1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển kĩ năng đối thoại cho học sinh qua dạy học truyện ngắn việt nam hiện đại trong chương trình ngữ văn 12

128 35 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 2,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sử dụng đa dạng, linh hoạt các biện pháp, hình thức dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12 để phát triển kĩ năng đối thoại cho học sinh……….39 2.2.. Nghiên cứ

Trang 1

PHẠM THỊ HUẾ

PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG ĐỐI THOẠI CHO HỌC SINH QUA DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGHỆ AN, 2019

Trang 2

PHẠM THỊ HUẾ

PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG ĐỐI THOẠI CHO HỌC SINH QUA DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Lí luận và PPDH Bộ môn Ngữ văn

Mã số: 814.01.11

Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Văn Tứ

NGHỆ AN, 2019

Trang 3

VÀ CÁC CHÚ THÍCH TÀI LIỆU TRÍCH DẪN

Giáo viên Học sinh Nhà xuất bản Sách giáo khoa Trung học phổ thông Thực nghiệm Đối chứng

GV

HS Nxb SGK THPT

TN

ĐC

Chú thích tài liệu trích dẫn: Số thứ tự tài liệu đứng trước, số trang đứng

sau Ví dụ: [23, 16] nghĩa là số thứ tự của tài liệu trong mục Tài liệu tham khảo

là 23, nhận định trích dẫn nằm ở trang 16 của tài liệu này

Trang 4

MỞ ĐẦU……… 1

1 Lí do chọn đề tài……… 1

2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi, địa bàn khảo sát……… 2

3 Mục đích nghiên cứu……… 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu……… 3

5 Phương pháp nghiên cứu……… 3

6 Đóng góp của luận văn ……… 4

7 Cấu trúc của luận văn……… 4

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI……… 5

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề ……….5

1.1.1 Những tài liệu nghiên cứu về hoạt động đối thoại của con người trong cuộc sống……… 5

1.1.2 Những tài liệu nghiên cứu về kĩ năng đối thoại trong hoạt động dạy học Ngữ văn nói chung………6

1.1.3 Những tài liệu nghiên cứu về kĩ năng đối thoại cho học sinh qua dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12……… 10

1.2 Cơ sở khoa học của đề tài……… 11

1.2.1 Đối thoại và kĩ năng đối thoại……… ……… 11

1.2.2 Đặc điểm của phần truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12 ……… 13

1.2.3 Ý nghĩa của việc phát triển kĩ năng đối thoại cho học sinh qua dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12……… 17

1.2.4 Thực trạng phát triển kĩ năng đối thoại cho học sinh qua dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12 (Khảo sát trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu)……… …… 20

Trang 5

HIỆN ĐẠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12……….….26

2.1 Nguyên tắc phát triển kĩ năng đối thoại cho học sinh qua dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12………….26

2.1.1 Bám sát đặc trưng thể loại khi tham gia đối thoại……….26

2.1.2 Bám sát mục tiêu bài học khi tham gia đối thoại……… 29

2.1.3 Bám sát những đặc trưng cơ bản của hoạt động đối thoại ………… 32

2.1.4 Sử dụng đa dạng, linh hoạt các biện pháp, hình thức dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12 để phát triển kĩ năng đối thoại cho học sinh……….39

2.2 Biện pháp phát triển kĩ năng đối thoại cho học sinh qua dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12….……… 41

2.2.1 Phát triển kĩ năng đối thoại cho học sinh qua hoạt động chuẩn bị bài……….… 41

2.2.2 Phát triển kĩ năng đối thoại cho học sinh qua hoạt động dạy học trên lớp.……… 44

2.2.3 Phát triển kĩ năng đối thoại cho học sinh qua hoạt động trải nghiệm……….64

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM………71

3.1 Mục đích, yêu cầu thực nghiệm……….71

3.1.1 Mục đích thực nghiệm……… 71

3.1.2 Yêu cầu thực nghiệm……….71

3.2 Đối tượng, địa bàn, thời gian và quy trình thực nghiệm……… 72

3.2.1 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm………72

3.2.2 Nội dung thực nghiệm……… 72

3.2.3 Thời gian thực nghiệm……… 72

3.2.4 Quy trình thực nghiệm……… 73

3.3 Thiết kế giáo án thực nghiệm………73

3.3.1 Giáo án thực nghiệm ……… 73

Trang 6

3.4.2 Đánh giá kết quả thực nghiệm về phía giáo viên……… 96

3.4.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm về phía học sinh………97

3.4.4 Đánh giá chung……… 97

3.5 Kết luận thực nghiệm……… 98

KẾT LUẬN……… 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 101 PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, cùng với sự phát triển của kinh tế – xã hội, Giáo dục & đào tạo cũng phải đổi mới để được thích ứng Việc đổi mới ấy đặt ra cho ngành Giáo dục nhiều trọng trách: đào tạo ra những thế hệ trẻ Việt Nam năng động, sáng tạo, nhiệt huyết,

tự tin… trước những thách thức của thời đại và có những phẩm chất, năng lực của thế hệ công dân toàn cầu

Không nằm ngoài quy luật vận động chung của thời đại, những thầy (cô) giáo giảng dạy bộ môn Ngữ văn luôn có ý thức phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh trong mỗi giờ học Đó vừa là trách nhiệm nhưng cũng vừa là tâm huyết, đạo đức nghề nghiệp cần thực hiện của mỗi giáo viên Ngữ văn khi gánh vác trên đôi vai sứ mệnh cao cả của lịch sử và thời đại Để làm được điều

đó, mỗi thầy (cô) giáo cần nắm vững được bản chất của dạy học văn là quá

trình tổ chức học sinh tiếp nhận văn bản, nghĩa là mỗi học sinh sẽ là một “bạn

đọc sáng tạo”, sẽ được nói lên những cảm nhận, những rung động của bản thân

Thiết nghĩ, sẽ là bất hạnh lớn của việc dạy học văn trong nhà trường nếu chỉ cố gắng làm sao để tất cả học sinh đều có duy nhất một cảm nhận, một đánh giá

về tác phẩm văn học Vì thế, môn Ngữ văn cần lắm những cuộc đối thoại bình đẳng trong một bầu không khí cởi mở, nhẹ nhàng, kích thích được khả năng trao đổi, trình bày và nói lên ý kiến chủ quan của từng cá nhân học sinh

Kỹ năng đối thoại là một kỹ năng cần thiết, quan trọng của HS cần được phát triển trong hoạt động dạy học Hiện nay, việc dạy học Ngữ văn nói chung

và dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại nói riêng ở các trường THPT trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An đã chú ý đến phát triển kỹ năng đối thoại Tuy nhiên, so với yêu cầu đổi mới, việc phát triển kỹ năng đối thoại qua dạy học môn Ngữ văn nói chung và dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại

Trang 8

trong chương trình Ngữ văn 12 nói riêng trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu chưa phát huy hết tác dụng và chưa thực sự đưa lại hiệu quả

Là một giáo viên nhiệt huyết và đam mê, tôi mong muốn cùng những cô, cậu học trò của mình tiếp tục thổi lên ngọn lửa tình yêu - những rung động, những cảm nhận trong sâu thẳm của trái tim - bên những mảnh đất văn chương vốn là những thửa ruộng quen thuộc của bao người yêu văn; giúp các em trở thành những công dân có đầy đủ những phẩm chất, năng lực và kỹ năng để tự tin, vững chãi hòa nhập với cuộc sống hiện đại Từ những cơ sở lý luận và cơ

sở thực tiễn dạy học môn Ngữ văn ở các trường THPT trên địa bàn huyện

Quỳnh Lưu, chúng tôi lựa chọn vấn đề nghiên cứu: “Phát triển kỹ năng đối

thoại cho học sinh qua dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện trong chương trình Ngữ văn 12”, nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học môn

Ngữ văn trong bối cảnh đổi mới Giáo dục phổ thông hiện nay

2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi, địa bàn khảo sát

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là phát triển kỹ năng đối thoại cho học sinh qua dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12

2.2 Phạm vi, địa bàn khảo sát

- Luận văn tìm hiểu, khảo sát, đề xuất biện pháp phát triển kỹ năng đối thoại cho học sinh qua dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12 ở các trường THPT trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ

An

- Thời gian khảo sát được thực hiện trong năm học 2018 – 2019

Trang 9

3 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12 theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực và kĩ năng cho học sinh

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài bao gồm: trình bày những khái niệm, tiền đề lý luận và nội dung liên quan đến kỹ năng đối thoại cho học sinh; khảo sát thực tế phát triển kỹ năng đối thoại cho học sinh qua dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12 trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

4.2 Đề xuất những nguyên tắc, biện pháp phát triển kỹ năng đối thoại cho học sinh qua dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12 trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu, nhằm góp phần phát triển phẩm chất, năng lực, kĩ năng cho người học và nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT

4.3 Tiến hành thực nghiệm sư phạm để xem xét khả năng ứng dụng của những kết quả nghiên cứu trong việc nâng cao hiệu quả phát triển kỹ năng đối thoại cho HS qua dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12 trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Phương pháp phân tích - tổng hợp lí thuyết: nhằm phân tích, tổng hợp, khái quát những vấn đề lý luận liên quan đến phát triển kỹ năng đối thoại qua

dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12

Trang 10

5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát - điều tra: nắm bắt những dữ liệu cần thiết về hoạt động dạy học để phát triển kĩ năng đối thoại cho học sinh qua dạy học

truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12

- Phương pháp thực nghiệm: thẩm định tính hiệu quả, tính khả thi của hệ thống phương pháp, biện pháp được đề xuất để phát triển kĩ năng đối thoại cho

HS qua dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12

6 Đóng góp của luận văn

Trên cơ sở kế thừa nghiên cứu của những người đi trước, cùng với việc tìm hiểu nghiên cứu đề tài, chúng tôi hy vọng luận văn sẽ góp phần vào việc xác định cơ sở lý luận của hoạt động phát triển kỹ năng đối thoại; xây dựng được hệ thống nguyên tắc và biện pháp phát triển kĩ năng đối thoại cho học sinh qua dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12; đồng thời góp phần thiết thực vào việc phát triển kĩ năng đối thoại cho học sinh Qua đó, hạn chế, khắc phục những bất cập và nâng cao chất lượng dạy học hiện nay hướng tới mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh THPT, đáp ứng yêu cầu đổi mới Giáo dục

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của

luận văn được triển khai qua 3 chương :

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu vấn đề và cơ sở khoa học của đề tài

Chương 2: Nguyên tắc, biện pháp phát triển kỹ năng đối thoại cho học sinh qua

dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 11

Chương 1

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Những tài liệu nghiên cứu về hoạt động đối thoại của con người trong cuộc sống

Trong bức tranh tổng thể về sự phát triển của loài người, giao tiếp giữ vai trò cực kì quan trọng Giao tiếp với bản chất là đối thoại chính là đặc thù của sự phát triển lịch sử và văn hóa xã hội Vì vậy, lí thuyết đối thoại gắn liền với sự phát triển của tất cả các lĩnh vực trong đời sống

Socrates (469 – 399 TCN) thời Hi Lạp cổ đại đã tìm ra các chân lí nhờ phương pháp đối thoại và tranh luận Là người không chấp nhận những câu trả lời mập mờ và luôn tìm kiếm bản chất của vấn đề giúp bản thân và mọi người tìm ra chân lí vốn bị che phủ bởi sự mê muộn, Socrates đã tìm ra “phương pháp

hộ sản trí tuệ” Ở phương pháp này, Socrates đã sử dụng linh hoạt phương pháp

đối thoại với điểm nhấn quan trọng là “kĩ thuật đặt câu hỏi” Điểm đáng lưu ý trong kĩ thuật này là ông đã khéo léo khiêu khích đối thoại nhờ việc cho thấy bản thân thiếu sự hiểu biết về vấn đề, rồi sử dụng những câu hỏi chứng minh người đối thoại với mình thật ra cũng chẳng biết gì, buộc họ phải làm sáng tỏ các ý niệm, cố gắng tranh luận và phát biểu những gì mình muốn nói để từ đó tìm đến chân lí của vấn đề

M.Bakhtin (1895 - 1975) cũng đề cập đến vấn đề này trong cuốn Lí luận

và thi pháp tiểu thuyết: “Đối thoại là bản chất của ý thức, bản chất của cuộc

sống con người….Một lời phát biểu sống động, nảy sinh một cách có ý thức trong một thời điểm lịch sử nhất định và trong một môi trường xã hội nhất định không thể không động chạm đến hàng ngàn sợi dây đối thoại đã được ý thức tư tưởng – xã hội đan dệt xung quanh đối tượng của lời phát biểu ấy, không thể

Trang 12

không trở nên một thành viên tích cực của cuộc đối thoại xã hội….Ngay trong đối thoại đời thực, bất cứ một lời đối đáp nào cũng sống một cuộc sống hai mặt như thế: nó được xây dựng và được hiểu trong ngữ cảnh của toàn bộ cuộc đối thoại bao gồm những lời phát biểu của mình (xuất phát từ quan điểm người nói)

và của người khác (người đàm thoại) [2, 12 – 104 – 112] Không dừng lại ở đó, M.Bakhtin còn khẳng định vấn đề đối thoại trong cuốn Những vấn đề thi pháp

của Đôxtôiepxki: “Ngôn ngữ bị chi phối trong sự giao tiếp đối thoại giữa những

người sử dụng ngôn ngữ Sự giao tiếp đối thoại chính là lĩnh vực của cuộc sống, của ngôn từ Toàn bộ cuộc sống của ngôn ngữ, trong bất kì lĩnh vực nào sử dụng nó (sinh hoạt, khoa học, nghệ thuật…) đều thấm nhuần những quan hệ đối thoại…Tồn tại có nghĩa là giao tiếp bằng đối thoại, khi đối thoại kết thúc

thì mọi sự cũng hết” [3, 191 – 258]

Như vậy, đối thoại là nhu cầu cần thiết của con người trong xã hội, bởi con người là những thực thể sống, đã sống là có đối thoại, đối thoại không chỉ bằng lời nói mà bằng tất cả cuộc sống của bản thân

1.1.2 Những tài liệu nghiên cứu về kĩ năng đối thoại trong hoạt động

Nhận thức về dạy học Ngữ văn như một cuộc đối thoại ngày càng được khẳng định trong phương pháp dạy học hiện đại, bởi quá trình đọc hiểu tác phẩm nghệ thuật là quá trình đối thoại với tác giả, với những cách cảm, cách hiểu, cách lí giải, bình giá vốn đã có về tác phẩm Nhà lí luận Bakhatin đã khẳng định tác phẩm là một phát ngôn “nhiều tiếng nói” và có mối quan hệ mật thiết với tác giả, với hiện thực và với người đọc Ông coi trọng vai trò của người đọc khi tham dự vào việc chiếm lĩnh, khai thác, khám phá vẻ đẹp của tác phẩm nghệ thuật Vì vậy, trong mỗi giờ đọc hiểu, giáo viên cần tạo được môi trường thuận lợi để học sinh thâm nhập, va chạm, cọ xát với các vấn đề liên quan tới tác phẩm

Trang 13

B.A.Vladimirovna trong Đối thoại giáo dục như một sự tương tác sáng

tạo (Trần Thanh Bình dịch) đã có những khẳng định sâu sắc về vấn đề đối thoại

trong dạy học nói chung và giờ học văn nói riêng: “Giờ học đối thoại mà bản chất của nó là thảo luận, tranh luận, so sánh xung quanh những quan điểm khác nhau sẽ đưa lớp học đến chỗ hiểu sâu sắc hơn tác phẩm, giúp mọi người gần gũi nhau hơn, cùng nhau chiếm lĩnh ý nghĩa ngôn từ của nhà văn….Trong quá trình dạy học đối thoại, các phương pháp sáng tạo và tái tạo hiệu quả được kết hợp với nhau, tạo ra những điều kiện mới để củng cố và vận dụng kiến thức Ngoài ra kĩ năng đặt câu hỏi theo hình thức đối thoại cũng phản ánh sự hiểu biết của những người tham gia đối thoại về vấn đề đặt ra Dạy học đối thoại là hình thức thể hiện sự tôn trọng với người đối thoại, cả trong trường hợp người đối thoại đồng ý hay không đồng ý với quan điểm của mình” [66, 55 – 56]

Tác giả Sử Khiết Doanh và Trâu Tú Mẫn trong cuốn Kĩ năng tổ chức lớp,

kĩ năng biến hóa trong giảng dạy, (Đỗ Huy Lân dịch) có viết: “Một khi không khí

dạy học tốt được hình thành trên lớp, học sinh sẽ được giáo dục và cảm hóa trong tập thể đó, bởi vì thế giới tinh thần của tập thể và thế giới tinh thần của cá nhân chịu ảnh hưởng tương hỗ lẫn nhau Trong một tập thể ưu tú, cá nhân sẽ được quan tâm và chịu ảnh hưởng, từ đó sẽ hấp thụ được những điều có ích và làm cho cá nhân không ngừng tiến bộ, một số hành vi nào đó của cá nhân không phù hợp với tập thể sẽ bị hạn chế và làm cho chúng phải kiêng dè và giảm bớt Ngược lại, thế giới muôn màu của cá nhân cũng sẽ truyền sức sống cho tập thể và tỏ rõ sức sống

vô hạn Cho nên, coi trọng dư luận tập thể trong tổ chức dạy học trên lớp, xây dựng không khí học tập trên lớp tốt cũng là một vấn đề không thể coi nhẹ” [18,

15 – 16]

Tác giả Nguyễn Thị Bình trong cuốn Văn xuôi Việt Nam 1975 – 1995,

những đổi mới cơ bản, cũng đã đề cập đến vấn đề đối thoại: “Chỉ có thể đối

thoại khi giữa các bên tham gia có quan hệ bình đẳng và cởi mở… Chúng tôi

Trang 14

xem tinh thần đối thoại, nhu cầu đối thoại là biện pháp đổi mới căn bản của mối quan hệ nhà văn – bạn đọc” [4, 33 – 36 – 45]

Nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh Hùng trong cuốn Đọc và tiếp nhận tác

phẩm văn chương, đã dành đôi lời bàn về hiệu quả của giờ giảng văn thể hiện qua

tiếp nhận sáng tạo của người đọc: “Phải vận dụng tầm đón nhận ở độc giả mới có thể đối thoại với văn bản Không những để độc giả nói mà phải nghe họ nói…Tính

đa thanh, đa nghĩa chẳng những của tác phẩm mà còn ở sự đa dạng của các cách giải thích, cắt nghĩa và đánh giá tác phẩm Nó phủ nhận khả năng đạt được sự hiểu biết về tác phẩm chỉ có một kết quả duy nhất và mặt khác nó cũng hoài nghi về khả năng vô hạn của con người khi phản ánh cuộc sống” [32, 115]

Tác giả Kiều Mai trong bài viết Đối thoại trong giờ đọc hiểu tác phẩm

văn chương đã viết: “Hiểu tác giả, tác phẩm là một quá trình điều chỉnh và tự

điều chỉnh cho nên các cách hiểu, các ý kiến cần phải đặt trong sự va chạm, cọ xát, tranh cãi, phản biện để tự điều chỉnh, bổ sung và làm giàu cho nhau Đối thoại đó là một quá trình khắc phục mọi sự hiểu nhầm, độc đoán, áp đặt hay giáo điều sách vở; đó cũng là con đường để tiếp cận chân lí nghệ thuật ngày càng đúng, càng sâu hơn” [44, 2] Trang viết của Kiều Mai cho thấy, không ai dám quả quyết đọc tác phẩm một lần là hiểu hết mọi tầng ý nghĩa mà nhà văn gửi gắm, lại càng không dám khẳng định bản thân có thể hiểu đúng mọi mặt, mọi khía cạnh về tác phẩm Vì thế, muốn hiểu đúng tác phẩm, người đọc cần

có sự đối thoại thẳng thắn với tác phẩm, tôn trọng những dữ liệu cấu thành tác phẩm

Tác giả Mai Thị Thư trong luận văn thạc sĩ Phát triển năng lực thẩm mĩ

cho học sinh qua dạy học văn bản nghệ thuật trong trong chương trình THPT

có viết: “Quá trình tổ chức đối thoại trong giờ đọc hiểu là dựa vào sự trao đổi

bày tỏ ý kiến giữa GV và HS, giữa HS với nhau cũng như giữa HS với tác giả Cần tôn trọng ý nghĩa khách quan của văn bản, lại vừa khuyến khích cách hiểu

Trang 15

cá nhân độc đáo riêng biệt…Quá trình đối thoại giữa HS – tác giả sẽ cho thấy mối quan hệ giữa quan điểm tiếp cận trong bối cảnh cụ thể của người học với giá trị văn hóa, xã hội mà văn bản ra đời… Khi tổ chức tranh luận đối thoại trong giờ đọc hiểu, GV cần định hướng điều chỉnh cho học sinh phát hiện và bộc lộ cách cảm nghĩ riêng, cách nhìn riêng gắn với đặc điểm nhân cách và trải nghiệm của bản thân về thế giới con người Từ đó, giúp HS hiểu vấn đề sâu sắc

và hình thành quan điểm cá nhân tích cực về đời sống và về văn học nghệ thuật nhằm phát triển năng lực cảm thụ văn học, nhân cách thẩm mĩ của mình” [64,

96 – 97]

Luận văn thạc sĩ Rèn luyện năng lực đối thoại cho học sinh qua các văn

bản nghị luận trong chương trình Ngữ văn THPT của tác giả Phan Thị Điệp

cũng khẳng định: “Rèn luyện năng lực đối thoại cho học sinh là cách thức để rèn luyện, bồi dưỡng năng lực giao tiếp, tạo điều kiện để học sinh hình thành, rèn luyện những năng lực đặc thù khác của bộ môn Ngữ văn như năng lực cảm thụ thẩm mĩ, năng lực giao tiếp tiếng Việt… Đối thoại có tác dụng rèn cho học sinh thói quen hợp tác với bạn trong quá trình học tập, tự đánh giá, điều chỉnh vốn sống của tri thức bản thân trong quá trình trao đổi Qua đối thoại, HS rèn luyện được kĩ năng nói, phát biểu trước tập thể, tăng cường tinh thần trách nhiệm, kích thích sự tự tin, chủ động, sáng tạo của các em Đồng thời, từ quá trình đối thoại, HS sẽ biết thể hiện những rung động trước cái đẹp, biết sống và hành động vì cái đẹp, nhận ra cái xấu và phê phán những hiện tượng, biểu hiện không đẹp trong cuộc sống, biết đam mê và ước mơ cho cuộc sống tốt đẹp hơn…” [23, 16]

Trong luận văn thạc sĩ Tổ chức hoạt động đối thoại trong giờ đọc hiểu

dung của đọc hiểu văn bản cũng vô cùng, vô hạn trong sự giao tiếp, đối thoại với bạn đọc Học sinh phải có sự dấn thân, sự nhập cuộc để đối thoại cùng với

Trang 16

tác phẩm Bởi vì văn chương không chỉ nói bằng ngôn từ mà còn bằng nhân vật, bằng hình ảnh, bằng kết cấu, bằng bức tranh thiên nhiên, bằng những biện pháp nghệ thuật…Đọc ngôn ngữ đặc thù này không chỉ bằng mắt, bằng miệng

mà phải đọc bằng các tư duy trong đó có phân tích, bình phẩm, đánh giá, đối thoại…” [65, 26]

Như vậy, tổ chức hoạt động đối thoại trong giờ học Ngữ văn là một việc làm hết sức cần thiết, quan trọng và không thể thiếu trong một nền giáo dục hiện đại như ngày nay nhằm góp phần phát huy được bản thể của cá nhân người học Muốn vậy, phương pháp dạy học văn cần phải đổi mới theo nguyên tắc: một mặt phải cung cấp kiến thức để học sinh độc thoại, mặt khác phải chuẩn bị hoàn cảnh để học sinh đối thoại Qua đó, có thể nhận thấy hiểu biết về cuộc sống và văn học trong toàn bộ tính đa thanh, đa sắc, đầy mâu thuẫn và hết sức phức tạp của chúng chính là một cuộc đối thoại vô tận

1.1.3 Những tài liệu nghiên cứu về kĩ năng đối thoại cho học sinh qua dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12

Có thể thấy, đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, tự tin, năng động, sáng tạo của người học nhờ vào phương pháp đối thoại đang là một trong những vấn đề thiết thực trong dạy học Ngữ văn được giới nghiên cứu rất mực quan tâm Điểm lại những bài viết, những công trình nghiên cứu về đối thoại, chúng tôi nhận thấy phần đa các công trình nghiên cứu đều ít nhiều điểm qua vấn đề đối thoại trong giờ học văn nhưng mới chỉ dừng lại ở những vấn đề khái quát, chung chung mà chưa có một cái nhìn cụ thể về phát triển kĩ năng đối thoại cho học sinh qua dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12 Một số bài viết về phương pháp dạy học Ngữ văn 12 cũng đã đề cập đến hoạt động đối thoại, nhưng trình bày chưa có hệ thống, chưa xuất phát từ mục tiêu phát triển kỹ năng đối thoại cho HS Vì vậy, trên cơ sở kế thừa và phát triển thành quả của những người đi

Trang 17

trước, trong công trình này chúng tôi cố gắng trình bày, lí giải vấn đề phát triển

kĩ năng đối thoại cho học sinh qua dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12 một cách có hệ thống và tương đối hoàn thiện hơn

1.2 Cơ sở khoa học của đề tài

1.2.1 Đối thoại và kĩ năng đối thoại

1.2.1.1 Khái niệm đối thoại

Cuốn Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do Hoàng Phê (chủ

biên) đã khẳng định “Đối thoại là nói chuyện qua lại giữa hai hay nhiều người với nhau; là bàn bạc, thương lượng trực tiếp với nhau giữa hai hay nhiều bên

để giải quyết các vấn đề tranh chấp” [47, 442] Định nghĩa trên cho thấy vai trò của đối thoại trong cuộc sống là nhằm thiết lập và xây dựng những mối quan

hệ của con người trong xã hội Vai trò ấy càng được khẳng định trong thế kỉ XXI – thế kỉ của văn hóa, con người cần lắm những cuộc đối thoại và chỉ có đối thoại mới giúp con người có thể xích lại gần nhau

Tác giả Lại Nguyên Ân cũng có đề cập đến đối thoại trong cuốn 150

thuật ngữ văn học: “Đối thoại ngoài nghĩa giao tiếp bằng lời nói giữa hai người

(hoặc hơn) thì đối thoại còn là đơn vị văn bản, đoạn tái tạo sự giao tiếp bằng lời nói của các nhân vật và đối thoại còn là một thể loại ở châu Âu, có hình thức đối thoại mà nội dung là diễn đạt một vấn đề tư tưởng, triết học, triết lí, phê bình văn học” [1, 127]

Từ các định nghĩa trên, có thể nhận thấy các bên khi tham gia đối thoại đều phải bình đẳng; đều phải có chính kiến riêng của bản thân; không một ai

có quyền o ép, sai khiến hay bắt buộc người khác tuân theo ý kiến của mình:

“Đối thoại như một sự tương tác sáng tạo của con người không có ý nghĩa nếu không làm nảy sinh câu hỏi và vấn đề Sự đồng thuận tuyệt đối giữa các đối tác

là cái chết của đối thoại Đối thoại không thể tồn tại tuyệt đối, cũng không tồn

tại một khi cá nhân có quyền uy tuyệt đối” [66; 54] Đồng thời, khi tham gia

Trang 18

đối thoại các bên cần phải biết lắng nghe, thấu hiểu, cảm thông; cần có những

sự hiểu biết sâu sắc về đối tác tham gia, về giao tiếp, về văn hóa, cũng như những vấn đề đang quan tâm trao đổi; phải luôn có một tâm thế học hỏi, tích lũy tri thức, văn hóa vững vàng để có thể nắm bắt, cắt nghĩa, vận dụng vấn đề một cách thấu đáo và có hiệu quả cao

1.2.1.2 Khái niệm kĩ năng đối thoại

Kĩ năng là một tập hợp những khả năng được rèn luyện và thực hiện

nhằm đáp ứng các nhu cầu cụ thể của cuộc sống, “là khả năng vận dụng những

kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [47, 671] Nghĩa là, dựa trên tri thức về công việc, khả năng vận động, những điều kiện

về tâm lí (nhu cầu, tình cảm, ý chí, tính tích cực cá nhân) để HS giải quyết các vấn đề trong học tập, công tác và cuộc sống

Quá trình dạy học là quá trình tự tìm hiểu, trao đổi, đối thoại giữa HS với

GV, giữa HS với HS, giữa HS tác giả và tác phẩm văn học Việc dạy học ở trường THPT hiện nay không phải chỉ làm cho HS biết cái gì mà quan trọng hơn là HS phải làm được gì từ sự hiểu biết ấy, phải làm sao để có thể cùng chung sống được với mọi người và khẳng định được bản thân mình trong cuộc sống xã hội Từ đó, kĩ năng đối thoại được hiểu là khả năng vận dụng tất cả những yếu tố mà HS có được để đối thoại, trao đổi về những vấn đề nảy sinh trong quá trình học tập Rèn luyện kĩ năng đối thoại cho HS chính là cách thức

để rèn luyện, bồi dưỡng kĩ năng giao tiếp, kĩ năng kiểm soát cảm xúc, kĩ năng

ứng phó với căng thẳng, kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, kĩ năng thể hiện sự tự tin,

kĩ năng lắng nghe tích cực, kĩ năng thể hiện sự cảm thông, kĩ năng giải quyết mâu thuẫn, kĩ năng hợp tác, kĩ năng sáng tạo và kĩ năng tư duy phê phán

Vì vậy, việc phát triển kỹ năng đối thoại cho HS là việc làm vô cùng quan trọng, không thể thiếu của phương pháp dạy học Ngữ văn nói chung và

Trang 19

dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12 nói riêng nhằm góp phần phát huy tinh thần học hỏi, giao lưu, hợp tác của HS

1.2.2 Đặc điểm của phần truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12

1.2.2.1 Truyện ngắn và truyện ngắn hiện đại

Truyện ngắn là “Tác phẩm tự sự cở nhỏ Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi nhưng cái độc đáo của nó là ngắn Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ” [24, 370] Truyện ngắn “hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh

hay đời sống tâm hồn của con người” [24, 371]; hình tượng nhân vật “là hiện

thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của

con người” [24, 371]; trong một không gian, thời gian hạn định để từ đó giúp

độc giả nhận ra một điều gì đó sâu sắc về cuộc đời và tình người Và cái tạo nên sự độc đáo của truyện ngắn chính là chi tiết: “Chi tiết là những tiểu tiết của tác phẩm có sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng” [24, 59] Chi tiết không chỉ

có vai trò cấu thành tác phẩm, mà còn là nơi để các nhà văn gửi gắm, kí thác những quan niệm nghệ thuật về con người và cuộc đời với bao suy tư, trăn trở Việc lựa chọn chi tiết để xây dựng tác phẩm nghệ thuật không chỉ thể hiện bản chất sáng tạo mà còn bộc lộ tài năng và tư tưởng của người cầm bút

“Truyện ngắn hiện đại là một kiểu tư duy mới, một cái nhìn cuộc đời, một cách nắm bắt đời sống rất riêng, mang tính chất thể loại” [24, 371] Tác giả

Nguyễn Thanh Hùng trong Đọc - hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường,

đã chỉ ra những đặc trưng cơ bản của truyện ngắn hiện đại: “ Truyện ngắn hiện đại hoàn toàn mang đầy đủ tính thi ca, là thể loại có đẳng cấp tinh vi và toàn bích của văn học…Truyện ngắn hiện đại chấp nhận sự hỗn độn và tính bất quy luôn lấp lánh ánh sáng nhận thức…Người ta đánh giá cao truyện ngắn hiện đại

Trang 20

bởi sự sáng tạo những hạt nhân kĩ thuật, bởi sự tỉnh khô và tảng lờ những chi tiết không dồi dào tri thức Truyện ngắn hiện đại đem lại cảm giác phơi bày bí mật của cuộc đời… Đối tượng phản ánh của truyện ngắn hiện đại bao gồm cả ánh sáng và bóng tối, cả tích cực và tiêu cực” [33, 125 - 127]

1.2.2.2 Cấu trúc, số lượng, nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn Việt

Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12

Văn xuôi Việt Nam thế kỉ XX đã trải qua 3 giai đoạn phát triển chủ yếu: giai đoạn 1 từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945, giai đoạn 2 từ 1945 đến 1975, giai đoạn 3 từ sau 1975 đến nay Trong các giai đoạn phát triển của mình văn xuôi nói chung và truyện ngắn hiện đại nói riêng đã ghi dấu được nhiều thành tựu

Về cấu trúc, các văn bản truyện ngắn Việt Nam hiện đại được sắp xếp theo tiến trình lịch sử: lớp 11 HS tiếp cận các văn bản từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng 8 năm 1945; lớp 12 HS tiếp cận các văn bản từ 1945 đến hết thế kỉ XX

Về số lượng, các văn bản truyện ngắn Việt Nam hiện đại được bố trí trong chương trình Ngữ văn 12 (cơ bản) cụ thể như sau:

4 1 Bắt sấu rừng U Minh Hạ (Sơn Nam) Đọc thêm

7 1 Một người Hà Nội (Nguyễn Khải) Đọc thêm Nhìn vào bảng thống kê, chúng tôi nhận thấy trong chương trình Ngữ văn 12 ban biên soạn đã đưa vào 5 văn bản đọc chính thức và 2 văn bản đọc thêm với số tiết thực dạy là 15 Từ đây, chúng tôi có thể khẳng định: truyện

Trang 21

ngắn Việt Nam hiện đại là thể loại có vị trí quan trọng trong phần văn học Mặc

dù các văn bản truyện ngắn ở chương trình Ngữ văn 12 có phần khiêm tốn khi đứng bên cạnh các văn bản thuộc thể loại thơ nhưng lại có sự áp đảo so với các thể loại văn bản kịch và kí Như vậy, truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12 hiện hành một mặt kế thừa những văn bản tiêu biểu của của chương trình Ngữ văn 12 trong chương trình hợp nhất năm 2000, mặt khác có những thay đổi, bổ sung thông qua việc đưa thêm vào các văn bản mới hoặc chuyển đổi văn bản đọc chính thức sang đọc thêm Cụ thể: có nhiều văn

bản mới được đưa vào thay thế văn bản cũ thuộc sách chỉnh lí (Một người Hà

Nội thay cho Mùa lạc, Chiếc thuyền ngoài xa thay cho Mảnh trăng cuối rừng);

đưa Đôi mắt của Nam Cao ra khỏi chương trình Sự thay đổi này thể hiện sự

bắt nhịp với thời cuộc góp phần cung cấp cho học sinh những tri thức mới, thiết thực về văn học và đời sống con người sau 1975

Về nội dung, truyện ngắn Việt Nam giai đoạn từ năm 1945 - 1975 mang đậm chất sử thi Truyện ngắn giai đoạn này đã kế thừa và phát huy những nét

cơ bản trong truyền thống của dân tộc là chủ nghĩa yêu nước Giai đoạn này gắn liền với cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại làm nên chiến thắng lịch sử của dân tộc: cách mạng tháng 8 thành công là một nét vàng son trên trang sử bốn ngàn năm giữ nước và đánh dấu một điểm sáng trong sự phát triển của thể loại truyện ngắn cũng như của văn học nói chung Văn học được thể hiện theo định hướng về một nền văn học đại chúng, gắn liền với hiện thực cuộc sống cách mạng, phản ánh sức mạnh của quần chúng nhân dân, thể hiện niềm tự hào về dân tộc và niềm tin về tương lai tất thắng của cuộc kháng chiến Có thể bắt gặp

trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành hình ảnh của tập thể

thiên nhiên và con người Xô Man kiên cường đánh giặc, hay truyền thống gia

đình cách mạng trong Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi… Có

thể nói, chưa thời kì nào mà tình cảm dân tộc, ý thức cộng đồng, tình yêu quê

Trang 22

hương đất nước, tình nghĩa đồng bào, đồng chí lại được thấp nhuần sâu rộng và biểu hiện phong phú, nhiều hình nhiều vẻ như ở văn học giai đoạn này

Song hành với cảm hứng sử thi là cảm hứng lãng mạn trong những truyện ngắn giai đoạn này Nó thể hiện ở hướng vận động của cốt truyện, số phận nhân vật, dòng suy nghĩ tác giả Dường như những yếu tố trên đều đi từ bóng tối đến ánh sáng, từ gian khổ đến niềm vui, từ hiện tại đau thương đến tương lai đầy hứa hẹn Trong những tác phẩm truyện ngắn được đưa vào chương trình giảng dạy hiện hành của lớp 12, cảm hứng lãng mạn được kết hợp với cảm hứng sử thi tạo nên chủ nghĩa lãng mạn anh hùng Chính cuộc chiến tranh vô cùng ác liệt đã đặt mỗi người Việt Nam bình thường vào tình huống không thể không trở thành anh hùng, đồng thời mỗi con người, một cách tự nhiên đều cảm thấy hết sức gắn bó với cộng đồng và có ý thức nhân danh cộng đồng mà suy nghĩ

và hành động Nhân vật trung tâm là những con người đại diện cho giai cấp dân tộc, thời đại và kết tinh chói lọi những phẩm chất cao quý của cộng đồng

Không chỉ hướng ngòi bút đến cách mạng, mà văn học giai đoạn này cũng đi vào đào sâu giá trị nhân đạo truyền thống vốn tồn tại sâu rễ bền gốc trong nền văn học dân tộc Tinh thần nhân đạo ấy thể hiện ở thái độ đồng cảm, thấu hiểu, xót thương cho thân phận bất hạnh của con người; ở giá trị tố cáo những thế lực tàn bạo đã đày đọa cuộc sống con người và trân trọng những

phẩm chất tốt đẹp, khát vọng giải phóng con người như ở Vợ chồng A Phủ của

Tô Hoài, Vợ nhặt của Kim Lân

Bước sang giai đoạn sau 1975 đến nay, trong bối cảnh đất nước chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, văn học nói chung

và truyện ngắn nói riêng lại tiếp tục sứ mệnh thiêng liêng của nó - phản chiếu

và soi tỏ hiện thực cuộc sống trong từng trang văn Điều kiện mới của đất nước tạo cơ hội cho các nhà văn đưa ngòi bút của mình đến với những góc khuất trong đời sống và tâm hồn vốn dĩ vẫn tồn tại lâu nay nhưng hoàn cảnh của chiến

Trang 23

tranh nên không được đề cập tới Tình hình mới của đất nước cho phép văn học, đặc biệt là thể loại truyện ngắn soi tỏ vào sự thật hơn, đúng như Tô Hoài

có viết “Viết văn là quá trình nói lên sự thật Đã là sự thật thì không tầm thường,

cho dù phải đập vỡ thần tượng trong lòng bạn đọc” [6; 4] Bởi có những chuyện

hôm qua văn học chưa kịp nói đến, chưa được đề cập, nhìn một cách phiến diện thì nay có điều kiện đề cập và nhìn lại Điều này đòi hỏi truyện ngắn nói riêng

và văn xuôi nói chung phải chuyển mình kịp với thời đại, phù hợp với hiện thực

mới Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu là một minh chứng tiêu

biểu cho văn học giai đoạn này Qua tác phẩm, có thể nhận thấy truyện ngắn giai đoạn này dường như đã trút bỏ gánh nặng lịch sử đã qua để chìa vai gánh vác một sứ mệnh lịch sử mới đầy nặng nhọc hơn – cuộc sống thường nhật với những bộn bề lo toan Ở đó, cuộc đời của con người được miêu tả chân thực hơn, không phải chỉ có chiến thắng và hạnh phúc mà nhiều khi còn đầy bất hạnh, khổ đau Và sự quan tâm, chia sẻ của nhà văn đối với những bi kịch, những mất mát của con người không chỉ thể hiện mối quan hệ gắn bó muôn đời giữa văn học và cuộc sống mà còn là biểu hiện sinh động của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học thời kì đổi mới

Về nghệ thuật, truyện ngắn hai giai đoạn này thể hiện sự phong phú về chủ đề và đề tài; nhân vật được các nhà văn đi sâu vào khai thác thế giới nội tâm, đời sống tinh thần; đồng thời là sự thành công trong việc xây dựng tình huống đặc sắc và bút pháp trần thuật mới mẻ

1.2.3 Ý nghĩa của việc phát triển kĩ năng đối thoại cho học sinh qua dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12

Thứ nhất: phá bỏ vai trò độc tôn tri thức của người dạy Dạy học theo hướng phát triển kĩ năng đối thoại cho HS là việc người dạy đánh giá cao vai trò (vị trí trung tâm) của người học, cho phép các em được tự do bộc lộ những quan điểm, suy nghĩ của bản thân về một vấn đề nào đó Nghĩa là kiến thức lúc

Trang 24

bấy giờ sẽ không bị độc quyền và biến thành kinh điển bởi phương pháp truyền thụ một chiều của thầy cô trước đây, mà sẽ được mở rộng biên độ theo cách cảm nhận, hiểu biết của HS; và nhiệm vụ của thầy cô không còn đơn giản là chuyển tải kiến thức mà phải có những dự kiến về các tình huống để HS có điều kiện được bộc lộ tiếng nói bản thân

Dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12 không cho phép người dạy độc tôn về kiến thức bởi lẽ đây là thể loại có những

sự phong phú, đa dạng và phức tạp về các yếu tố như cốt truyện, tình huống, nhân vật, ngôn ngữ kể chuyện, các chi tiết nghệ thuật và các tầng ý nghĩa nhân sinh Những yếu tố đó khi đi vào các văn bản truyện ngắn cụ thể, tùy vào ý đồ của nhà văn, lại có những màu sắc không giống nhau Không thể nói đúng, sai khi nhà văn lựa chọn kiểu cốt truyện này mà không lựa chọn kiểu cốt truyện khác hay không thể nói tình huống trong truyện ngắn của nhà văn này lại hay hơn tình huống trong truyện ngắn của nhà văn khác Việc người dạy áp đặt kiến thức, tạo nên một lối mòn cố hữu trong suy nghĩ của HS không những khiến các em cảm thấy giờ học trở nên ngột ngạt, mà còn tước đi quyền được trao đổi, tranh luận, đối thoại của HS

Vậy làm cách nào để những giờ dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12 một mặt có thể phá vỡ được vai trò độc tôn của người dạy và mặt khác có thể phát huy vai trò trung tâm của người học? Điều này đòi hỏi ở cả người dạy và người học cần có những sự nỗ lực thực sự để mỗi giờ học là một giờ đối thoại sôi nổi về các vấn đề của văn bản Đặc biệt là người dạy cần tôn trọng những ý kiến của HS, cho các em tham dự vào quá trình đánh giá tác phẩm; đồng thời sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực để làm nảy sinh các vấn đề nhằm thôi thúc HS suy nghĩ, đối thoại

Thứ hai: phát huy tính tích cực trong hoạt động chiếm lĩnh tri thức của người học Rèn luyện và phát triển kĩ năng đối thoại cho HS qua dạy học truyện

Trang 25

ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12 là một trong số những phương hướng nhằm kích thích sự năng động, tích cực, độc lập của chủ thể HS trong hoạt động giải mã những thông điệp, những ý nghĩa nhân sinh của nhà văn gửi gắm qua những yếu tố đặc trưng thể loại để chiếm lĩnh tri thức văn bản Thứ ba: góp phần phát triển những năng lực, phẩm chất khác của người học Rèn luyện năng lực đối thoại cho HS lớp 12 thông qua dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại sẽ là cách thức hữu hiệu để rèn luyện, bồi đắp năng lực giao tiếp, tạo điều kiện để HS rèn luyện những năng lực đặc thù như năng lực cảm thụ thẩm mĩ, năng lực giải quyết vấn đề Đối thoại sẽ có tác dụng rèn cho

HS thói quen hợp tác với bạn bè trong quá trình học tập, tự đánh giá điều chỉnh vốn tri thức bản thân trong quá trình trao đổi Hoạt động đối thoại này nếu được diễn ra thường xuyên và đúng chất lượng, HS sẽ được rèn luyện kĩ năng nói, phát biểu trước tập thể, tăng cường tinh thần trách nhiệm, kích thích sự tự tin, chủ động và sáng tạo góp phần bồi đắp tâm hồn cho thế hệ trẻ: là lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, niềm tự hào, trân trọng và gìn giữ cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ của quê hương đất nước; là tinh thần đồng cảm, sẻ chia, đau đớn, xót

xa cho những số phận bất hạnh; là biết lên án, phê phán những ngang trái bất công trong cuộc đời; là biết trân trọng, gìn giữ những phẩm chất đẹp đẽ của con người

Thứ tư: tạo cơ sở hình thành những phương án dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12 theo phương pháp dạy học hiện đại Mục tiêu của phương pháp dạy học hiện đại là hướng tới việc lấy người học làm trung tâm, phát huy tính tích cực của người học Vì thế, khi phát triển

kĩ năng đối thoại cho HS qua các văn bản truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12, người dạy sẽ chú trọng đến việc lựa chọn các phương

án dạy học phù hợp và có hiệu quả Hiện nay, tiến trình hoạt động dạy học theo

mô hình trường học mới gồm năm bước: khởi động, hình thành kiến thức mới,

Trang 26

luyện tập, vận dụng, tìm tòi mở rộng Một giờ đọc hiểu truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12 cũng trải qua các hoạt động đó Nếu

GV không linh hoạt, sáng tạo trong phương án dạy học để phù hợp với từng văn bản cụ thể thì HS sẽ cảm thấy không thú vị, đơn điệu và tẻ nhạt Chẳng hạn, ở hoạt động khởi động, khi dạy học mỗi văn bản truyện ngắn trong chương

trình Ngữ văn 12, GV có thể lựa chọn một phương án riêng: ở văn bản Vợ nhặt

có thể lựa chọn hình thức trò chơi ô chữ thì đến văn bản Chiếc thuyền ngoài xa

có thể lựa chọn hình thức tìm mảnh ghép thiếu Hay ở hoạt động hình thành kiến thức mới, GV có thể lựa chọn phương án chia nhóm khác nhau tùy vào vấn đề đưa ra thảo luận ở mỗi văn bản: có thể thảo luận nhóm đôi bạn, nhóm nhỏ 7 - 10 HS, nhưng cũng có thể nhóm đồng tình, phản đối….Việc dạy học theo hướng phát huy tinh thần đối thoại của HS không cho phép người dạy đóng khuôn trong một cách dạy mà luôn phải tìm tòi, đổi mới, sáng tạo Và việc lựa chọn các phương án để dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12 thể hiện sự linh hoạt và uyển chuyển trong hoạt động nghiên cứu và dạy học của GV Qua đó, phản ánh được hiệu quả của giờ dạy học có phát huy tính tích cực của HS, kích thích khả năng tư duy, đối thoại của các em hay không

1.2.4 Thực trạng phát triển kĩ năng đối thoại cho học sinh qua dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12 (Khảo sát trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu)

Thực tế dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại và phát triển kĩ năng đối thoại cho HS còn gặp nhiều khó khăn và bất cập Cụ thể, để tìm hiểu thực trạng

đó chúng tôi đã tiến hành khảo sát 21 GV và 300 HS ở ba trường là THPT Nguyễn Đức Mậu, THPT Quỳnh Lưu I, THPT Quỳnh Lưu II (Huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) Từ kết quả khảo sát đó cùng với thực tiễn dạy học chúng tôi rút ra những kết luận sau:

Trang 27

1.2.4.1 Thực trạng nhận thức về tầm quan trọng của dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12

Chương trình truyện ngắn Việt Nam hiện đại giai đoạn 1945 đến 1975

và sau 1975 được đưa vào giảng dạy trong chương trình Ngữ văn 12 là những tác phẩm có giá trị và chiếm vị trí quan trọng trong nền văn học dân tộc Mỗi người dạy và người học cần phải hiểu rõ tầm quan trọng của thể loại truyện ngắn được đưa vào chương trình học: HS sẽ có cái nhìn sâu sắc hơn tiến trình phát triển của lịch sử văn học dân tộc; giúp các em nhận thức sâu hơn bản chất của cái đẹp và cái xấu trong cuộc đời, từ đó hình thành và phát triển nhân cách toàn diện hơn

Có thể nói, nhận thức về tầm quan trọng của dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12 chưa thực sự xứng đáng với vai trò của nó Qua thực tiễn điều tra, chúng tôi nhận thấy chỉ 11/21 GV (chiếm tỉ

lệ 52,4%) thích dạy văn bản nghệ thuật và 130/300 HS (chiếm tỉ lệ 43,3%) thích học văn bản nghệ thuật Khi được hỏi về nội dung các văn bản truyện

ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12 có 11/21 GV (chiếm tỉ

lệ 52,4%) và 164/300 HS (chiếm tỉ lệ 54,6%) cho rằng chưa hợp lí và rất khó; 10/21 GV (chiếm tỉ lệ 47,6 %) và 128/300 HS (chiếm tỉ lệ 42,7%) cho rằng hợp

lí và hay; 8/300 HS (chiếm tỉ lệ 2,7%) cho rằng nhàm chán Điều này dẫn đến

việc chỉ có 9/21 GV (chiếm tỉ lệ 42,9%) và 115/300 HS (chiếm tỉ lệ 38,3%) cho rằng việc dạy các văn bản truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình

Ngữ văn 12 là rất quan trọng; 12/21 GV (chiếm tỉ lệ 57,1%) và 178/300 HS (chiếm tỉ lệ 59,3 %) cho rằng ít quan trọng; 7/300 HS (chiếm tỉ lệ 2,3%) cho

rằng không quan trọng (Xem thêm phụ lục 1, 2)

Trang 28

1.2.4.2 Thực trạng hoạt động tổ chức dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12

Những văn bản truyện ngắn được lựa chọn để giảng dạy trong chương trình Ngữ Văn 12 thật sự là những tác phẩm hay và có giá trị nhưng để dạy tốt những tác phẩm thuộc giai đoạn này và để HS có thể yêu quý cái hay, cái đẹp thực sự là điều không dễ, nhất là trong bối cảnh xã hội và thực tế dạy học hiện nay

a) Đối với giáo viên

Trong chương trình Ngữ văn 12 từ trước tới nay, việc dạy các văn bản truyện ngắn Việt Nam hiện đại đã được giáo viên quan tâm nhưng chưa thực

sự đúng mực: 10/21 GV (chiếm tỉ lệ 47,6%) quan tâm và đầu tư soạn giáo án; 11/21 GV (chiếm tỉ lệ 52,4%) ít quan tâm Khi được hỏi giáo viên đã sử dụng

những phương pháp nào để dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12 thì chúng tôi nhận được đã nhận được kết quả: không

có GV nào sử dụng phương pháp đọc chép; 5/21 GV (chiếm tỉ lệ 23,8%) sử dụng phương pháp phân tích, bình giảng; 16/21 GV (chiếm tỉ lệ 76,2%) sử dụng phương pháp vấn đáp, trực quan, thảo luận nhóm Điều này cho thấy,

thực tế vẫn còn một số giáo viên đang tiếp tục trung thành với cách dạy truyền thống khi sử dụng phương pháp phân tích, bình giảng để rao giảng kiến thức, chưa thực sự tiếp cận những phương pháp mới nhằm phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh khiến các em trở nên thụ động đón nhận kiến thức một chiều Bên cạnh đó, cũng có nhiều giáo viên đã tổ chức dạy học các văn bản truyện ngắn Việt Nam hiện đại theo phương pháp mới như sử dụng hình thức vấn đáp, trực quan, thảo luận nhóm Tuy nhiên việc sử dụng các phương pháp dạy học mới này vẫn chưa thực sự nhuần nhuyễn nên hiệu quả mang lại trong các tiết học vẫn chưa cao

Trang 29

b) Đối với HS

Thực tế khảo sát với HS đưa lại nhiều cách đánh giá khác nhau về việc dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12 Mặc

dù đã có nhiều giáo viên sử dụng phương pháp mới vào dạy học nhưng chỉ

khiến một lượng nhỏ 35/300 HS (chiếm tỉ lệ 11,7%) hứng thú; 50/300 HS (chiếm 16,7%) thấy bình thường và 215/300 HS (chiếm tỉ lệ 71,6%) không

hứng thú Điều này đặt ra vấn đề mỗi GV cần xem xét lại những phương pháp

mình sử dụng trong mỗi tiết dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại đã phù hợp chưa, đã kích thích được tinh thần chủ động sáng tạo của học sinh chưa để từ

đó linh hoạt hơn trong việc sử dụng, kết hợp các phương pháp dạy học cho phù hợp với đối tượng học sinh nhằm mang lại hiệu quả cao trong giờ học (Xem thêm phụ lục 1, 2)

1.2.4.3 Thực trạng rèn luyện và phát triển kĩ năng đối thoại cho HS qua dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12

Thực tế giảng dạy tại các trường THPT cho thấy việc tổ chức rèn luyện

và phát triển kĩ năng đối thoại cho HS qua dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại ở chương trình Ngữ văn 12 đã diễn ra nhưng mức độ tiến hành còn mỏng

và hiệu quả thu được chưa cao

Khi được hỏi việc phát triển kĩ năng đối thoại cho HS qua dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại có quan trọng và cần thiết không thì 7/21 GV (chiếm

tỉ lệ 33,3%) cho rằng rất quan trọng và cần thiết, 10/21 GV (chiếm tỉ lệ 47,6%)

cho rằng bình thường, 4/21 GV (chiếm tỉ lệ 19,1%) cho rằng không quan trọng

và cần thiết Khi được hỏi trong quá trình dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện

đại trong chương trình Ngữ văn 12, thầy (cô) đã rèn luyện và phát triển kĩ năng

đối thoại cho học sinh chưa thì có 5/21 GV (chiếm tỉ lệ 23,8%) thường xuyên, 16/21 GV (chiếm tỉ lệ 76,2%) thỉnh thoảng Và khi được hỏi thầy (cô) đã làm

như thế nào để phát triển kĩ năng đối thoại cho học sinh thì phần đa các giáo

Trang 30

viên sử dụng đơn thuần một hình thức, phương pháp 13/21 GV (chiếm tỉ lệ

61,9%) vấn đáp; 5/21 GV (chiếm 23,8%) thảo luận nhóm, chỉ một lượng ít 3/21

GV (chiếm 14,3%) có kết hợp vấn đáp, thảo luận nhóm, trực quan, trò chơi ô

chữ…nhưng chưa thực hiện đúng cách, vẫn còn thiên về lí thuyết Về phía HS

khi tham gia vào quá trình rèn luyện và phát triển kĩ năng đối thoại cho bản

thân 30/300 HS (chiếm tỉ lệ 10%) hứng thú, 70/300 HS (chiếm tỉ lệ 23,3%) ít

hứng thú, 200/300 HS (chiếm tỉ lệ 66,7%) hời hợt đón nhận, thiếu sự phấn khởi, hứng thú (xem thêm phụ lục 1, 2)

Trong quá trình tiến hành khảo sát và thu thập số liệu ở các lớp 12 của

ba trường THPT trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu, chúng tôi nhận thấy bên cạnh những GV chưa nhận thức đúng vai trò của thể loại truyện ngắn cũng như việc phát triển kĩ năng đối thoại cho HS qua dạy học truyện ngắn trong chương trình Ngữ văn 12 thì cũng đã có nhiều GV có nhận thức đúng vai trò tầm quan trọng của thể loại này và đã đầu tư trong công tác soạn giáo án theo hướng tích cực, chủ động, sáng tạo hoạt động của HS, trong đó ưu tiên hoạt động đối thoại Họ thực sự đã rất nỗ lực trong việc tự học tập nâng cao tri thức chuyên môn, tiếp nhận các tri thức lí thuyết mới về dạy học hiện đại như sử dụng các phương tiện

hỗ trợ dạy học truyện ngắn hiện đại như tranh ảnh, băng đĩa, phim tư liệu… Chính sự nỗ lực ấy của GV cho thấy, họ hiểu được tính thiết yếu của vấn đề đổi mới và vận dụng các phương pháp mới vào dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại cho HS lớp 12 để các em lĩnh hội tri thức được toàn vẹn Thế nhưng, từ nhận thức rõ tầm quan trọng đến áp dụng nó thường xuyên và hiệu quả không hẳn đã ăn khớp vào nhau Nhiều GV vẫn chưa vận dụng hài hòa các phương pháp dạy học đổi mới để phát triển kĩ năng đối thoại cho HS Việc sử dụng đa dạng các phương pháp đã nêu ở trên chỉ được tiết hành ở những buổi học thao giảng (có người dự giờ), còn những tiết không có người dự thì GV chưa chú trọng đến việc phát triển kĩ năng đối thoại cho HS, chỉ đơn độc sử dụng phương

Trang 31

pháp vấn đáp và cũng chỉ diễn ra ở một số HS khá giỏi, khiến tiết học trở nên đơn điệu, nhàm chán và việc lĩnh hội, ghi nhớ tri thức bị thuyên giảm Để hoạt động đối thoại thành công, GV phải có sự chuẩn bị chu đáo kiến thức, kĩ năng

và phương pháp để huy động sự hợp tác của tất cả các HS trong lớp Việc đối thoại không diễn ra thường xuyên, chỉ ngẫu hứng diễn ra, không có sự chuẩn

bị chu đáo cũng là lí do khiến cho tiết học có đối thoại nhưng khiêm cưỡng và không thu được kết quả Bên cạnh đó, là phía HS vốn dĩ quen thuộc với cách học lĩnh hội tri thức một chiều, khiến các em có tâm lí ù lì, ngại trao đổi, ngại phát biểu, ngại phản bác lại ý kiến người khác Các em trở nên lười vận động trí não, lười suy nghĩ, thích dựa dẫm vào suy nghĩ đơn chiều của thầy (cô), bạn

bè Không những thế nhiều HS, lợi dụng việc trao đổi, thảo luận để nói chuyện riêng, khiến lớp học trở nên ồn ào khó quản lí gây tâm lí chán nản với GV Qua thực tiễn dạy học, chúng tôi nhận thấy, đối thoại chính là hình thức phát huy tối đa tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, giúp các em chủ động chiếm lĩnh tri thức Vì vậy, mỗi GV cần ý thức đúng vai trò, tầm quan trọng của việc phát triển kĩ năng đối thoại cho HS qua dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại

Tiểu kết chương 1

Như vậy, những vấn đề nêu trên là cơ sở lí luận và thực tiễn, là nền tảng

cho việc nghiên cứu Phát triển kĩ năng đối thoại cho học sinh qua dạy học

truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12 Việc dạy học

Ngữ văn nói chung và dạy học truyện ngắn hiện đại nói riêng ở chương trình lớp 12 đòi hỏi có nhiều đổi mới về phương pháp và vận dụng linh hoạt các phương pháp để mang lại hiệu quả đối thoại cao

Trang 32

Chương 2 NGUYÊN TẮC, BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG ĐỐI THOẠI CHO HỌC SINH QUA DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12

2.1 Nguyên tắc phát triển kỹ năng đối thoại cho học sinh qua dạy

học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12

2.1.1 Bám sát vào đặc trưng thể loại khi tham gia đối thoại

Phát triển kĩ năng đối thoại của HS trong dạy học chú trọng đến vấn đề

HS có chủ động, tích cực trao đổi, tranh luận và phản biện thông tin hay không?

Để HS thực sự nhập cuộc trong tâm thế ấy, đòi hỏi các em cần có một lượng kiến thức nền tảng liên quan đến vấn đề được đưa ra đối thoại Vì thế, trong dạy học tác phẩm văn chương, cả GV và HS cần phải bám vào kiến thức nền tảng: đặc trưng thể loại Việc nắm vững đặc trưng thể loại, sẽ giúp HS cảm thấy

tự tin khi trao đổi, tranh luận, phản biện vấn đề và tăng tính thuyết phục trong lập luận vì những điều các em trình bày đều có cơ sở lí luận rõ ràng Nếu không nắm vững đặc trưng thể loại, HS sẽ không thể hình dung những vấn đề mà bản thân sẽ khai thác khi tìm hiểu về tác phẩm truyện ngắn cụ thể, khiến phần trình bày vấn đề bị mù mờ, không rõ ràng, không có tính thuyết phục người nghe,

dẫn đến tâm lí chán nản, sợ sệt khi tham gia đối thoại

Khi dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại, chúng tôi muốn HS nắm được những kiến thức nền của truyện ngắn - thể loại văn học được coi là “xung kích” của đời sống văn học, thể loại có tính chất “thuốc thử” đối với hầu hết các nhà văn trên con đường sáng tạo nghệ thuật đầy cam go - ở các phương diện: cốt truyện, nhân vật, tình huống truyện, ngôn ngữ trần thuật Bởi đây là những yếu tố đặc trưng giúp người đọc nhận diện và phân biệt truyện ngắn với

Trang 33

các thể loại văn học khác, đồng thời cũng là những đường dẫn quan trọng dẫn

dắt người đọc đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn

Về cốt truyện: khi được hỏi, nhắc đến truyện ngắn bạn nghĩ ngay đến yếu tố nào, đã có nhiều cánh tay HS giơ lên, và đáp án chúng tôi nhận được đều

là cốt truyện Với câu trả lời này, chúng tôi hiểu rõ HS đã có một lượng kiến thức nhất định về cốt truyện như khái niệm, vai trò, những yếu tố làm nên cốt truyện… Và điều chúng tôi muốn HS nhận thức rõ ở mỗi văn bản truyện ngắn

là không có một công thức cứng nhắc nào trong sáng tạo cốt truyện, nghĩa là không phải bất cứ một tác phẩm truyện ngắn nào cũng đảm bảo đầy đủ những yếu tố trên Có những truyện ngắn, cốt truyện có một vai trò đặc biệt quan trọng, không thể thiếu, nhưng cũng có những truyện ngắn vai trò của cốt truyện lại trở nên nhẹ đi, thậm chí “truyện không có truyện” Vì thế, việc nắm vững đặc trưng của cốt truyện khi tìm hiểu truyện ngắn, sẽ giúp HS linh hoạt trong việc tiếp cận văn bản

Về nhân vật: HS cần có những kiến thức nền tảng về đặc điểm, vai trò của nhân vật trong truyện ngắn nói chung và vận dụng kiến thức có sẵn soi chiếu vào các văn bản được học để dễ dàng khám phá chiều sâu ý nghĩa nhân sinh mà nhân vật mang lại, để thấy được dù ít nhân vật và dù chỉ là một “mảnh nhỏ” nhưng nhân vật trong truyện ngắn đã tạo được những tiếng ngân vang

trong lòng bạn đọc Ví dụ, khi dạy học Vợ chồng A Phủ, thông qua nhân vật Mị

và A Phủ, nhà văn Tô Hoài muốn lên án tố cáo bọn thống trị chúa Đất, chúa Mường đã chà đạp và cướp đi quyền sống, quyền tự do của tầng lớp nhân dân lao động nghèo khổ; ngợi ca khát vọng sống, khát vọng tự do của những con

người bị đẩy xuống vực thẳm của khổ đau Hay khi dạy học Một người Hà Nội

của Nguyễn Khải, thông qua hình ảnh cô Hiền – hạt bụi lấp lánh ánh vàng của

Hà Nội, HS sẽ học tập được nhiều về cách đối nhân xử thế, về nếp sống, nếp

Trang 34

sinh hoạt và đặc biệt là luôn gìn giữ, xây đắp những phẩm chất tốt đẹp của con người dù ở bất kì thời đại nào, nhất là lòng tự trọng

Về tình huống truyện, trên cơ sở kiến thức nền tảng: khái niệm và các loại tình huống truyện, GV cần giúp HS có được kĩ năng tiếp cận tình huống truyện thông qua các bước: Xác định tình huống truyện; phân tích tình huống; rút ra ý nghĩa tư tưởng, thông điệp thẩm mĩ mà tình huống chứa đựng Ví dụ:

Khi dạy học Vợ nhặt của Kim Lân, HS cần nhận thức được hạt nhân của truyện

ngắn là cuộc hôn nhân oái ăm, éo le của Tràng và thị giữa bối cảnh nạn đói

1945 Đó cũng là tình huống hành động: “nhặt vợ” của Tràng Chính tình huống này đã mang lại biết bao dòng cảm xúc vui, buồn, lo âu cho các nhân vật trong truyện Qua đó, nhà văn muốn lên án, tố cáo tội ác của bọn thực dân, phong kiến, phát xít; đồng thời khẳng định phẩm chất tốt đẹp và sức sống kì diệu của

con người trong hoàn cảnh khốn khó Hay khi dạy học Chiếc thuyền ngoài xa

của Nguyễn Minh Châu, HS cần phát hiện được tình huống nhận thức của văn bản Thông qua nhân vật Phùng, nhà văn thể hiện quá trình nhận thức: đi từ sự nhận thức chưa đầy đủ đến nhận thức đầy đủ trong cách nhìn về cuộc đời và nghệ thuật: cuộc đời vốn là mảnh đất sản sinh ra cái đẹp của nghệ thuật nhưng không nên đồng nhất cuộc đời cũng là nghệ thuật, và để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nghệ thuật cần phải có một khoảng cách, nhưng để thấu hiểu được cuộc đời thì không thể đứng ở xa mà nhìn được, cần tiếp cận cuộc đời, đi sâu vào bên trong và sống cùng cuộc đời

Về ngôn ngữ trần thuật: HS cần nắm vững khái niệm, các yếu tố của ngôn ngữ trần thuật (vai trần thuật, góc nhìn, thời gian) làm căn cứ để tìm hiểu

những văn bản truyện ngắn cụ thể Ví dụ: Khi dạy học truyện ngắn Những đứa

con trong gia đình của Nguyễn Thi, GV cần giúp HS nhận thức được trật tự kể

của câu chuyện đã bị xáo trộn không tuân theo trình tự thời gian nhưng câu chuyện vẫn hiện lên rất rõ ràng, hấp dẫn, mạch lạc trong cách cảm nhận của

Trang 35

người đọc Đó là nhờ dòng tâm tưởng với những hồi ức đứt nối của Việt khi bị thương, bị lạc đồng đội phải nằm lại một mình trong chiến trường Người kể chuyện đã nương theo những dòng kí ức chợt đến, chợt đi của Việt (kể bằng điểm nhìn của Việt) để làm hiện lên câu chuyện của một gia đình Nam Bộ giống như một thước phim quay chậm đậm màu sắc trữ tình

Như vậy, muốn phát triển kĩ năng đối thoại cho HS, GV không thể không định hướng HS tìm hiểu văn bản trên cơ sở đặc trưng thể loại Thiết nghĩ, đây

là việc làm không chỉ phục vụ cho việc tìm hiểu từng văn bản cụ thể, mà còn

có ý nghĩa tạo ra mạch liên kết để HS có thể có tự so sánh, đối chiếu những văn bản văn học với nhau

Mục tiêu bài học là kết quả dự kiến cần đạt được sau khi thực hiện một chuỗi những hoạt động dạy học Một tiết giảng hay không chỉ căn cứ vào hoạt động GV và HS diễn ra như thế nào mà còn căn cứ vào kết quả có đạt được mục tiêu của bài học đề ra hay không? Khi xác định rõ ràng và đúng mục tiêu của bài học thì GV sẽ có nhiều thuận lợi để dạy hay văn bản và HS cũng có nhiều cơ hội để lĩnh hội thấu đáo tri thức Cụ thể: Đối với GV nếu xác định được mục tiêu bài học rõ ràng thì sẽ lựa chọn nội dung và phương pháp thực hiện hợp lí; đồng thời có thể đánh giá được năng lực cảm thụ của HS thông qua các lần kiểm tra miệng, thường xuyên và định kì Đối với HS, việc nắm rõ mục tiêu bài giảng sẽ tự xác định cái đích mà mình hướng tới trong quá trình học tập, từ đó biết lựa chọn tài liệu học tập phù hợp và có thể tự tổ chức quá trình học tập của bản thân Như vậy, có thể thấy mục tiêu của bài học là cái đích đến

mà cả GV và HS cần hướng tới trong quá trình dạy học

Việc xác định đúng mục tiêu của bài học là một việc làm hết sức quan trọng và cần thiết góp phần phát triển kĩ năng đối thoại cho HS Khi tiếp cận một văn bản, điều đầu tiên HS quan tâm là văn bản này nói về vấn đề gì? Vấn

Trang 36

đề ấy đã được nhà văn phản chiếu như thế nào thông qua hệ thống các yếu tố cấu thành truyện ngắn và gửi gắm tới người đọc thông điệp tư tưởng gì? Việc

HS xác định đúng mục tiêu bài học sẽ giúp các em tự tin khi trình bày quan điểm, cách nhìn nhận, đánh giá của bản thân mà không sợ lệch lạc hay chệch hướng vấn đề

Mục tiêu bài học của các văn bản truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12 là nhằm cung cấp cho HS hệ thống những tri thức về văn bản văn học cụ thể; hình thành và rèn luyện cho học sinh kĩ năng đọc hiểu văn bản

Ví dụ 1: Khi dạy văn bản Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài, GV cần

bám sát vào mục tiêu của bài học là: “Nỗi thống khổ của người dân miền núi Tây Bắc dưới ách thống trị của bọn phong kiến và thực dân; vẻ đẹp tâm hồn, sức sống tiềm tàng mãnh liệt và quá trình vùng lên tự giải phóng của đồng bào vùng cao Nghệ thuật xây dựng nhân vật sinh động, chân thực; miêu tả và phân tích tâm lí nhân vật sắc sảo, tinh tế; lối kể chuyện hấp dẫn, ngôn ngữ mang

phong vị và màu sắc dân tộc, giàu tính tạo hình và giàu chất thơ” [6; 58] Trên

cơ sở trọng tâm kiến thức đã xác định, GV định hướng vùng kiến thức HS cần khám phá, lĩnh hội khi tìm hiểu văn bản là: phần tiểu dẫn tác giả Tô Hoài (vị

trí, phong cách), tác phẩm Vợ chồng A Phủ (xuất xứ, hoàn cảnh ra đời) và phần

văn bản với hình tượng hai nhân vật Mị và A Phủ Bằng hệ thống các câu hỏi,

GV dẫn dắt HS khám phá những miền tri thức văn bản, qua đó thêm một lần nữa HS biết nói lên tiếng nói căm phẫn, lên án, tố cáo bọn thực dân, phong kiến; biết cảm thông, chia sẻ với những bất hạnh, khổ đau của người dân lao động miền núi cao và biết trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp sức sống tiềm tàng của họ

Ví dụ 2: Khi dạy tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân, GV phải cùng

HS bám sát mục tiêu kiến thức của bài học là: “Tình cảnh thê thảm của người nông dân trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 và niềm khát khao hạnh phúc

Trang 37

gia đình, niềm tin vào cuộc sống, tình thương yêu đùm bọc giữa những con người nghèo khổ ngay trên bờ vực của cái chết; xây dựng tình huống nghệ thuật độc đáo, nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật đặc

sắc” [6; 61] Với mục tiêu đã xác định, GV tổ chức HS tìm hiểu tiểu dẫn và văn

bản Thông qua hoạt động đối thoại bằng các biện pháp dạy học: vấn đáp, thảo luận nhóm, sân khấu hóa…, HS sẽ nhận thức rõ tình cảnh thê thảm của con người trong nạn đói khủng khiếp nhất của lịch sử và vẻ đẹp tâm hồn của các nhân vật: Tràng, người “vợ nhặt”, bà cụ Tứ Qua đó, bồi đắp thêm thái độ: lên

án, tố cáo và ngợi ca vẻ đẹp tình người, niềm tin vào tương lai cho bản thân

HS

Ví dụ 3: Khi dạy Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, trọng tâm kiến thức cần nắm vững là: “Hình tượng rừng xà nu – biểu tượng của cuộc sống đau

thương nhưng kiên cường và bất diệt; hình tượng nhân vật Tnú và câu chuyện

bi tráng về cuộc đời anh thể hiện đầy đủ nhất cho chân lí: dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng, đấu tranh vũ trang là con đường tất yếu để tự giải phóng; chất sử thi thể hiện qua cốt truyện, bút pháp xây dựng nhân vật, giọng điệu và vẻ đẹp ngôn ngữ của tác phẩm” [6;64] Với mục tiêu trên, GV định hướng HS tìm hiểu tiểu dẫn (tác giả - gắn bó với mảnh đất Tây Nguyên, tác phẩm - hoàn cảnh ra đời, xuất xứ) và tìm hiểu văn bản với hình tượng cây xà nu, hình tượng nhân vật Tnú Qua đó, bồi đắp thêm tinh thần bất

khuất và sức mạnh quật cường của mỗi cá nhân HS

Ví dụ 4: Khi dạy văn bản Một người Hà Nội của Nguyễn Khải, GV cần

bám sát mục tiêu kiến thức: “Nếp sống văn hóa và phẩm chất tốt đẹp của người

Hà Nội qua nhân vật cô Hiền; niềm tin vào con người và mảnh đất Hà Nội; nghệ thuật lựa chọn tình tiết; xây dựng tính cách nhân vật, giọng văn đượm chất triết lí” [6; 71] Bám vào mục tiêu bài học, GV tổ chức HS tham gia đối thoại

để tìm hiểu tiểu dẫn (tác giả, hoàn cảnh, mục đích sáng tác Một người Hà Nội)

Trang 38

và tìm hiểu văn bản với nội dung trung tâm là nhân vật cô Hiền, từ đó giúp HS

ý thức được ý nghĩa của lòng tự trọng, biết gìn giữ những nếp sống văn hóa của cha ông

Như vậy, việc xác định mục tiêu bài học đúng đắn và rõ ràng trong mỗi giờ dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại sẽ giúp kĩ năng đối thoại của HS được nâng lên, đồng thời phát triển được những phẩm chất, năng lực khác cho các em Việc dạy học các văn bản truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12 theo nhiệm vụ phát triển kĩ năng đối thoại cho HS cần thiết phải gắn với việc xác định rõ mục đích, yêu cầu của bài học

2.1.3 Bám sát vào những đặc trưng cơ bản của hoạt động đối thoại

2.1.3.1 Tạo tâm thế tích cực, chủ động cho học sinh

Văn học là món ăn tinh thần không thể thiếu của con người, bởi vậy không thể chỉ dùng trí óc để đón nhận mà còn phải biết cảm thấu bằng cả con tim và tâm hồn Hiểu rõ điều đó, trong quá trình dạy học, GV không thể xem

HS là những “cái bình” cần đổ đầy kiến thức mà cần phải nhận thấy được các

em chính là những “ngọn đuốc” cần thắp sáng Thế nhưng, thực tế hiện hiện nay cho thấy tình yêu văn học trong HS đã và đang trên đà xuống dốc trầm trọng HS đến lớp với tâm thế thụ động đón nhận, thiếu sự nhạy cảm, thiếu niềm đam mê Vậy làm thế nào để có thể đánh thức tình yêu văn chương vốn đang dần nguội tắt trong lòng để HS chủ động đến với văn và yêu văn? Thiết nghĩ, để làm được điều đó không phải là điều dễ dàng, đòi hỏi GV phải tạo được tâm thế tích cực chủ động để HS tham gia đối thoại

Tạo tâm thế cho HS là việc GV tạo cho HS một tư thế vững vàng, một tâm lí thoải mái, một cảm xúc hứng thú để khám phá văn bản Tâm thế vui vẻ, thoải mái, cởi mở thì HS sẽ hăng hái tham gia các hoạt động học tập: bổ sung câu trả lời của bạn, phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra; nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa hiểu rõ; chủ động vận dụng

Trang 39

kiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới; tập trung chú ý vào những vấn đề đang học; kiên trì hoàn thành những bài tập được giao, không nản trước những tình huống khó khăn

Kiến thức các văn bản truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12 có tính chất cụ thể, rõ ràng, là biểu biện của đặc điểm truyện ngắn Việt Nam hiện đại, vì thế nếu HS không chủ động tiếp nhận tri thức thì không những không nắm được nội dung của từng bài học cụ thể mà còn đánh mất luôn

cả kiến thức nền tảng Việc GV tạo được tâm thế tích cực cho HS sẽ giúp HS

tự khám phám, phát hiện, tiếp cận và giải quyết vấn đề đặt ra trong văn bản

Muốn xây dựng tâm thế tích cực cho HS trong quá trình giảng dạy các văn bản truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình ngữ văn 12, GV cần

tạo ra một môi trường giáo dục cởi mở, thoải mái, phải làm cho HS hứng thú,

phấn khởi khi học tập Sau đây là một số cách tạo tâm thế tích cực, chủ động cho HS để các em tham gia đối thoại:

Thứ nhất là hình thức trò chơi ô chữ Đây là hình thức học tập rất sôi nổi,

HS sẽ hứng thú trả lời câu hỏi hàng ngang để tìm ra đáp án ô chữ hàng dọc cũng

là từ khóa để GV dẫn nhập hoặc củng cố vào văn bản

Thứ hai là phương tiện trực quan sinh động: là hình thức sử dụng tranh

ảnh, phim điện ảnh, băng video, yêu cầu HS nhận thức, kết nối những hình ảnh liên quan đến bài học qua đó tạo sự tò mò, hứng thú, khơi gợi các em đi vào

tìm hiểu hoặc củng cố văn bản Ví dụ: khi dạy bài Vợ chồng A Phủ, GV cho

HS nghe một đoạn nhạc trong bài hát quen thuộc: Bài ca trên núi của Nguyễn Văn Thương sáng tác làm nhạc nền cho bộ phim cùng tên Vợ chồng A Phủ Hay để dẫn dắt HS vào văn bản Vợ Nhặt, GV có thể dẫn lời trên nền nhạc của bài hát Đám cưới về trên đường quê, tạo hứng khởi để các em khám phá tác

phẩm

Trang 40

Thứ ba là sử dụng tình huống có vấn đề: thông qua tình huống có vấn đề,

GV sẽ kích thích khả năng tư duy và xử lí tình huống của HS

Ngoài ra, việc thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS

cũng là cách để GV xây dựng tâm thế tích cực cho người học

Thực tế cho thấy hiệu quả của một giờ dạy được quyết định phần nào ở việc tạo hứng thú cho GV Vì vậy, đòi hỏi người dạy luôn có ý thức đầu tư, đổi mới các hình thức dạy học để tạo tâm thế tích cực chủ động giúp HS cởi mở

hơn để tham gia đối thoại

2.1.3.2 Tôn trọng đối tượng đối thoại

Tôn trọng đối tượng đối thoại là việc thể hiện thái độ biết lắng nghe và tạo điều kiện cho người tham gia đối thoại được bày tỏ những cảm nhận, kiến giải, đánh giá riêng; là không phủ nhận, bác bỏ thẳng thừng ý kiến của họ khiến

họ không có cơ hội được trình bày, bộc bạch quan điểm của bản thân; là thái

độ không quay lưng với những ý kiến trái chiều nhưng hợp lí của người đối thoại Đó chính là biểu hiện của tinh thần dân chủ trong đối thoại mà bất cứ ai khi tham gia đối thoại đều phải hiểu rõ Chỉ có tôn trọng đối tượng đối thoại mới xây dựng được không khí cởi mở, thoải mái, nhẹ nhàng và người đối thoại mới thực sự tự tin và mạnh dạn nói lên tiếng nói cá nhân

Dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12, muốn HS có thể lĩnh hội, thấu cảm hết ý nghĩa, chủ đề, tư tưởng của văn bản thì chỉ có thể thông qua một cuộc đối thoại lớn: giữa GV với HS, HS với HS,

HS với nhà văn Thông qua những cuộc đối thoại đó, bản thân HS sẽ rèn luyện

và nâng cao được cho mình kĩ năng nói, giao tiếp, trình bày, tranh luận và phản biện Bởi khi trình bày ý kiến cá nhân, HS sẽ phải huy động những tri thức liên quan đến vấn đề, kết hợp với cách lập luận để thuyết phục người khác tán đồng với ý kiến mình đưa ra, dù cho đó là ý kiến đồng thuận hay ý kiến trái chiều

Ngày đăng: 01/08/2021, 15:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
2. M. Bakhtin (1992), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư tuyển chọn, dịch), Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: Trường viết văn Nguyễn Du
Năm: 1992
3. M. Bakhtin (1998), Những vấn đề thi pháp của Đôxtôiepxki, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của Đôxtôiepxki
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
4. Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam 1975 – 1995, những đổi mới cơ bản, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975 – 1995, những đổi mới cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Ngữ văn 12, Tập 1, Nxb Giáo dục 6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Ngữ văn 12, Tập 2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 12, Tập 1
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Ngữ văn 12, SGV, Tập 1, 2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 12
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Ngữ văn 12, Nâng cao, Tập 1, 2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 12
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
9. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình SGK lớp 11, 12, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình SGK
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THPT môn văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THPT môn văn
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
11. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn lớp 12, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn lớp 12
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
12. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Dạy và học tích cực, một số phương pháp và kĩ thuật dạy học, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học tích cực, một số phương pháp và kĩ thuật dạy học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2010
13. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Tài liệu bồi dưỡng phát triển năng lực dạy học của giáo viên, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng phát triển năng lực dạy học của giáo viên
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2013
14. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Tài liệu tập huấn Dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Ngữ văn cấp trung học phổ thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn Dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Ngữ văn cấp trung học phổ thông
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2014
15. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Tài liệu hội thảo Xây dựng chương trình giáo dục phổ thông theo định hướng phát triển năng lực học sinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hội thảo Xây dựng chương trình giáo dục phổ thông theo định hướng phát triển năng lực học sinh
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2014
16. Nguyễn Hữu Châu (2005), Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
17. Lê Linh Chi (2009), Đối thoại trong giáo dục hiện đại, Tạp chí Dạy và học ngày nay Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối thoại trong giáo dục hiện đại
Tác giả: Lê Linh Chi
Năm: 2009
18. Sử Khiết Doanh, Trâu Tú Mẫn (2000), Kĩ năng tổ chức lớp, kĩ năng biến hóa trong dạy học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kĩ năng tổ chức lớp, kĩ năng biến hóa trong dạy học
Tác giả: Sử Khiết Doanh, Trâu Tú Mẫn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
19. Phan Huy Dũng (2009), Tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông một góc nhìn, một cách đọc, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông một góc nhìn, một cách đọc
Tác giả: Phan Huy Dũng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
20. Vương Bảo Đại, Điềm Nhã Thanh, Cận Đông Xương, Tào Dương (2009), Kĩ năng dẫn nhập, kĩ năng kết thúc, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kĩ năng dẫn nhập, kĩ năng kết thúc
Tác giả: Vương Bảo Đại, Điềm Nhã Thanh, Cận Đông Xương, Tào Dương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
21. Đỗ Ngọc Đạt (1997), Tiếp cận hiện đại hoạt động dạy học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận hiện đại hoạt động dạy học
Tác giả: Đỗ Ngọc Đạt
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w