Mục đích nghiên cứu - Dựa vào cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng dạy học ở các trường THPT Huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, đề tài có mục đích tuyển chọn, xây dựng và sử
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN HỮU DUNG
TUYỂN CHỌN - XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM PHẦN KIM LOẠI NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ
HỌC CHO HỌC SINH LỚP 12 THPT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN – 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN HỮU DUNG
TUYỂN CHỌN - XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM PHẦN KIM LOẠI NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ
NGHỆ AN – 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN Sau thời gian học tập tại Viện Sư phạm Tự nhiên Trường Đại học Vinh, bằng sự nổ lực của bản thân và sự giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo và các bạn bè, đồng nghiệp, tôi đã hoàn thành luận văn khoa học này Tôi cảm ơn sâu sắc nhất đến:
Thầy giáo PGS.TS Nguyễn Xuân Trường người hướng dẫn tận tình và đầy tâm huyết giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cùng quý thầy giáo, cô giáo thuộc Bộ môn PPGD Hóa học Viện Sư phạm Tự nhiên Trường Đại học Vinh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu cùng tập thể giáo viên, học sinh các trường THPT Quảng Ninh, THPT Ninh Châu, THPT Nguyễn Hữu Cảnh, các bạn lớp Cao học K25 LL và PPDH Hóa học – Trường Đại học Vinh, các đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Cuối cùng, xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến bạn bè, gia đình, người thân, đồng nghiệp,…những người đã luôn quan tâm, giúp đỡ, động viên trong suốt chặng đường vừa qua
Nghệ An, ngày 25 tháng 6 năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Hữu Dung
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU - 1
1 Lí do chọn đề tài - 1
2 Mục đích nghiên cứu - 1
3 Nhiệm vụ nghiên cứu - 1
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu - 2
4.1 Khách - 2
4.2 Đối tượng nghiên cứu - 2
5 Phương pháp nghiên cứu - 2
5.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận - 2
5.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn - 3
5.2.1 Phương pháp quan sát - 3
5.2.2 Phương pháp điều tra - 3
5.2.3 Phương pháp chuyên gia - 3
5.3 Phương pháp xử lí thông tin - 3
6 Giả thuyết khoa học - 3
7 Phạm vi nghiên cứu - 4
8 Dự kiến những đóng góp mới của đề tài - 4
CHƯƠNG 1 - 5
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI - 5
1.1 Năng lực - 5
1.1.1 Khái niệm - 5
1.1.2 Đặc điểm của năng lực - 5
1.1.3 Các loại năng lực - 5
1.2 Năng lực tự học - 6
1.2.1 Các hình thức tự học - 6
1.2.2 Một số biện pháp nâng cao năng lực tự học cho học sinh với bộ môn Hóa học - 7
Trang 51.3 Bài tập hóa học (BTHH) - 8
1.3.1 Khái niệm bài tập hóa học - 8
1.3.2 Vai trò của BTHH trong dạy học Hóa học ở trường THPT - 8
1.3.3 Phân loại bài tập hóa học dựa vào mức độ phức tạp của học sinh khi tìm kiếm lời giải - 9
1.3.4 Tác dụng bài tập trắc nghiệm về phát triển năng lực tự học cho học sinh - 9
1.4 Thực trạng về sử dụng hệ thống bài tập trong giảng dạy hóa học trường trung học phổ thông hiện nay - 10
1.4.1 Mục đích điều tra - 10
1.4.2 Đối tượng điều tra - 10
1.4.3 Phân tích phiếu điều tra - 10
1.4.4 Kết quả điều tra - 10
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 - 15
CHƯƠNG 2 - 16
TUYỂN CHỌN - XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM PHẦN KIM LOẠI LỚP 12 Ở TRƯỜNG THPT - 16
2.1 Mục tiêu, nội dung và cấu trúc chương trình phần kim loại lớp 12 - 16
2.1.1 Đại cương về kim loại - 16
2.1.2 Kim loại kiềm và kiềm thổ - 17
2.1.3 Crôm, sắt, đồng - 18
2.2 Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm - 19
2.2.1 Nguyên tắc xây dựng bài tập hóa học - 19
2.2.2 Hệ thống các bài tập hóa học - 20
2.3 Tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm phần kim loại - 21
2.3.1 Bài toán về xác định tên kim loại - 21
2.3.2 Bài toán kim loại tác dụng với dung dịch axit - 27
2.3.3 Bài toán kim loại tác dụng với dung dịch muối - 35
2.3.4 Bài toán tính khử của CO, H2 - 42
Trang 62.3.5 Bài toán về điện phân - 45
2.3.6 Bài toán về Kim Loại tác dụng với nước, Kim Loại tác dụng với dung dịch kiềm 52
2.3.7 Bài tập về CO2, SO2 dẫn vào dung dịch bazơ - 59
2.3.8 Bài tập trắc nghiệm phần lí thuyết và thực nghiệm - 66
2.4 Phương pháp sử dụng hệ thống bài tập phần kim loại - 72
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 - 73
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM - 74
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm - 74
3.2 Phương pháp TNSP - 74
3.2.1 Kế hoạch TNSP - 74
3.2.2 Tiến trình TNSP - 74
3.3 Tiến hành thực nghiệm sư phạm - 75
3.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm - 77
3.5 Tính các tham số đặc trưng thống kê - 81
3.6 Phân tích kết quả thực nghiệm - 81
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 - 83
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ - 83
1 Kết luận - 83
2 Kiến nghị - 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 85
A TIẾNG VIỆT - 85
B WEBSITES - 87
PHỤ LỤC - 88
Phụ lục 1: Phiếu tham khảo ý kiến của giáo viên - 88
Phụ lục 2: Hệ thống bài tập phần kim loại - 91
Phụ lục 3: Đề kiểmtra thực nghiệm sư phạm - 104
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ CÁC KÍ HIỆU
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ BẢNG
Bảng 3.1 Các lớp thực nghiệm và đối chứng - 74
Bảng 3.2 Kết quả các bài kiểm tra - 77
Bảng 3.3 Bảng tần số lũy tích của bài kiểm tra 15 phút - 78
Bảng 3.4 Bảng tần suất lũy tích của bài kiểm tra 15 phút - 78
Bảng 3.5 Phân bố tần số, tần suất theo học lực qua kiểm tra 15 phút - 78
Bảng 3.6 Bảng tần số lũy tích của kiểm tra 1 tiết - 79
Bảng 3.7 Bảng tần suất lũy tích của bài kiểm tra 1 tiết - 79
Bảng 3.8 Bảng phân bố tần số, tần suất theo học lực qua kiểm tra 1 tiết - 80
Bảng 3.9 Bảng mô tả điểm của các bài kiểm tra - 81
Bảng 3.10 Thống kê các kết quả điểm kiểm tra của học sinh - 81
BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1 Đường lũy tích kết quả kiểm tra 15 phút - 78
Biểu đồ 3.2 Biểu đồ biểu diễn sự phân bố theo học lực của bài kiểm tra 15 phút - 79
Biểu đồ 3.3 Đường lũy tích kết quả kiểm tra 1 tiết - 79
Biểu đồ 3.4 Biểu đồ biểu diễn sự phân bố kết quả học lực của bài kiểm tra 1 tiết - 80
Trang 9đó Nhiều năm qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai các hoạt động giáo dục để hướng tới
đổi mới chương trình giáo dục phổ thông [43]
Trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định “ Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ
GV và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt” và “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng xây dựng
đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam” [31], [32], [33], [43]
Trong giảng dạy và học bộ môn hóa học, để nâng cao chất lượng dạy học và phát triển
tư duy của học sinh có nhiều biện pháp và phương pháp khác nhau Trong đó, việc giải bài tập hóa học với tư cách là một phương pháp dạy học, có tác dụng rất lớn đến việc giáo dục, rèn luyện và phát triển học sinh tự học Mặt khác, cũng là thước đo thực chất sự nắm vững kiến thức và kĩ năng hóa học của học sinh
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Tuyển chọn - xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập trắc nghiệm phần kim loại nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 12 THPT”
2 Mục đích nghiên cứu
- Dựa vào cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng dạy học ở các trường THPT Huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, đề tài có mục đích tuyển chọn, xây dựng và sử dụng bài tập trắc nghiệm phần kim loại nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 12 để nâng cao hiệu quả dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, góp phần đổi mới PPDH Hóa học, nâng cao chất lượng dạy học theo hướng lấy HS làm trung tâm trong dạy học Hóa học
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận việc sử dụng bài tập bằng phương pháp trắc nghiệm gồm: Trắc nghiệm nhiều lựa chọn, trắc nghiệm điền khuyết, trắc nghiệm đúng sai, trắc nghiệm ghép đôi
Trang 102
- Tìm hiểu những thực trạng dạy học hoá học nói chung, việc sử dụng bài tập trắc nghiệm hoá học nói riêng, trong đó chú trọng về bài tập trắc nghiệm phần kim loại lớp 12 THPT
- Tuyển chọn - xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập trắc nghiệm phần kim loại nhằm
phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 12 THPT
- Nghiên cứu các phương pháp sử dụng bài tập trắc nghiệm phần kim loại lớp 12 THPT,
giúp giáo viên sử dụng bài tập có hiệu quả cho từng đối tượng học sinh góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn hoá học ở trường phổ thông
- Thực nghiệm sư phạm với mục đích để đánh giá chất lượng hệ thống các bài tập đã xây dựng và khả năng vận dụng bài tập đó vào quá trình tổ chức dạy học hóa học
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể: Quá trình dạy học hóa học ở trường trung học phổ thông
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Xây dựng và sử dụng các bài tập trắc nghiệm trong xu hướng đổi mới phương pháp dạy học nói chung và đối với phần kim loại lớp 12 THPT nói riêng
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu các chủ trương, đường lối của Đảng, các văn bản pháp quy, cụ thể hóa bằng quy định của ngành liên quan đến công tác QLGD, quản lý nhà trường, quản lý hoạt
+ Cao Thị Thặng (1995), Hình thành kĩ năng giải BTHH ở trường PTTH cơ sở, Luận
án phó tiến sĩ khoa học sư phạm tâm lí, Viện khoa học giáo dục Hà Nội [34]
+ Lê Văn Dũng (2001), Phát triển năng lực nhận thức và tư duy cho HS thông qua
BTHH, Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục, Đại học Sư phạm Hà Nội [35]
+ Lê Thị Hương (2002), Phát triển năng lực nhận thức và tư duy cho HS qua giảng dạy phần hóa kim loại trường THPT, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Đại học Sư phạm
Hà Nội [45]
+ Vũ Hồng Nhung (2006), Phát triển năng lực nhận thức và tư duy của HS thông qua
hệ thống câu hỏi và BTHH (phần kim loại – Hóa học 11 – Ban cơ bản) [46]
+ Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Đại học Sư phạm Hà Nội [38]
Trang 113
+ Nguyễn Thị Hồng Ngọc (1998), Rèn luyện kỹ năng vẽ hình và sử dụng hình vẽ cho sinh viên khoa hoá trường Đại học Sư phạm, Luận văn tốt nghiệp, Trường Đại học Sư phạm
thành phố Hồ Chí Minh [39]
+ “Phát triển học sinh trong giảng dạy hoá học” của M V Zueva, 1982 [40]
+ “Phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ thông” của Nguyễn Xuân Trường,
5.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
5.2.1 Phương pháp quan sát
Quan sát các hoạt động chuyên môn của các trường THPT thông qua tham dự buổi sinh hoạt tổ chuyên môn, dự giờ, thăm lớp
5.2.2 Phương pháp điều tra
Các phiếu điều tra dành cho cán bộ quản lý, tổ trưởng chuyên môn, giáo viên và học sinh nhằm lấy ý kiến để tìm hiểu thực trạng hoạt động dạy học và hoạt động chỉ đạo đổi mới PPDH
5.2.3 Phương pháp chuyên gia
Tranh thủ, lắng nghe và tìm hiểu ý kiến chuyên gia, cán bộ QLGD để thu thập các thông tin cần thiết
5.3 Phương pháp xử lí thông tin
Dựa vào phần mềm tin học, toán thống kê để xử lý các số liệu thu được qua điều tra và khảo sát
6 Giả thuyết khoa học
Nếu giáo viên xây dựng được hệ thống bài tập có nội dung kiến thức đa dạng phong phú, sâu sắc và phương pháp giải phù hợp; sử dụng hợp lý, khai thác triệt để các bài tập đó thì sẽ phát triển được năng tự học của học sinh Đồng thời biết cách sử dụng bài tập phù hợp với đối tượng học sinh thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học nói chung và dạy phần kim loại lớp
12 nói riêng
Trang 124
7 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu bài tập trắc nghiệm phần kim loại lớp 12 Trung học phổ thông
8 Dự kiến những đóng góp mới của đề tài
- Củng cố các lý luận về khoa học quản lý dạy học và những yêu cầu chung của đổi mới PPDH
- Vận dụng các dạng bài tập để nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở trường Trung học phổ thông
- Đề xuất các biện pháp sử dụng hệ thống bài tập sao có hiệu quả làm cho học sinh nắm vững bản chất hóa học Một số phương pháp mới giải nhanh, gọn các bài tập khó phần kim loại trong đề thi THPT quốc gia giúp học sinh đạt điểm tối đa
Trang 13
và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của
cuộc sống [43]
1.1.2 Đặc điểm của năng lực
- Năng lực là một yếu tố được cấu thành trong một hoạt động cụ thể Năng lực tồn tại trong một quá trình vận động và phát triển của một hoạt động cụ thể Do đó, năng lực vừa là
mục tiêu, vừa là kết quả của một hoạt động [44]
- Khi nói tới năng lực nào đó cần hiểu rằng đó là nói về khả năng huy động vận dụng một cách tổng hợp các kiến thức kĩ năng, thuộc nhiều lĩnh vực Đồng thời, huy động các yếu
tố về thái độ, phẩm chất khác nhau của cá nhân để hoàn thành công việc Như vậy, trong cấu trúc của một năng lực, có bao hàm cả kiến thức, kĩ năng, thái độ, các phẩm chất của chủ thể hành động Vì vậy, khi nói đến năng lực của một chủ thể hoạt động nào đó không thể tách rời
kiến thức, kĩ năng cũng như phẩm chất của chủ thể đó [45]
- Khi nói tới năng lực thực hiện một loại công việc nào đó là cũng đề cập tới sự sẵn sàng hành động và tính hiệu quả của hành động, trong thực hiện công việc cũng như là đề cập tới
sự mong muốn thực hiện công việc của chủ thể hành động Nhưng cần chú ý năng lực khác
với khả năng cũng như tiềm năng [45]
- Năng lực và phẩm chất được hình thành và phát triển thông qua hoạt động của người học Vì vậy, để phát triển phẩm chất và năng lực cần tổ chức các hoạt động học tập của người học, trong các lĩnh vực giáo dục và môn học Để đánh giá năng lực, cũng phải thông qua những gì người học thể hiện, làm được trong hoạt động cụ thể Trong đánh giá kết quả giáo dục, không chỉ đánh giá về kiến thức và kĩ năng mà cần đánh giá rộng hơn về phẩm chất và năng lực người học Phẩm chất năng lực người học, chỉ được thể hiện trong hoạt động của người học mà còn thể hiện trong hoạt động của người học ở gia đình và xã hội Vì vậy, trong việc giáo dục và đánh giá người học, sự kết hợp giữa gia đình xã hội càng có ý nghĩa quan
trọng [45]
1.1.3 Các loại năng lực
Trong nghiên cứu và vận dụng vào lĩnh vực Giáo dục, chúng ta cần lưu ý các loại năng lực sau: Năng lực chung và năng lực đặc thù môn học Các loại năng lực này không phải độc lập với nhau mà nó được nhận diện từ các góc tiếp cận khác nhau có liên quan chặt chẽ với nhau Hoạt động của mọi cá nhân đều cần tới các yếu tố năng lực chung, đó là cơ sở quan trọng giúp mỗi cá nhân có thể thành công trong cuộc sống hàng ngày Năng lực đặc thù môn
học và năng lực chuyên biệt bao hàm các năng lực chung đó [43]
Trang 146
1.1.2.1 Năng lực chung [43]
Năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu, cốt lõi…làm nền tảng cơ sở cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động
1.1.2.2 Năng lực đặc thù bộ môn hóa học [43]
Học sinh có được hệ thống kiến thức hoá học phổ thông cơ bản, hiện đại và thiết thực từ đơn giản đến phức tạp
Các kiến thức cơ nhằm hình thành và phát triển nhân cách của một công dân; phát triển các tiềm năng, các năng lực sẵn có và các năng lực chuyên biệt của môn hóa học như: năng lực sử dụng ngôn ngữ hoá học, năng lực phát hiện, năng lực nghiên cứu và thực hành hoá học
và giải quyết vấn đề thông qua môn hoá học, năng lực tính toán, năng lực vận dụng kiến thức hoá học vào cuộc sống
1.2 Năng lực tự học [43]
Năng lực tự họcthểhiện ở tính tự lực, tự làm lấy, tự giải quyết các vấn đề của chủ thể hoạt động Năng lực tự học, gắn liền với khả năng tự hoàn thành hoạt động học của một cá nhân Trong quá trình, người học tự giải quyết những nhiệm vụ học tậpmới và do đó nó gắn liền với tính sáng tạo ở mỗi cá nhân Những cá nhân khác nhau có năng lực tự học khác nhau
Năng lực tự học, được thể hiện qua việc chủ thể có động cơ học tập đúng đắn, tự xác định được mục tiêu hoạt động, có thể tự quản lý việc học của mình Có kĩ năng tự học, có thái độ tích cực, trong các hoạt động đểcó thể thực hiện nhiệm vụ học Tự đánh giá kết quả học tập của mìnhvà điều chỉnh hoạt động học tập, có thể học tập độc lậpvà cũng có thể học trong hoạt động hợp tác với người khác, có phương pháp và phong cách học phù hợp
1.2.1 Các hình thức tự học [43]
Mỗi chúng ta đều nhận thấy rằng, bất cứ việc gì, dù lớn hay bé đều yêu cầu sự nỗ lực hết sức mình Như vậy năng lực tự học là một quá trình học tập, một quá trình nhận thức không trực tiếp khi có mặt của thầy, cô giáo, đó cũng là một quá trình “lao động khoa học” vất vả hơn nhiều so với có mặt thầy, cô giáo hướng dẫn Vì vậy, có năng lực tự học, HS không chỉ học có hiệu quả, khi đang học phổ thông mà còn có thể học tập suốt đời để cập nhật kiến thức, kĩ năng cho mình trong cuộc sống, trong hoạt động nghề nghiệp
Có 2 hình thứctự học:
- Tự học không có giáo viên hướng dẫn: Người học tự sưu tầm các tài liệu để đọc,
hiểu, vận dụng các kiến thức Cách học này mất nhiều thời gian để nghiên cứu và đòi hỏi khả năng tự học rất cao
- Tự học có giáo viên hướng dẫn: HS sẽ nhận được sự hướng dẫn từ 2 nguồn: hướng
dẫn qua tài liệu và trực tiếp của GV
+ Hướng dẫn qua tài liệu: CóGV hướng dẫn người học bằng tài liệu, bằng các phương tiện, thông tin khác
Trang 157
+ Hướng dẫn trực tiếp của GV qua các giờ lên lớp: Có tài liệu và GV trực tiếp hướng dẫn trong tuần, trong ngày và được GV tổ chức, hướng dẫn sau đó về nhà tự học
1.2.2 Một số biện pháp nâng cao năng lực tự học cho học sinh với bộ môn Hóa học
Để nâng cao năng lực tự học của HS, GV có thể can thiệp vào hoạt động học tập của
HS Cụ thể là
- Tác động vào tâm lí lứa tuổi [43]
+ GV nên khoan dung, khích lệ kịp thời về sự không chắc chắn trong những kết luận của HS, câu trả lời không toàn vẹn, thậm chí ngay cả khi các em phạm sailầm, làm như vậy
sẽ duy trì sự quan tâm của HS, khuyến khích các em biết chấp nhận rủi ro, tận dụng những điểm mạnh, thay vì cứ để ý đến điểm yếu, giúp HS vượt qua thất vọng, tự ti và cuối cùng là phá vỡ các rào cản, mạnh dạn, tự tin đểđạt được mục tiêu ban đầu Khuyến khích HS để tạo động cơ học trong các tình huống dạy học cụ thể, cần quan tâm nuôi dưỡng, định hướng nghề nghiệp cho HS
+ GV nên ủng hộ người học khám phá những ý tưởng mới được nảy sinh trong các cuộc thảo luận ở lớp, trường để phát huy tính tò mò, sáng tạo của người học GV quan tâm giúp mỗi HS có nhiều thành công trong học tập cũng là cách tạo động cơ học tập hiệu quả, chỉ khi đạt thành công, có sự tiến bộ, thì học sinh mới có hứng thú học tập
+ Cho phép HS theo đuổi lợi ích cá nhân vì sự đam mê một vấn đề học tập nào đó mà không có sự đe dọa của đánh giá chính thức để quá trình học tập trở nên có ý nghĩa, tạo điều kiện để học sinh phát huy khả năng tự học và phân tích đạt đến chiều sâu
- Môi trường học tập
Môi trường học tập là nơi HS thực hiện các hoạt động học tập, thời gian và không gian không bị bó hẹp và lớp học chỉ là một trong nhiều nơi diễn ra hoạt động học tập nhưng môi trường đó phải thân thiện, an toàn, đủ nguồn tài liệu để HS tự do lựa chọn thời điểm học tập, cách học phù hợp với bản thân
- Phương pháp dạy học của GV
GV có thể sử dụng nhiều phương pháp dạy học tích cực như: dạy học giải quyết vấn
đề, dạy học khám phá, dạy học dự án…để rèn luyện và nâng cao năng lực tự học Nhưng cần phải chú ý đến các hoạt động cụ thể sau:
+ Khuyến khích HS tham gia vào các cuộc thảo luận có chủ đề định hướng giáo dục để
HS nhận ra khả năng của bản thân, rèn luyện tư duy phản biện
+ Giáo viên phải tăng cường tổ chức các hoạt động học tập theo từng đối tượng, nhóm
để rèn luyện kĩ năng giao tiếp xã hội, kĩ năng tự điều chỉnh bản thân để thích nghi với sự tồn tại của một tập thể học tập trong lớp và cũng như các bạn bè trong và ngoài nhà trường, tự học được một số kĩ năng từ bạn
+ GV thay đổi và xây dựng các chủ đề học tập đa dạng và phong phú gần gửi với cuộc sống thực và vừa sức với người học để HS tự do lựa chọn theo thế mạnh của bản thân Giao quyền quyết định thực hiện các hoạt động học tập cho HS ngay từ ban đầu
+ GV có thể tự định hướng cáchoạt động học tập của mình như lập kế hoạch, thu thập
và xử lí số liệu, huy động cácbên nếu có liên quan…, dự đoán các kĩ năng học tập cần được triển khai
Trang 168
+ Hướng dẫn cho học sinh tự giám sát về những gì đã làm và cố gắng làm để sửa đổi nếu như chưa thành công, sau đó là lưu giữ thành quả họctập một cáchcó chủ đích và khoa học
+ GV là người luôn giám sát, hỗ trợ các em trong mọi hoạt động học tập, tạo nên cầu nối để HS có thể liên lạc kịpthời qua email, điện thoại hoặc gặp trực tiếp và các kênh thông tin khác
1.3 Bài tập hóa học (BTHH) [43]
1.3.1 Khái niệm bài tập hóa học
Bài tập Hóa học là một dạng bài làm bao gồm những bài toán, những câu hỏi hay đồng thời cả bài toán vàcâu hỏi thuộc về lĩnh vực hóa
Khác với câu hỏi hóa học, là những bài làm mà trong quá trình hoàn thành chúng HS phải tiến hành một hoạt động tái hiện Trong các câu hỏi, GV thường xuyên yêu cầu HS phải nhớ lại nội dung của các định luật, quy luật,khái niệm, trình bày lại một mục trong sách giáo khoa,…còn BTHH là những bài làm mà trong khi hoàn thành chúng, HS phải tiến hành một hoạt động sáng tạo gồm nhiều thao tác và nhiều bước Trong quá trình làm BTHH học sinh tự đào sâu, lĩnh hội kiến thức và làm cho họ thích thú khi tìm ra đáp án Từ việc làm BTHH, HS nâng cao kiến thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo, việc nhận dạng bài tập trở nên dễ dàng Đặc biệt BTHH là phương tiện hệ thống hóa kiến thức tốt nhất và kích thích tối đa khả tự học sáng tạo của HS
1.3.2 Vai trò của BTHH trong dạy học Hóa học ở trường THPT [43]
Thực tiễn dạy học Hóa học ở THPT cho thấy rằng, BTHH giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện mụctiêu đào tạo chung và mục tiêu riêng của môn Hóa học BTHH khôngchỉ mang lại cho học sinh kiến thức, con đường chinh phục kiến thức, mà còn mang lại sự hứng thú, cảm giác vui sướng khi tìm ra đáp án của bài tập BTHH có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong giảng dạy hóa học về mặt trí dục, phát triển, lẫn mặt giáo dục:
- Chính xác hóa những khái niệm hóa học để từ đó củng cố, đào sâu và mở rộng kiến thức một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn
- Ôn tập, hệ thống hóa kiến thức một cách tích cựcnhất, đào sâu, mở rộng sự hiểu biết một cách sinhđộng, phong phú và đặc biệt không làm cho học sinh buồn chántrong khi làm BTHH
- Rèn luyện các kĩ năng cho học sinh học hóa học như: cân bằng phương trình phản ứng, tính toán theo phương trình hóa học và công thức hóa học …Nếu là các bài tập thực nghiệm sẽ rèn luyện các kĩ năng thực hành, góp phần vào việc giáo dục kĩ thuật tổng hợp cho học sinh
- Rèn luyện kĩ năng và vận dụng các kiến thức vào thực tiễn, đời sống, lao động sản xuất và bảo vệ môi trường
- Thúc đẩy thường xuyên sự rèn luyện cáckĩ năng, kĩ xảo cần thiết về hóa học
- Tạo điều kiện cho HS phát triểncác năng lực tự học logic như: phân tích, tổng hợp,
so sánh, khái quát hóa, hệ thống hóa, suy luận,…
- Rèn luyện tính kiên nhẫn, nhẫn nại, tính trung thực trong lao động và học tập, tính độc lập sáng tạo khi xử trí các vấn đề xảy ra
Trang 179
- Rèn luyện cho học sinh tinhthần qua luật biết tự kiềm chế, cócách suy nghĩ và trình
rõ ràng, chính xác, khoa học, nâng cao lòng yêu thích bộ môn Hóa học
- BTHH có liên quan đến vấn đề kĩ thuật của nền sản xuất còn cung cấp cho HS những
số liệu kĩ thuật lí thú của kĩ thuật, những số liệu mới về phát minh, về năng suất lao động, về sản lượng ngành sản xuất hỗn hợp đạt được giúp HS hòa nhịp với sự phát triển của khoa học
kĩ thuật thời đại mình đang sống
1.3.3 Phân loại bài tập hóa học dựa vào mức độ phức tạp của học sinh khi tìm kiếm lời giải [43], [45]
Với mục đích nghiên cứu quá trình tự học với bộ môn hóa học nhằm phát triển năng lực trí tuệ cho HS chúng tôi tạm phân ra làm hai loại sau:
a Bài tập cơ bản là loại bài tập tìm được lời giải chỉ cần thiết lập mối quan hệ giữa cái
đã cho và cái cần tìm dựa vào một vài đơn vị với kiến thức đơn giản
b Bài tập gồm nhiều đơn vị cơ bản: (Bài tập phức tạp)
Là loại BT mà trong quá trình giải phải thực hiện một chuỗi các lập luận lôgic, giữa những cái đã cho và những cái cần tìm thông qua một loạt các bài toán trung gian Rõ ràng, một bài toán trung gian là một bài toán cơ bản Nên để giải quyết một bài toán không cơ bản thì học sinh phải giải thành thạo các bài toán cơ bản và phải nhận ra quan hệ lôgic, mật thiết của bài toán thông qua quan hệ lôgic sơ đẳng Trong thực tế dạy học, giáo viên không làm cho học sinh hiểu trọn vẹn một vấn đề, một bài toán, một quá trình suy luận (vì những lí do khách quan và chủ quan khác nhau) thông qua những câu hỏi "tại sao?" Về phía giáo viên và học sinh cũng không biết đặt câu hỏi này, cuối cùng là đã hạn chế một cách đáng kể quá trình nhận thức, khả năng giải quyết vấn đề và khả năng tự học hóa học của học sinh
1.3.4 Tác dụng bài tập trắc nghiệm về phát triển năng lực tự học cho học sinh [43]
- BTHH là những phương tiện hiệu nghiệm cơ bản nhất để dạy học sinh tập vận dụng các kiến thức đã được học vào thực tế trong cuộc sống, sản xuất và tập nghiên cứu khoa học, biến những kiến thức đã được học qua các bài giảng thành kiến thức của chính mình Kiến thức sẽ nhớ lâu hơn khi được vận dụng thường xuyên như M.A Đanilôp nhận định: "Kiến thức này sẽ được nắm vững thực sự, nếu HS có thể vận dụng thành thạo chúng vào việc hoàn thành những bài tập lý thuyết và thực hành"
- Đào sâu, mở rộng các kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú Chỉ có vận dụng kiến thức vào giải bài tập, HS mới nắm vững kiến thức và hiểu một cách sâu sắc hơn
- Là phương tiện để củng cố, ôn tập, hệ thống hóa kiến thức một cách logic và tốt nhất
- Phát triển khả năng tự học, tự nghiên cứu, rèn trí thông minh cho học sinh: Một số vấn
đề lý thuyết cần phải nghiên cứu sâu mới hiểu được trọn vẹn, một số bài toán có tính chất đặc biệt, ngoài cách giải thông thường còn có cách giải độc đáo nếu HS có tầm nhìn sắc sảo Thông thường nên yêu cầu HS giải bằng nhiều cách có thể có và tìm ra cách giải ngắn và nhanh nhất, hay nhất - đó là một phương pháp rèn luyện trí thông minh cho HS Vì rằng giải một bài toán bằng nhiều cách dưới các góc độ khác nhau thì khả năng tự học của HS sẽ tăng lên gấp nhiều lần so với giải bài toán bằng một cách và không phân tích, mổ xẻ đến nơi đến chốn
Trang 1810
- BTHH còn được sử dụng như một phương tiện để nghiên cứu các tài liệu mới (hình thành khái niệm, định luật) Khi trang bị những kiến thức mới, giúp HS tích cực, tự lực, tự lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và bền vững
- BTHH còn làm chính xác hóa khái niệm, định luật đã được học
- BTHH phải phát huy tính tích cực, tự học của HS và hình thành phương pháp học tập phù hợp
- BTHH còn là phương tiện để kiểm tra đánh giá các kiến thức, kĩ năng của HS lĩnh hội được bao nhiêu khi học xong một bài và một chương
- BTHH còn là Giáo dục đạo đức, tác phong, trung thực, chính xác, khoa học và sáng tạo, tác phong cách làm việc khoa học (có tổ chức, kế hoạch, …)
1.4 Thực trạng về sử dụng hệ thống bài tập trong giảng dạy hóa học trường trung học phổ thông hiện nay
1.4.1 Mục đích điều tra
- Tìm hiểu, nhận xét, đánh giá thực trạng việc học tập môn hoá học hiện nay ở các trường THPT thuộc địa bàn Huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình Xem như đó là căn cứ để xác định phương hướng, nhiệm vụ phát triển của đề tài
- Tìm hiểu xem học sinh có sự hứng thú học tập với môn học hóa học
- Thông qua quá trình điều tra đi sâu phân tích các dạng bài tập mà hiện tại giáo viên thường ra cho học sinh lớp 12 phần kim loại, hiệu quả của việc sử dụng bài tập hóa học đem lại
- Nắm được các mức độ ghi nhớ, nhận biết, hiểu và vận dụng kiến thức của HS xem đây
là cơ sở định hướng nghiên cứu cải tiến phương pháp dạy - học trong giai đoạn hiện nay
1.4.2 Đối tượng điều tra
Đã tiến hành điều tra bằng phiếu tham khảo ý kiến của 15 GV giảng dạy bộ môn hóa học ở các trường THPT ở địa bàn Huyện Quảng Ninh, Tỉnh Quảng Bình Số phiếu thu hồi được là 15
1.4.3 Phân tích phiếu điều tra
Sử dụng phiếu điều tra 15 GV dạy hoá học ở các trường THPT (phụ lục 1)
1.4.4 Kết quả điều tra
Câu 1 Sự cần thiết nếu sử dụng thêm HTBT để nâng cao kết quả học tập của HS
Bảng 1.1 Nhận xét của GV về sự cần thiết phải sử dụng thêm BTHH
Số ý kiến
Tỉ lệ
%
Trang 19Bảng 1.2 cho thấy: có 90% GV thường xuyên sử dụng thêm BTHH
Bảng 1.3: Giáo viên xây dựng HTBT chủ yếu theo chương và chuyên đề, chưa chú
ý soạn chi tiết theo từng bài học để HS tiện sử dụng sau khi học xong mỗi bài học
Câu 4 Cách thức sử dụng HTBT
Bảng 1.4 Cách thức sử dụng HTBT của GV
Số ý kiến Tỉ lệ %
Trang 2012
- HS tự giải tập sau khi học xong bài học 2 13.3
- GV giải bài mẫu, học sinh về nhà làm bài tập
- GV giải bài mẫu, học sinh về nhà làm bài tập
Tỉ lệ giáo viên cho đáp án bài tập để HS kiểm tra sau khi làm xong bài tập chưa cao
Câu 5 Mức độ quan trọng của các nội dung dạy học hóa học
Bảng 1.5 Mức độ quan trọng của những nội dung dạy học hóa học
Câu 6 Số lượng bài tập trung bình mà GV hướng dẫn giải trong 1 tiết học
Bảng 1.6 Số lượng bài tập mà GV hướng dẫn giải trong 1 tiết học
tập
3 bài tập
4 bài tập
5 bài tập
> 5 bài tập
A̅=
Số bài tập được thực hiện trong một tiết học trung bình là 3,5 bài
Câu 7 Phần trăm số HS làm được bài tập (ở lớp)
Trang 21Bảng 1.7 cho thấy: Với mỗi bài tập trên lớp, số HS làm đƣợc không cao
Câu 8 Những khó khăn mà GV gặp phải trong khi sử dụng BTHH
Bảng 1.8 Những khó khăn của GV khi dạy BTHH
Nội dung
Mức độ khó khăn Điểm
TB
Xếp hạng
Câu 9 Mức độ cần thiết của việc xây dựng hệ thống BTHH là
Bảng 1.9 Mức độ cần thiết của việc xây dựng hệ thống BTHH
Trang 2214
Bảng 1.9 cho thấy: Hầu hết các GV đều cho rằng rất cần thiết phải xây dựng hệ thống BTHH hỗ trợ HS tự học
Câu 10 Mức độ cần thiết của các định hướng xây dựng hệ thống BTHH hỗ trợ HS tự học
Bảng 1.10 Mức độ cần thiết của các định hướng xây dựng hệ thống BTHH
Biện pháp
Mức độ cần thiết Điểm
TB
Xếp hạng
- Câu hỏi có bài
giải mẫu cho
Trang 2315
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương này đã trình bày một số vấn đề cơ bản về luận và thực tiễn của đề tài:
- Cơ sở lý luận sự phát triển năng lực tự học trong dạy học hóa học
- Bài tập hóa học: khái niệm, phân loại, tác dụng của BTHH, xu hướng phát triển của BTHH
- Kết quả điều tra thực trạng việc của việc sử dụng hệ thống BTHH để hỗ trợ cho HS trong quá trình dạy học ở trường THPT cho thấy:
Số HS thích giờ bài tập, số lượng bài tập và số HS làm được bài tập không cao, HS chưa chuẩn bị kĩ cho tiết bài tập, thời gian dành cho việc theo dõi và ghi chép các bài tập ở lớp chưa đủ, các bài tập chưa xếp từ dễ đến khó, chưa có nhiều bài tương tự và chưa phân theo dạng Học sinh có mong muốn giáo viên giúp HS từng bước nhận dạng, giải kỹ bài tập mẫu của từng dạng và cho các bài tập tương tự để các em giải thành thạo một dạng bài tập, học sinh cũng đánh giá cao vai trò của tự học đối với kết quả của các bài kiểm tra Các em đã nhận thức được để tự học tốt thì bản thân phải có niềm tin và có sự chủ động
Hầu hết các GV đều nhìn nhận vai trò quan trọng của BTHH trong dạy học hóa học và
có sử dụng thêm BTHH trong quá trình dạy học Tuy nhiên BTHH đa số lấy từ nguồn sách tham khảo và các nguồn tài liệu trên internet GV có soạn thêm HTBT ngoài bài tập ở SGK và sách bài tập, chủ yếu soạn theo chuyên đề, chương nhưng cũng không nhiều GV cho rằng việc xây dựng HTBT cho HS tự học là rất cần thiết
Như vậy, chúng tôi nghĩ cần có HTBT để HS khắc phục những khó khăn mà các em gặp phải trong quá trình giải BTHH Chúng tôi cũng nhận thấy sự khó khăn của GV khi giải và hướng dẫn giải bài tập cho HS, những nhu cầu của GV về HTBT
Từ những lý luận và kết quả điều tra, việc xây dựng và sử dụng HTBT cho HS là một trong những biện pháp đổi mới phù hợp với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học môn hóa học hiện nay
Trang 2416
CHƯƠNG 2 TUYỂN CHỌN - XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM PHẦN KIM
LOẠI LỚP 12 Ở TRƯỜNG THPT 2.1 Mục tiêu, nội dung và cấu trúc chương trình phần kim loại lớp 12
2.1.1 Đại cương về kim loại [43], [44]
2.1.1.1 Kiến thức
* Biết
- Cấu hình electron và vị trí của các nguyên tố trong bảng tuần hoàn
- Một số tính chất vật lý và tính chất hoá học của kim loại
- Một số khái niệm: cặp oxi hoá - khử, thế điện cực chuẩn của kim loại, pin điện hoá, suất điện động chuẩn của pin điện hoá, sự điện phân (các phản ứng hoá học xảy ra ở các điện cực)
* Hiểu
- Giải thích được những tính chất vật lý, tính chất hoá học chung của kim loại, viết các phương trình hoá học
- Ý nghĩa của dãy điện hoá chuẩn của kim loại:
+ Xác định chiều của phản ứng giữa chất oxi hoá và chất khử trong hai cặp oxi hoá - khử
- Các phản ứng hoá học xảy ra trên các điện cực của pin điện hóa khi hoạt động và của quá trình điện phân chất điện li
- Điều kiện, bản chất của sự ăn mòn điện hoá và các biện pháp phòng, chống ăn mòn kim loại
- Hiểu được các phương pháp điều chế những kim loại cụ thể (kim loại có tính khử mạnh, trung bình và yếu)
2.1.1.2 Kĩ năng
- Viết các phương trình phản ứng về tính chất hóa học của kim loại
- Vận dụng các công thức, định luật, quy luật để giải các bài tập liên quan
- Biết vận dụng dãy điện hoá chuẩn của kim loại để:
+ Xét chiều của phản ứng hoá học giữa chất oxi hoá và chất khử trong hai cặp oxi hoá - khử của kim loại
+ So sánh tính khử, tính oxi hoá của các cặp oxi hoá - khử
- Tính toán khối lượng, lượng chất liên quan đến quá trình điện phân (tính toán theo phương trình điện phân và tính toán theo định luật Farađây)
Thực hiện các thí nghiệm để chứng minh tính chất của kim loại, thí nghiệm về pin điện hoá và sự điện phân, những hình ảnh hoặc thí nghiệm về ăn mòn kim loại và chống ăn mòn kim loại
Trang 25Chương 5: Đại cương về kim loại
(14 tiết: 8 tiết lý thuyết + 5 tiết luyện tập + 1 tiết thực hành)
5.1.Vị trí và cấu tạo của kim loại trong bảng tuần hoàn
5.2 Tính chất của kim loại
5.3 Dãy điện hóa của kim loại
5.4 Sự ăn mòn kim loại
5.5 Luyện tập: Tính chất của kim loại
5.6 Điều chế kim loại
5.7 Luyện tập: Điều chế kim loại và sự ăn mòn kim loại
5.8 Bài thực hành số 3: Tính chất, điều chế kim loại, sự ăn mòn kim loại
2.1.2 Kim loại kiềm và kiềm thổ
- Tính chất chung của kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ và nhôm
- Tính chất hóa học của một số hợp chất của natri, caxi và nhôm
- Khái niệm nước cứng, nước cứng có tính tạm thời, nước cứng vĩnh cữu
2.1.2.2 Kĩ năng
- Biết tìm hiểu tính chất chung của nhôm theo qui trình dự đoán tính chất kiểm tra
dự đoán rút ra kết luận
- Viết các phương trình hóa học biểu diễn tính chất hóa học của chất
- Suy đoán và viết được các phương trình hóa học biểu diễn một số tính chất hóa học của một số hợp chất quan trọng của natri, caxi và nhôm trên cơ sở tính chất chung của các hợp chất vô cơ đã biết
- Thiết lập mối quan hệ tính chất của các chất và ứng dụng của chúng
2.1.2.3 Thái độ
- Tích cực vận dụng những kiến thức của kim loại kiềm, kiềm thổ, nhôm để giải thích hiện tượng và giải quyết một số vấn đề thực tiễn sản xuất
2.1.2.4 Nội dung
Chương 6: Kim loại kiềm - kim loại kiềm thổ - nhôm
(10 tiết: 7 tiết lý thuyết + 2 tiết luyện tập + 1 tiết thực hành)
Trang 2618
6.1 Kim loại kiềm, kiềm thổ và hợp chất quan trọng của kim loại kiềm, kiềm thổ 6.2 Luyện tập: Tính chất của kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ và hợp chất của chúng
6.3 Nhôm và hợp chất của nhôm
6.4 Luyện tập: Tính chất của nhôm và hợp chất của nhôm
6.5 Bài thực hành số 4: Tính chất của natri, magie, nhôm và hợp chất của chúng
- Sự xuất hiện của trạng thái oxihoa
- Tính chất vật lý, hóa học của một số đơn chất và hợp chất
- Sản xuất và ứng dụng của một số kim loại chuyển tiếp quan trọng
2.1.3.2 Kĩ năng
- Rèn luyện và vận dụng kỹ năng, kiến thức để giải thích tính chất của các chất
- Biết phán đoán, so sánh để tìm hiểu tính chất của các chất
2.1.3.3 Thái độ
- Biết yêu quý thiên nhiên, bảo vệ tài nguyên và khoáng sản
- Có ý thức vận dụng kiến thức hóa học để khai thác, gìn giữ và vệ môi trường
2.1.3.4 Nội dung
Chương 7: Sắt và một số kim loại quan trọng
(9 tiết: 6 tiết lý thuyết + 2 tiết luyện tập + 1 tiết thực hành)
7.1 Sắt
7.2 Hợp chất của sắt
7.3 Luyện tập: Tính chất hóa học của sắt và hợp chất của sắt
7.4 Crom và hợp chất của crom
7.5 Đồng và một số hợp chất của đồng
7.6 Sơ lược về niken, kẽm, chì, thiếc
7.7 Luyện tập: Tính chất hóa học của crom, đồng và hợp chất của chúng
7.8 Bài thực hành số 5: Tính chất hóa học của sắt, crom, đồng, và những hợp chất của sắt, crom
Trang 2719
2.2 Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm
2.2.1 Nguyên tắc xây dựng bài tập hóa học
- BTHH là phương tiện để phát triển năng lực tự học cho học sinh Thông qua BTHH, giúp HS tiếp thu, củng cố, ôn tập kiến thức, vận dụng kiến thức vào thực tiễn HS có thể hiểu sâu hơn kiến thức, vận dụng vào các môn học khác và cuộc sống Vì vậy trong quá trình học tập giáo viên cần sử dụng triệt để hệ thống BTHH cho hiệu quả giúp rèn luyện năng lực tự học cho HS
- Ngoài những nội dung như đã trình bày trong nguyên tắc tuyển chọn BTHH ở phần trên, việc xây dựng BTHH nhằm phát triển năng lực tự học của HS còn cần đảm bảo những nguyên tắc sau đây
- Khi xây dựng bài tập điều quan trọng nhất phải chứa đựng mâu thuẫn nhận thức giữa cái đã biết và cái chưa biết, mâu thuẫn này phải vừa sức, được học sinh tiếp nhận và trở thành mâu thuẫn chủ quan trong nhận thức, nó kích thích tính tích cực tạo cho HS ham muối tìm tòi, sáng tạo để giải quyết mâu thuẫn đó trong bài tập, nhờ những kinh nghiệm vốn có của học sinh và những sự tích cực tìm tòi, sáng tạo đó mà HS giải quyết được bài tập, kết quả là học sinh nắm được tri thức mới (điều mà trước đó học sinh chưa biết) nhờ đó mà tích lũy thêm được kinh nghiệm mới cho bản thân
- Đảm bảo nội dung khoa học của các kiến thức cần chuyển tới học sinh qua các BTHH Hệ thống bài tập phải phản ánh được những nội dung cơ bản của cả chương, mục Mỗi bài tập khi thiết kế phải thể hiện được một hoặc một số đơn vị kiến thức trong chương hay mục đó
- Phản ánh được tính hệ thống, tính khái quát Bài tập thể hiện được logic hệ thống trong hoạt động tư duy và tính hệ thống về nội dung tri thức khoa học Khi thiết kế bài tập phát triển năng lực tự học cho học sinh phải xác định được vị trí của nó ở đâu trong cả hệ thống chương trình, phải thể hiện được sự kế thừa, phát triển những nội dung tri thức, lý thuyết đã học, phải thể hiện được tính khái quát theo một mục đích sư phạm nhất định
- Chú ý vấn đề liên hệ thực tiễn, như vậy việc rèn luyện năng lực tự học mới thuận lợi
và hiệu quả cao
- Giúp cho HS hiểu sâu về bản chất, rèn luyện cho học sinh biết tư duy mềm dẻo và vận dụng linh hoạt sáng tạo
Trang 2820
2.2.2 Hệ thống các bài tập hóa học
2.2.2.1 Đảm bảo tính khoa học, cơ bản, hiện đại [43], [44]
- Đảm bảo tính khoa học là nguyên tắc chủ yếu của việc lựa chọn những nội dung Theo
nguyên tắc này thì nội dung BTHH phải thể hiện đúng đắn những quan điểm của kiến thức hóa học hiện đại (ngôn ngữ hóa học, các thuyết, các định luật, quá trình hóa học ) và phải
phù hợp với kiến thức sách giáo khoa Bảo đảm tính cơ bản là phải có BTHH những kiến thức
cơ bản có ứng dụng thực tế về hoá học
- Điều kiện để thực hiện nguyên tắc này là tính hệ thống của kiến thức, thiết lập mối liên
hệ giữa các kiến thức, kĩ năng và tập trung vào kiến thức trọng tâm
2.2.2.2 Đảm bảo tính logic, hệ thống
- Tính logic được hiểu là sự hợp lí Hợp lí trong việc chọn nội dung kiến thức phù hợp với đối tượng sử dụng HTBT (ở đây là những HS học chương trình cơ bản) và hợp lí trong việc trình bày kiến thức đó HTBT phải được trình bày dễ hiểu, ngắn gọn, cấu trúc rõ ràng
- Tính hệ thống là sắp xếp các dạng bài tập một cách có trình tự từ dể đến khó và có sự liên tục để người sử dụng thấy được chúng là những bộ phận có liên hệ chặt chẽ với nhau
2.2.2.3 Đảm bảo tính đầy đủ, đa dạng, phù hợp với các đối tượng HS
- Thông qua HTBT, học sinh tái hiện lại hầu hết các kiến thức cần nhớ
- Các dạng bài tập thường gặp trong bộ môn hóa học
- Mỗi học sinh có trình độ khác nhau, mỗi lớp đều có học sinh giỏi, khá, trung bình, thậm chí mỗi vùng khác nhau thì trình độ HS cũng khác nhau HTBT phải phù hợp với các đối tượng học sinh
2.2.2.4 Đảm bảo tính vừa sức
Tính vừa sức cần hiểu theo 2 nội dung:
- Vừa sức về độ khó: Bài tập cao hơn khả năng của học sinh một chút là rất tốt Nếu dễ quá thì học sinh sẽ chủ quan, còn nếu khó quá thì học sinh lại bỏ giữa chừng GV cần chú ý đưa những bài tập có thể hệ thống và củng cố lý thuyết kèm theo phương hướng giải quyết để học sinh không nản chí (hướng dẫn cách giải cho từng dạng bài tập, sau đó cho bài tập tương
tự có kèm theo đáp số)
- Vừa sức về số lượng: Nếu nhiều bài tập quá thì học sinh không giải hết, chán nản và ảnh hưởng đến các môn học khác Nếu ít quá thì không phủ kín chương trình và không đủ để
hỗ trợ học sinh tự học
2.2.2.5 Bám sát nội dung dạy học, chú trọng kiến thức trọng tâm
- HTBT cần bám sát nội dung của từng bài, từng chương và cần xoáy vào kiến thức trọng tâm giúp cho mọi đối tượng học sinh (khá, giỏi, trung bình và yếu) mức tối thiểu nắm được những kiến thức cơ bản, làm nền tảng cho HS có thể nâng cao kiến thức chắc chắn rằng kết quả học tập sẽ tốt hơn
2.2.2.6 Gây hứng thú cho người học
Để cho người học có hứng thú thì:
- BTHH gắn liền với kiến thức khoa học về hóa học hoặc các môn học khác, gắn với thực tiễn sản xuất và đời sống, …
Trang 2921
- HTBT phải chứa đựng nhiều cách giải, trong đó cách giải ngắn gọn nhưng đòi hỏi học sinh phải thông minh hoặc có sự suy luận cần thiết thì mới giải được
2.2.2.7 Vận dụng được những kiến thức và phát triển năng lực tự học
- Sau khi giải các bài tập đặc biệt, tương tự và khó trong HTBT, học sinh tham khảo hướng dẫn giải và rút ra kiến thức, kinh nghiệm cho bản thân từ đó học sinh có thể vận dụng
để giải các bài tập tương tự ở bài khác, chương khác và phần bài tập tổng hợp Qua quá trình giải HTBT đó, tư duy của học sinh phát triển tốt hơn trong quá trình tự học
2.3 Tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm phần kim loại
2.3.1 Bài toán về xác định tên kim loại [15], [21], [43], [44]
Bài tập tìm tên kim loại thường gặp được giải trong các dạng sau đây:
- Tính trực tiếp khối lượng mol phân tử của kim loại
- Tìm giới hạn khối lượng mol phân tử của kim loại và dựa vào giả thiết (các tính chất của kim loại) để tìm ra tên của kim loại
* Lưu ý: Thường được sử dụng các phương pháp như: Phương pháp trung bình, định luật
bảo toàn khối lượng, định luật bảo toàn electron… để tìm tên kim loại
Bài 1 Cho 16,2 gam kim loại M (hoá trị n không đổi) tác dụng với 6,72 lít khí O2 (đktc) Hoà tan một nửa lượng chất rắn sau phản ứng bằng dung dịch HCl dư thấy bay ra 3,36 lít H2(đo ở đktc) Kim loại M là
Áp dụng ĐLBT electron ta có: 1,2 + 0,6 16, 2.n
M
Trang 3022
→ M = 9.n → chỉ có n = 3 và M = 27 mới thoả mãn Kim loại đó là Al
Đáp án C
Bài 2 Để hòa tan 4,8 gam một kim loại R hóa trị II hòa tan hoàn toàn trong dung dịch HNO3
loãng, thu đƣợc 1,12 lít khí NO duy nhất (đktc) Kim loại R là
M2CO3 + 2HCl 2MCl + CO2 + H2O (1)
MHCO3 + HCl MCl + CO2 + H2O (2)
Từ (1) và (2) ta có nmuối = nCO
2 = 0,02 mol
Trang 31Hướng dẫn giải Hỗn hợp Cu và Ba tác dụng O2 thì thu được rắn gồm: BaO, CuO
Phương trình phản ứng
2Ba + O2 2BaO (1) 2Cu + O2 2CuO (2) Khối lượng chất rắn tăng đó là khối lượng của O2 tham gia phản ứng
Trang 3224
Bài 5 Cho 1,52 gam hỗn hợp Fe và một kim loại X thuộc nhóm IIA, vào dung dịch HCl
(dƣ) sinh ra 0,672 lít khí (ở đktc) Mặt khác, cho 0,95 gam kim loại X nói trên không khử hết
2 gam CuO ở nhiệt độ cao Kim loại X là
0, 95X
0, 95X
Bài 6 Hỗn hợp X có y mol hỗn hợp hai kim loại kiềm thuộc hai chu kì liên tiếp nhau Cho X
vào dung dịch HCl thì thu đƣợc m gam hỗn hợp muối clorua khan, còn nếu X vào H2SO4 thì
thu đƣợc 1,1807a gam hỗn hợp muối sunfat khan Hai kim loại trong X là [43]
Trang 33Bài 7 Hoà tan a gam kim loại M bằng một lƣợng vừa đủ 200 gam dung dịch HCl thu đƣợc
dung dịch muối có nồng độ 11,96% và 4,48 lít H2 (đktc) Giá trị của a và tên kim loại M là
Số mol Cl- trong muối = số mol HCl
→ khối lƣợng muối là a + 0,4.35,5 = a + 14,2
Nồng độ C% của muối là :
2.2,0200
2,14
M
chỉ có n = 2 và M = 54,95 (thoả mãn) Kim loại đó là Mn
Đáp án B
Bài 8 Nhúng a gam thanh graphit đƣợc phủ một lớp kim loại hóa trị có II vào dung dịch
CuSO4 dƣ Sau khi phản ứng kết thúc khối lƣợng của thanh graphit giảm đi 0,24 gam Cũng
a gam thanh graphit đƣợc nhúng vào dung dịch AgNO3 thì khi phản ứng xong thấy khối lƣợng thanh graphit tăng lên 0,52 gam Kim loại hóa trị có hóa trị II là
Trang 3426
Hướng dẫn giải Đặt kim loại hóa trị (II) là X với số gam là x (gam)
Phương trình phản ứng
X + CuSO4 dư XSO4 + Cu
x (gam) = 0, 24.X
X 64 khối lượng kim loại giảm 0,24 gam
Mặt khác: X + 2AgNO3 X(NO3)2 + 2Ag
Hướng dẫn giải Gọi m là khối lượng thanh kim loại, A là nguyên tử khối của kim loại, x là số mol muối phản ứng
Trang 35Hướng dẫn giải Gọi M là nguyên tử khối của kim loại X Phương trình phản ứng X
2.3.2 Bài toán kim loại tác dụng với dung dịch axit [15], [21], [43], [44]
2.3.2.1 Kim loại tác dụng với axit
a Đối với axit HCl, H 2 SO 4 loãng
M + nH+ Mn+ +
2
n
H2 Điều kiện Mđứng trước hiđro trong dãy thế điện cựcchuẩn phản ứng
b Đối với H 2 SO 4 đặc, HNO 3 (axit có tính oxi hóa mạnh)
Trang 3628
- Kim loại có nhiều sốoxi hóa vào H2SO4 đặc, HNO3 sẽ đạtsố oxi hóa caonhất
- Hầu hết các kim loại phản ứng đượcvới dung dịch H2SO4 đặcnóng (trừ Pt, Au) và
H2SO4 đặcnguội (trừ Pt, Au, Fe, Al, Cr…), khi đó S+6
- Hầu hết các kim loại phản ứng được với dungdịch HNO3 loãng (trừ Pt, Au), khi đó ta
có N+5 trong HNO3 bị khử thành haycòn gọi sản phẩm khử N+2 (NO) ; N+1 (N2O) ; No (N2) hoặc N-3 (NH4+)
c Kim loại hòa tan trong nước (Na, K, Ba, Ca…) tác dụng với axit: có 2 trường hợp
- Nếu dung dịch axit dùng dư thì chỉ có phản ứng của kim loại với axit
- Nếu axit thiếu thì ngoài phản ứng giữa kim loại với axit (phản ứng xảy ra) còn có thêm phản ứng kim loại dư tác dụngvới nước của dung dịch
2.3.2.2 Một số chú ý khi giải bài tập
- Kim loại phản ứng với các axit HCl, H2SO4 loãng (H+ đóngvai trò là chất oxi hóa) thì tạo ra muối có số oxi hóa thấp và giải phóng H2 và M
- Kim loại tác dụng với các axit HCl, H2SO4 loãng, HNO3
+ Cácphản ứng dưới dạng ion thu gọn (H+ đóng vai tròmôi trường, NO3đóngvai trò chất oxi hóa)
+ Dựa vào phương trình để so sánh các tỉ số giữa số mol ban đầu và hệ số tỉ lượng trong phương trình xem tỉ số nào nhỏ nhất thì chất đó sẽ hết trước (để tính theo)
- Các kim loại phản ứng với ion NO3 trong môi trường axit H+ xemnhư tác dụng với HNO3
- Các kim loạiZn, Al phản ứng với ion NO3 trong môi trường kiềm OHgiải phóng
NH3
4Zn + NO3+7OH→ 4 2
2
ZnO + NH3 +2H2O (4Zn + NO3+7OH+ 6H2O → 4[Zn(OH)4]2– + NH3)
8Al + 3NO3 +5OH + 2H2O → 8AlO2– +3NH3
(8Al + 3NO3 + 5OH+18H2O → 8[Al(OH)4]– + 3NH3
- Khi hỗn hợp có nhiều kim loại tác dụng với hỗn hợp axit thì ta sử dụng
+ Phương pháp định luật bảo toàn mol electron
+ Phương pháp ion - electron để giải
+ So sánh tổng số mol electron cho và electron nhận để biện luận xem chất nào hết, chất nào dư
- Khi hỗn hợp kim loại trong đó có Fe tác dụng với H2SO4 đặc, nóng hoặc HNO3 cần chú ý xem kim loại có dư không
+ Nếu kim loại (từ Mg → Cu) dư thì có phản ứng kim loại khử Fe3+ về Fe2+
Trang 3729
Ví dụ: Fe + 2Fe3+
→ 3Fe2+; Cu + 2Fe3+ → Cu2+ + 2Fe2+
- Khi cho hỗn hợp kim loạitrong đó có Fe bằng dung dịch HNO3 vàthể tích axitcần dùng là nhỏnhất →muối Fe2+
- Kim loại có tính khử mạnh hơn (kim loại đứng trước) sẽ ưu tiên phản ứng trước
- Nếu bài toán yêu cầu tính khối lượng muối trong dung dịch, ta có công thức sau
mmuối = mkim loại + manion tạo muối
manion tạo muối = manion ban đầu – manion tạo khí
%mAl = 0,15.27.100
9, 65 = 41,19 (%) Đáp án C
Bài 12 Cho 1,35 gam hỗn hợp gồm Cu, Mg, Al vào dung dịch HNO3 một lượng vừa đủ thu được hỗn hợp khí gồm 0,01 mol NO và 0,04 mol NO2 và a gam muối Giá trị của a sau phản ứng là
A 10,08 gam B 6,59 gam C 5,69 gam D 5,96 gam
Hướng dẫn giải Gọi x, y, z là số mol Cu, Mg, Al
Quá trình nhường electron
Trang 38Ta có nFe = nCu = a mol 56a + 64a = 12 a = 0,1 mol
Quá trình cho electron:
3
Fe Fe + 3e 0,1 0,3
A 63% và 37% B 36% và 64% C 50% và 50% D 46% và 54%
Hướng dẫn giải Gọi nMg = x mol ; nAl = y mol Ta có:
24x + 27y = 15 (1) Quá trình cho electron:
Trang 39Theo ĐLBT electron:
Phần 1: Cho vào dung dịch HCl dư, thu được 0,1mol khí H2
Phần 2: Phản ứng hết với dung dịch HNO3 thu được 3,36 lít NO duy nhất (đktc) Kim loại R là
A Mg B Al C Cu D Ag
Hướng dẫn giải
2
N
V
Trang 4032
Ta có: nNO =3,36
22, 4 = 0,15 mol Đặt số mol của Fe: 2x mol và R: 2y mol trong 43,6 gam
TH1: R tan trong dung dịch HCl
Đáp án D
Bài 17 Chia m gam X gồm hai kim loại A và B đứng trước hidro trong dãy điện hóa và có
hóa trị không đổi thành thành hai phần bằng nhau trong các hợp chất
- Phần 1: Cho vào dung dịch chứa axit HCl và H2SO4 loãng tạo ra 3,36 lít khí H2