1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tích hợp liên môn trong dạy học văn học dân gian ở trường trung học phổ thông

122 45 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tích Hợp Liên Môn Trong Dạy Học Văn Học Dân Gian Ở Trường Trung Học Cơ Sở
Tác giả Bùi Thị Mỹ Linh
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Văn Tứ
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý luận và PPDH Bộ môn Ngữ văn
Thể loại luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Năm xuất bản 2019
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc dạy học các văn bản văn học dân gian có thể tích hợp với kiến thức của những môn học khác như lịch sử, địa lí, giáo dục công dân..., từ đó phát triển nhận thức, hình thành các kĩ nă

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

BÙI THỊ MỸ LINH

TÍCH HỢP LIÊN MÔN TRONG DẠY HỌC VĂN HỌC DÂN GIAN

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGHỆ AN, 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

BÙI THỊ MỸ LINH

TÍCH HỢP LIÊN MÔN TRONG DẠY HỌC VĂN HỌC DÂN GIAN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS Nguyễn Văn

Tứ - người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn sự động viên, giúp đỡ nhiệt tình của giáo viên chủ nhiệm và các thầy cô trong chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn này Tôi xin cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp cùng các em học sinh đã có những quan tâm, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn!

Nam Đàn, ngày 29/06/2019

Tác giả

Bùi Thị Mỹ Linh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi, địa bàn, thời gian khảo sát 2

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Đóng góp của luận văn 4

7 Cấu trúc của luận văn 4

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Những nghiên cứu về dạy học tích hợp liên môn 6

1.1.2 Những nghiên cứu về dạy học tích hợp liên môn trong dạy học văn học dân gian 8

1.2 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 9

1.2.1 Tích hợp và tích hợp liên môn trong dạy học 9

1.2.2 Cơ sở liên môn trong dạy học tích hợp văn học dân gian ở trường trung học cơ sở 17

1.2.3 Bản chất t ch hợp n n tr n dạ học văn học dân gian ở trường trung học cơ sở 21

1.3 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu 25

1.3.1 Văn học dân an tr n chươn trình trun học cơ sở và khả năn t ch hợp liên môn trong dạy học văn bản văn học dân gian 25

1.3.2 Thực trạng việc tích hợp liên môn trong dạy học văn học dân gian ở trường trung học cơ sở tr n địa bàn huyện Đ Lươn , N hệ An 35

Tiểu kết chương 1 43

Trang 5

Chương 2 . NGUYÊN TẮC, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TÍCH HỢP LIÊN MÔN TRONG DẠY HỌC VĂN HỌC DÂN GIAN Ở TRƯỜNG

TRUNG HỌC CƠ SỞ ……… 44

2.1 Những nguyên tắc của việc tích hợp liên môn trong dạy học văn học dân gian ở trường trung học cơ sở 44

2.1.1 Nguyên tắc bám sát mục tiêu dạy học môn Ngữ văn 44

2.1.2 Nguyên tắc đảm bả đặc trưn của môn Ngữ văn 46

2.1.3 Nguyên tắc phù hợp vớ đố tượng học sinh trung học cơ sở 48

2.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi, hiệu quả 48

2.2 Những nội dung tích hợp liên môn trong dạy học văn học dân gian 49

2.2.1 Tích hợp nội dung môn Lịch sử trong dạy học văn học dân gian 49

2.2.2 Tích hợp nội dung môn Địa lí trong dạy học văn học dân gian 52

2.2.3 Tích hợp nội dung môn Giáo dục công dân trong dạy học văn học dân gian 53

2.2.4 Tích hợp các môn học khác (Âm nhạc, Mĩ thuật…) tr n dạy học văn học dân gian 55

2.3 Phương pháp, hình thức tích hợp liên môn trong dạy học văn học dân gian ở trường trung học cơ sở 57

2.3.1 Phươn pháp t ch hợp liên môn trong dạy học văn học dân gian ở trường trung học cơ sở 57

2.3.1.1 Sử dụn phươn pháp so sánh - đối chiếu để tích hợp liên môn trong dạy học văn học dân gian 57

2.3.1.2 Sử dụn phươn pháp phân t ch n ữ liệu để tích hợp liên môn trong dạy học văn học dân gian 58

2.3.1.3 Sử dụn phươn pháp n u vấn đề trong dẫn nhập để tích hợp liên môn trong dạy học văn học dân gian 59

2.3.2 Hình thức tích hợp liên môn trong dạy học văn học dân gian ở trường trung học cơ sở 61

Trang 6

2.3.2.1 Hình thức tích hợp liên môn trong dạy học bà đọc-hiểu văn học dân

gian ở trường trung học cơ sở 61

2.3.2.2 Hình thức tích hợp liên môn trong kiể tra, đánh á kết quả học tập văn học dân gian ở trường trung học cơ sở 61

2.3.2.3 Hình thức tích hợp liên môn trong hoạt động trải nghiệ văn học dân gian ở trường trung học cơ sở 63

Tiểu kết chương 2 64

Chương 3 . THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 65

3.1 Mục đích, yêu cầu thực nghiệm 65

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 65

3.1.2 Yêu cầu thực nghiệm 65

3.2 Đối tượng, địa bàn, thời gian thực nghiệm 65

3.3 Thiết kế giáo án thực nghiệm 66

3.3.1 Bài dạy thứ nhất – Truyện truyền thuyết: Sơn T nh, Thủy Tinh 66

3.3.2 Bài dạy thứ hai – Truyện cổ tích: Cây bút thần 75

3.3.3 Bài dạy thứ ba – Truyện ngụ ngôn : Ếch ngồ đá ếng 85

3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm 95

Tiểu kết chương 3 98

KẾT LUẬN 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

PHỤ LỤC 1

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

- Ngày nay, khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển kéo theo đó xã hội, con người cũng phải thay đổi để thích ứng được với cuộc sống Giáo dục đang đổi mới từ hướng tiếp cận nội dung sang tiếp cận phát triển phẩm chất, năng lực người học Nếu như trước đây giáo viên dạy học sinh “biết cái gì” theo những phương pháp truyền thống thì bây giờ phải dạy học sinh “làm được cái

gì từ sự hiểu biết ấy” với những phương pháp hiện đại để kích thích sự hứng thú cho các em Vì vậy, việc tìm kiếm các hình thức, phương pháp dạy học có hiệu quả để thực hiện mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh là một trong những nhiệm vụ của việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông hiện nay

- Thế giới hiện đại đang bước vào cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 với

sự phát triển mạnh mẽ và đa dạng các ngành khoa học thuộc về khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ và khoa học xã hội nhân văn… Các ngành khoa học được phân hóa theo những nội dung cụ thể và chi tiết, nhưng vẫn có mối quan hệ mật thiết, ràng buộc lẫn nhau, thể hiện đặc trưng liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Chính vì vậy, càng ngày càng có nhiều khoa học liên ngành và việc mỗi ngành khoa học có thể sử dụng những thành tựu của khoa học khác trong quá trình nghiên cứu là một hiện tượng phổ biến, hợp quy luật Cho nên, trong hoạt động giáo dục ở nhà trường phổ thông, việc sử dụng môn học này để phục vụ cho việc cung cấp kiến thức, rèn luyện kỹ năng, phát triển nhân cách học sinh cho các môn khác là điều tất yếu, nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả phát triển phẩm chất, năng lực người học Dạy học tích hợp liên môn trong dạy học nội dung văn học dân gian ở môn Ngữ văn THCS là một cách thức dạy học phù hợp với quy luật

Trang 9

chung nói trên cũng như thực trạng dạy học môn Ngữ văn ở trường trung học

cơ sở hiện nay

- Ở trường THCS, nội dung văn học dân gian chiếm một phần quan trọng trong môn Ngữ văn Trong quá trình giảng dạy, đội ngũ giáo viên đã sử dụng nhiều hình thức, phương pháp dạy học tích cực để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, trong đó có việc sử dụng tích hợp liên môn Việc dạy học các văn bản văn học dân gian có thể tích hợp với kiến thức của những môn học khác như lịch sử, địa lí, giáo dục công dân , từ đó phát triển nhận thức, hình thành các kĩ năng cần thiết cho học sinh Điều đó đã làm cho học sinh đạt được kết quả cao hơn trong việc tiếp nhận kiến thức, rèn luyện kỹ năng, phát triển nhân cách Tuy nhiên, trong bối cảnh đổi mới hiện nay, với sự phát triển của nhiều ngành khoa học, sự phát triển về tâm sinh lý và trình độ học sinh, hoạt động tích hợp ấy chưa đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng dạy học, đáp ứng mục tiêu đổi mới giáo dục phổ thông Việc dạy học tích hợp liên môn cần phải dựa trên những cơ sở lý luận nào, cần phải khắc phục những bất cập gì hiện nay, cần phải thực hiện theo những nguyên tắc, nội dung, phương pháp gì để phát triển phẩm chất, năng lực học sinh, nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học môn Ngữ văn ở trường THCS Xuất phát từ những cơ sở lý luận và yêu cầu của thực tiễn dạy học ở các trường THCS

huyện Đô Lương (Nghệ An), chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “T ch hợp n

n tr n dạ học văn học dân an ở trườn trun học cơ sở” nhằm góp

phần vào việc giải quyết những nhiệm vụ nói trên

2 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi, địa bàn, thời gian khảo sát

2.1 Đố tượn n h n cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động tích hợp liên môn trong dạy học văn học dân gian ở trường THCS

2.2 Phạ v , địa bàn khả sát

Trang 10

Luận văn tìm hiểu, khảo sát hoạt động tích hợp liên môn trong dạy học văn bản văn học dân gian ở các trường THCS trên địa bàn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

Thời gian khảo sát là trong năm học 2018-2019

3 Mục đích nghiên cứu

Luận văn nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học phần văn học dân gian ở trường THCS, qua đó góp phần đổi mới việc dạy học môn Ngữ văn ở trường phổ thông hiện nay

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài bao gồm việc giới thuyết khái niệm tích hợp liên môn, phân tích những cơ sở lý luận của việc tích hợp liên môn trong dạy học văn học dân gian ở trường THCS; khảo sát thực tế dạy học văn học dân gian THCS trên địa bàn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An theo hướng tích hợp liên môn

4.2 Đề xuất những nguyên tắc, nội dung và phương pháp khi dạy học văn học dân gian ở trường THCS theo hướng tích hợp liên môn

4.3 Tiến hành thực nghiệm sư phạm để xem xét tính hiệu quả, khả thi của việc tích hợp liên môn trong dạy học văn học dân gian ở trường THCS

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Nhó phươn pháp n h n cứu ý uận nhằm phân tích, tổng hợp,

khái quát những vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động tích hợp liên môn trong dạy học văn học dân gian Nhóm phương pháp nghiên cứu này bao gồm các phương pháp cụ thể như: Phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu; Phương pháp khái quát hoá các nhận định độc lập

5.2 Nhóm phươn pháp n h n cứu thực t ễn nhằm phân tích, khảo sát,

miêu tả, đánh giá thực trạng về hoạt động tích hợp liên môn trong dạy học văn học dân gian ở các trường THCS huyện Đô Lương (Nghệ An); thăm dò, thực

Trang 11

nghiệm tính cần thiết, khả thi, hiệu quả của các biện pháp tổ chức tích hợp liên môn trong dạy học văn học dân gian

Nhóm phương pháp này bao gồm các phương pháp cụ thể như: Phương pháp quan sát; Phương pháp điều tra; Phương pháp phỏng vấn; Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục; Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động; Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia; Phương pháp thực nghiệm sư phạm

5.3 Phươn pháp thốn k t án học nhằm sử dụng các phép toán để xử

lý các số liệu thu được qua phân tích thực trạng cũng như đánh giá hiệu quả của các biện pháp tổ chức tích hợp liên môn trong dạy học văn học dân gian của hoạt động thực nghiệm sư phạm

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn góp phần tổng kết, làm sáng rõ những cơ sở lí luận của việc dạy học văn học dân gian theo hướng tích hợp liên môn ở trường THCS

- Luận văn sẽ có những kết quả về khảo sát, đánh giá những ưu điểm, hạn chế của hoạt động tích hợp liên môn trong dạy học văn học dân gian tại các trường THCS trên địa bàn huyện Đô Lương (Nghệ An)

- Luận văn đề xuất những nguyên tắc, nội dung và phương pháp khi dạy học văn học dân gian theo hướng tích hợp liên môn, nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học môn Ngữ văn ở trường THCS hiện nay

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được triển khai qua 3 chương :

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu vấn đề và cơ sở khoa học của đề tài Chương 2: Nguyên tắc, nội dung và phương pháp tích hợp liên môn trong việc dạy học văn học dân gian ở trường trung học cơ sở

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Vấn đề tích hợp liên môn đã có từ thời kỳ cổ đại phương Đông trong quan niệm “văn – sử – triết bất phân” của văn hóa Trung Quốc, Ấn Độ Những tác phẩn sử ký của các triều đại phong kiến trước đây đã thể hiện những tri thức, quan niệm về lịch sử, Địa lí, những quan điểm triết học, tôn giáo của tác giả, đồng thời cũng là những tác phẩm có giá trị văn học, đã tạo dựng được những con người, bối cảnh, xã hội cách đây hàng nghìn năm, hàng trăm năm Chính vì vậy, các sử gia, các nhà văn hóa đã tổng kết, khái quát những cách thức về viết sử, tạo dựng hình tượng con người, khung cảnh của

xã hội,… chính là những kết quả nghiên cứu về tính tích hợp trong các môn khoa học xã hội – nhân văn

Trong thế giới hiện đại, cùng với sự phân hóa của các ngành khoa học,

do nhu cầu và triết lý giáo dục của mỗi quốc gia, trong nghiên cứu khoa học nói chung và trong hoạt động giáo dục ở nhà trường nói riêng đã thể hiện vấn

đề tích hợp một cách rõ nét Tiếng Anh ở nhà trường Vương quốc Anh không phải chỉ dạy tiếng mẹ đẻ là tiếng Anh mà còn dạy học văn học và văn hóa của quốc gia Anh, tương đương với các môn học như Tiếng Việt, Văn học, Lịch

sử, Văn hóa,… ở Việt Nam Ở trường phổ thông Nhật Bản, môn Tiếng Nhật đồng thời giảng dạy tiếng Nhật và văn học Nhật, mà không có môn Văn học Nhật như ở Việt Nam dạy học văn học Việt Nam Môn Giáo dục công dân ở Nhật Bản tích hợp giáo dục những tri thức, nhân cách, năng lực cho học sinh

cả về đạo đức người công dân, về trách nhiệm cộng đồng, về luật giao thông, luật bảo vệ môi trường,… Có thể nói, giáo dục Nhật Bản với ba nội dung được giảng dạy trong nhà trường (gồm: Tiếng Nhật, Giáo dục Công dân,

Trang 13

Khoa học) thì vấn đề tích hợp liên môn được thực hiện một cách toàn diện, triệt để

Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, nhiều quốc gia tiên tiến đã ứng dụng, tích hợp những thành quả của công nghệ số vào giảng dạy các môn học xã hội, dạy học tiếng, các môn về kinh tế, luật, văn hóa – nghệ thuật Đồng thời, những yếu tố về văn hóa, lịch sử, nghệ thuật cũng đã được đan xen, tích hợp vào các thành tựu của khoa học - kỹ thuật, vào kiến trúc, quản trị - tài chính,… Chính vì vậy, trong cấu trúc của chương trình giảng dạy các môn học ở nhiều quốc gia trên thế giới, vấn đề tích hợp liên môn là một vấn đề tất yếu Đi kèm với đó là nhiều kết quả nghiên cứu về vấn đề này cũng đã được khẳng định, được các nhà khoa học ở Việt Nam nghiên cứu, phân tích, tiếp thu để áp dụng vào chương trình dạy học trước đây cũng như trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể hiện nay [4]

1.1.1 Những nghiên cứu về dạy học tích hợp liên môn

Qua Dạ học N ữ văn 6 the hướn t ch hợp tác giả Lê A đã nghiên

cứu và chỉ ra ba loại hình tích hợp đó là: ngang, dọc và mở rộng Đặc biệt, khái niệm tích hợp mở rộng được tác giả sử dụng để thay thế cho khái niệm

“tích hợp liên môn” Tác giả đã quan niệm tích hợp mở rộng là “kiểu tích hợp hướng ngoại (tích hợp ngang và tích hợp dọc vẫn là tích hợp trong nội bộ môn Ngữ văn) Trong đó vừa có tích hợp ngang giữa ba bộ phận của môn Ngữ văn (Văn học, Tiếng Việt, Làm văn) vừa có tích hợp dọc (tích hợp nội dung trong chương trình THPT với các phần văn học, tiếng Việt và làm văn ở THCS) Bên cạnh đó còn tích hợp với nhiều bộ môn khoa học như: Âm nhạc, Hội hoạ, Nhiếp ảnh, Điện ảnh cùng các kiến thức đời sống khác để đem lại hiệu quả tối ưu cho bài học Ngữ văn” [1]

Tác giả Nguyễn Khắc Phi đã trình bày một cách hệ thống, toàn diện những vấn đề liên quan đến tích hợp trong sách sử dụng cho môn Ngữ văn

trường THCS: Ngữ văn 6 (Sách giáo viên và sách học sinh) [28]

Trang 14

Tác giả Lê Kim Anh nghiên cứu về tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong dạy học môn Ngữ văn [2] Tác giả Nguyễn Thị Hiên nghiên cứu về thực hiện tích hợp nội môn, liên môn và tích hợp kiến thức đời sống trong dạy học tiếng Việt ở trường trung học phổ thông [13] Tác giả Vũ Thị Thịnh nghiên cứu về tích hợp giáo dục những vấn đề khoa học xã hội – nhân văn trong dạy học Ngữ văn [35]; Tác giả Đỗ Ngọc Thống đề cập đến những vấn đề về xây dựng chương trình và sách giáo khoa THCS môn Ngữ Văn theo nguyên tắc tích hợp [36] và tích hợp trong chương trình giáo dục phổ thông mới [38];…

Đỗ Hương Trà cũng đã nghiên cứu về tích hợp liên môn qua bài viết

“Nghiên cứu dạy học tích hợp liên môn: Những yêu cầu đặt ra trong việc xây dựng, lựa chọn nội dung và tổ chức dạy học” [40], trong đó, tác giả đã có những giải pháp khá thiết thực cho phương pháp dạy học tích hợp liên môn liên quan đến nội dung, tổ chức quy trình dạy học

Tác giả Phan Thị Vân đã từ góc độ môn Lịch sử để nghiên cứu vấn đề tích hợp trong dạy học môn Ngữ văn và môn Lịch sử ở trường THCS trong luận văn thạc sĩ “Tích hợp các môn khoa học xã hội trong việc dạy học Ngữ văn ở trường trung học cơ sở” và đã đăng tải các bài viết: “Tích hợp các môn khoa học xã hội trong dạy học Ngữ văn ở trường trung học cơ sở” [48], “Tích hợp kiến thức Ngữ văn vào dạy học môn Lịch sử ở trường trung học cơ sở” [49]

Bên cạnh đó còn có một số luận văn nghiên cứu về dạy học theo hướng tích hợp liên môn, cụ thể:

- Nguyễn Thị Hà (2018), Dạ học văn ch nh uận trun đạ ở trườn

trun học phổ th n the hướn t ch hợp liên môn, Luận văn Thạc sĩ, Đại học

Vinh

- Lê Nguyễn Kiệt Anh Thư (2016), T ch hợp n n tr n dạ học

N ữ văn ở trườn Trun học phổ th n h ện na (nhìn từ v ệc thực h ện

Trang 15

chươn trình n ữ văn tạ ột số trườn THPT ở Quận 6 Thành phố Hồ Ch Minh), Đại học Vinh [39]

1.1.2 Những nghiên cứu về dạy học tích hợp liên môn trong dạy học văn học dân gian

Tác giả Lỗ Bá Đạt trong bài “Dạy học truyền thuyết theo hướng tiếp cận văn hóa” in ở tạp chí Giáo dục đã chỉ ra một số khó khăn khi dạy học truyền thuyết và đưa ra hướng dạy học truyền thuyết theo hướng tiếp cận văn hóa chủ yếu thông qua các biểu tượng văn hóa, gồm hai hoạt động chủ yếu là:

Tự học tài liệu tham khảo và phân tích tác phẩm theo hướng tiếp cận văn hóa.[9]

Tác giả Nguyễn Văn Tứ đã khai thác việc dạy học tiếng Việt qua văn học dân gian với những phương diện như: câu đố chữ và việc dạy tiếng [42]; nghiên cứu về việc sử dụng ngữ liệu văn học dân gian trong sách giáo khoa Tiếng Việt [43]; phân tích vai trò, vị trí, nội dung và phương pháp vận dụng văn học dân gian với việc dạy học Tiếng Việt ở trường phổ thông [44], hệ thống hóa hệ thống ngữ liệu văn học dân gian trong dạy học tiếng Việt [45];…

Bên cạnh đó cũng có một số luận văn Thạc sĩ nghiên cứu về tích hợp trong dạy học văn học dân gian Đó là:

dân gian, trường Đại học Thái Nguyên

trườn trun học phổ th n the hướn t ch hợp, trường Đại học Vinh

kh a N ữ văn 10 the hướn t ch hợp, Đại học Thái Nguyên

Từ những công trình nghiên cứu trên đây, có thể thấy rằng dạy học tích hợp đã được quan tâm để ứng dụng vào giảng dạy các văn bản văn học dân gian Tuy nhiên các công trình đó mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra khái niệm,

Trang 16

cách thức tiến hành và được thực nghiệm trên một phạm vi cụ thể mà chưa có một công trình nào nghiên cứu lí luận và vận dụng tích hợp liên môn vào việc dạy văn học dân gian ở trường trung học cơ sở

1.2 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

1.2.1 Tích hợp và tích hợp liên môn trong dạy học

1.2.1.1 Khá n ệ t ch hợp

Khái niệm “tích hợp” (Integration) có nguồn gốc từ tiếng Latinh; Integration có nghĩa là: xác lập lại cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên

cơ sở những bộ phận riêng lẻ

Theo Từ đ ển Anh – Anh (Oxford Advanced Learner’s Dictionary),

Integrate được hiểu là kết hợp những phần, những bộ phận với nhau trong một tổng thể Những phần, những bộ phận này có thể khác nhau nhưng tích hợp với nhau

Từ đ ển T ến V ệt do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa tích hợp là: “lắp

ráp, nối kết các thành phần của một hệ thống theo quan điểm tạo nên một hệ thống toàn bộ” [30]

Theo Đạ từ đ ển t ến V ệt thì “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt

động, chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng Tích hợp có nghĩa là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp” [54]

Trong Dự thảo chương trình THPT môn Ngữ văn năm 2002 của Bộ GD

& ĐT , khái niệm tích hợp được hiểu là “sự phối hợp các tri thức gần gũi có quan hệ mật thiết với nhau trong thực tiễn để chúng hỗ trợ và tác động vào nhau, phối hợp với nhau nhằm tạo nên kết quả tổng hợp nhanh chóng và vững chắc” [5]

Theo Từ đ ển G á dục học tích hợp là “hành động liên kết các đối

tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch giảng dạy”[10] Kế hoạch giảng dạy ở đây cần được hiểu trong một phạm vi rộng, từ kế hoạch giảng dạy của một

Trang 17

chương trình đến kế hoạch giảng dạy của một môn học, kế hoạch giảng dạy của bài học Cũng theo các tác giả từ điển này thì có hai kiểu tích hợp là tích hợp dọc và tích hợp ngang với nhiều nội dung tích hợp khác nhau

Nội hàm khoa học khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là

sự hợp nhất hay là sự thể hóa đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất trên những nét bản chất nhất của các thành phần đối tượng Hiểu như vậy, tích hợp có hai tính chất cơ bản, liên hệ mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau đó là tính liên kết và tính toàn vẹn:

- Liên kết phải tạo thành một thực thể toàn vẹn, không có sự phân chia giữa các thành phần kết hợp

- Tính toàn vẹn dựa trên sự thống nhất nội tại các thành phần liên kết, chứ không phải sự sắp đặt các thành phần bên cạnh nhau

Như vậy, trong dạy học, tích hợp có thể xem như sự liên kết các đối tượng giảng dạy, học tập trong cùng một kế hoạch hoạt động đảm bảo sự thống nhất, hài hòa, trọn vẹn của hệ thống dạy học nhằm đạt mục tiêu dạy học tốt nhất

1.2.1.2 Dạ học t ch hợp

Tích hợp là một trong những quan điểm đã trở thành xu thế phát triển chương trình giáo dục phổ thông ở nhiều nước trên thế giới Ở nước ta, từ thập niên 90 của thế kỉ XX trở lại đây, vấn đề xây dựng môn học tích hợp với những mức độ khác nhau mới thực sự được tập trung nghiên cứu, thực nghiệm và áp dụng vào nhà trường phổ thông ở các bậc học Thực tiễn đã chứng tỏ, việc thực hiện quan điểm tích hợp sẽ làm tăng hiệu quả của hoạt động giáo dục

Theo Xavier Roegiers, “Sư phạm tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập góp phần hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho học sinh, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập tương lai hoặc nhằm hòa nhập học sinh vào cuộc sống lao động Như vậy,

Trang 18

sư phạm tích hợp nhằm làm cho quá trình học tập có ý nghĩa” [53, tr.11] Tích hợp không chỉ nhằm mục đích ngắn hạn là HS có thể làm được bài kiểm tra

có thể áp dụng được những kiến thức mà mình đã được học vào thực tế

Để việc tích hợp có hiệu quả cao nên có sự phối hợp đồng bộ giữa chương trình các môn học và vận dụng linh hoạt các phương pháp tích hợp với mỗi lĩnh vực kiến thức cần đạt được Bên cạnh đó tăng cường các giờ học thực hành, hoạt động ngoại khóa theo chủ đề, giảm giờ dạy lý thuyết của giáo viên, tăng thời lượng học tập của HS Xây dựng hệ thống bài tập mở, bài tập gắn với thực tiễn, bài tập có nội dung vận dụng kiến thức liên môn từ đó bồi dưỡng năng lực khoa học và kĩ năng sống cho HS, tạo hứng thú học tập và động lực cho việc học

Vốn tri thức của mỗi người là sự tích hợp các lĩnh vực khoa học, GS

TS Đinh Quang Báo – thường trực ban chỉ đạo đề án đổi mới chương trình và

SGK giáo dục phổ thông sau năm 2015 cho rằng: “Dạy học tích hợp đã trở

thành nguyên lí cơ bản của giáo dục hiện đại, phần nội dung môn học trong

mô hình cấu trúc sách giáo khoa không nên trình bày đơn vị bài học theo tiết học, mà nên theo chủ đề nội dung ứng với các tình huống thích hợp Cố gắng

để các chủ đề này được sắp xếp làm sao không phá vỡ quá nhiều logic nội tại của nội dung khoa học mỗi môn học, phân môn trong sách giáo khoa” [3]

Trang 19

Mục đích của dạy học tích hợp là để hình thành và phát triển năng lực học sinh, giúp học sinh vận dụng để giải quyết những vấn đề trong thực tiễn của cuộc sống Bản chất của năng lực là khả năng của chủ thể kết hợp một cách linh hoạt, có tổ chức hợp lý các kiến thức, kỹ năng với thái độ, giá trị, động cơ, nhằm đáp ứng những yêu cầu phức hợp của một hoạt động, bảo đảm cho hoạt động đó đạt kết quả tốt đẹp trong một bối cảnh (tình huống) nhất định; và phương pháp tạo ra năng lực đó chính là dạy học tích hợp Dạy học tích hợp có những đặc điểm sau đây:

- Thiết lập các mối quan hệ theo một logic nhất định những kiến thức,

kỹ năng khác nhau để thực hiện một hoạt động phức hợp

- Lựa chọn những thông tin, kiến thức, kỹ năng cần cho học sinh thực hiện được các hoạt động thiết thực trong các tình huống học tập, đời sống hàng ngày, làm cho học sinh hòa nhập vào thế giới cuộc sống

- Làm cho quá trình học tập mang tính mục đích rõ rệt

- Giáo viên không đặt ưu tiên truyền đạt kiến thức, thông tin đơn lẻ, mà phải hình thành ở học sinh năng lực tìm kiếm, quản lý, tổ chức sử dụng kiến thức để giải quyết vấn đề trong tình huống có ý nghĩa

- Khắc phục được thói quen truyền đạt và tiếp thu kiến thức, kỹ năng rời rạc làm cho con người trở nên "mù chữ chức năng", nghĩa là có thể được nhồi nhét nhiều thông tin, nhưng không dùng được Như vậy, dạy học tích hợp là cải cách giảm tải kiến thức không thực sự có giá trị sử dụng, để có điều kiện tăng tải kiến thức có ích Để lựa chọn nội dung kiến thức đưa vào chương trình các môn học trước hết phải trả lời kiến thức nào cần và có thể làm cho học sinh biết huy động vào các tình huống có ý nghĩa Biểu hiện của năng lực là biết sử dụng các nội dung và các kỹ năng trong một tình huống có

ý nghĩa, chứ không ở tiếp thu lượng tri thức rời rạc [3]

Qua hoạt động tích hợp trong một tiết lên lớp, học sinh được rèn luyện thói quen tư duy, nhận thức vấn đề một cách có hệ thống và lôgic, đồng thời

Trang 20

thấy được mối quan hệ biện chứng giữa các kiến thức được học trong chương trình

Giáo dục tích hợp được quán triệt khi thiết kế và thực hiện các yếu tố cấu thành quá trình với các mức độ khác nhau dựa trên logic phát triển năng lực ở học sinh Tích hợp kết hợp với phân hóa sâu dần để có một chương trình giảm số môn học bắt buộc, tăng các môn học, chủ đề tự chọn, nhưng học sinh lại có được nguồn tri thức rộng, gắn với thực tiễn và được rèn luyện kĩ năng, chuẩn bị tâm thế hướng nghiệp, hướng đến phát triển trình độ cao

Tích hợp trong dạy học là một bước tiến quan trọng trong khoa học giáo dục, từ hướng tiếp cận nội dung chuyển sang hướng tiếp cận năng lực người học Dạy học tích hợp sẽ hình thành cho HS những năng lực giải quyết hiệu quả các tình huống trong thực tiễn dựa trên sự huy động những kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau mà HS đã tích lũy Như vậy, dạy học tích hợp trong nhà trường cũng phải gắn với các tình huống của cuộc sống mà sau này HS có thể phải đối mặt

1.2.1.2 Dạ học t ch hợp n n

Khi tiến hành tích hợp trong dạy học, chúng ta không dừng lại ở việc xem xét, đánh giá vai trò của từng môn học riêng rẽ mà phải nhìn nhận trong quan hệ tương tác giữa các môn học Về phương diện này D’hainaut đã chỉ ra nhiều hình thức tích hợp như nội môn, đa môn, liên môn, xuyên môn Giữa

những hình thức ấy có sự khác nhau cơ bản Trong khi T ch hợp nộ n là

tích hợp trong một môn học Ví dụ: Tích hợp Đọc văn - Làm văn - Tiếng Việt

trong dạy học Ngữ văn T ch hợp đa n là là dạng liên kết có chủ đích giữa

các môn học riêng biệt và trong từng môn bởi các chủ đề hay các vấn đề chung Nhiều môn học đó có thể là: Ngữ văn, Địa lí, Lịch sử, Giáo dục công dân, nghệ thuật và các môn khác nữa Khi HS học một vấn đề nào đó thì đồng thời các em cũng được tiếp cận tri thức từ nhiều bộ môn khác nhau Với hình thức tích hợp đa môn này, GV không cần phải thay đổi nhiều về nội dung

Trang 21

giảng dạy bộ môn của mình mà HS vẫn có thể kết nối được kiến thức từ nhiều

bộ môn khác nhau để giải quyết vấn đề; T ch hợp xu n n có được xuất

phát từ cách tiếp cận những vấn đề từ cuộc sống và có ý nghĩa đối với HS mà không đi từ những khoa học tương ứng với môn học, từ đó xây dựng thành

các môn học mới khác với môn học truyền thống Thì t ch hợp n n là

hình thức tích hợp mà ở đó, các môn học được liên hợp với nhau và giữa chúng có những chủ đề, những khái niệm, những ý tưởng lớn chung

Việc định nghĩa chương trình tích hợp đã là đề tài bàn luận từ đầu thế kỉ

XXI, các nhà lí thuyết đã đưa ra ba loại hoạt động tích hợp cơ bản: tích hợp

đa n, t ch hợp liên môn và tích hợp xuyên môn

Tiếp cận tích hợp đa môn tập trung trước hết vào các môn học Các môn liên quan với nhau có chung một nhận định hướng về nội dung và phương pháp dạy học nhưng mỗi môn lại có chương trình riêng Tích hợp đa môn được thực hiện theo cách tổ chức các chuẩn kiến thức từ các môn học, xoay quanh một chủ đề, đề tài, dự án tạo điều kiện cho người học vận dụng tổng hợp các kiến thức của các môn học có liên quan Trong cách tiếp cận tích hợp xuyên môn, giáo viên tổ chức chương trình học tập xoay quanh các vấn

đề và quan tâm của người học

Theo cách tiếp cận tích hợp liên môn, giáo viên tổ chức chương trình học tập xoay quanh các nội dung học tập chung: các chủ đề, các khái niệm và

kĩ năng liên ngành, liên môn Tích hợp liên môn còn được hiểu như phương

án, trong đó nhiều môn học liên quan được kết lại thành một môn học mới với

hệ thống những chủ đề nhất định, xuyên suốt qua nhiều cấp lớp Tích hợp liên môn sẽ tạo ra những kết nối rõ rệt giữa các môn học, nhằm tạo thuận lợi cho việc chiếm lĩnh tri thức và kĩ năng tổng hợp, phát triển nhân cách cho HS Những môn học khác nhau đó có thể là: Ngữ Văn - Lịch Sử - Địa lí - Giáo dục công dân hay Toán - Vật Lý - Hoá học - Công nghệ…

Trang 22

Dạy học liên môn là phải xác định các nội dung kiến thức liên quan đến hai hay nhiều môn học để dạy học, tránh việc học sinh phải học lại nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau Trường hợp nội dung kiến thức có tính liên môn cao hơn thì sẽ tách ra thành các chủ đề liên môn để

tổ chức dạy học riêng vào một thời điểm phù hợp, song song với quá trình dạy học các bộ môn liên quan Quan điểm tích hợp này sẽ thiết lập được những giờ dạy học mới bằng cách liên kết một số môn học với nhau thành một chủ

đề mới nhưng vẫn có phần mang tên riêng của từng môn học Tức là tích hợp không làm mất đi bản chất của môn học đặc thù Đặc trưng của liên môn là một tổng thể các thành phần có mối liên hệ và ảnh hưởng qua lại với nhau Do vậy, để lựa chọn và xây dựng được nội dung bài học trong dạy học tích hợp liên môn cần thấy được sự phát triển các kiến thức thuộc chủ đề trong một môn học cũng như mối quan hệ về chủ đề giữa các môn học khác nhau

Không phải bất kì chủ đề nào cũng có thể thực hiện dạy học tích hợp liên môn Cần tổ chức dạy học tích hợp liên môn với các chủ đề gắn với thực tiễn, gắn với nhu cầu người học Đối với môn học, mô hình xương cá (Hình 1.1) thể hiện quan hệ giữa kiến thức của một môn học (trục chính) với kiến thức trong chủ đề của dạy học tích hợp liên môn (các nhánh rẽ)

Hình 1.1 Sơ đồ xươn cá

Đối với các môn học khác nhau, mối quan hệ giữa các môn học trong chủ đề được hình dung qua sơ đồ mạng nhện (Hình 1.2) Như vậy, nội dung các môn học vẫn được phát triển riêng rẽ để đảm bảo tính hệ thống, mặt khác, vẫn thực hiện được sự liên kết giữa các môn học khác nhau [40]

Trang 23

đề phức hợp mà nó không thể giải quyết bởi duy nhất một môn học

Mức độ thứ hai: Liên môn có sự hợp tác của các đại diện của các môn học để việc tích hợp của các kiến thức của các môn học có thể diễn ra Sự tương tác của các môn học khác nhau xác định quy chiếu của các kiến thức,

kỹ năng thuộc các môn học khác nhau trong tiến trình giải quyết vấn đề

Mức độ thứ ba: Kết quả đạt được của sự tích hợp và sự hợp tác được thể hiện dưới dạng tổng hợp Đó là sự hội tụ những kiến thức và phương pháp của các môn học và những cố gắng của sự hợp tác Ba mức độ tích hợp, hợp tác và tổng hợp tạo trong dạy học tích hợp liên môn bổ sung và củng cố lẫn nhau

Dựa vào mục tiêu hướng tới của bài học để lựa chọn mức độ tích hợp phù hợp nhất nhằm mang lại hiệu quả nhất Tích hợp như thế nào trong chương trình cho phù hợp tránh tình trạng những vấn đề không cần thiết cũng

cố ép nó vào để tích hợp Đây là mục đích mà chúng tôi triển khai quan điểm dạy học tích hợp liên môn trong phạm vi đề tài này: tích hợp Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân, Âm nhạc, Mĩ thuật… vào dạy học văn học dân gian của

môn Ngữ văn ở trường THCS

Trang 24

1.2.2 Cơ sở liên môn trong dạy học tích hợp văn học dân gian ở trường trung học cơ sở

1.2.2.1 Cơ sở tr ết học của v ệc t ch hợp n n tr n dạ học văn

học dân an ở trườn trun học cơ sở

Triết học biện chứng khẳng định tính thống nhất và mối quan hệ mật thiết, phụ thuộc lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Các sự vật, hiện tượng của con người, tự nhiên, xã hội dù có đa dạng, phong phú, có khác nhau bao nhiêu thì về bản chất chúng chỉ là những dạng khác nhau của vật chất, đều có những mối liên hệ trực tiếp, gián tiếp với nhau Nhờ có mối quan hệ đó mà các sự vật, hiện tượng của thế giới không tồn tại biệt lập, tách rời nhau mà tồn tại trong sự tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau theo những quan hệ xác định Do vậy, khi chúng ta nhận thức, tìm hiểu

về một đối tượng, một sự vật nào đó thì cần phải tìm hiểu những đối tượng, sự vật liên quan để làm rõ hơn bản chất của đối tượng cần nhận thức bởi sự thay đổi của sự vật, hiện tượng này có thể bắt nguồn từ sự thay đổi của sự vật, hiện tượng khác và ngược lại, đồng thời nó sẽ ảnh hưởng đến một sự vật, hiện tượng khác nữa Vì vậy, để nhận thức đúng về một vấn đề chúng ta cần đặt chúng trong mối liên hệ giữa các bộ phận, các yếu tố, các mặt của chính sự vật, hiện tượng đó tránh xem xét sự vật một cách đơn lẻ, phiến diện rồi vội vàng kết luận bản chất và quy luật của chúng

Các môn học trong chương trình giáo dục phổ thông nhất là trong môn Ngữ văn đều có mối quan hệ biện chứng nói trên Câu “văn – sử - triết bất phân” được dùng để chỉ mối quan hệ giữa các bộ môn khoa học xã hội, trong

đó kiến thức của các môn có sự liên hệ với nhau Khi giảng dạy về một tác phẩm, một tác giả, một giai đoạn, một trào lưu văn học…chúng ta cũng có thể liên hệ mở rộng tới những kiến thức về lịch sử, địa lí, giáo dục công dân, văn hóa, hội họa, điện ảnh, âm nhạc…để làm rõ hơn những giá trị của hiện tượng văn học đó Kiến thức của các môn học có thể bổ sung, hỗ trợ cho nhau khiến

Trang 25

cho việc tiếp cận đối tượng trở nên cụ thể, rõ ràng, sống động hơn Học sinh khi tiếp cận, muốn hiểu được một tác phẩm văn học, trước hết phải tìm hiểu được hoàn cảnh sáng tác, hoàn cảnh lịch sử ra đời của tác phẩm Những giai đoạn của văn học Việt Nam đều gắn liền với những giai đoạn lịch sử của đất nước chính vì vậy trong những tác phẩm văn chương luôn phản ánh đầy đủ những nét về văn hóa, xã hội, chính trị của giai đoạn mà nó ra đời Khi dạy

văn bản Sự t ch Hồ Gươ bên cạnh việc giúp cho HS hiểu được nguồn gốc

tên gọi của Hồ Gươm (Hồ Hoàn Kiếm) thì cũng phải giới thiệu cho HS về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh do Lê Lợi lãnh đạo Tích hợp liên môn trong dạy học môn Ngữ văn làm cho HS hiểu được sự phát triển, mối liên hệ giữa văn học với những môn học, lĩnh vực khác từ đó hình thành cho các em những kiến thức, phẩm chất, năng lực để giải quyết những vấn đề trong cuộc sống

Như vậy, triết học duy vật biện chứng là cơ sở lý luận quan trọng của việc dạy học tích hợp liên môn trong môn Ngữ văn Tuy nhiên, GV phải biết tích hợp vào bài dạy của mình những kiến thức cần thiết, tránh việc tích hợp quá nhiều dẫn đến việc HS không biết đâu là nội dung chính của bài học mà

cứ đi theo những thông tin phụ được tích hợp thêm vào

1.2.2.2 Cơ sở á dục học của v ệc t ch hợp n n tr n dạ học văn học dân an ở trườn trun học cơ sở

Chương trình giáo dục phổ thông mới được xây dựng trên nguyên tắc tích hợp và phân hóa Ở tiểu học, việc tích hợp được thực hiện ở mức đơn giản và toàn diện là tìm hiểu tự nhiên và tìm hiểu xã hội Ở bậc THCS thì tích hợp ở các lĩnh vực chủ chốt là các môn khoa học xã hội: Địa lí, Lịch sử, Giáo dục công dân và các môn khoa học tự nhiên: Vật lý, Hóa học, Sinh học…Ở THPT, việc tích hợp liên môn yêu cầu một trình độ cao hơn về năng lực so sánh, liên hệ, tổng hợp, khái quát, đánh giá Đây cũng là xu hướng chung trong chương trình giáo dục phổ thông của nhiều nước mà chúng ta học tập,

Trang 26

chọn lọc và kế thừa trong việc hình thành các nội dung và môn học mới phù hợp với yêu cầu của xã hội hiện nay

Khoa học giáo dục cũng đã chỉ ra rằng, khi chúng ta dạy học môn Ngữ văn theo hướng tích hợp liên môn sẽ làm cho quá trình học tập xác định rõ mục tiêu, phân biệt được những vấn đề trọng tâm và cốt yếu, đạt được chất lượng, hiệu quả cao hơn; làm cho HS biết vận dụng kiến thức đã học trong việc xử lý các tình huống khác nhau, thực hiện tốt việc trải nghiệm cuộc sống liên quan đến văn học; đặt kiến thức Ngữ văn trong các mối quan hệ với các kiến thức khác Kiến thức, kỹ năng, thái độ được giáo dục thông qua dạy học văn học dân gian cũng hướng tới mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực người học như các môn học khác Chính vì thế, phải đặt mục tiêu giáo dục môn Ngữ văn nói chung và mục tiêu dạy học văn học dân gian nói riêng trong mối quan hệ mật thiết, hữu cơ với mục tiêu giáo dục của các môn học khác trong nhà trường Đây là cơ sở giáo dục học mà người dạy môn Ngữ văn cần phải nhận thức, hiểu đúng khi thực hiện tích hợp liên môn trong dạy học văn học dân gian ở trường THCS

1.2.2.3 Cơ sở tâ ý học của v ệc t ch hợp n n tr n dạ học văn học dân an ở trườn trun học cơ sở

Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người thông qua chủ thể, tâm lý người có bản chất xã hội, lịch sử

Tâm lý là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não, thông qua lăng kính chủ quan của mỗi cá nhân Tâm lý người là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Tâm lý người có cơ sở tự nhiên là não và các giác quan, có nguồn gốc xã hội là hiện thực khách quan của xã hội loài người và được

“chứa đựng” trong kinh nghiệm, vốn sống, thái độ…của chủ thể

Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý gồm: nhận thức, tình cảm và hành động Hoạt động của nhận thức là phản ánh hiện thực

Trang 27

khách quan Dựa vào tính chất phản ánh có thể chia toàn bộ quá trình nhận thức thành hai cấp độ, đó là: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính Trong

đó, nhận thức cảm tính bao gồm cảm giác và tri giác, phản ánh những cái bên ngoài, cụ thể, những sự vật và hiện tượng trực tiếp tác động vào các giác quan của con người Nhận thức lý tính bao gồm tư duy và tưởng tượng, phản ánh những thuộc tính bên trong, những mối liên hệ bản chất của sự vật, hiện tượng Bản chất của quá trình học tập chính là quá trình nhận thức Chính vì thế nhận thức có mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động học tập Khi nhận thức, đánh giá một sự vật, hiện tượng nào đó, con người sẽ có sự liên tưởng, so sánh, đối chiếu về những điểm tương đồng và khác biệt giữa cái đã biết và cái chưa biết Chính quá trình này khiến cho nhận thức của HS về những sự vật, hiện tượng mới được diễn ra nhanh, hiệu quả và chính xác hơn

Trong quá trình tiếp nhận những tri thức mới, HS sẽ so sánh, đối chiếu với những tri thức đã học trước đó hoặc đã được dạy trong các môn học khác Điều này sẽ khiến HS có hứng thú với việc học hơn, bởi các em đã biết được những kiến thức đó và vận dụng lại cho một môn học khác, nội dung khác Chính vì thế, trong cấu trúc chương trình GD nói chung và chương trình môn Ngữ văn ở trường phổ thông nói riêng luôn được đặt trong mối quan hệ kết nối theo một trục nhất định Cho nên, GV phải là người biết vận dụng qui luật này để có thể tích hợp được những kiến thức liên môn vào trong bài giảng của mình để HS không những học văn mà còn biết thêm nhiều kiến thức của các môn học khác

1.2.2.4 Cơ sở n kết hệ thốn ữa các n học, nộ dun dạ học vớ phần văn học dân an ở trườn trun học cơ sở

Trong chương trình giáo dục ở trường phổ thông nói chung và ở trường THCS nói riêng, mỗi môn học, nội dung dạy học đều có một mục tiêu, nhiệm

vụ, vị trí riêng trong chương trình giáo dục ở mỗi môn học, lớp học

Trang 28

Tuy nhiên, với mục tiêu chung của các môn học và của các lớp học ở trường THCS là nhằm phát triển những phẩm chất, năng lực cho HS nên các môn học đều có mối liên kết hệ thống với nhau Trong chương trình dạy học ở trường THCS, kiến thức của các môn Toán – Lý – Hóa đều có liên hệ, liên kết với nhau; các môn Hóa – Sinh – Kỹ thuật công nghiệp có mối liên hệ, tương quan với nhau; các môn Ngữ văn – Lịch sử - Địa lí – Giáo dục công dân cũng

có liên hệ, quan hệ mật thiết với nhau Cấu trúc của chương trình dạy học tạo điều kiện cho HS có thể sử dụng kiến thức của môn học này để học các môn học khác và ngược lại Ví dụ, những kiến thức về từ Hán - Việt sẽ giúp cho

HS hiểu thêm những tri thức về ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc đối với Việt Nam trong môn Lịch sử; những kiến thức về Địa lí, về phong tục tập quán văn hóa trong môn Địa lí sẽ làm cho HS học tốt hơn về các làn điệu dân

ca, quan họ, phường vải,…

Mặt khác, các kiến thức và kỹ năng trong một môn học cũng có mối

liên hệ với trong một môn học Học Tru ện K ều của Nguyễn Du không thể

không vận dụng những kiến thức của văn học dân gian để tìm hiểu những câu

tập Kiều, tìm hiểu chất liệu dân gian trong Tru ện K ều Trong môn Tiếng

Việt, HS khi học về ngữ pháp không thể không vận dụng những kiến thức về

từ vựng – ngữ nghĩa và ngược lại

1.2.3 Bản chất tích hợp liên môn trong dạy học văn học dân gian ở trường trung học cơ sở

1.2.3.1 Vị tr , tầ quan trọn của v ệc t ch hợp n n tr n dạ học văn học dân an ở trườn trun học cơ sở

- Tác dụng giáo dục kiến thức, kỹ năng, thái độ của các môn học Khi dạy học tích hợp liên môn bên cạnh việc đáp ứng được mục tiêu bài học của môn Ngữ văn về kiến thức, kỹ năng, thái độ thì còn giúp HS củng cố, hình thành, mở rộng thêm những mục tiêu của các môn học khác được tích hợp

Trang 29

cùng Điều này giúp HS tiếp thu được những kiến thức cần thiết đồng thời có thể áp dụng được những kiến thức ấy vào thực tế cuộc sống

- VHDG được sáng tác bởi nhân dân lao động, đó là những kinh nghiệm họ đúc kết được do quan sát trong quá trình lao động, sản xuất, đồng thời những tác phẩm đó thể hiện niềm tin, ước mơ của họ về cuộc sống cho nên thiếu tính khoa học Việc tích hợp liên môn sẽ đem đến cho HS những thông tin đã được chứng minh, nghiên cứu một cách khoa học, chính xác nhất giúp các em có cái nhìn khoa học hơn về vấn đề

- Dạy học tích hợp là một trong những xu thế dạy học hiện đại hiện đang được quan tâm nghiên cứu và áp dụng vào nhà trường ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam VHDG có vị trí quan trọng trong nền văn học Việt Nam chính vì vậy cần tích hợp liên môn vào dạy học VHDG để tạo được

sự hứng thú của HS, biến giờ học trở nên hấp dẫn đồng thời giúp HS tiếp nhận được nội dung, kiến thức, kĩ năng, năng lực, phẩm chất cần thiết để có thể ứng dụng vào cuộc sống

- Sử dụng tích hợp liên môn trong dạy học VHDG ở trường THCS nhằm hướng tới mục tiêu chung là giáo dục, phẩm chất, năng lực của học sinh Chính vì vậy, việc tích hợp liên môn cần có sự thống nhất về nội dung, chủ đề bên cạnh đó còn phải lấy HS làm trung tâm của quá trình dạy học để

HS tích cực, chủ động, sáng tạo

1.2.3.2 Nhữn n học, nộ dun dạ học có thể t ch hợp và dạ học văn học dân an

- Tích hợp giữa các môn học: Văn và Lịch sử, Văn và giáo dục công dân, Văn và Địa lí… Trong chương trình phổ thông, các môn học thuộc môn khoa học xã hội sẽ bao gồm: Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân Chính vì vậy, giữa các môn học này luôn có mỗi liên hệ, liên kết với nhau và việc tích hợp liên môn giữa các môn học này là điều hoàn toàn có thể Ví dụ,

khi GV dạy một tác phẩm VHDG như bài C n Rồn Cháu T n bên cạnh

Trang 30

những kiến thức, nội dung văn học của tác phẩm thì GV có thể cung cấp thêm cho HS những kiến thức về lịch sử thời kỳ dựng nước, giữ nước của các vua Hùng, kiến thức Địa lí về vùng đất Phú Thọ hay kiến thức GDCD sự tự hào,

tự tôn về nguồn gốc của dân tộc…Bên cạnh đó, quan niệm “văn –sử - triết bất phân” cũng nói lên được mối liên hệ giữa các bộ môn này đã có từ rất lâu và ngày nay chúng ta vẫn nên thực hiện để đảm bảo được sự liên hệ về bản chất của các môn đồng thời cũng đảm bảo được chất lượng của môn học

- Tích hợp dạy học văn hóa, mĩ thuật, âm nhạc trong dạy học văn học dân gian… VHDG là những sáng tác của nhân dân lao động, được thể hiện bằng hình thức diễn xướng nên nó gắn liền với văn hóa dân gian, có vần, có điệu cho dễ nhớ, dễ lưu truyền Các tác phẩm VHDG đều mang nét đặc trưng

về văn hóa, phong tục tập quán tại nơi nó được ra đời và đi qua Chính vì vậy, khi dạy VHDG GV nên tích hợp các kiến thức về văn hóa, Địa lí, lịch sử,

âm nhạc, hội họa để HS hiểu rõ hơn về những chi tiết trong tác phẩm mà có thể bây giờ không còn tồn tại nữa

- Tích hợp giáo dục công dân, giáo dục tình yêu quê hương, đất nước, tình cảm gia đình, phong cách ứng xử trong cuộc sống,… trong dạy học VHDG Bên cạnh giá trị là những tác phẩm nghệ thuật thì VHDG còn là kho tàng triết lý, kinh nghiệm sống, kinh nghiệm lao động sản xuất, cách ứng xử trong đời sống…của người dân lao động Người dân đã đúc kết những cái hay, cái đẹp, những kinh nghiệm vào trong những tác phẩm VHDG để có thể trao đổi tình cảm, tâm sự cũng như để khuyên răn, dạy bảo, truyền thụ lại kinh nghiệm cho thế hệ sau Trong quá trình dạy học VHDG, GV nên dạy cho HS cách ứng xử, giao tiếp với những người xung quanh đồng thời đưa cho HS những kinh nghiệm, kiến thức của dân gian để có thể vận dụng vào cuộc sống hàng ngày

Trang 31

1.2.3.3 Một số vấn đề về hình thức, phươn pháp và đ ều k ện đả bả cho v ệc t ch hợp n n tr n dạ học văn học dân an

- Phương pháp tích hợp thông qua dẫn nhập bài học, so sánh – đối chiếu, sử dụng ngữ liệu

Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú

ý tích cực hóa HS về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn Việc tích hợp liên môn trong dạy học VHDG không đơn thuần là đưa nội dung, kiến thức của những môn học khác vào nội dung môn Ngữ văn một cách tùy tiện mà nó cần phải có phương pháp Chính việc áp dụng những phương pháp đó khiến cho HS thấy hứng thú, quan tâm đến vấn đề của môn học đồng thời ghi nhớ

và vận dụng được vào thực tiễn cuộc sống Những phương pháp được dùng khi tích hợp liên môn trong dạy học VHDG mà chúng tôi đưa ra trong luận văn này là: tích hợp thông qua dẫn nhập bài học, so sánh – đối chiếu và sử dụng ngữ liệu

- Hình thức tích hợp: dạy học bài đọc-hiểu, kiểm tra đánh giá, hoạt động trải nghiệm

Việc dạy học VHDG theo hướng tích hợp liên môn bên cạnh phương pháp thì còn cần tập trung vào những hình thức tích hợp để đạt được hiệu quả cao trong hoạt động dạy và học Tích hợp phải hợp lí, GV chỉ nên tích hợp những nội dung cần thiết theo chủ đề của bài học tránh lan man, không cần thiết Bên cạnh đó việc tích hợp liên môn trong dạy học VHDG phải là một quá trình xuyên suốt từ bài mới, hoạt động trải nghiệm đến hoạt động kiểm tra đánh giá Như vậy, HS mới hiểu sâu được nội dung học có thể áp dụng được vào thực tiễn đồng thời GV cũng kiểm tra được mức độ hiệu quả của việc tích hợp

- Điều kiện đảm bảo cho việc tích hợp liên môn trong dạy học VHDG

Trang 32

Việc tích hợp liên môn trong dạy học VHDG cũng cần có những điều kiện đảm bảo để đạt được hiệu quả trong hoạt động dạy và học Những điều kiện đó là:

+ Xây dựng chủ dề tích hợp liên môn trong dạy học VHDG Trong VHDG có rất nhiều nội dung kiến thức mà GV có thể tích hợp được với các môn học khác Nhưng việc tích hợp không thể quá nhiều dẫn đến tình trạng thừa những thông tin không cần thiết, HS khó theo dõi, mất tập trung với nội dung chính, thiếu thời gian dạy và học Chính vì vậy để đảm bảo cho việc tích hợp liên môn thì cần phải xây dựng chủ đề tích hợp liên môn đáp ứng được mục tiêu bài học về kiến thức, kỹ năng, thái độ

+ Sử dụng chính xác kiến thức của các môn học liên môn đồng thời phải có sự cập nhật những thay đổi của sự kiện, số liệu hoặc những thông tin mang tính thời sự

+ Sử dụng phù hợp với bài học, không lạm dụng những kiến thức của các môn học liên môn làm mất đi mục tiêu, nội dung dạy học môn Ngữ văn

+ Không biến giờ Ngữ văn thành giờ học Lịch sử, Địa lí, GDCD, Mĩ thuật, Âm nhạc, sử dụng kiến thức liên môn đúng mục đích, có giới hạn, tạo nên sự thống nhất, đồng bộ giữa các môn học nhằm đạt hiệu quả trong việc hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của HS

1.3 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

1.3.1 Văn học dân gian trong chương trình trung học cơ sở và khả năng tích hợp liên môn trong dạy học văn bản văn học dân gian

1.3.1.1 Văn học dân an

a Khá n ệ

Ở Việt Nam văn học dân gian còn được biết đến với các tên gọi khác như: Sáng tác nghệ thuật truyền miệng của nhân dân, Folklore ngôn từ (Folklore văn học) Trong SGK môn Ngữ văn 10, tập 1, do Phan Trọng Luận chủ biên có nêu: “Văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ

Trang 33

truyền miệng, sản phẩm của quá trình sáng tác tập thể nhằm mục đích phục vụ trực tiếp cho các sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng” [21, tr.44]

Đinh Gia Khánh trong Văn học dân an V ệt Na cho rằng: “Văn học dân

gian là sáng tác tập thể, truyền miệng của nhân dân lao động, ra đời từ thời công xã nguyên thủy, trải qua các thời kì phát triển lâu dài trong các chế độ xã hội có giai cấp, tiếp tục tồn tại trong thời đại ngày nay”[17]

Như vậy, ta có thể hiểu VHDG là những tác phẩm nghệ thuật được ra đời khi chưa có chữ viết, được truyền miệng và sáng tác bởi tập thể nhân dân lao động và được nhân dân lao động tiếp nhận

b Đặc trưn của văn học dân an

- T nh n u n hợp: VHDG là một loại hình nghệ thuật nguyên hợp cả

về nội dung lẫn hình thức phản ánh khiến cho nó không chỉ là một hiện tượng văn học mà còn là một hiện tượng văn hóa Về nội dung, VHDG phản ánh nhiều phương diện khác nhau của đời sống vật chất và tinh thần trong xã hội,

do đó nó vừa thực hiện chức năng của văn học (thẩm mĩ), của sử học (phản ánh lịch sử), của dân tộc học (phong tục, tập quán, tôn giáo), của triết học, tâm lí học…Nghĩa là một tác phẩm VHDG sẽ tổng kết các tri thức của nhân dân thuộc nhiều lĩnh vực khoa học tự nhiên và xã hội khác nhau trong dạng thức còn chưa phân chia tách bạch Về hình thức, VHDG ngoài việc sử dụng phương tiện chính là ngôn ngữ còn sử dụng thêm vài phương tiện khác như

âm nhạc, vũ điệu, động tác

- T nh tru ền ện : VHDG ra đời khi chưa có chữ viết nên từ sáng tác

đến lúc lưu truyền đều dưới hình thức truyền miệng

- T nh tập thể: Khác với văn học viết, VHDG không phải là sản phẩm

của một cá nhân cụ thể, có tên tuổi rõ ràng VHDG là sản phẩm của số đông, của tập thể nhân dân lao động Có thể hình dung quá trình của một tác phẩm VHDG như sau: ban đầu tác phẩm VHDG do một người khởi xướng nhưng sau đó được tập thể tiếp nhận, lưu truyền từ vùng này đến vùng khác và được

Trang 34

sáng tác lại cho phù hợp với phong tục của địa phương Thông thường sự biến đổi này làm cho tác phẩm trở nên phong phú, hoàn thiện hơn về cả mặt nội

dung lẫn hình thức thể hiện

- T nh b ểu d ễn: VHDG ra đời nhằm phục vụ nhu cầu sáng tác, thưởng

thức nghệ thuật của người dân lao động Chính vì vậy, VHDG tồn tại là nhờ

sự biểu diễn của nhân dân, người ta kể chuyện, hát dân ca, diễn chèo, diễn tuồng…Cũng nhờ sự biểu diễn này mà VHDG được lưu truyền, biến đổi cho đến tận ngày nay

- T nh dị bản: Tính dị bản là hệ quả của tính truyền miệng, tính tập thể

và tính biểu diễn Trong quá trình biểu diễn, truyền miệng các tác phẩm VHDG không ngừng biến đổi Một tác phẩm VHDG được truyền miệng từ người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ nơi này đến nơi khác, xảy ra hiện tượng đồng sáng tạo hoặc thêm, bớt, thay đổi từ ngữ, chi tiết trong tác phẩm để cho phù hợp với thời gian, không gian mà nó tồn tại là

2, Sử th : tác phẩm tự sự dân gian có quy mô lớn, sử dụng ngôn ngữ có

vần, nhịp, xây dựng những hình tượng nghệ thuật hoành tráng, hào hùng để

kể về một hoặc nhiều biến cố lớn diễn ra trong đời sống cộng đồng của cư dân thời cổ đại

3, Tru ền thu ết: tác phẩm tự sự dân gian kể về sự kiện và nhân vật

lịch sử (hoặc có liên quan đến lịch sử) theo xu hướng lí tưởng hóa, qua đó thể

Trang 35

hiện sự ngưỡng mộ và tôn vinh của nhân dân đối với những người có công với đất nước, dân tộc hoặc cộng đồng cư dân của một vùng

4, Tru ện cổ t ch: tác phẩm tự sự dân gian mà cốt truyện và hình tượng

được hư cấu có chủ định kể về số phận con người bình thường trong xã hội, thể hiện tinh thần nhân đạo và lạc quan của nhân dân lao động

5, Tru ện n ụ n n: tác phẩm tự sự dân gian ngắn, có kết cấu chặt chẽ,

thông qua các ẩn dụ (phần lớn là hình tượng loài vật) để kể về những sự việc liên quan đến con người, từ đó nêu lên những bài học kinh nghiệm trong cuộc sống hoặc triết lí nhân sinh

6, Tru ện cườ : tác phẩm tự sự dân gian ngắn, có kết cấu chặt chẽ, kết

thúc bất ngờ, kể về những sự việc xấu, trái tự nhiên trong cuộc sống, có tác dụng gây cười nhằm mục đích giải trí, phê phán

7, Tục n ữ: câu nói ngắn gọn, hàm súc, phần lớn có hình ảnh, vần

nhịp, đúc kết kinh nghiệm thực tiễn, thường được dùng trong ngôn ngữ giao tiếp hằng ngày của nhân dân

8, Câu đố: bài văn vần hoặc câu nói thường có vần, mô tả vật đố bằng

những hình ảnh, hình tượng khác lạ để người nghe tìm lời giải nhằm mục đích giải trí, rèn luyện tư duy, cung cấp những tri thức về đời sống

9, Ca dao: lời thơ trữ tình dân gian, thường kết hợp với âm nhạc khi

diễn xướng, được sáng tác nhằm diễn tả thế giới nội tâm của con người

10, Vè: tác phẩm tự sự dân gian bằng văn vần, có lối kể mộc mạc, phần

lớn nói về các sự kiện thời sự của làng, của nước

11, Tru ện thơ: tác phẩm tự sự dân gian bằng thơ, giàu chất trữ tình,

phản ánh số phận và khát vọng của con người khi hạnh phúc lứa đôi và sự công bằng xã hội bị tước đoạt

12, Chèo: tác phẩm sân khấu dân gian, kết hợp các yếu tố trữ tình và

trào lộng để vừa ca ngợi những tấm gương đạo đức, vừa phê phán, đả kích cái

Trang 36

xấu trong xã hội (Ngoài chèo, sân khấu dân gian, còn có những hình thức khác như tuồng dân gian, múa rối, các trò diễn mang tích truyện)

Trong chương trình Ngữ văn THCS, HS sẽ được học 7/12 thể loại và các thể loại được định nghĩa trong chương trình THCS [29] như sau:

1, Truyền thuyết: loại truyện dân gian kể về các nhân vật và sự kiện có liên quan đến lịch sử thời quá khứ, thường có yếu tố tưởng tượng kì ảo Truyền thuyết thể hiện thái độ và cách đánh giá của nhân dân đối với các sự kiện và nhân vật lịch sử được kể

2, Cổ tích: loại truyện dân gian kể về cuộc đời của một số kiểu nhân vật quen thuộc:

- Nhân vật bất hạnh (như: người mồ côi, người con riêng, người em út, người có hình dạng xấu xí,…)

- Nhân vật dũng sĩ và nhân vật có tài năng kì lạ

- Nhân vật thông minh và nhân vật ngốc nghếch

- Nhân vật là động vật (con vật biết nói năng, hoạt động, tính cách như con người)

Truyện cổ tích thường có yếu tố hoang đường, thể hiện ước mơ, niềm tin của nhân dân về chiến thắng cuối cùng của cái thiện đối với cái ác, cái tốt đối với cái xấu, sự công bằng đối với sự bất công

3, Truyện ngụ ngôn: loại truyện kể, bằng văn xuôi hoặc văn vần, mượn chuyện về loài vật, đồ vật hoặc về chính con người để nói bóng gió, kín đáo chuyện con người, nhằm khuyên nhủ, răn dạy người ta bài học nào đó trong cuộc sống

4, Truyện cười: loại truyện kể về những hiện tượng đáng cười trong cuộc sống nhằm tạo ra tiếng cười mua vui hoặc phê phán những thói hư, tật xấu trong xã hội

5, Ca dao, dân ca: là những khái niệm tương đương, chỉ các thể loại trữ tình dân gian, kết hợp lời và nhạc, diễn tả đời sống nội tâm của con người

Trang 37

Hiện nay người ta có phân biệt hai khái niệm ca dao và dân ca Dân ca là những sáng tác kết hợp lời và nhạc, tức những câu hát dân gian trong diễn xướng Ca dao là lời thơ của dân ca Ca dao còn bao gồm cả những bài thơ dân gian mang phong cách nghệ thuật chung với lời thơ của dân ca Khái niệm ca dao còn được dùng để chỉ một thể thơ dân gian – thể ca dao

6, Tục ngữ: những câu nói dân gian ngắn gọn, ổn định, có nhịp điệu, hình ảnh, thể hiện những kinh nghiệm của nhân dân về mọi mặt (tự nhiên, lao động sản xuất, xã hội), được nhân dân vận dụng vào đời sống, suy nghĩ và lời

ăn tiếng nói hằng ngày

7, Chèo: loại kịch hát, múa dân gian, kể chuyện, diễn tích bằng hình thức sân khấu và trước kia thường được diễn ở sân đình nên còn được gọi là chèo sân đình

1.3.1.2 Hệ thốn văn bản văn học dân an tr n chươn trình N ữ văn THCS

VHDG trong chương trình Ngữ văn THCS được thống kê ở bảng 1.1 như sau:

Bảng 1.1 Thốn k các văn bản VHDG tr n chươn trình N ữ văn THCS

Lớp 6

Truyện truyền thuyết

C n Rồn cháu T n

HDĐT: Bánh chưn , bánh ầ

Thánh Gióng Sơn T nh, Thủ T nh

Trang 38

Truyện ngụ ngôn

Ếch n ồ đá ến Thầ bó xe v

Nhữn câu hát than thân Nhữn câu hát châ b ế

Tục ngữ

Tục n ữ về th n nh n và a độn sản xuất

Tục n ữ về c n n ườ và xã hộ

Sân khấu (chèo) Quan  Thị K nh

Bên cạnh đó còn có các văn bản VHDG trong chương trình địa phương (chương trình được dạy tại các trường THCS trên địa bàn huyện Đô Lương) được thống kê ở bảng 1.2 như sau:

Bảng 1.2 Thốn k các văn bản VHDG tr n chươn trình địa phươn

Trang 39

Truyện truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười (lớp 6) và ca dao, tục ngữ, chèo (lớp 7) Bên cạnh những tác phẩm VHDG Việt Nam thì còn có hai

tác phẩm VHDG nước ngoài là: Câ bút thần (Trung Quốc) và Ôn ã đánh

cá và con cá vàng (Nga) Như vậy, VHDG trong chương trình Ngữ văn về số

lượng văn bản tính cả chương trình địa phương có 24 văn bản, về thể loại có 7 thể loại cũng chứng tỏ được tầm quan trọng của VHDG trong toàn bộ chương trình Ngữ văn THCS

1.3.1.3 Khả năn t ch hợp n n tr n dạ học văn bản văn học dân gian

Trong dạy học văn bản VHDG ở trường THCS, GV có thể sử dụng các kiến thức của các môn học như: Lịch sử, Địa lí, GDCD, Âm nhạc, Mĩ thuật…để nâng cao chất lượng dạy học đồng thời thực hiện được mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực cho HS Dưới đây là bảng thống kê những nội dung của các môn học có thể tích hợp được khi dạy phần VHDG ở THCS

Bảng 1.3 Thốn k nhữn nộ dun của các n học có thể t ch hợp

kh dạ VHDG ở trườn THCS

Nội dung Tích hợp vào văn bản trong VHDG

Môn Lịch sử

Xã hội nguyên thủy, Nhà nước Văn

Nước Văn Lang, Đời sống vật chất

và tinh thần của cư dân Văn Lang

(L6)

Truyền thuyết Thánh Gióng Truyền thuyết Bánh chưn , bánh ầ

Nhữn câu hát than thân

Trang 40

Kiến thức về Địa lí, môi trường,

trái đất

Tục n ữ về th n nh n và a độn sản xuất

Bánh chưn , bánh ầy

Sự t ch Hồ Gươ Sơn T nh, Thủ T nh

Môn Giáo dục công dân

Thạch Sanh

Biết ơn (L6)

Các truyện truyền thuyết được học

Tục n ữ về c n n ườ và xã hộ Nhữn câu hát về tình cả a đình

Yêu thiên nhiên, sống chan hòa với

thiên nhiên (L6)

Tục n ữ về th n nh n và a độn sản xuất

Sơn T nh, Thủ T nh

Nhữn câu hát về tình u qu hươn , đất nước, c n n ườ

Nhữn câu hát than thân

Các tru ện n ụ n n, tru ện cườ

Ngày đăng: 01/08/2021, 15:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A (chủ biên, 2011), Dạy học Ngữ văn 6 the hướng tích hợp, Nxb ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học Ngữ văn 6 the hướng tích hợp
Nhà XB: Nxb ĐHSP
2. Lê Kim Anh (2013), “Tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong dạy học môn Ngữ văn”, Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 96, Tháng 09/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong dạy học môn Ngữ văn”", Tạp chí Khoa học Giáo dục
Tác giả: Lê Kim Anh
Năm: 2013
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chươn trình á dục phổ thông tổng thể, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chươn trình á dục phổ thông tổng thể
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2018
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002), Dự thả chươn trình THPT môn Ngữ văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thả chươn trình THPT môn Ngữ văn
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2002
6. Nguyễn Hải Châu, Nguyễn Trọng Hoàn, Vũ Nho (2009), Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục Trung học cơ sở môn Ngữ văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục Trung học cơ sở môn Ngữ văn
Tác giả: Nguyễn Hải Châu, Nguyễn Trọng Hoàn, Vũ Nho
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
7. Nguyễn Quang Cương (2012), “Thực chất của việc dạy đọc - hiểu và tích hợp ở môn Ngữ văn”, Tạp chí Khoa học giáo dục số 65/ 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực chất của việc dạy đọc - hiểu và tích hợp ở môn Ngữ văn”," Tạp chí Khoa học giáo dục
Tác giả: Nguyễn Quang Cương
Năm: 2012
8. Nguyễn Dƣợc (chủ biên, 2014), SGK Địa lí 6,7, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lí 6,7
Nhà XB: Nxb Giáo dục
9. Lỗ Bá Đạt (2008), “Dạy học truyền thuyết theo hướng tiếp cận văn hóa”, Tạp chí Giáo dục, số 198 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học truyền thuyết theo hướng tiếp cận văn hóa”, "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Lỗ Bá Đạt
Năm: 2008
10. Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh (2006), Từ đ ển giáo dục học, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ đ ển giáo dục học
Tác giả: Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
Năm: 2006
11. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên, 1999), Từ đ ển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ đ ển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
12. Nguyễn Thị Thanh Hồng (2016), “Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phổ thông theo quan điểm dạy học tích hợp”, Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 126, tháng 3/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phổ thông theo quan điểm dạy học tích hợp”, "Tạp chí Khoa học Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hồng
Năm: 2016
13. Nguyễn Thị Hiên (2015), “Thực hiện tích hợp nội môn, liên môn và tích hợp kiến thức đời sống trong dạy học tiếng Việt ở trường trung học phổ thông”, Tạp chí Giáo dục, số 366, tháng 9/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện tích hợp nội môn, liên môn và tích hợp kiến thức đời sống trong dạy học tiếng Việt ở trường trung học phổ thông”, "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Thị Hiên
Năm: 2015
14. Bùi Mạnh Hùng (2014), “Phác thảo chương trình Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực”, Tạp chí Khoa học ĐHSP, TP HCM, số 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phác thảo chương trình Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực”, "Tạp chí Khoa học ĐHSP
Tác giả: Bùi Mạnh Hùng
Năm: 2014
15. Nguyễn Thanh Hùng, “Tích hợp trong dạy học Ngữ văn”, Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 6, 3/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích hợp trong dạy học Ngữ văn”, "Tạp chí Khoa học Giáo dục
16. Nguyễn Văn Khải (2008), Vận dụn tư tưởn sư phạm tích hợp vào dạy học vật lí ở trườn THPT để nâng cao chất ượng giáo dục học sinh, Báo cáo tổng kết đề tài khoa học cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụn tư tưởn sư phạm tích hợp vào dạy học vật lí ở trườn THPT để nâng cao chất ượng giáo dục học sinh
Tác giả: Nguyễn Văn Khải
Năm: 2008
17. Đinh Gia Khánh (1997), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
18. Phan Ngọc Liên (chủ biên, 2014), SGK Lịch sử 6,7, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử 6,7
Nhà XB: Nxb Giáo dục
19. Hoàng Long, Đàm Luyện (Tổng chủ biên, 2012), SGK Âm nhạc và Mĩ thuật 6,7, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Âm nhạc và Mĩ thuật 6,7
Nhà XB: Nxb Giáo dục
20. Phan Trọng Luận (1996), Phươn pháp dạy học văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phươn pháp dạy học văn
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
21. Phan Trọng Luận (chủ biên, 2006), SGK Ngữ văn 10, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 10
Nhà XB: Nxb Giáo dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w