Các nhân tố tác động đến quản lý nhà nước đối với tổ chức thực hiện chính sách bảo trợ trẻ em.. Công tác tham mưu, quản lý nhà nước đối với tổ chức thực hiện chính sách bảo trợ trẻ em đư
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐINH THỊ KIỀU TRINH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ TRẺ EM
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGHỆ AN - 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐINH THỊ KIỀU TRINH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ TRẺ EM
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN
Chuyên nga ̀nh: Kinh tế chính tri ̣
Ma ̃ số: 8.31.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
TS PHẠM THI ̣ THÚY HẰNG
NGHỆ AN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nội dung luận văn này là một công trình nghiên cứu độc lập, do bản thân tôi tự nghiên cứu, không sao chép từ các tài liệu sẵn có Các số liệu thu thập được là hoàn toàn trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Tôi tự chịu trách nhiệm về những vấn đề đã được nêu ra trong nội dung luận văn
Nghệ An, tháng 8 năm 2018
Tác giả luận văn
Đinh Thị Kiều Trinh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình đào tạo thạc sĩ Kinh tế chính tri ̣ tại Trường
Đa ̣i ho ̣c Vinh, bên cạnh sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự động viên, hướng dẫn, giảng dạy và nhiều ý kiến đóng góp quý báu của các thầy giáo, cô giáo, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình tới Ban lãnh đạo, các thầy giáo, cô giáo Khoa Sau đại học, Khoa Kinh tế Trường
Đa ̣i ho ̣c Vinh
Đặc biệt tôi vô cùng trân trọng biết ơn TS Phạm Thị Thúy Hằng, giáo viên hướng dẫn đã tận tình giúp đỡ tôi để hoàn thành luận văn này
Tuy đã có nhiều cố gắng trong việc đầu tư thời gian và công sức nghiên cứu hoàn thành luận văn, nhưng chắc chắn không thể tránh khỏi những khiếm khuyết, kính mong các thầy giáo, cô giáo và các bạn đọc góp ý để luâ ̣n văn được hoàn thiê ̣n hơn
Xin trân trọng cám ơn!
Nghệ An, tháng 8 năm 2018
Tác giả luận văn
Đinh Thị Kiều Trinh
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan nghiên cứu 4
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Kết cấu luận văn 9
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ TRẺ EM 10
1.1 Một số khái niệm liên quan đến trẻ em và bảo trợ trẻ em 10
1.1.1 Khái niệm trẻ em 10
1.1.2 Quan niệm bảo trợ trẻ em 15
1.1.3 Sự cần thiết bảo trợ trẻ em 18
1.2 Quản lý nhà nước về đối với tổ chức thực hiện chính sách bảo trợ trẻ em 19
1.2.1 Khái niệm về chính sách bảo trợ trẻ em 19
1.2.2 Nội dung của quản lý nhà nước đối với tổ chức thực hiện chính sách bảo trợ trẻ em 23
1.2.3 Các nhân tố tác động đến quản lý nhà nước đối với tổ chức thực hiện chính sách bảo trợ trẻ em 30
1.3 Kinh nghiệm của một số địa phương trong quản lý nhà nước về thực hiện chính sách bảo trợ trẻ em 34
1.3.1 Kinh nghiệm thực hiện chính sách bảo trợ trẻ em tại tỉnh Thái Bình 34
1.3.2 Kinh nghiệm thực hiện chính sách bảo trợ trẻ em tại tỉnh Long An 36
Trang 61.3.3 Kinh nghiệm thực hiện chính sách bảo trợ trẻ em tại tỉnh Thanh Hóa 38
1.3.4 Bài học kinh nghiệm tỉnh Nghệ An 41
Kết luận chương 1 44
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ TRẺ EM 45
2.1 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Nghệ An 45
2.1.1 Đặc điểm địa lý, tự nhiên 45
2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế xã hội 49
2.1.3 Tác động đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội đến thực hiện chính sách bảo trợ trẻ em 50
2.2 Tình hình thực hiện chính sách bảo trợ trẻ em tỉnh Nghệ An 52
2.3 Thực trạng công tác quản lý nhà nước về trẻ em trên địa bàn tỉnh Nghệ An 57
2.3.1 Tiếp nhận, thẩm định hồ sơ và xét duyệt trợ cấp cho đối tượng trẻ em 57
2.3.2 Tổ chức thực hiện các chính sách bảo trợ trẻ em 58
2.3.3 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, các chính sách, chương trình, kế hoạch bảo trợ trẻ em 71
2.4 Đánh giá công tác quản lý nhà nước về thực hiện chính sách bảo trợ trẻ em trên địa bàn tỉnh Nghệ An 73
2.4.1 Kết quả đạt được 73
2.4.2 Những hạn chế tồn tại 77
2.4.3 Nguyên nhân của hạn chế 79
Kết luận chương 2 83
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ TRẺ EM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN 84
3.1 Phương hướng về công tác bảo trợ trẻ em trên địa bàn tỉnh Nghệ An 84
3.1.1 Chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác bảo vệ trẻ em 84
3.1.2 Quan điểm chỉ đạo, điều hành công tác bảo trợ trẻ em trên địa bàn tỉnh Nghệ An 86
Trang 73.2 Một số giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với tổ chức thực hiện
chính sách bảo trợ trẻ em Tỉnh Nghệ An 88
3.2.1 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức và nâng cao năng lực bộ máy quản lý nhà nước về công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em 88
3.2.2 Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, chương trình, kế hoạch về công tác bảo trợ trẻ em 89
3.2.3 Tăng cường đổi mới công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức toàn xã hội về công tác bảo vệ trẻ em 91
3.2.4 Tăng cường xã hội hóa nguồn lực đầu tư cho công tác bảo trợ trẻ em, nâng cao chất lượng hoạt động của Quỹ Bảo trợ trẻ em từ tỉnh đến cơ sở 93
3.2.5 Tiếp tục đẩy mạnh đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng phúc lợi xã hội như giao thông, trường học, trạm y tế, chợ xã, nước sạch, trung tâm văn hóa, thư viện 95
3.2.6 Tăng cường các biện pháp tác động vào gia đình, nhà trường, cộng đồng làng xóm thực hiện nhiệm vụ công tác bảo trợ trẻ em 95
3.2.7 Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ chính sách bảo trợ trẻ em 98
Kết luận chương 3 99
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 100
1 Kết luận 100
2 Kiến nghị 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
Trang 86 HĐND Hội đồng nhân dân
7 ILO Tổ chức Lao động Quốc tế
8 LĐTBXH Lao động thương binh xã hội
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Trang Bảng 2.1 Thực trạng trẻ em tại tỉnh Nghệ An 2015 - 2017 54 Bảng 2.2 Thống kê trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại Nghệ An 2015 - 2017 55 Bảng 2.3 Thực trạng giáo dục trẻ em tại tỉnh Nghệ An 2015 - 2017 56 Bảng 2.4 Thực trạng nguồn kinh phí BVCSTE trẻ em tại tỉnh Nghệ An
2015 - 2017 57 Bảng 2.5 Thống kê chính sách bảo trợ trẻ em tại tỉnh Nghệ An 2015 - 2017 61 Bảng 2.6 Thực trạng công tác truyền thông về BVCS trẻ em tại tỉnh
Nghệ An 2015 - 2017 64 Bảng 2.7 Thực trạng cán bộ làm công tác BVCSTE các cấp tại tỉnh
Nghệ An 2015 - 2017 66 Bảng 2.8 Trợ cấp xã hội thường xuyên tại tỉnh Nghệ An 2015 - 2017 70 Bảng 2.9 Thống kê hệ thống bảo vệ trẻ em tại tỉnh Nghệ An 2015 - 2017 70
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trẻ em - Tương lai của đất nước, dân tộc và thế giới Ở tầm rộng lớn và lâu dài hơn, bằng thế giới quan cộng sản chủ nghĩa, Hồ Chí Minh thấy rất rõ trẻ
em là tương lai của thế giới Sự định hình nhân cách, lý tưởng của trẻ em hôm nay quyết định thế giới sẽ tồn tại thế nào trong tương lai Người nói: "Ngày nay các cháu là nhi đồng Ngày sau các cháu là người chủ của nước nhà, của thế giới Các cháu đoàn kết thì thế giới hoà bình và dân chủ, sẽ không có chiến tranh" Vì tương lai phát triển bền vững, hãy đầu tư cho trẻ em Vì vậy, Hồ Chí Minh luôn xác định rõ mục tiêu của công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em, giáo dục lý tưởng cách mạng để có những con người cách mạng và một thế
hệ cách mạng và Bác cũng đã chỉ ra “Chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân”
Đất nước ta trải qua nhiều cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, lại bị ảnh hưởng nặng nề bởi hậu quả của thiên tai và biến đổi khí hậu, hiện tại đang trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh nên hiện nay số người cần trợ giúp
xã hội rất lớn, chiếm hơn 20% dân số cả nước, trong đó có hàng triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em là nạn nhân bị bạo lực, bạo hành, bị xâm hại, bị ngược đãi, bị buôn bán, bị xâm hại hoặc lang thang kiếm sống trên đường phố Trong giai đoạn vừa qua, nhiều văn bản quy phạm pháp luật về trợ giúp xã hội
đã được ban hành như Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội; Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27/02/2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP; Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội; Nghị định số 68/2008/NĐ-
CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục thành lập, tổ chức, hoạt động và giải thể cơ sở bảo trợ xã hội; Nghị định số 81/2012/NĐ-CP
Trang 11ngày 08/10/2012 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2008/NĐ-CP Tuy nhiên, các văn bản quy phạm pháp luật về trợ giúp xã hội mới chỉ dừng ở mức độ Nghị định, với tầm hiệu lực điều chỉnh hạn chế Công tác xã hội can thiệp vào cuộc sống của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em khuyết tật, trẻ em thuộc hộ nghèo và cận nghèo, cá nhân, nhóm đối tượng xã hội, cộng đồng và các thành phần xã hội nhằm hỗ trợ họ thay đổi, giải quyết các vấn
đề và nâng cao an sinh xã hội Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 32/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 - 2020 Đây là văn bản đặt nền móng cho quá trình xây dựng khuôn khổ pháp lý thúc đẩy các hoạt động công tác xã hội chuyên nghiệp
Ở Việt Nam, ước tính có khoảng 30% dân số có nhu cầu sử dụng dịch vụ công tác xã hội, trong đó gồm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em khuyết tật, trẻ em thuộc hộ gia đình nghèo, trẻ em nhiễm HIV, người nghiện ma tuý, đối tượng bảo trợ xã hội thuộc diện hưởng trợ cấp hàng tháng, trẻ em là nạn nhân bạo lực, bị bạo hành; trẻ em bị xâm hại, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em bị sao nhãng Trẻ em ở các vùng nghèo, vùng khó khăn, hay xảy ra thiên tai bão lụt, điều kiện sống rất khó khăn Trong giai đoạn vừa qua, cơ chế trợ giúp xã hội đối với trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt ở nước ta được xây dựng theo cách tiếp cận bảo trợ xã hội, trên cơ sở cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp Cơ chế trợ giúp
xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được xây dựng trên nền tảng cơ chế này đã không tạo được động lực thúc đẩy sự tham gia của các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp và khu vực tư nhân tham gia các hoạt động cung cấp dịch vụ chăm sóc xã hội
Hiện nay, trong điều kiện kinh tế thị trường, vai trò của Nhà nước, tổ chức, cộng đồng và cá nhân đã có những thay đổi căn bản trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ cho các nhóm người dân yếu thế và trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt Với vai trò mới, Nhà nước có trách nhiệm tạo lập thể chế,
cơ sở hạ tầng và an ninh, còn cộng đồng, các tổ chức, cá nhân mới là chủ thể
Trang 12trực tiếp tham gia các chương trình, hoạt động cung cấp dịch vụ và trợ giúp xã hội cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bằng sự tích cực và chủ động của mình Thông qua những cơ chế phù hợp, Nhà nước có thể tạo động lực cho cộng đồng,
tổ chức, cá nhân phát huy tiềm năng, năng lực và huy động mọi nguồn lực xã hội vào các chương trình cung cấp dịch vụ và trợ giúp cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Vì vậy, việc đổi mới cơ chế trợ giúp xã hội đối với trẻ em ở nước ta theo cách tiếp cận quyền con người, quyền của trẻ em phù hợp với nền kinh tế thị trường trở thành nhu cầu cần thiết và cấp bách
Thời gian qua, công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em trên địa bàn tỉnh Nghệ
An đã được quan tâm, triển khai thực hiện và đã đạt được các kết quả như: sự quan tâm lãnh đạo của cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp, sự đồng tình hưởng ứng của nhân dân đối với công tác trẻ em đã từng bước được nâng lên Công tác tham mưu, quản lý nhà nước đối với tổ chức thực hiện chính sách bảo trợ trẻ em được triển khai kịp thời; các chương trình, kế hoạch về bảo trợ trẻ em thực hiện đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra Công tác phối hợp liên ngành về bảo trợ trẻ
em được tăng cường, nhờ vậy đã thúc đẩy phong trào toàn dân bảo vệ, chăm sóc trẻ em, từng bước xã hội hóa công tác này nên đã huy động được nhiều sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh kể cả vật chất và tinh thần vào việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trên địa bàn tỉnh
Tuy nhiên, tỉnh Nghệ An hiện nay có gần 800.000 trẻ em từ 0 đến 16 tuổi, chiếm 26,3% dân số toàn tỉnh Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 14,983 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, chiếm tỷ lệ 1,9% so với tổng số trẻ em , trong đó: 2,577 trẻ
em mồ côi, bị bỏ rơi, không nơi nương tựa, 10,767 trẻ em khuyết tật các loại và hàng ngàn trẻ em khác đang sống trong điều kiện hết sức khó khăn; vẫn còn nhiều trẻ em chưa được học tập đầy đủ, chưa được tặng quà, chưa được vui chơi cùng các bạn bè, nhiều em nhỏ bị khuyết tật chưa được hỗ trợ phẫu thuật kịp thời.Với Tỷ lê ̣ trẻ em có hoàn cảnh đă ̣c biê ̣t và nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đă ̣c biệt trên địa bàn tỉnh còn cao cần được quan tâm, bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
Trang 13Cùng với đó hiện nay, công tác trẻ em đang đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ rất nặng nề như việc quản lý, phòng ngừa bảo vệ trẻ em khỏi bị bạo lực, xâm hại, lao động nặng nhọc, bị tai nạn thương tích ở một số địa phương chưa đầy đủ kịp thời, hiệu quả chưa cao
Xuất phát từ thực tiễn nhiệm vụ bảo vệ và chăm sóc trẻ em trong tình hình hiện nay và với tâm huyết của một công chức hiện đang trực tiếp tham mưu quản lý nhà nước về lĩnh vực trẻ em của tỉnh, luôn mong muốn góp một phần nhỏ bé của mình trong việc tìm ra các giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước đối với tổ chức thực hiện chính sách bảo trợ trẻ em trên địa bàn tỉnh Nghệ
An đáp ứng yêu cầu đang đặt ra trong giai đoạn hiện nay Vì vậy, tôi lựa chọn đề
tài: “Quản lý nhà nước đối với tổ chức thực hiện chính sách bảo trợ trẻ em
trên địa bàn tỉnh Nghệ An” làm luận văn nghiên cứu
2 Tổng quan nghiên cứu
Thực hiện chính sách bảo trợ xã hội dành cho trẻ em luôn là một trong những đề tài có tính thời sự và luôn nhận được sự quan tâm nghiên cứu trên các phương diện khác nhau của nhiều nhà khoa học, nhà lãnh đạo, quản lý, hoạch định chính sách tập trung đi sâu nghiên cứu, tìm tòi, khảo sát mà còn là đề tài thu hút sự quan tâm của rất nhiều người luôn trăn trở, tâm huyết với sự phát triển đối với thế hệ trẻ - tương lai của đất nước Có thể liệt kê một số công trình nghiên cứu, khảo sát liên quan đến lĩnh vực này như sau:
- Vũ Thị Thu Dung (2014)[39], “Quản lý Nhà nước về công tác bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt - nghiên cứu tại hệ thống làng trẻ em SOS Việt Nam”, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Trường đại học Kinh tế
Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với công tác chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt;
từ đó phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với công tác chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam trong thời gian qua tại tại hệ thống Làng trẻ em SOS Việt Nam nhằm đề xuất
Trang 14định hướng và giải pháp tăng cường công tác quản lý Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại hệ thống Làng trẻ em SOS Việt Nam
- Bùi Thị Loan (2014) [6], “Thực trạng công tác bảo vệ trẻ em nghèo có
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và vai trò của công tác xã hội tại xã Châu Khê- Huyện Con Cuông - Tỉnh Nghệ An”, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Trường đại học
quốc gia Hà Nội
Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và thực tiễn về công tác chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và vai trò công tác xã hội; từ đó phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với công tác chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại xã Châu Khê, Huyện Con Cuông, Tỉnh Nghệ An nhằm đề xuất định hướng và giải pháp tăng cường công tác quản lý Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại xã Châu Khê, Huyện Con Cuông, Tỉnh Nghệ An
- Nguyễn Hồng Minh (2016) [21], “Tăng cường quản lý sở lao động
thương binh & xã hội Tỉnh Nghệ An đối với quỹ bảo trợ trẻ em”, Luận văn Thạc
sỹ kinh tế, Trường đại học Vinh
Luận văn đã đánh giá được thực trạng quản lý Quỹ bảo trợ trẻ em của Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Nghệ An Chỉ rõ những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính là từ đặc điểm của từng nhóm đối tượng khác nhau Những đánh giá về thực trạng và nhu cầu đã chỉ cho thấy cần có một hệ thống các chính sách, giải pháp bảo trợ trẻ em, đồng thời việc xây dựng chính sách cần phải tuân thủ hệ thống nguyên tắc và phải thực hiện đồng bộ các giải pháp theo hướng ưu tiên cho hỗ trợ để đối tượng sống tại cộng đồng và tại các hộ gia đình
- Trần Xuân Quang (2016) [34], “Hoàn thiện chính sách xã hội cho đối
tượng bảo trợ xã hội tại tỉnh Quảng Bình”, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Trường
đại học Vinh
Trang 15Luận văn đã đánh giá được thực trạng công tác thực hiện chăm sóc xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội ở Quảng Bình từ đó đề ra một số giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả hơn chính sách cho đối tượng BTXH tại tỉnh Quảng Bình giai đoạn tới Các giải pháp cơ bản phù hợp với sự phát triển kinh tế của thành phố, phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương và những giải pháp đó góp phần hạn chế những vướng mắc, tồn tại trong việc thực hiện các chính sách cho đối tượng BTXH trên địa bàn tỉnh Quảng Bình thời gian qua, tạo sự ổn định cho quá trình tiếp nhận, phát triển theo định hướng mà Chính phủ phê duyệt
- Unicef Việt Nam (2010) [38], Báo cáo phân tích tình hình trẻ em ở Việt
Nam Báo cáo tiếp cận dựa trên quyền con người, xem xét tình hình trẻ em dựa
trên quan điểm các nguyên tắc chính về quyền con người như bình đẳng, không phân biệt đối xử và trách nhiệm giải trình Giá trị của cách tiếp cận này là nó phân tích các vấn đề ở cấp độ sâu hơn, nguyên nhân việc các quyền không được đáp ứng được tìm hiểu cặn kẽ và được hiểu rõ hơn Do đó phân tích này là đóng góp đáng chú ý cho việc hiểu tình hình trẻ em- nam và nữ, nông thôn và thành thị, dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số, trẻ em giàu và trẻ em nghèo hiện nay ở Việt Nam
- Hải Hà (2013) [14], “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác truyền thông
về việc tham gia thúc đẩy quyền trẻ em”, Cục bảo vệ, chăm sóc trẻ em - Bộ Lao động, thương binh và xã hội
Bài viết đưa ra một số giải pháp cần chú trọng để tăng cường công tác truyền thông nhằm vận động xã hội cùng hưởng ứng việc tham gia thúc đẩy quyền trẻ em đó là cần nâng cao nhận thức, chuyển đổi hành vi và tăng cường vận động xã hội; Tăng cường chất lượng thông tin trên các phương tiện truyền thông; Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ truyền thông; Định hình và phát triển của các biện pháp và dịch vụ tư vấn và vận động xã hội
- Mai Ngọc Cường (2009) [18], “Hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam”, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
Trang 16Nghiên cứu tổng quan về hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam trong thời gian qua, với những cấu thành chủ yếu nhất là bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội và ưu đãi xã hội Từ đó chỉ rõ yếu kém của hệ thống chính sách an sinh xã hội và phương hướng, giải pháp hoàn thiện
- Bộ lao động thương binh xã hội(2009) [5], “Xây dựng môi trường bảo
vệ trẻ em Việt Nam: đánh giá pháp luật và chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam”
Báo cáo nhằm xem xét và rà soát lại một cách toàn diện hệ thống pháp luật, chính sách về bảo vệ trẻ em ở Việt Nam Sau khi Việt Nam tham gia ký kết Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em năm 1990, nhiều luật, nghị định, chính sách và chương trình về bảo vệ trẻ em đã được ban hành Báo cáo sẽ phân tích
và đánh giá những văn bản quy phạm pháp luật đó trong mối tương quan với Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em cũng như các tiêu chuẩn quốc tế về bảo vệ trẻ em khác Báo cáo cũng nhằm mục đích xác định những khoảng cách giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế, cũng như dự báo những diễn biến mới về việc xây dựng các chính sách và chương trình liên quan đến lĩnh vực bảo vệ trẻ em
Dưới góc độ khoa học, các công trình nghiên cứu nói trên rất có giá trị và
vô cùng hữu ích đối với những người đã và đang nghiên cứu về chính sách bảo trợ trẻ em Tuy nhiên, cho đến nay chưa có nghiên cứu nào đề cập một cách toàn diện về quản lý nhà nước đối với tổ chức thực hiện chính sách bảo trợ trẻ em trên địa bàn tỉnh Nghệ An Vì thế việc nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa thực tiễn cao
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với tổ chức thực hiện chính sách bảo trợ từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với tổ chức thực hiện chính sách bảo trợ trẻ em trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Trang 173.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu đề ra, luận văn tập trung giải quyết một số vấn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu quản lý nhà nước đối với tổ chức thực hiện chính sách bảo trợ trẻ em trên địa bàn tỉnh Nghệ An
4.2 Phạm vi nghiên cứu
4.2.1 Phạm vi về không gian: trên địa bàn tỉnh Nghệ An
4.2.2 Phạm vi về thời gian: từ năm 2015-2017
4.2.3 Phạm vi về nội dung: Đề tài nghiên cứu chính sách bảo trợ trẻ em
dưới góc độ kinh tế chính trị và đi sâu nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước đối với tổ chức thực hiện chính sách bảo trợ trẻ em trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Từ đó đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế, tồn tại để tăng cường quản lý nhà nước đối với tổ chức thực hiện chính sách bảo trợ trẻ em tỉnh Nghệ An
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước về chính sách bảo trợ trẻ em
Trang 185.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Luận văn sử dụng phương pháp phương pháp trìu tượng hóa khoa học, phương pháp biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử…đồng thời sử dụng các phương pháp khác như: phương pháp thu thập thông tin, tài liệu thứ cấp và sơ cấp; phương pháp tổng hợp, xử lý và phân tích thông tin; phương pháp thống kê; phương pháp so sánh Tham vấn ý kiến các bên có liên quan, đặc biệt là các chuyên gia hoạt động trong lĩnh vực có liên quan về trẻ em và chính sách bảo trợ trẻ em
Phương pháp phân tích, xử lý số liệu: sau khi đã thu thập các số liệu cần thiết, luận văn sử dụng phương pháp phân tích và xử lý số liệu để đưa ra các đánh giá mang tính khách quan và đúng với thực tiễn về tổ chức thực hiện chính sách bảo trợ trẻ em Để thực hiện được phương pháp này cần kết hợp đồng bộ các phương pháp thống kê, so sánh
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo luận văn được bố cục gồm 3 chương:
Chương 1 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước đối với
tổ chức thực hiện chính sách bảo trợ trẻ em
Chương 2 Thực trạng quản lý nhà nước đối với tổ chức thực hiện chính sách
bảo trợ trẻ em trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Chương 3 Phương hướng và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với
tổ chức thực hiện chính sách bảo trợ trẻ em trên địa bàn tỉnh Nghệ An đến năm 2020
Trang 19Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TỔ CHỨC THỰC HIỆN
ở Việt Nam hiện nay được quy định trong nhiều văn bản luật và dưới luật, nhưng không có sự thống nhất, rõ ràng, thậm chí còn chồng chéo nhau khi định nghĩa về độ tuổi của trẻ em, đến khi nào thì không còn là trẻ em Điều này cũng
đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, cụ thể:
Theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam năm 2004 quy định thì: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” [22] Như vậy, quy định về tuổi trẻ em trong Luật Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em của Việt Nam
đã có độ vênh tới 2 tuổi so với Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em
Theo Luật Thanh lao động năm 2012 quy định thì: “Thanh niên quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi” [24]
Theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định thì: Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây: Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ
18 tuổi trở lên Trong khi đó, tại Điều 18 của Bộ luật dân sự hiện hành thì: Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên Như vậy, với nữ thì chỉ cần đủ 18 tuổi trở lên là có quyền được kết hôn, nhưng nam thì phải đợi đến đủ
20 tuổi mới được thực hiện quyền được kết hôn của mình? Vậy phải chăng đối với nam thì đến 20 tuổi mới hết là trẻ em? Chỉ riêng quy định này cũng đã cho
Trang 20chúng ta thấy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tuy mới ban hành, nhưng
đã bộc lộ bất cập, không thống nhất với Bộ luật Dân sự [22]
Bộ luật Dân sự quy định [24]: Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên Với quy định này, có thể hiểu rằng, người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa trưởng thành, tức cũng có nghĩa là người chưa đủ 18 tuổi vẫn còn là trẻ em
Luật Lao động năm 2012 quy định về người lao động như sau: Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động” [24] Theo quy định trên thì người lao động có thể là người chưa thành niên, nói cách khác là có thể vẫn còn là trẻ em
Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 cũng xác định đối tượng xử phạt hành chính phải từ đủ 14 tuổi trở lên, cụ thể là: “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới
16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; người từ
đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính” [23], quy định này đồng nghĩa với việc coi trẻ em là 14 thay vì 16 như quy định chung
Vậy Trẻ em là người dưới 16 tuổi (theo quy định của Luật trẻ em năm 2016), so với Luật cũ quy định trẻ em là công dân thì mặc nhiên chỉ thừa nhận quyền công dân của trẻ còn với quy định mới của Luật trẻ em đã mở rộng hơn trẻ em “là người” tức là ghi nhận tất cả quyền con người của trẻ em trong Hiến pháp và trong công ước Liên hiệp quốc về quyền trẻ em và không giới hạn trẻ
em là người Việt Nam mà đối tượng áp dụng của Luật bao gồm cả trẻ em là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam
Trẻ em trước hết phải hiểu đó là con người phải được hưởng mọi quyền “ không bị bất cứ một sự phân biệt đối xử nào vì chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, hoặc quan điểm, nguồn gốc dân tộc và xã hội, tài sản dòng dõi hoặc mối tương quan khác” Nhưng trẻ em lại là người chưa trưởng
Trang 21thành nên có quyền được chăm sóc, tồn tại, phát triển, được bảo vệ và được bày
tỏ ý kiến, thể hiện: quyền được sống với cha mẹ, được đoàn tụ với gia đình, được tự do tin tưởng tín ngưỡng và tôn giáo, được bảo vệ đời tư, tiếp xúc thông tin, được bảo vệ khỏi áp bức và tổn thương về thể chất và tinh thần, được chăm sóc và nuôi dưỡng khi bị tước mất môi trường gia đình, được hưởng những sự chăm sóc đặc biệt đối với trẻ em bị khuyết tật về trí tuệ và thể chất,được hưởng trạng thái sức khoẻ cao nhất và các dịch vụ chữa bệnh, phục hồi sức khoẻ, được hưởng an toàn xã hội, được có mức sống để phát triển về thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và xã hội, được giáo dục, được nghỉ ngơi, giải trí, vui chơi, được bảo vệ khỏi bị bóc lột về kinh tế và các công việc nguy hiểm độc hại, được bảo
vệ chống lại việc sử dụng các chất ma tuý và an thần, được bảo vệ chống bị bóc lột, cưỡng bức, lạm dụng về tình dục, được phục hồi về thể chất, tâm lý và tái hoà nhập xã hội Như vậy, Nhà nước, xã hội và gia đình đều có trách nhiệm đảm bảo những quyền cơ bản cho trẻ em
Trẻ em có quyền được bảo vệ không phải tham gia vào quan hệ lao động sớm để nhằm tránh ảnh hưởng đến sức khoẻ và sự phát triển về tinh thần Vấn
đề này đã được quy định cụ thể tại Điều 32 Công ước về quyền của trẻ em: “Bảo
vệ trẻ em không bị bóc lột kinh tế và không phải thực hiện những công việc có thể gây nguy hiểm hoặc cản trở việc học hành của trẻ, hoặc có hại cho sức khoẻ của trẻ, gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển về thể lực, trí tụê, tinh thần, nhân cách hay xã hội của trẻ” Trẻ em có thể chất và tinh thần chưa phát triển toàn diện nên khi tham gia vào quan hệ lao động sớm thì rất dễ tổn hại đến sức khoẻ, gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển bình thường của trẻ Bên cạnh đó phải kể đến những công việc gây hại, ảnh hưởng xấu cho sự phát triển nhân cách của trẻ nếu như công việc đó đặt trẻ trong mối liên quan với các hoạt động tội phạm
Nhân loại đang hướng đến việc bảo vệ trẻ em khỏi bị bóc lột, như Điều 19 Công ước về quyền của trẻ em đã quy định: trẻ em cần được tránh khỏi “tất cả các vi phạm về thể xác và tinh thần, gây thương tích hay lạm dụng, sao nhãng
Trang 22hay bóc lột sức lao động”, đồng thời kêu gọi tất cả mọi người hãy chung tay xây dựng một thế giới lành mạnh cho trẻ em Các Điều 32, Điều 19 của Công ước quy định với nội dung như vậy nhằm mục đích chỉ rõ các Chính Phủ, Nhà Nước cần phải bảo vệ trẻ em khỏi bị cha mẹ, người chăm sóc hay bất cứ ai lạm dụng, buộc trẻ phải tham gia vào quan hệ lao động sớm
Bên cạnh đó trong khoản 1 Điều 32 đã nêu rõ một số loại hình công việc lao động khác nhau mà trẻ em cần được phải bảo vệ để không phải thực hiện:
+ Công việc nguy hiểm: là công việc có nguy cơ bị tai nạn cao, tổn hại đến sức khoẻ, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển bình thường của trẻ Đồng thời công việc đó còn gây cản trở cho việc học tập của các em nếu công việc này phải thực hiện vào các giờ mà đáng lý ra trẻ phải ở trường, hoặc công việc quá mệt và vất vả làm cho trẻ không thể đến trường Điều 32 còn nhắc đến quyền của trẻ em là được bảo vệ không bị “bóc lột kinh tế”
+ Bóc lột kinh tế: tức là kiếm tiền trên sự lao động, làm việc vất vả của trẻ Nó bao gồm cả cách kiếm tiền mà không liên quan gì đến lao động hay làm việc theo nghĩa thông thường của cụm từ “làm việc”, như là sử dụng trẻ em đi
ăn xin, ăn cắp, buôn bán trẻ em, trẻ em tham gia vào các nghề mang tính nghệ thuật mà không đặt quyền lợi, lợi ích của trẻ em lên hàng đầu thì đây cũng được coi là dạng bốc lột kinh tế Khác với bóc lột kinh tế, bóc lột sức lao động nó mang nghĩa hẹp hơn:
+ Bóc lột sức lao động: tức là dùng trẻ em làm việc một cách quá mức, quá nặng, những công việc nguy hiểm, lấy tiền mà trẻ kiếm được để sử dụng cho mục đích bản thân Như vậy từ phân tích trên ta thấy luật quốc tế đã đề cập nhiều đến vấn đề lao động của trẻ em, tuy nhiên chúng ta không thấy một định nghĩa nào về trẻ em lao động sớm, vậy trẻ em lao động sớm là gì? Từ cách quy định của pháp luật quốc tế chúng ta có thể rút ra cách hiểu trẻ em lao động sớm là: trẻ em phải làm những công việc vượt quá độ tuổi lao động quy định trong pháp luật
Trang 23- Trước khi Công ước quốc tế về quyền của trẻ em ra đời, tổ chức lao động thế giới (ILO) đã dề ra các tiêu chuẩn về quyền của người lao động, áp dụng một công ước về độ tuổi tối thiểu được đi làm Vì trong Công uớc quốc tế
về quyền của trẻ em không đề cập đến giới hạn tối thiểu cho độ tuổi đi làm cho nên các nước phải theo những hướng dẫn trong Công ước ILO
+ Công ước ILO quy định độ tuổi tối thiểu để đi làm cả ngày là 15 tuổi hoặc ở những nước nghèo không ít hơn 14 tuổi Tuy nhiên trẻ em 13 tuổi có thể được phép đi làm những công việc nhẹ, không làm công việc đầy đủ cả ngày những công việc này không ảnh hưởng đến sức khoẻ hay phát tiển của trẻ và không ảnh hưởng đến việc học hành của trẻ (Điều 7 công ước số 138 ngày 26/06/1973) Trong khoản 1 Điều 3 Công ước số 138 “Đối với mọi loại công việc hoặc mọi loại lao động nào mà tính chất hoặc điều kiện tiến hành có thể có hại đến sức khoẻ, an toàn, phẩm hạnh của trẻ em thì mức tối thiểu không được dưới 18 tuổi” Bên cạnh đó Khoản 3 Điều 3 cũng ghi nhận rằng: “cho phép sử dụng trẻ em làm việc ngay từ độ tuổi 16 với điều kiện an toàn và phẩm hạnh của
họ được đảm bảo đầy đủ, phải có sự dạy dỗ thích đáng hoặc đào tạo nghề cho họ trong ngành hoạt đồng tương ứng” Cuối cùng Công ước về quyền của trẻ em cũng chỉ ra những giải pháp thực hiện mà các Nhà Nước tham gia Công ước cần phải làm để kiểm soát lao động trẻ em đó là:
+ Đưa ra một độ tuổi tối thiểu hoặc các độ tuổi tối thiểu được phép đi làm + Đưa ra các quy chế thích hợp về số giờ, và các điều kiện làm việc
+ Đưa ra hình phạt hoặc các hình thức thưởng phạt nhằm đảm bảo thực hiện có hiệu quả Điều 32 Hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến tranh cãi về việc liệu có thực tế hay không trong việc cấm tất cả trẻ em đi làm, đặc biệt là ở những nước đang phát triển, nơi mà nhiều trẻ em đi làm việc giúp đỡ nuôi sống gia đình Như vậy ở đây đã xuất hiện sự mâu thuẫn Trên thực tế thì lại rất phức tạp, việc trẻ em phải đi làm việc là rất nhiều và sự tham gia vào các quan hệ lao động sớm của các em đã phần nào giúp đỡ gia đình, tạo thu nhập cho gia đình, làm cho
Trang 24cuộc sống vật chất của gia đình tăng lên rất nhiều Mặc dù vẫn còn tồn tại những mâu thuẫn đối lập xung quanh vấn đề lao động của trẻ em nhưng chúng ta đều nhận thấy rằng trẻ em là những người luôn cần được bảo vệ, chăm sóc, phải tạo mọi điều kiện thuận lợi về vật chất lẫn tinh thần, để cho trẻ phát triển một các bình thường, toàn diện
1.1.2 Quan niệm bảo trợ trẻ em
Có thể thấy tính phổ quát của thuật ngữ “bảo trợ xã hội” (social protection) qua những tài liệu nghiên cứu và các thảo luận chính sách trong nhiều hội thảo quốc tế gần đây Tuy nhiên ở mức độ nào đó, khái niệm này còn chưa rõ ràng, chủ yếu là do có nhiều cách sử dụng khác nhau và cách đặt vấn đề khác nhau ở mỗi quốc gia Ở Việt Nam, bảo trợ xã hội gần với khái niệm trợ giúp xã hội, là một trong ba trụ cột cơ bản của hệ thống an sinh Với mục đích khắc phục rủi ro, trợ giúp xã hội cùng với bảo hiểm xã hội có chức năng giảm thiểu rủi ro và chính sách thị trường lao động chủ động nhằm phòng ngừa rủi ro cho người dân.Trợ giúp xã hội còn được xem như “phao cứu sinh” nhằm hỗ trợ cho các thành viên trong xã hội không bị rơi vào hoàn cảnh bần cùng hóa
Như vậy ở Việt Nam bảo trợ xã hội có nội hàm hẹp hơn so với an sinh xã hội và được triển khai dưới hình thức trợ cấp xã hội trên thực tế Từ điển thuật ngữ an sinh xã hội của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội không có thuật ngữ
“bảo trợ xã hội” mà chỉ có khái niệm “trợ giúp xã hội” (social assistance) là “sự trợ giúp bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật của nhà nước (lấy từ nguồn thuế, không phải đóng góp từ người dân) nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu cho đối tượng được nhận Mặc dù các tổ chức phát triển quốc tế đều sử dụng định nghĩa riêng về bảo trợ xã hội song tất cả đều nhấn mạnh bản chất của bảo trợ xã hội thông qua các can thiệp chính sách cần thiết của nhà nước và các hoạt động tình nguyện ở cộng đồng
Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra khái niệm “Bảo trợ xã hội là những biện pháp công cộng nhằm giúp các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng ứng phó với
Trang 25và kiềm chế được nguy cơ có tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập” Nhấn mạnh sự kiềm chế nguy cơ, bảo trợ
xã hội vừa là mạng lưới an toàn, vừa là cơ sở để phát triển vốn con người.[19]
Viện nghiên cứu Phát triển Hải ngoại (ODI) đưa ra khái niệm “Bảo trợ xã hội là những hành động công ích nhằm giảm thiểu tính tổn thương, nguy cơ gây sốc và sự bần cùng hóa, là những điều không thể chấp nhận được về mặt xã hội” Nhấn mạnh tính dễ bị tổn thương và bần cùng hóa, do vậy bảo trợ xã hội hướng vào người nghèo hoặc những người khó khăn nhất thuộc tầng lớp không ai mong muốn trong xã hội [ 19]
Đối với Việt Nam, bảo trợ xã hội như một lưới an toàn (safety-net) nhằm bảo đảm sự an toàn về đời sống của người dân khi họ bị rơi vào hoàn cảnh rủi ro
và tự bản thân không khắc phục được Các hoạt động cứu trợ xã hội, giảm nghèo nhằm hạn chế nguy cơ dễ bị tổn thương ở những đối tượng yếu thế, mất nguồn thu nhập và sinh kế, và không có điều kiện tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản Quan điểm hiện đại về bảo trợ xã hội xem xét sự trợ giúp dưới ba hình thức: hỗ trợ thu nhập, trợ cấp xã hội và dịch vụ xã hội Trong luận văn này, bảo trợ xã hội là những giải pháp, sáng kiến nhằm đem lại thu nhập và dịch vụ cơ bản cho các cá nhân và nhóm yếu thế, bảo vệ họ khỏi các nguy cơ đe dọa sinh
kế, đói nghèo, giảm nhẹ tính dễ bị tổn thương, thúc đẩy công bằng xã hội
Những hình thức bảo trợ xã hội chủ yếu nhất, gắn với các đối tượng yếu thế ở Việt Nam, cụ thể:
1 Trợ giúp xã hội cho các đối tượng yếu thế: Bảo trợ xã hội dưới hình thức này bao gồm trợ giúp thường xuyên và trợ giúp không thường xuyên (đột xuất) Đây là hình thức quan trọng trong việc hỗ trợ thu nhập thường xuyên và đột xuất cho các đối tượng yếu thế như người khuyết tật, người cao tuổi, người tâm thần, trẻ em mồ côi, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn… nhằm góp phần ổn định cuộc sống, nâng cao năng lực phòng chống và chống chọi với rủi ro cho các nhóm yếu thế này
Trang 262 Trợ giúp người nghèo Xóa đói - giảm nghèo là một hoạt động bảo trợ quan trọng ở Việt Nam Các chính sách, chương trình giảm nghèo trong thời gian qua đã bảo đảm an sinh xã hội cho đối tượng nghèo, bao gồm các hộ nghèo
và địa bàn nghèo ở nước ta Hệ thống chính sách giảm nghèo đến nay được xây dựng tương đối toàn diện Các chương trình giảm nghèo tập trung vào vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, miền núi
3 Trợ cấp ưu đãi người có công với một đất nước có ngót 1/2 thế kỷ chiến tranh chống xâm lược, ưu đãi xã hội chiếm một vị trí đặc biệt trong hoạt động bảo trợ xã hội ở Việt Nam Đây là một hình thái đặc thù, thể hiện đạo lý
“uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa” đối với những người đã hy sinh, cống hiến một phần xương máu cho Tổ quốc
Trẻ em không chỉ là lực lượng đông đảo của hiện tại mà là nguồn nhân lực của tương lai “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”, bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em hôm nay chính là tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tố tạo nên sự phát triển bền vững của đất nước trong tương lai Bảo trợ trẻ em thường dùng ba thuật ngữ: "Bảo vệ', "chăm sóc", "giáo dục" trẻ em Có thể hiểu ba thuật ngữ này qua cac hành vi sau đây:
Hai hành vi cơ bản quan trọng nhất để bảo vệ trẻ em:
- Phòng ngừa để trẻ em không bị rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: bao gồm phòng ngừa tàn tật, phòng ngừa mồ côi, phòng ngừa bị xâm hại tình dục, phòng ngừa trẻ em nghiện ma tuý, phòng ngừa lang thang, sao nhãng
- Khi trẻ em vì một lý do nào đó đã rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn thì phải giúp chúng thoát ra khỏi hoàn cảnh đó, trở về cuộc sống bình thường (tái hoà nhập cộng đồng) hoặc không để tình hình xấu hơn (từ mồ côi thành lang thang, từ một dạng tật do thiếu sự quan tâm cần thiết trở thành hai dạng tật, từ lang thang thành tội phạm nghiện hút, vi phạm pháp luật )
Hai hành vi cơ bản quan trọng để chăm sóc trẻ em:
- Người lớn nhận biết và đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần trong sự
Trang 27phát triển của trẻ (nhu cầu ăn mặc, học hành,vui chơi giải trí, nhu cầu được thương yêu, được tôn trọng )
- Người lớn thường xuyên đưa trẻ vào những hoạt động xã hội phù hợp, năng động và vui vẻ, đáp ứng nhu cầu phát triển theo từng lứa tuổi
Những hành vi cơ bản, quan trọng nhất để giáo dục trẻ em:
- Đáp ứng nhu cầu của trẻ em trong việc nhận thức phát triển kiến thức, hiểu biết về tự nhiên, xã hội và con người
- Tạo điều kiện tốt nhất để trẻ em được đến trường, tiếp cận với nền giáo dục cơ bản thông qua hoạt động học tập ở nhà trường
- Tạo điều kiện và tổ chức chăm lo đời sống,văn hoá tinh thần vui chơi giải trí cho mọi trẻ em
Các thuật ngữ trên đây tuy có khác nhau về nhiều mặt riêng nhưng thống nhất và hỗ trợ cho nhau Nếu ta quan tâm chăm sóc trẻ em thì hiển nhiên ta phải bảo vệ chúng trước mọi rủi ro của cuộc sống Đồng thời khi ta quan tâm đến việc giáo dục trẻ em, hiển nhiên ta phải bảo trợ trẻ em
1.1.3 Sự cần thiết bảo trợ trẻ em
Ở nước ta, phát triển con người, chăm lo cho con người, cho cộng đồng xã hội được coi là trách nhiệm của toàn xã hội, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Cương lĩnh của Đảng ta chỉ rõ: "Chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc con người là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.”
Trên thực tế, việc chuyển đổi từ nền kinh tề tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam đã tạo ra những vấn đề xã hội mà có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới trẻ em Quá trình đổi mới kinh tế này đã có những đóng góp tốt và to lớn vào sự phát triển của trẻ em, song cũng có những ảnh hưởng không thuận lợi đến tình hình trẻ em Cơ chế thị trường kéo theo sự phân cách giàu nghèo trong xã hội, làm nảy sinh tệ nạn trong xã hội đã tác động đến đời sống tinh thần và vật chất của trẻ em, gây trở ngại cho việc thực hiện quyền
Trang 28trẻ em Những vấn đề bức xúc về trẻ em còn tồn tại và mới nảy sinh như: trẻ em nghèo, sự gia tăng của nạn lạm dụng và bóc lột trẻ em, trẻ em nghiện hút, trẻ em
vi phạm pháp luật Rõ ràng, cơ chế thị trường đã tạo ra những cơ hội và thách thức mới cho sự phát triển con người và đặc biệt là trẻ em Do vậy, cần có sự quản lý Nhà nước để bảo vệ các em, tránh cho các em khỏi những sa ngã, cạm bẫy, chăm sóc các em để có điều kiện phát triển tốt hơn về thể chất và tinh thần, giúp cho các em có điều kiện thực hiện tốt quyền trẻ em Chính vì thế, công tác quản lý Nhà nước về vấn đề trẻ em hết sức cần thiết và trở nên cấp thiết hơn trong điều kiện nước ta hiện nay Cần có vai trò cân đối và điều tiết vĩ mô của Nhà nước, đặt trọng tâm và ưu tiên nguồn lực vào các mục tiêu xã hội bức xúc cần giải quyết trong đó là vấn đề trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Mặt khác, Việt Nam là nước phải trải qua thời kỳ dài của cuộc chiến tranh Tuy chiến tranh đã qua đi nhưng hậu quả của nó để lại thật nặng nề Đó chính là hậu quả của chất độc màu da cam mà nạn nhân ở đây là những trẻ em dị dạng, quái thai do bố mẹ bị nhiễm chất độc màu da cam Những gia đình này đang phải chịu những khó khăn rất lớn không nhữmg về thể xác mà còn là nỗi đau đớn về về tinh thần mà bố mẹ các em và chính bản thân các em không có lỗi
gì cả Trước thực trạng này cần phải có sự quan tâm đặc biệt của cộng đồng xã hội và Nhà nước, giúp đỡ các gia đình này giảm bớt khó khăn, có chính sách hỗ trợ để khuyến khích, động viên tinh thần, trợ giúp, chăm sóc về vật chất để phần nào giảm bớt những thiệt thòi mà các em đang phải gánh chịu trong cuộc sống
1.2 Quản lý nhà nước về đối với tổ chức thực hiện chính sách bảo trợ trẻ em
1.2.1 Khái niệm về chính sách bảo trợ trẻ em
Chính sách của Nhà nước là tập hợp văn bản mà Chính phủ xây dựng, ban hành với các mục đích rõ ràng, tác động đến nhóm người hoặc toàn bộ người dân trong xã hội Hầu hết các chính sách được thể hiện dưới dạng văn bản pháp luật và các văn bản dưới luật Tuy nhiên, ở nghĩa rộng hơn, chính sách là tổng
Trang 29thể quan điểm, giải pháp và công cụ mà chủ thể quản lý (Nhà nước) sử dụng để tác động lên các đối tượng và khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong một giai đoạn, thời kỳ lịch sử cụ thể Chính sách là một trong những công cụ, phương tiện quản lý của Nhà nước để tác động lên xã hội nhằm đạt được các mục tiêu quản lý đề ra Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế văn hóa - xã hội - môi trường Chính sách được cụ thể hóa trong hệ thống văn bản luật pháp, các chương trình phát triển kinh tế xã hội, các dự án và các giải pháp, biện pháp can thiệp trực tiếp vào các nhóm đối tượng cụ thể Chính sách của Nhà nước là tổng thể các quan điểm, chuẩn mực, biện pháp, thủ thuật mà nhà nước sử dụng để tác động lên xã hội nhằm đạt được các mục tiêu quản lý xã hội cụ thể nào đó một cách tốt nhất sau một thời gian nhất định Chính sách của Nhà nước khi ban hành và tổ chức thực hiện cần phải được phân tích và đánh giá hiệu quả Chính sách xã hội là một bộ phận quan trọng trong chính sách của Đảng nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền vững, trong đó tạo việc làm, giảm thất nghiệp, xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng nguồn lực, tăng cường cơ hội và đảm bảo bình đẳng nam nữ, quan tâm thích đáng đến các đối tượng người có công, người yếu thế, chăm sóc trẻ em và các nhóm xã hội khác có vai trò rất quan trọng
GS.TS Mai Ngọc Cường cho rằng: “Chính sách xã hội là một loại chính
sách được thể chế hóa bằng pháp luật của Nhà nước, là hệ thống quan điểm, chủ trương, phương hướng và biện pháp để giải quyết những vấn đề xã hội đặt
ra trong một thời gian và không gian nhất định, trước hết là những vấn đề xã hội liên quan đến đời sống của con người theo nguyên tắc tiến bộ và công bằng
xã hội, nhằm góp phần ổn định và phát triển bền vững đất nước” [18]
Như vậy, Chính sách bảo trợ trẻ em là tập hợp các chủ trương và biện
pháp của Nhà nước về lĩnh vực bảo trợ xã hội trong đó xác định rõ đối tượng là trẻ em, điều kiện hưởng bảo trợ, các chế độ bảo trợ, nguồn kinh phí thực hiện
Các loại chính sách sách bảo trợ xã hội dành cho đối tượng trẻ em sau:
Trang 30- Chính sách trợ giúp thường xuyên: Là hình thức trợ giúp xã hội đối với
trẻ em không thể lo được cuộc sống trong một thời gian dài (một hoặc nhiều năm) hoặc trong suốt cả cuộc đời của đối tượng được trợ giúp
- Chính sách trợ cấp hàng tháng: Đó là khoản tiền mà nhà nước hỗ trợ
cho đối tượng bảo trợ trẻ em được quy định nhằm giúp họ vượt qua khó khăn trong cuộc sống
Ví dụ: Mức chuẩn Tại NĐ 136/2013/NĐ-CP là 270.000 đ/người/ tháng thì người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng là hệ số 2,0 (540.000đ/ tháng); Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ
xã hội, nhà xã hội nhưng có người nhận chăm sóc tại cộng đồng là hệ số 3,0 (810.000đ/ tháng) [17]
- Chính sách trợ giúp đột xuất: Là hình thức trợ giúp xã hội do Nhà nước
và cộng đồng giúp đỡ những người không may bị thiên tai, mất mùa hoặc gặp những biến cố khác mà đời sống của họ bị đe dọa về tính mạng, lương thực, nhà
ở, chữa bệnh, chôn cất hay phục hồi sản xuất nếu không có sự trợ giúp khẩn cấp
- Chính sách về trợ giúp y tế: Đó là quy định cho các đối tượng BTXH
theo quy định được cấp thẻ BHYT miễn phí hàng năm
- Chính sách về trợ giúp giáo dục: Đó là những quy định của nhà nước về
tạo điều kiện cho một số đối tượng là con của các đối tượng BTXH được hỗ trợ trong giáo dục - đào tạo nhằm động viên trẻ đến trường đúng độ tuổi, nâng cao trình độ văn hóa
Ví dụ như trẻ em mồ côi cha mẹ, trẻ em bị khuyết tật; trẻ em thuộc hộ nghèo Công tác Bảo trợ xã hội là một trong nhiều các chính sách của Nhà nước
do vậy tuân thủ quy trình chính sách, nguyên tắc chung, cụ thể:
Một là, nguyên tắc trợ giúp xã hội bình đẳng, không có sự phân biệt theo
Trang 31tiêu chí nào Nguyên tắc này được ghi nhận trong Điều 34 Hiến Pháp năm 2013
và cụ thể hóa trong các văn bản Luật, dưới luật Quyền hưởng trợ giúp xã hội cho trẻ em được áp dụng cho tất cả mọi đối tượng, không có sự phân biệt theo tiêu chí nào nhưng để được hưởng các khoản trợ cấp, hỗ trợ của hệ thống trợ giúp xã hội, trẻ em còn phải đảm bảo các điều kiện hưởng cụ thể
Hai là, nguyên tắc mức trợ cấp xã hội đối với trẻ em không phụ thuộc vào
sự đóng góp, thu nhập hoặc mức sống của họ mà chủ yếu phụ thuộc vào mức độ khó khăn và nhu cầu thực tế của đối tượng Để được hưởng trợ giúp xã hội, trẻ
em không phải đóng góp tài chính và đồng thời không phụ thuộc vào mức thu nhập, mức sống của họ trước khi bị khó khăn Tiêu chí quan trọng để xác định mức trợ cấp cho trẻ em chính là hoàn cảnh sống thực tế của người trẻ em
Ba là, nguyên tắc thực hiện trợ giúp xã hội cân đối giữa nhu cầu thực tế của trẻ em và phù hợp với khả năng đáp của điều kiện kinh tế xã hội Việc đáp ứng nhu cầu trợ giúp xã hội của trẻ em phải được tính toán cân đối với khả năng đáp ứng và điều kiện kinh tế xã hội của quốc gia trong từng giai đoạn, nếu không sẽ không đạt được mục đích của trợ giúp và ảnh hưởng đến các chính sách kinh tế xã hội khác
Bốn là, nguyên tắc đa dạng hóa, xã hội hóa hoạt động trợ giúp xã hội đối với trẻ em, phát huy khả năng vươn lên hòa nhập cộng đồng Trong điều kiện hiện nay, việc xã hội hóa thực hiện trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật được nhìn nhận theo hướng tiến bộ Không phải trợ giúp xã hội cho trẻ em chỉ dừng lại ở những khoản trợ cấp do nhà nước thực hiện mang tính ban phát, bao cấp
mà hướng tới việc huy động nguồn lực và sự quan tâm của cả cộng đồng nhằm đưa đến sự bảo vệ cao nhất cho trẻ em
Nhà nước với tư cách là người tổ chức, người quản lý xã hội, cho thấy hết tầm quan trọng của việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nói chung Thông qua các hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp và các hoạt động cung cấp các dịch vụ xã hôi cơ bản Đó chính là hoạt động điều hành và quản lý của Nhà nước
Trang 32như xây dựng và triển khai thực hiện các chính sách, luật pháp nhằm vừa bảo vệ, vừa chăm sóc và giáo dục trẻ em
Như vậy, công tác bảo trợ trẻ em của Nhà nước là tạo môi trường pháp lý, hành chính thuận lợi để bảo vệ quyền của trẻ em và tạo điều kiện để các em hoà nhập công đồng, xã hội để phát triển toàn diện như những trẻ em bình thường khác
Cụ thể, trong công tác bảo trợ trẻ em, Nhà nước thể hiện chức năng quản lý của mình bằng việc bảo vệ các em chống lại bất kỳ hình thức phân biệt đối xử nào
và có những biện pháp tích cực để bảo vệ quyền trẻ em, Nhà nước phải bảo vệ trẻ
em chống lại sự xâm hại về thể chất hay tinh thần, kể cả việc bóc lột và lạm dụng trẻ em Nhà nước bảo vệ trẻ em không bị bóc lột về kinh tế, không phải làm những công việc làm ảnh hưởng đến học tập của các em hay tổn hại đến sức khoẻ, phúc lợi của các em, bảo vệ các em chống lại việc sử dụng các chất ma tuý, loại
bỏ việc mại dâm, buôn bán và bắt cóc trẻ em Nhà nước đảm bảo cho các em được tiếp xúc với các thông tin và tài liệu có xuất xứ từ các nguồn khác nhau, phải khuyến khích các phương tiện thông tin đại chúng truyền bá những thông tin
có ích lợi về mặt văn hoá xã hội đối với trẻ em, Nhà nước bảo vệ trẻ em chống lại những tài liệu nguy hại Đối với các trẻ em bị tước mất môi trường gia đình, Nhà nước có nghĩa vụ bảo vệ đặc biệt, đảm bảo sao cho các em được hưởng sự chăm sóc thích hợp, thay thế cho sự chăm sóc của gia đình hoặc có những cơ sở nuôi dạy các em Trẻ em có quyền được bảo vệ không phải làm những công việc gây tổn hại đến sức khoẻ, giáo dục và sự phát triển của các em
1.2.2 Nội dung của quản lý nhà nước đối với tổ chức thực hiện chính sách bảo trợ trẻ em
1.2.2.1 Tiếp nhận, thẩm định hồ sơ và xét duyệt trợ cấp cho đối tượng trẻ em
Quy trình tiếp nhận, thẩm định và xét duyệt trợ cấp bảo trợ xã hội cho trẻ em
Cấp khối < …> Phường, Xã <….> Thành phố, Huyện <… > Tỉnh
Bước 1: Để trẻ em được xét duyệt hưởng trợ cấp xã hội thì phải có số liệu
từ cấp khối giới thiệu, lựa chọn đối tượng theo quy định
Bước 2: Đối tượng hoặc người giám hộ làm hồ sơ theo quy định, gửi Ủy
Trang 33ban nhân dân cấp xã, phường
Bước 3: Cơ quan tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ của đối tượng, Hội đồng xét duyệt cấp xã tổ chức họp xét duyệt và niêm yết công khai kết quả xét duyệt tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, phường Hết thời gian niêm yết công khai, nếu không có khiếu nại thì Hội đồng xét duyệt cấp xã bổ sung biên bản kết luận của Hội đồng xét duyệt và trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định tiếp nhận đối tượng và làm văn bản gửi Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội
Bước 4: Khi nhận được hồ sơ của đối tượng và văn bản đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thẩm định, trình Ủy ban nhân dân cấp huyện, thành phố quyết định
Bước 5: Khi nhận được văn bản trình của Phòng Lao động - Thương binh
và Xã hội, Ủy ban nhân dân cấp huyện, thành phố quyết định tiếp nhận đối tượng đề nghị Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội xem xét ra quyết định cho đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng hoặc đột xuất Phòng LĐTBXH tổng hợp, lập dự toán kinh phí trình Phòng tài chính – kế hoạch rút tiền về đồng thời khẩn trương lập danh sách đề nghị cấp thẻ BHYT cho đối
tượng hưởng trợ cấp hàng tháng đồng thời báo cáo Sở LĐTBXH
Bước 6: Phòng LĐTBXH báo cáo Sở LĐTBXH Từ đó Sở LĐTBXH
định kỳ hàng năm tổng hợp báo cáo và lập dự toán kinh phí gửi Sở Tài chính
phân bổ cho huyện, thành phố; xây dựng chế độ kiểm tra, giám sát
Quy trình xét duyệt rất chặt chẽ vì vậy đòi hỏi phải có thời gian thụ lý hồ
sơ và xem xét hồ sơ Để tránh sai sót, nhầm lẫn cán bộ phải làm việc thận trọng
Trang 34trợ giúp có điều kiện cho các nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em dân tộc thiểu số, trẻ em thuộc hộ nghèo, hộ câ ̣n nghèo Đánh giá và rà soát các tiêu chí về xã, phường, thị trấn phù hợp với trẻ em, kết hợp, lồng ghép với các tiêu chí xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh để chỉ tiêu xã, phường, thị trấn phù hợp với trẻ em trở thành một tiêu chí phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, địa phương
+ Triển khai thực hiện một cách có hệ thống và hiệu quả các Chương trình, đề án đã được phê duyệt: Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em 2012
- 2020; Chương trình thúc đẩy quyền tham gia của trẻ em vào các vấn đề về trẻ
em giai đoạn 2016 - 2020; Chương trình bảo vệ trẻ em giai đoạn 2016 - 2020; Chương trình phòng ngừa, giảm thiểu lao động trẻ em giai đoạn 2016 - 2020; Chương trình phòng, chống tai nạn thương tích trẻ em giai đoạn 2016 - 2020;
Dự án phát triển hệ thống bảo vệ trẻ em thuộc Chương trình mục tiêu hỗ trợ phát triển hệ thống trợ giúp xã hội giai đoạn 2016 - 2020
+ Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, các tổ chức xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt và triển khai các chương trình, đề án, kế hoạch nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh như: Bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng; Hỗ trợ trẻ em khuyết tật tiếp cận các dịch vụ hòa nhập và phát triển tại cộng đồng; Phát triển toàn diện trẻ em trong những năm đầu đời tại gia đình và cộng đồng
+ Duy trì và phát triển dịch vụ công và các mô hình bảo vệ trẻ em để dịch
vụ bảo vệ trẻ em trở thành hệ thống dịch vụ cơ bản bảo đảm thực hiện quyền trẻ
em cùng với dịch vụ giáo dục và y tế Quy hoạch các cơ sở cung cấp dịch vụ bảo
vệ trẻ em, kết nối với các dịch vụ xã hội khác nhằm đáp ứng việc bảo vệ trẻ em
ở cả 03 cấp độ: xây dựng môi trường sống an toàn; phòng ngừa sớm tổn hại; can thiệp và tái hòa nhập tích cực; quản lý từng trường hợp trẻ em bị xâm hại, trẻ em
có hoàn cảnh đă ̣c biê ̣t Hệ thống các cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em được kiện toàn theo hướng Nhà nước ưu tiên đầu tư kết hợp với thu hút đầu tư từ xã
Trang 35hội theo hình thức hợp tác công - tư
+ Tiếp tục duy trì và nhân rộng mô hình để bảo vệ trẻ em: Ngôi nhà an toàn, cộng đồng an toàn phòng, chống tai nạn thương tích cho trẻ em; Hỗ trợ
và tái hòa nhập trẻ em vi phạm pháp luật; Chăm sóc trẻ em bị ảnh hưởng HIV/AIDS; Các mô hình thúc đẩy quyền tham gia của trẻ em như Diễn đàn trẻ
em, Hội đồng trẻ em, Câu lạc bộ trẻ em, Chương trình, hoạt động do trẻ em khởi xướng và thực hiện, Thăm dò ý kiến trẻ em, Diễn đàn trẻ em quốc gia và các cấp nhằm phát huy vai trò của trẻ em trong việc thực hiện các quyền và bổn phận của trẻ em, thúc đẩy thực hiện quyền tham gia của trẻ em vào các vấn
đề về trẻ em
- Tuyên truyền, giáo dục pháp luật về trẻ em; truyền thông, phổ biến kiến
thức, kỹ năng và vận động xã hội bảo vệ trẻ em Nhằm tăng cường các hoạt
động truyền thông, giáo dục, vận động xã hội, góp phần nâng cao nhận thức và chuyển đổi hành vi về bảo vệ trẻ em trên phạm vi cả nước, thời gian qua, Cục Trẻ em đã phối hợp với các cơ quan truyền thông đại chúng thực hiện nhiều hình thức tuyên truyền, chuyển tải nhiều nội dung đến các đối tượng Trên cơ sở định hướng truyền thông, Cục cần phối kết hợp chặt chẽ hơn với các cơ quan truyền thông, chia sẻ thông tin cởi mở, duy trì việc tổ chức các hội nghị giao ban, họp tổng kết về công tác truyền thông với các cơ quan thông tin đại chúng và các hội, các ban ngành, đoàn thể khác… Bên cạnh các chiến dịch truyền thông nhằm vào cộng đồng nói chung thì rất cần có những hình thức tuyên truyền, phổ biến, vận động sao cho phù hợp, thiết thực với gia đình nói riêng Xác định cụ thể đối tượng của các chương trình truyền thông để tối đa hóa hiệu quả tuyên truyền Để tăng cường chất lượng thông tin, đặc biệt với các cấp cơ sở, các vùng miền còn nhiều khó khăn, cần thiết mở các chuyên trang, chuyên mục, đa dạng hoá các tài liệu truyền thông phù hợp để cung cấp kiến thức cho các đối tượng khác nhau trong xã hội, bao gồm cả trẻ em
- Xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức,
Trang 36người được giao làm công tác bảo vệ trẻ em, người chăm sóc trẻ em và mạng lưới cộng tác viên bảo vệ trẻ em
Xây dựng và phát triển hệ thống trợ giúp xã hội phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nâng cao chất lượng dịch vụ trợ giúp xã hội ngang tầm các nước tiên tiến trong khu vực, đáp ứng nhu cầu trợ giúp của người dân, hướng tới mục tiêu phát triển xã hội công bằng và hiệu quả Xây dựng đề án bố trí Người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã và Cộng tác viên bảo
vệ trẻ em ở cộng đồng dân cư Thực hiện cơ chế báo cáo, giải trình việc thực hiện quyền trẻ em giữa UBND các cấp với HĐND cùng cấp Nghiên cứu việc thành lập Tổ chức phối hợp liên ngành cấp tỉnh Duy trì cơ cấu tổ chức và cơ chế phối hợp liên ngành các cấp: Ban chỉ đạo, Ban điều hành bảo vệ, chăm sóc trẻ em tỉnh, huyện, xã
- Thực hiện công tác quản lý đối tượng được hưởng bảo trợ xã hội
Quản lý đối tượng được hưởng chính sách bảo trợ xã hội tập trung vào 2 nhóm sau:
+ Đối tượng BTXH được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng Bao gồm hình thức chăm sóc tại nhà hoặc có người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em đó Đây là loại hình khá phổ biến do điều kiện chăm sóc thuận tiện do người thân trong gia đình đảm đương (cha mẹ, anh em…) Hình thức này có ưu điểm đơn giản, tiết kiệm hiệu quả nhưng có hạn chế do kinh phí ít nên không đủ trang trải, nhiều gia đình, cá nhân lâm hoàn cảnh khó khăn túng thiếu
+ Đối tượng BTXH được chăm sóc, nuôi dưỡng tại các Trung tâm Bảo trợ
xã hội là loại hình mà do các em không có người thân chăm sóc, mồ côi cha mẹ, người già cô đơn Đối tượng này phải được UBND các phường xác nhận mới có giá trị Hình thức này tương đối thích hợp đối với trẻ em không nơi nương tựa Tuy nhiên ở nhiều trung tâm kinh phí khó khăn do đó họ không đủ hoạt động nên chất lượng chăm sóc chưa được hiệu quả
Các chính sách hỗ trợ cho trẻ em nhằm bảo vệ, chăm sóc trẻ em
Trang 37* Trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng
Trợ cấp xã hội là khoản tiền của Nhà nước cấp cho đối tượng chính sách hàng tháng để mua lương thực, thực phẩm và các chi tiêu cần thiết khác phục vụ cho nhu cầu cuộc sống Các chế độ trợ cấp được tính toán dựa vào các mức chi tiêu tối thiểu để bảo đảm duy trì cuô ̣c sống cho đối tượng (bao gồm cả chi phí nuôi dưỡng và chi phí cho người chăm sóc (trong những trường hợp không tự chăm sóc được bản thân)
Các nhóm đối tượng khác nhau được hưởng các mức trợ cấp khác nhau dựa vào theo nguyên tắc bảo đảm không thấp hơn mức chuẩn chung và khó khăn nhiều hỗ trợ nhiều, khó khăn ít hỗ trợ ít Chế độ trợ cấp được điều chỉnh phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội của đất nước và khả năng ngân sách Nhà nước
Trợ giúp y tế nhằm giúp cho đối tượng bảo đảm các điều kiê ̣n chăm sóc
sứ c khỏe, khám chữa bê ̣nh, phu ̣c hồi chức năng Chính sách trợ giúp y tế được thực hiê ̣n bằng viê ̣c cung cấp nguồn tài chính trực tiếp để thanh toán các di ̣ch vu ̣ khám bệnh, chữa bệnh, phu ̣c hồi chức năng hoa ̣t đô ̣ng, sử du ̣ng các di ̣ch vu ̣ y tế cần thiết khác Đồng thời cũng có thể hỗ trơ ̣ chi phí để các cá nhân có thể tham gia bảo hiểm y tế để sử du ̣ng các di ̣ch vu ̣ do BHYT thanh toán khi sử du ̣ng di ̣ch
vụ khám bệnh, chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng ta ̣i các cơ sở khám bê ̣nh, chữa bê ̣nh
Trợ giúp giáo du ̣c với mu ̣c tiêu ta ̣o điều kiê ̣n để đối tượng tiếp câ ̣n và sử
dụng di ̣ch vu ̣ giáo du ̣c, bình đẳng như các thành viên khác trong xã hô ̣i Chính
sách giáo du ̣c đươ ̣c thực hiê ̣n cho tất cả các lớp hoặc bằng cách miễn, giảm học phí, trợ cấp xã hội, hỗ trợ ăn trưa, giảm các khoản đóng góp xây dựng trường lớp Trong những trường hợp đặc biệt hỗ trợ sách giáo khoa, vở viết và đồ dùng học tập Phương thức thực hiê ̣n có thể thực hiê ̣n bằng cách nhà nước ấn
đi ̣nh các cơ sở cung cấp di ̣ch vu ̣ miễn phí là các cơ sở của Nhà nước Nhưng
cũng có thể áp du ̣ng phương thức nhà nước mua di ̣ch vu ̣ của các tổ chức cung
Trang 38cấp dich vụ giáo du ̣c Đây là phương thức linh hoa ̣t cả cho người sử du ̣ng di ̣ch
vụ và cơ quan cung cấp di ̣ch vu ̣
* Trợ giúp xã hội đột xuất
Trợ giúp xã hội đột xuất là một bộ phận hợp thành chính sách bảo trợ xã hội, bao gồm các chính sách chế độ, biện pháp, hoạt động nhằm cứu giúp những thành viên trong cộng đồng mỗi khi gặp rủi ro bất hạnh trong cuộc sống, để họ
có thêm điều kiện vượt qua khó khăn sớm ổn định đời sống, sản xuất
Trợ giúp xã hội đột xuất là sự trợ giúp về vật chất, tinh thần của nhà nước, các tổ chức đoàn thể, cộng đồng xã hội cho các đối tượng gặp rủi ro, bất hạnh
trong cuộc sống để họ có điều kiện vượt qua khó khăn ổn định cuộc sống
1.2.2.3 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, các chính sách, chương trình, kế hoạch bảo trợ trẻ em
Hàng năm, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã phối hợp với các
Bộ, ban, ngành liên quan kiếm tra công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới và việc lồng ghép nội dung bảo vệ, chăm sóc trẻ em và phối hợp thực hiện công tác bảo vệ trẻ em, phòng ngừa, xử lý các vụ việc xâm hại trẻ
em tại địa phương Ngoài ra, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội kiểm tra định kỳ hàng năm về công tác chăm sóc trẻ em bị ảnh hưởng bới HIV/AIDS; phòng, chống đuối nước trẻ em; thực hiện chính sách phẫu thuật tim bẩm sinh cho trẻ em Đồng thời, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã tiến hành thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ, chăm sóc trẻ em Đối với các vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em đặc biệt là xâm hại tình dục trẻ em xảy
ra trong thời gian vừa qua, ngay sau khi nhận được thông tin, đơn thư hoặc chủ động khai thác thông tin trên các kênh thông tin đại chúng, Bộ có văn bản đề nghị cơ quan điều tra, cơ quan tố tụng xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật; đồng thời chỉ đạo, hướng dẫn Sở Lao động - Thương binh và Xã hội các địa phương xảy ra các vụ việc xâm hại tình dục trẻ em phối hợp với các cơ quan có liên quan trong quá trình xác minh, điều tra, kết luận vụ việc để bảo vệ
Trang 39quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em; bảo vệ các em trong quá trình tố tụng như: tìm luật sư, tư vấn cho gia đình tố giác tội phạm; có biện pháp can thiệp, hỗ trợ trẻ em và gia đình
Ngoài ra còn kiểm tra thông qua quyết toán kinh phí chi trả hàng tháng; kiểm tra chi trả trực tiếp tại phường của ngành LĐTBXH cấp trên; kế hoạch tự kiểm tra, giám sát của chính quyền địa phương; chương trình giám sát hàng năm của HĐND phường và sự giám sát của nhân dân, đối tượng
1.2.3 Các nhân tố tác động đến quản lý nhà nước đối với tổ chức thực hiện chính sách bảo trợ trẻ em
- Hợp tác quốc tế về triển khai thực hiện chính sách bảo trợ trẻ em
Việt Nam là nước Châu Á đầu tiên và nước thứ hai trên thế giới ký và phê chuẩn Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em, là nước tích cực thực hiện cam kết, hợp tác với quốc tế nhằm cải thiện phúc lợi trẻ em trong điều kiện thu nhập bình quân đầu người còn thấp Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng với sự
nỗ lực kiên trì, cùng với những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế-văn
hoá-xã hội, trong hơn một thập kỷ qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa quan trọng trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống của trẻ em
và trong sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em Đây là văn kiện quan trọng nhất về quyền con người của trẻ em trong hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người, bao gồm các điều luật như: Trẻ em có quyền được lắng nghe, được tự do bày tỏ quan điểm về tất cả các vấn đề có tác động đến trẻ, được tự
do phát biểu, suy nghĩ, hội họp và tiếp cận thông tin, thúc đẩy lợi ích tốt nhất của trẻ và tăng cường sự phát triển cá nhân Công ước Quốc tế về Quyền trẻ
em khuyến khích mọi trẻ em tham gia và cung cấp các hỗ trợ cần thiết để khuyến khích việc này Công ước quốc tế về Quyền trẻ em đã mang lại cách nhìn mới về trẻ em như là những nhân tố thay đổi Mặc dù là “người dễ bị tổn thương cần có sự bảo vệ và trợ giúp của gia đình, xã hội và nhà nước”, nhưng mỗi trẻ em có thể “hình thành và bày tỏ ý kiến, tham gia vào quá trình đưa ra
Trang 40quyết định và tạo ảnh hưởng tới các giải pháp, can thiệp trong vai trò là người cộng tác trong quá trình thay đổi xã hội và xây dựng dân chủ Nhờ có chính sách hội nhập quốc tế mạnh mẽ của một quốc gia còn tranh thủ được các nguồn tài chính của các Chính phủ, tổ chức, cá nhân nước ngoài cho việc triển khai tổ chức thực hiện các chính sách xã hội
- Môi trường gia đình: Trong bất kỳ thời kỳ nào của lịch sử, gia đình luôn
là chiếc nôi để hình thành, giáo dục, nuôi dưỡng nhân cách của mỗi con người Gia đình trong xã hội hiện đại ngày nay càng có vai trò quan trọng, từ định hướng, nuôi dưỡng nhân cách cũng như giáo dục con người từ khi sinh ra đến lúc trưởng thành, trở thành những công dân có ích đóng góp tích cực cho sự phát triển chung của xã hội Ðối với phần lớn người Việt Nam chúng ta, gia đình luôn
là mối quan tâm hàng đầu, vì gia đình là tổ ấm của mỗi người, là nơi chúng ta được yêu thương và chia sẻ tình yêu thương Xây dựng hạnh phúc gia đình cũng chính là xây dựng tổ ấm gia đình, vun đắp và lan tỏa tình yêu thương cho tất cả mọi người Gia đình mang tính liên kết chặt chẽ, gắn bó, quan hệ máu thịt giữa các thành viên trong gia đình Trải qua nhiều thế hệ, gia đình Việt Nam tồn tại
và phát triển với những chuẩn mực, giá trị tốt đẹp, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam, gia đình truyền thống Việt Nam hòa thuận, hiếu thảo, khoan dung, chung thủy Quá trình đất nước đổi mới và hội nhập quốc tế ngày nay tạo
ra nhiều cơ hội và điều kiện để gia đình Việt Nam phát triển, tuy nhiên vấn đề gia đình và giáo dục gia đình cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức
Gia đình là môi trường đầu tiên, có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của một con người, cũng chính trong gia đình mỗi con người học được cách cư xử với người xung quanh và xã hội Ở đó, mỗi thành viên trong gia đình chăm sóc, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau Như vậy, gia đình có một vai trò rất quan trọng đối với việc xây dựng mỗi người Việt Nam cũng như nguồn nhân lực cho xã hội mới
Thể chế các chủ trương, nghị quyết của Ðảng, nhiều bộ luật đề cập chế