thôi, trước Diêm Vương đầy uy quyền

và trong không khí rùng rợn của cõi âm, chàng vẫn khẳng khái đối đáp, đấu

tranh giành công lí về mình Trong Chuyện Rồng (Lan Trì kiến văn lục), người

chồng sau khi vợ mất vì bị rồng làm hại, đã tìm cách trừ rồng, vừa trả thù cho

vợ, vừa giúp dân diệt được loài vật hại người Truyền kì phản ánh những khát vọng trần thế của con người, ca ngợi tình yêu tự do, đồng cảm với khát vọng hạnh phúc lứa đôi trong xã hội phong kiến nhiều chế định khắt khe Tình yêu trong những sáng tác truyền kì có thể là tình yêu giữa những người thế tục, có thể là tình yêu giữa con người trần thế với thần tiên giáng trần, với hồn hoa, vật hóa người hay tình yêu giữa người với yêu ma… Đó có thể là cuộc tình trong mộng, có thể là cuộc tình ngoài đời thực; có cuộc tình từ đời thực đi vào trong mộng, và ngược lại, có những cuộc tình từ trong mộng mà thành thực Nhưng

dù là giữa người cõi trần với cõi âm hay với tiên giới, là cuộc tình trong mộng hay trong cõi thực, tình yêu ấy đều có sự đắm say, mãnh liệt, thậm chí cực kì táo bạo, vượt thoát khỏi mọi sự ràng buộc, chấp nê

Rõ ràng, với nàng tiên ấy, hạnh phúc không ở nơi chốn xa xôi, hạnh phúc

là ở ngay trong cõi đời thực này, được sống tự do với chí nguyện của mình, với tình yêu của mình

Trang 28

1.2.2.2 Đặc trưng về nghệ thuật

Không khó để ta nhận ra sự ảnh hưởng của văn học dân gian đến các tác phẩm truyền kì Ta dễ dàng bắt gặp trong những sáng tác truyền kì những câu chuyện mang cốt truyện dân gian hoặc dã sử, các motif quen thuộc trong truyện dân gian Và có không ít những truyện truyền kì vốn là những truyện dân gian được sáng tạo lại Truyện truyền kì trung đại Việt Nam tuy có nguồn gốc thể loại từ Trung Hoa, tuy nhiên, khi vào Việt Nam, các nhà văn trung đại đã sử dụng nhiều chất liệu văn học dân gian của dân tộc mình, kể cả những chuyện

ma quỷ đồn đại trên cửa miệng dân gian gắn với từng không gian địa lí cụ thể

mà trong quan niệm chính thống của giai cấp phong kiến bấy giờ đó chỉ là những đồn đại quái dị, ma quỷ không được sắc phong thờ cúng Mặt khác, một

số nguồn truyện dân gian có mặt cả trong văn học dân gian Việt Nam và trong văn học dân gian Trung Hoa, vì thế cũng có mặt trong truyền truyền kì Trung Hoa Trường hợp này rất khó xác định truyện truyền kì trung đại chịu ảnh hưởng từ thể loại truyền kì Trung Hoa hay từ Văn học dân gian Việt Nam Tuy nhiên, dù ảnh hưởng trực tiếp từ nguồn nào thì nguồn gốc của chúng cũng là từ văn học dân gian Đây cũng chính là đặc điểm mà dựa vào đó, trong luận văn này, chúng tôi đã kết hợp tìm hiểu dấu ấn TDG và TTK trong truyện ngắn đương đại

Một số truyện trong Truyền kì mạn lục có nguồn gốc truyện dân gian rất

rõ như Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên vốn được sáng tạo lại từ truyện Từ Thức lên tiên trong dân gian hay Chuyện người con gái Nam Xương cũng là một phóng tác từ truyện cổ tích Vợ chàng Trương, Truyện Vân Cát thần nữ trong Truyền kì tân phả lại được biết đến như một tác phẩm sáng tạo lại dựa trên những truyền

thuyết về bà chúa Liễu Hạnh, một trong Tứ Bất Tử nổi tiếng trong văn học và văn hóa dân gian

Mối tình của chàng trai nghèo làm nghề lái đò giỏi ca hát với nàng tiểu

thư nhà giàu họ Trần trong Chuyện tình ở Thanh Trì (Lan Trì kiến văn lục) ít

nhiều khiến ta nghĩ đến mối tình chàng Trương Chi tội nghiệp và cô Mị Nương xinh đẹp trong truyện cổ tích Nếu truyện cổ tích kết thúc bằng cái chết của

Trang 29

Trương Chi và hình bóng chàng lái đò thổi sáo tan trong chén nước khi có nước mắt của tiểu thư Mị Nương rỏ vào thì ở đây lại kết thúc bằng cái chết của cô gái

và trái tim hóa thành một khối đỏ như son của nàng tan thành máu tươi, chảy đầm đìa trên tay áo chàng trai khi hai hàng lệ của chàng trào xuống khối đá ấy

Dù có sự khác biệt, cả hai mối tình ấy đều khiến ta cảm động bởi sự thủy chung

son sắt của người trong cuộc Cũng trong Lan Trì kiến văn lục, ta đọc thấy

truyện Ông Tiên ăn mày và ta có thể ngờ rằng đây là một câu chuyện cổ tích được ghi chép lại bởi nó mang nội dung chủ đề, diễn biến cốt truyện rất điển hình của một truyện cổ tích, kiểu truyện quá đỗi quen thuộc với bao người Việt Nam Đó là câu chuyện về hai anh em Giáp (người anh) và Ất (người em) Người anh tham lam keo kiệt, có người vợ cũng thô bạo xấu xa, tranh cướp hết tài sản của cha để lại, người em hiền lành chăm chỉ chỉ được gian nhà nát cùng một khoảnh ruộng xấu Khi gặp người ăn mày tội nghiệp, người em đối đãi tử

tế, và được người ăn mày (vốn là tiên giả dạng) đền ơn và trở nên giàu có Người anh tham lam khi biết chuyện, muốn được giàu có như em nên đi tìm người ăn mày ấy Ngờ đâu, gặp người ăn mày thật, không phải là tiên giả dạng, người anh vì đánh cụ già ăn mày đó, bị thưa kiện lên quan và vợ chồng người anh bị trừng trị Quả thật, kiểu truyện này không hề xa lạ với bất cứ người nào

ưa thích truyện cổ tích

Diễn biến của đại đa số các truyện truyền kì khá tương đồng với diễn biến trong truyện cổ dân gian Mở đầu mỗi truyện là đôi dòng giới thiệu về nhân vật, tiếp đó kể về những sự việc thể hiện phẩm chất của nhân vật hoặc cuộc đấu tranh thiện ác giữa nhân vật chính và nhân vật phản diện và kết thúc thường là kết thúc có hậu, kẻ ác bị trừng trị, người hiền được báo đáp, chính nghĩa thắng gian tà Có thể thấy rõ đặc điểm này trong những truyện thuộc tuyển tập Truyền

kì mạn lục Nói truyện truyền kì gần với văn học dân gian còn bởi vì có thể bắt gặp trong truyện truyền kì những motif ta vẫn thường gặp trong truyện cổ dân gian: motif người lấy vật, motif về sự thụ thai hay ra đời thần kì, motif nằm mộng, được điềm báo, motif vợ bị cướp, motif xuống thủy cung, âm ti, hay lên

thiên tào, cõi tiên… Motif người lấy vật có thể kể đến những truyện: Chồng dê,

Trang 30

Duyên lạ xứ Hoa (Thánh Tông di thảo), Chuyện kì ngộ ở trại Tây (Truyền kì mạn lục); Motif về sự thụ thai thần kì có: Chuyện gã trà đồng giáng sinh (Truyền kì mạn lục), Vân Cát thần nữ (Truyền kì tân phả) Motif nằm mộng, được điềm báo có thể thấy trong rất nhiều truyện truyền kì: Duyên lạ xứ Hoa (Thánh Tông di thảo), Câu chuyện ở đền Hạng Vương, Chuyện yêu quái ở Xương Giang, Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa (Truyền kì mạn lục), Tháp Báo

Ân (Lan Trì kiến văn lục) Đang trong thế giới thực của cõi trần, theo giấc mộng

của chàng Chu sinh, ta có thể đến với xứ Hoa đẹp đẽ của vương quốc bướm

(Duyên lạ xứ Hoa –Thánh Tông di thảo), đi cùng Phạm Tử Hư lên thiên tào,

nơi có những bức tường bao quanh, cửa lớn khảm trai lộng lẫy, lầu châu điện

ngọc… (Chuyện Phạm Tử Hư lên chơi thiên tào - Truyền kì mạn lục), hay cùng Thái thú họ Trịnh xuống Long cung đối tụng (Chuyện đối tụng ở Long cung – Truyền kì mạn lục), hoặc theo hồn Tử Văn xuống địa phủ gió tanh sóng xám,

hơi lạnh thấu xương, hai bên đầy những quỷ dạ xoa mắt xanh nanh trắng để dự

phiên tòa Diêm Vương xử án Bách hộ họ Thôi (Chuyện chức phán sự đền Tản Viên – Truyền kì mạn lục), hay cũng có thể theo Thái Công vào giấc mơ để lên

chốn Bồng Lai với thành vàng sừng sững, cửa ngọc mở toang, có hành trăm

người cầm hốt phách, tấu nhạc quân thiều, múa điệu nghê thường (Vân Cát thần nữ - Truyền kì tân phả)… Con người có thể đi về giữa những thế giới khác

nhau ấy, và các nhân vật siêu nhiên thuộc thế giới kì ảo đó cũng có thể tìm đến với cõi trần, kết giao với người trần

Nhân vật trong truyền kì cũng là nhân vật trong thế giới hoang đường Những nhân vật này ta cũng có thể bắt gặp trong truyện cổ dân gian Tuy nhiên, đến với truyền kì, ý nghĩa vai trò của kiểu nhân vật siêu nhiên có sự khác biệt

so với truyện cổ Chịu ảnh hưởng chung của thi pháp văn học trung đại khi xây dựng nhân vật trong tác phẩm tự sự, nhân vật trong truyền kì thường được xây dựng khá đơn giản, tính cách nhân vật thể hiện qua hành động, ngôn ngữ, ít khi các tác giả đi sâu vào phân tích tâm lí, miêu tả sâu sắc diễn biến tâm trạng nhân vật, nội tâm nhân vật thường ít có sự xung đột, mâu thuẫn Đây là điểm khác biệt lớn giữa truyện truyền kì với những sáng tác tự sự hiện đại

Trang 31

1.3 Sự kế thừa văn học truyền thống trong truyện ngắn Việt Nam đương đại

1.3.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội, văn học của truyện ngắn Việt Nam đương đại

Văn học Việt Nam từ sau 1975 đến nay, nhất là sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI/1986 đã tồn tại và phát triển trong những điều kiện lịch sử và xã hội khác biệt rõ rệt so với thời kì chiến tranh Khi chiến tranh kết thúc, cả dân tộc lại phải đối mặt với những khó khăn thời hậu chiến, nền kinh tế kiệt quệ, đất nước nghèo nàn, nỗi đau mất mát do chiến tranh cả về vật chất, thể xác lẫn tinh thần vẫn còn nguyên vẹn Thêm vào đó, chính sách xây dựng nền kinh tế bao cấp với mô hình hợp tác xã gây nhiều cản trở cho sự phát triển kinh

tế - xã hội, chế độ quản lí quan liêu cùng cuộc cách mạng văn hóa càng đẩy con người thời bình vào cuộc sống bức bối, cùng quẫn cả về vật chất lẫn tinh thần Con người sau cuộc chiến đấu vì lí tưởng cách mạng hào hùng lại trở về đời sống lo toan hàng ngày, đối mặt với nguy cơ tha hóa nhân cách, xói mòn đạo đức, với sự vi phạm tính dân chủ và nhân quyền… Cuộc chiến đã đi qua cũng cần được nhìn nhận lại khách quan hơn Những mặt trái của chiến tranh và hiện thực trước đó bị che lấp theo yêu cầu của lịch sử nay cần phải đối mặt để giải quyết những nổi đau mất mát của cá nhân mỗi con người Sự thay đổi của hiện thực đời sống ấy đã khiến tạo nên yêu cầu thay đổi trong tư duy, cách nhìn của mỗi con người và cũng được phản ảnh trong văn học Đặc biệt, sau Đại hội năm

1986, đất nước có điều kiện phát triển hội nhập toàn cầu với nền kinh tế thị trường đã tạo điều kiện cho các luồng tư tưởng tiên tiến và văn hóa hiện đại du nhập vào nước ta, tạo nên sự khởi sắc trong đời sống văn hóa, xã hội và văn học

Sự đổi mới toàn diện về kinh tế xã hội, đời sống tinh thần, quan hệ xã hội tác động, chi phối mạnh mẽ đến xu hướng vận động và đặc điểm của sự phát triển văn học ba mươi năm qua Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, chiến tranh vừa kết thúc, đất nước hòa bình và thống nhất, nhưng âm hưởng hào hùng của chiến thắng vẫn còn nên văn học thời kì đầu sau năm 1975 về cơ bản vẫn nằm

Trang 32

trong dòng chảy của văn học cách mạng trước đó Tuy nhiên, không lâu sau đó, văn học đã nhanh chóng bắt mạch được nhu cầu của đời sống, nhạy bén trước các vấn đề nổi cộm, nóng bỏng của đời sống cần được phản ảnh Cùng với những thay đổi trong quan niệm về nhà văn, nghề văn thì quan niệm về hiện thực như là đối tượng phản ánh của văn học cũng được mở rộng và mang tính toàn diện Hiện thực không chỉ là hiện thực cách mạng, các biến cố lịch sử và đời sống cộng đồng mà đó chủ yếu là hiện thực của đời sống hàng ngày, đời sống thế sự, hiện thực đời sống tinh thần của con người với các mối quan hệ vốn dĩ đa đoan đa sự, phức tạp chằng chịt, đan dệt nên những mạch nổi và mạch ngầm của đời sống Hiện thực đó còn là đời sống cá nhân của mỗi con người với những vấn đề riêng tư, số phận, nhân cách, với khát vọng mọi mặt, cả hạnh phúc và bi kịch Hiện thực đời sống trong tính toàn vẹn, nhiều chiều của

nó đã mở ra những không gian vô tận cho văn học thỏa sức chiếm lĩnh, khám phá, khai vỡ Sự cởi mở trong quan niệm về nghệ thuật, sự giải phóng cá tính sáng tạo dẫn đến sự phá vỡ các đường ranh thể loại Từ đó tạo ra sự đan xen, thâm nhập lẫn nhau giữa các thể loại trên cả hai phương diện nội dung và hình thức

Trong bối cảnh đổi mới tư duy nghệ thuật và phương thức phản ánh từ tư duy đại tự sự sang tiểu tự sự, từ lối viết sử thi sang lối tả thực và giải huyền thoại thì truyện ngắn trở thành thể loại có khả năng thích nghi đặc biệt với bối cảnh mới đó Đây là thể loại được các nhà văn lựa chọn để thể nghiệm những cách tân nghệ thuật mới mẻ, và cũng là thể loại minh chứng cho yêu cầu cấp bách của sự đổi mới văn học nhằm đáp ứng nội dung thời đại mới Càng ngày, truyện ngắn càng chiếm được cảm tình của các tài năng sáng tạo và là mảnh đất màu mỡ để văn xuôi Việt Nam gặt hái những thành tựu đặc sắc

Quan niệm truyền thống cho rằng truyện ngắn là hình thức tự sự cỡ nhỏ,

số lượng trang ít là đặc điểm nhận dạng đầu tiên và nó cũng quy định khả năng bao quát hiện thực, thể hiện số phận con người của thể loại này Nếu tiểu thuyết thường có xu hướng mở rộng không gian, kéo dài thời gian, chiếm lĩnh đời sống trong sự đầy đặn và toàn vẹn, ôm trùm nhiều cảnh đời, nhiều số phận, thì

Trang 33

truyện ngắn thường xoáy vào một điểm, một “nhát cắt” điển hình nào đó của hiện thực Đây là ưu điểm của thể loại này khi cần phản ánh hiện thực vỡ vụn nhiều mảng, nhiều lớp, lắm ngóc ngách với tính chất thế sự phức tạp Sự giao thoa với tiểu thuyết cũng giúp truyện ngắn có khả năng tiếp cận và phản ánh hiện thực phong phú và nhiều chiều

Trong bối cảnh lịch sử văn hóa xã hội và bối cảnh đổi mới văn học Việt Nam nói trên, truyện ngắn sau 1986 đã cách tân trên nhiều phương diện Về hình thức, truyện ngắn giai đoạn này gia tăng về dung lượng và khả năng phản

ánh Nếu một bộ phận tiểu thuyết có xu hướng ngắn lại (Thiên thần sám hối, Lão Khổ của Tạ Duy Anh; Những đứa trẻ chết già của Nguyễn Bình

Phương…) thì nhiều truyện ngắn lại có xu hướng kéo dài ra, mở rộng không gian, thời gian, dõi theo những số phận có thăng trầm, biến cố, làm cho chúng mang dáng dấp những truyện vừa hay tiểu thuyết rút gọn Ta có thể nhận thấy điều đó qua nhiều truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, Ma Văn Kháng… Cách thức tiếp cận, đào xới hiện thực qua truyện ngắn không dựa trên một chủ đề mà lồng ghép nhiều chủ đề, nhiều ý tưởng, nhiều khi các chủ đề đan xen vào nhau,

với nhiều khoảng mờ không dễ nhận ra như Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư, Người đàn bà nhìn qua song cửa của Mạc Can Đó là cái nhìn đa

chiều về nông thôn, về bản chất tiểu nông của người nông dân, là những dự

cảm âu lo về con đường đi lên của làng quê Việt Nam Chiếc thuyền ngoài

xa khám phá về những nghịch lí của đời sống, đồng thời cũng là triết lí về văn chương, về nghệ thuật Cánh đồng bất tận là những mảng sáng tối trong bức

tranh hiện thực của xã hội Nam Bộ, là “cánh đồng bất tận” của đói nghèo, lạc hậu, tăm tối, cũng là triết lí về sự sống con người, về trả thù và báo ứng, về bao dung và đổi thay, là hiện thực và cũng là kì ảo, ngụ ngôn của thời hiện tại và quá khứ đan xen… Tính đa chủ đề này làm cho việc tiếp nhận nhiều truyện ngắn trở nên khó khăn hơn, và nhiều lúc vì thế đã gây nên những tranh luận trái chiều Cùng với khả năng bao quát những thăng trầm của số phận theo chiều dài thời gian là sự mở rộng không gian phản ánh, là sự đan xen nhiều tuyến nhân vật Truyện ngắn hôm nay cũng không dừng lại với hình thức “một hoặc

Trang 34

vài ba nhân vật” mà đôi khi nó là câu chuyện của nhiều người, cả gia đình, cả

dòng họ, cả một làng, cả một thời Giọt máu của Nguyễn Huy Thiệp là lịch sử

của một họ tộc, từ đời đại phú Phạm Ngọc Liên “sống đến tám mươi tuổi Ông

có ba vợ, năm con trai, sáu con gái”, sang đời con là ông Phạm Ngọc Gia làm nghề mổ lợn, đến đời đứa cháu đích tôn Phạm Ngọc Chiểu thông minh tuấn tú

từ nhỏ, thi đỗ, làm quan, đục khoét dân chúng, sau bị thất sủng về vườn Câu chuyện còn kéo dài đến đời vợ chồng người chắt Phạm Ngọc Phong, một kẻ cơ hội, hãnh tiến, cuối cùng chết trong ân hận khi đứa con trai bị sét đánh chết Bốn mươi lăm trang truyện dồn nén biết bao sự kiện của một họ tộc kéo dài ba bốn đời, với hàng chục số phận thăng trầm, đau khổ, gồm đủ mọi thành phần xã hội khác nhau Để mở rộng dung lượng truyện ngắn, các cây bút cũng thể nghiệm nhiều hình thức kết cấu độc đáo Nguyễn Huy Thiệp thường dùng hình

thức liên hoàn hoặc truyện trong truyện Những ngọn gió Hua Tát gồm mười

truyện Khung cảnh các câu chuyện thường mở đầu là “Ngày ấy ở Hua Tát…”,

tiếp theo là “Có một cô gái…”, “Có một người đàn bà…” Ở truyện Trái tim hổ

xuất hiện nhân vật chàng Khó, sau đó trong truyện Nàng Sinh lại hiện lên hình

ảnh miếu chàng Khó Chút thoáng Xuân Hương gồm ba truyện, có quá khứ, có

hiện tại, được tác giả ghép bên nhau lần lượt là Truyện thứ nhất, Truyện thứ hai, Truyện thứ ba Võ Thị Hảo có sáng kiến cắt các chương trong tiểu

thuyết Giàn thiêu, biến nó thành những truyện ngắn tương đối độc lập nhưng vẫn gắn kết với nhau và đưa vào tập Những truyện không nên đọc vào lúc nửa đêm, Bước qua lời nguyền, Vòng trầm luân trần gian Hoá kiếp của Tạ Duy

Anh như những câu chuyện nối tiếp nhau, móc xích vào nhau, với các nhân vật vừa có mặt ở truyện này, vừa tái xuất hiện ở các truyện tiếp theo

Bối cảnh lịch sử văn hóa xã hội và bối cảnh đổi mới văn học nói trên, cùng với sự thể nghiệm, tìm tòi sáng tạo của thể loại truyện ngắn, các nhà văn đương đại có cơ hội để sáng tạo các bút pháp mới, thể nghiệm thi pháp huyền thoại từ việc vận dụng chất liệu truyện dân gian và truyện truyền kì trung đại, từ

đó, tạo ra những dấu ấn sâu sắc và độc đáo của văn học truyền thống trong sáng tác của mình

Trang 35

1.3.2 Đặc điểm của sự kế thừa văn học truyền thống trong truyện ngắn Việt Nam đương đại

Kế thừa văn học truyền thống là quy luật phát triển chung của văn học các dân tộc Các tác giả văn học viết Việt Nam thời trung đại, thời kì hiện đại đều tiếp nhận các giá trị văn học dân gian trong sáng tác của mình, có khi ở hình thức tự phát và có thời điểm tự giác Văn học viết đương đại dù nảy sinh trong bối cảnh lịch sử xã hội mới, yêu cầu sự đổi mới toàn diện trong bối cảnh hội nhập quốc tế nhưng không phải vì thế mà phủ nhận nguồn mạch truyền thống Hơn thế, sự phục hưng của các giá trị dân gian, sự vận dụng chất liệu văn học truyền thống trong văn học đương đại còn thể hiện như một đặc điểm thi pháp văn học thời đại, với tính chủ động nhằm sáng tạo những bút pháp vừa quen thuộc vừa mới lạ, vận dụng văn học truyền thống trong những cách tân mạnh

mẽ Điều này đã đem lại những dấu ấn đậm nét, độc đáo của văn học truyền thống trong truyện ngắn đương đại trong một diện mạo hoàn toàn mới, với nhiều đặc điểm phong phú Ở đây, chúng tôi chỉ xin điểm qua một số đặc điểm cơ bản

Thứ nhất, những dấu ấn của TDG và TTK trong truyện ngắn đương đại vừa là kết quả của sự kế thừa, tiếp nhận một cách tự nhiên theo quy luật kế thừa truyền thống của văn học nói riêng, quy luật phát triển văn hóa nói chung, nhưng đặc biệt hơn, nó là kết quả của sự tự ý thức, sự chủ động sử dụng chất liệu nghệ thuật văn học truyền thống nhằm sáng tạo thi pháp truyện ngắn đương đại, đáp ứng nhu cầu phản ánh những vấn đề nảy sinh từ đời sống hiện thực Không phải ngẫu nhiên mà các nhà phê bình đã gọi đây là thời kì trỗi dậy, sự khởi phát của huyền thoại, của các cổ mẫu, biểu tượng văn hóa truyền thống thường ngày vẫn chảy thành một mạch ngầm trong dòng văn hóa xã hội, trong tâm thức cộng đồng Sự tiếp nhận văn học dân gian của các tác giả văn học đương đại so với các thời kì trước mới mẻ đến mức tạo thành một dòng huyền thoại văn chương,

mà các nhà phê bình gọi là “phản huyền thoại”, “nhại huyền thoại” hay “huyền thoại lộn trái” Với đặc điểm này, chưa bao giờ dấu ấn của văn học dân gian, đặc biệt là huyền thoại và truyện cổ tích, truyện truyền kì lại trở về đậm nét, với sự hiểu lại, sự sáng tạo lại đầy bất ngờ, lí thú như trong văn học viết đương đại

Trang 36

Thứ hai, sự kế thừa văn học truyền thống cụ thể là TDG và TTK diễn ra một cách toàn diện, trên cả bình diện nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật Trên bình diện nội dung, văn xuôi đương đại không đơn thuần kế thừa truyền thống tư tưởng - thẩm mĩ của văn học dân tộc các giai đoạn trước đó như tư tưởng yêu nước, cảm hứng nhân đạo…, mà đã tiếp cận văn học dân gian như sự tìm về với tư tưởng phi chính thống, với sự tự do của dòng tâm lí xã hội nhằm từ

bỏ lối tư duy đại tự sự, cái nhìn sử thi mang khoảng cách tuyệt đối đối với hiện thực lịch sử của văn học viết giai đoạn trước đó Các nhà văn đương đại đã tiếp nhận truyền thống một cách tự do và đa chiều, có dòng cảm hứng đồng cảm cùng lịch sử, có sự vận dụng khách quan, thậm chí có cả yêu cầu hiểu lại, đặt câu hỏi phản biện đối với truyền thống và lịch sử Các yếu tố phi chính thống mang tính chất hội hè dân gian cũng trở lại tự do trong truyện ngắn đương đại, thể hiện rõ nét ở sự mở rộng vô biên độ hiện thực được phản ảnh (mọi thứ bình thường nhất, nhỏ nhặt nhất, đời thường nhất, kín đáo nhất cũng được đưa vào văn chương), ở ngôn ngữ phong phú, mang đậm chất đời thường và dân gian (nói lái, yếu tố tục, ngôn ngữ suồng sã, đời thường…) Kế thừa truyền thống nhưng không câu nệ truyền thống, không “huyền thoại hóa” lịch sử như truyền thống văn chương trước đó mà là sự bành trướng của tư duy “giải huyền thoại”,

“nhại huyền thoại” Vì thế, dấu ấn văn học truyền thống tuy rất đậm trong truyện ngắn đương đại, tuy vẫn khơi lên màu sắc dân tộc đậm đà, nhưng đã có sự khác biệt đến lạ lẫm, sự bất ngờ đến oái ăm, khiến người đọc thích thú vì vừa quen vừa lạ, vừa trong tầm nhận biết vừa mới mẻ đến ngỡ ngàng Sự đổi mới từ điểm nhìn, tư duy nghệ thuật khiến sự kế thừa văn học truyền thống trên phương diện hình thức nghệ thuật gắn liền với những cách tân táo bạo trên mọi phương diện

Từ sự kế thừa diễn ra ở những hình thức dễ nhận biết như tên tác phẩm, hình tượng nhân vật, motif, biểu tượng, ngôn ngữ đến những hình thức nghệ thuật bên trong như thi pháp nghệ thuật, tư duy nghệ thuật, thể loại Nếu như văn học viết các thời kì trước đó kế thừa các hình thức diễn đạt trực tiếp của văn học dân gian như vay mượn chất liệu, hình ảnh của tục ngữ, ca dao, sử dụng thể thơ lục bát, một số motif dân gian… thì với văn xuôi hiện đại lại là sự trở về của thi

Trang 37

pháp huyền thoại, của yếu tố kì ảo, của thể loại truyền thuyết lịch sử, truyện cổ tích, của phương thức tự sự, cốt truyện ngụ ngôn… Quan niệm kế thừa cũng thay đổi, không còn đơn thuần là “sự mượn lại” bằng thái độ tôn trọng tuyệt đối cách thể hiện truyền thống của văn học quá khứ mà có sự nhào trộn lại, vay mượn trong thế phủ định, chất vấn nhằm mượn văn học quá khứ để sáng tạo một thủ pháp mới, một thể loại mới Mặt khác, các nhà văn đương đại phải tìm về thi pháp huyền thoại, yếu tố kì ảo trong sự nhào nặn hoàn toàn mới nhằm phản ánh

sự bề bộn, biến động phức tạp của hiện thực đương thời mà thi pháp truyền thống không thể phản ánh hết được

Thứ ba, truyện ngắn huyền thoại Việt Nam được hình thành từ một quá trình tương tác vừa đa dạng vừa nhiều chiều Đó là sự trở về với những huyền thoại, những mẫu cổ của dân tộc; là sự thẩm thấu truyền thống truyền kì trong văn học Việt Nam qua một chu kì phát triển dích dắc và mang tính tiệm tiến; và

đó còn là sự kế thừa, tiếp thu thành tựu của văn học huyền thoại thế giới Sự tương tác giữa yếu tố nội sinh và ngoại sinh đã tạo nên gương mặt vừa phong phú vừa độc đáo, vừa đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế vừa đậm đà bản sắc dân tộc của truyện ngắn Việt Nam sau đổi mới Các sáng tác đầy yếu tố lung linh, hư

ảo với những cổ mẫu, những huyền thoại đã nằm sâu dưới bao lớp trầm tích văn hóa người Việt Nhưng chúng cũng vươn tầm để nằm trong dòng chảy của văn chương huyền thoại thế giới Với sự hiện hữu của những huyền thoại dân gian

và thi pháp huyền thoại của văn học huyền thoại thế giới, truyện ngắn đương đại

đã tạo nên những song đề truyền thống - hiện đại Huyền thoại nguyên thủy không còn “nguyên phiến” mà đã được khúc xạ nhiều khi đặt dưới góc nhìn của

triết mỹ đương thời

Thứ tư, như đã nói ở trên, sự kế thừa văn học dân gian và truyện truyền kì diễn ra như một xu hướng của văn xuôi hiện đại, gắn với sự sáng tạo thi pháp mới (thi pháp huyền thoại) Vì thế, mức độ và dấu ấn của sự chi phối này rất đậm Nó lan tỏa trong nhiều tác giả, tác phẩm, trở thành phong cách sáng tạo nghệ thuật của nhiều tác giả Tuy nhiên, sự kế thừa và sáng tạo diễn ra ở các tác giả với mức độ đậm nhạt khác nhau Dấu ấn văn học dân gian và truyện truyền

Trang 38

kì đậm hơn trong sáng tác truyện ngắn của một số tác giả Nguyễn Huy Thiệp,

Lê Minh Hà, Y Ban… Trong cao trào đổi mới văn học Việt Nam từ sau 1986, Nguyễn Huy Thiệp là cây bút truyện ngắn tiêu biểu góp mặt với tư cách là tác giả của những truyện ngắn huyền thoại vừa đa dạng Hầu hết các truyện ngắn của ông đều có sự hiện diện của huyền thoại, cổ tích, ca dao, tục ngữ, thi ca,

lịch sử… Ở Nguyễn Huy Thiệp có mô hình cổ tích qua Trương Chi, có những huyền thoại bản mường qua mười truyện ngắn trong chùm truyện Những ngọn gió Hua Tát, có huyền thoại về Mẹ Cả qua Con gái thủy thần, có truyền thuyết huyễn hoặc về con trâu đen trong Chảy đi sông ơi… Bên cạnh đó, truyện ngắn

Nguyễn Huy Thiệp còn gợi lên những biểu tượng sâu thẳm trong tín ngưỡng dân gian, đó là những biểu tượng mang “mẫu tính”, đó là vẻ đẹp “thiên tính nữ” được tái đi tái lại qua nhiều truyện ngắn, nhiều nhân vật Huyền thoại An

Dương Vương trở về trong An Dương Vương của Lê Minh Hà; huyền thoại về

mẹ Âu cơ trong Bức thư gửi mẹ Âu Cơ của Y Ban… Bên cạnh đó, âm hưởng

huyền thoại trong truyện dân gian truyền thống còn được dội lên từ các motif: hóa kiếp, sự hiển linh của linh hồn người chết, motif luân hồi, motif "ở hiền gặp lành", motif "thử thách và đền đáp"… có mặt ở nhiều tác phẩm khác Tính chất

là những biểu tượng có ý nghĩa sâu thẳm, vĩnh cửu, huyền thoại dân tộc đã trở

về để chiếu sáng cho bao nhiêu vấn đề của cuộc sống thực tại Đến với cuộc sống đương đại bằng những biểu tượng siêu mẫu đã ngưng tụ thành những trầm tích của bao năm tháng, bằng nẻo đường này, các cây bút truyện ngắn đương đại đã thực sự khôn ngoan khi đứng trên đôi vai của người mẹ khổng lồ

Một trong những biểu hiện cụ thể của sự kế thừa tinh hoa văn hóa dân tộc

là sự tìm về những khởi nguyên và cội nguồn, tìm về những biểu tượng ăn sâu vào tâm thức con người và tiếp thu sáng tạo từ mạch nguồn lâu bền ấy Trong các bài dân ca, truyện kể, những loại hình nghệ thuật dân gian đều xuất hiện một thế giới biểu tượng hết sức đậm đặc và sinh động Đó là một hệ thống biểu tượng đa dạng từ thiên nhiên, vật thể đến con người Mỗi biểu tượng giúp hiểu được một ý nghĩa, một giá trị trong đời sống độc đáo mà phong phú của văn hóa dân tộc

Trang 39

*

* *

Ở chương 1, chúng tôi đã nêu rõ về các khái niệm truyện dân gian và truyện truyền kỳ trung đại, khái quát các đặc điểm của dấu ấn truyện dân gian và truyện truyền kì trung đại trong truyện ngắn Việt Nam đương đại Ở chương này, chúng tôi cũng đã khái quát hoàn cảnh lịch sử - xã hội, bối cảnh văn học thời đại của truyện ngắn đương đại Việt Nam Đây chính là cơ sở, là bối cảnh xuất hiện của thi pháp huyền thoại, của dấu ấn truyện dân gian và truyện truyền

kì trung đại trong truyện ngắn đương đại

Trang 40

Chương 2 DẤU ẤN TRUYỆN DÂN GIAN VÀ TRUYỆN TRUYỀN KÌ TRUNG ĐẠI

TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 2.1 Cảm hứng nghệ thuật

2.1.1 Cảm hứng thế sự

Cảm hứng chính là một tình cảm xã hội đã được ý thức, là sự rung động của tâm hồn nhà văn trước một biến cố, một sự kiện, một hoàn cảnh, một bức tranh nào đó của đời sống có khả năng gợi mở sự sáng tạo nghệ thuật Trong sáng tác văn học, cảm hứng ban đầu là điều kiện không thể thiếu nhằm khởi động sự sáng tạo, nhưng cảm hứng cũng là một nội dung của tác phẩm, là linh hồn xuyên suốt tác phẩm, góp phần làm nên sức sống lâu bền cho tác phẩm Cảm hứng thế sự là dòng cảm hứng trước các vấn đề diễn ra trong đời sống hàng ngày, trong các mối quan hệ gia đình và xã hội, quan hệ giữa các cá nhân và cá nhân Dòng cảm hứng này diễn ra rất đậm trong truyện ngắn đương đại, tạo nên nguồn mạch cảm hứng cho sức sáng tạo phong phú của các nhà văn Nó còn chi phối đến nhiều phương diện nghệ thuật của truyện ngắn đương đại Nguồn gốc cảm hứng thế sự trước hết bắt nguồn từ nhu cầu được phản ánh, biểu hiện của đời sống hiện thực đầy rẫy những bộn bề của đời sống Việt Nam những thập niên cuối thế kỉ XX Nhưng ở đây, ta còn bắt gặp cảm hứng thế sự quen thuộc trong truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn và truyện cười dân gian

Văn học Việt Nam thời kì trước đổi mới sáng tạo với hai dòng cảm hứng thuần túy là cảm hứng sử thi và cảm hứng lãng mạn, gắn với sự lãnh đạo của Đảng, phục vụ mục đích ngợi ca, cổ vũ cách mạng Cái nhìn của nhà văn đối với hiện thực là cái nhìn huyền thoại hóa một chiều, cái nhìn ngưỡng vọng với cảm hứng ngợi ca lịch sử Cái nhìn này đã làm đơn điệu hóa hiện thực được phản ánh trong văn học Nhà văn chỉ có thể lựa chọn những biến cố lịch sử vẻ vang, những hình tượng anh hùng của thời đại, những mặt sáng của cuộc sống mà bỏ quên mọi góc khuất của cuộc đời Tuy nhiên, sau 1986, khi chiến tranh đã kết thúc, những bi kịch do chiến tranh để lại và những bộn bề của cuộc sống thời

Ngày đăng: 01/08/2021, 15:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tạ Duy Anh (2008), Truyện ngắn chọn lọc, Nxb Tổng hợp Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn chọn lọc
Tác giả: Tạ Duy Anh
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Đồng Nai
Năm: 2008
2. Tạ Duy Anh (2014), Bước qua lời nguyền và những truyện khác, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước qua lời nguyền và những truyện khác
Tác giả: Tạ Duy Anh
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2014
3. Y Ban (1998), Truyện ngắn Y Ban, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn Y Ban
Tác giả: Y Ban
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1998
4. Y Ban (2000), Miếu hoang, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miếu hoang
Tác giả: Y Ban
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2000
5. Y Ban (2003), Chợ rằm dưới gốc dâu cổ thụ, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chợ rằm dưới gốc dâu cổ thụ
Tác giả: Y Ban
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2003
6. Y Ban (2005), Bức thư gửi mẹ Âu Cơ, Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bức thư gửi mẹ Âu Cơ
Tác giả: Y Ban
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2005
7. Lê Minh Hà (2017), Cổ tích cho ngày mới, Nxb Dân trí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ tích cho ngày mới
Tác giả: Lê Minh Hà
Nhà XB: Nxb Dân trí
Năm: 2017
8. Võ Thị Hảo (2007), Người sót lại của rừng cười, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người sót lại của rừng cười
Tác giả: Võ Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2007
9. Võ Thị Hảo (2007), Những chuyện không nên đọc lúc nửa đêm, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những chuyện không nên đọc lúc nửa đêm
Tác giả: Võ Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2007
10. Ngô Tự Lập (1997), Mộng du và những truyện khác, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mộng du và những truyện khác
Tác giả: Ngô Tự Lập
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1997
11. Trần Thùy Mai (2008), Hải đường tăng, Nxb Văn nghệ, TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hải đường tăng
Tác giả: Trần Thùy Mai
Nhà XB: Nxb Văn nghệ
Năm: 2008
12. Bảo Ninh (1997), Truyện ngắn, Nxb Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn
Tác giả: Bảo Ninh
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1997
13. Nguyễn Bình Phương (2013), Những đứa trẻ chết già, Nxb Trẻ, TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đứa trẻ chết già
Tác giả: Nguyễn Bình Phương
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2013
14. Ngô Gia Văn Phái (1987), Hoàng Lê nhất thống chí, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Lê nhất thống chí
Tác giả: Ngô Gia Văn Phái
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1987
15. Nguyễn Quang Sáng (2005), Dân chơi, Tôi thích làm vua, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chơi, Tôi thích làm vua
Tác giả: Nguyễn Quang Sáng
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2005
16. Nguyễn Quang Sáng (2005), Người bạn lính, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người bạn lính
Tác giả: Nguyễn Quang Sáng
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2005
17. Nguyễn Quang Sáng (2005), Con ma da, Chiếc lược ngà, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con ma da, Chiếc lược ngà
Tác giả: Nguyễn Quang Sáng
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2005
18. Hồ Anh Thái (2004), Bốn lối vào nhà cười, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bốn lối vào nhà cười
Tác giả: Hồ Anh Thái
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2004
19. Hồ Anh Thái (2013), Nghìn lẻ một đêm, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghìn lẻ một đêm
Tác giả: Hồ Anh Thái
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2013
20. Hồ Anh Thái (2014), Tự sự 265 ngày, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự sự 265 ngày
Tác giả: Hồ Anh Thái
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w