Tiếp theo là vấn đề đầu tư xây dựng hạ tầng và quản lý sử dụng, khai thác các công trình hạ tầng công cộng thiết yếu như đường sá, cầu cống, bến phà, ga tàu, bến xe; hệ thống cấp nước sạ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
GS TS HOÀNG VĂN HOA
NGHỆ AN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ với đề tài “Tăng cường quản lý đô thị thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An” là công trình khoa học do tôi đề xuất và nghiên cứu Các tài liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc và trích dẫn rõ ràng Các kết quả nghiên cứu nêu trong Luận văn chưa có ai công
bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào./
Tác giả
Trần Thị Thúy Hằng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân Với tình cảm chân thành, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất cả các cá nhân và cơ quan đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Lời đầu tiên, tôi bày tỏ lòng biết ơn đến quý thầy, cô giáo đã giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt khoá học
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn GS TS Hoàng Văn Hoa, người đã
tận tình giúp đỡ, đầy trách nhiệm để tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến lãnh đạo Trường Đại học Vinh, Phòng Đào tạo Sau Đại học cùng các Thầy Cô giáo Khoa Kinh tế đã trực tiếp hoặc gián tiếp giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo các ban, ngành trong UBND thành phố Vinh, các đồng nghiệp và bạn bè đã nhiệt tình cộng tác, cung cấp những tư liệu thực tế và thông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này
Tuy có nhiều cố gắng, nhưng trong luận văn không tránh khỏi thiếu sót, hạn chế Tôi kính mong quý thầy, cô giáo, các chuyên gia, những người quan tâm đến đề tài, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè tiếp tục giúp đỡ, đóng góp ý kiến để đề tài được hoàn thiện hơn
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến tất cả người thân, bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu đề tài
Nghệ An, tháng 5 năm 2018
Tác giả
Trần Thị Thúy Hằng
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 8
7 Bố cục của luận văn 8
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ ĐÔ THỊ 9
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý đô thị 9
1.1.1 Khái niệm về đô thị và quản lý đô thị 9
1.1.2 Khái niệm về quản lý đô thị 11
1.2 Nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý đô thị 14
1.2.1 Nội dung công tác quản lý đô thị 14
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình thực hiện công tác quản lý đô thị 23
1.3 Kinh nghiệm quản lý đô thị của các địa phương trong nước và bài học rút ra cho cho thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 28
1.3.1 Kinh nghiệm thành phố Đà Nẵng 28
1.3.2 Kinh nghiệm thành phố Huế 31
1.3.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 35
Kết luận chương 1 37
Trang 6Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐÔ THỊ TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN 38
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 38
2.2 Thực trạng quản lý đô thị tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 39
2.2.1 Thực trạng tổ chức quản lý thực hiện quy hoạch 40
2.2.2 Quản lý hệ thống hạ tầng kỹ thuật 47
2.2.3 Quản lý vệ sinh môi trường đô thị 58
2.3 Đánh giá công tác quản lý đô thị của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 62
2.3.1 Những kết quả đạt được 62
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 66
Kết luận chương 2 73
Chương 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ ĐÔ THỊ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN 74
3.1 Định hướng và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội thành phố Vinh đến năm 2030 74
3.2 Định hướng và mục tiêu phát triển đô thị thành phố Vinh đến năm 2030 76
3.3 Quan điểm về tăng cường quản lý đô thị trên địa bàn thành phố Vinh 78
3.4 Giải pháp tăng cường quản lý đô thị trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đến năm 2030 79
3.4.1 Thực hiện tốt công tác xây dựng quy hoạch và quản lý quy hoạch 79
3.4.2 Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về quản lý đô thị 81
3.4.3 Từng bước ứng dụng công nghệ hiện đại để xây dựng đô thị thông minh 82
3.4.4 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý đô thị 83
3.4.5 Huy động nguồn lực phát triển đô thị 84
3.4.6 Thanh tra, kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện của các cơ quan liên quan 85
3.4.7 Nâng cao ý thức của người dân về văn minh đô thị 86
Trang 73.5 Kiến nghị 87
3.5.1 Kiến nghị Chính phủ 87
3.5.2 Kiến nghị tỉnh Nghệ An 88
3.5.3 Kiến nghị UBND thành phố Vinh 89
Kết luận chương 3 90
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 PHỤ LỤC
Trang 8HĐND Hội đồng nhân dân
ISO Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tếNĐ-CP Nghị định - Chính phủ
NQ-CP Nghị quyết chính phủ NQ-CP Nghị quyết của Chính phủ QĐ-TTg Quyết định của Thủ tướng
QĐ-UBND Quyết định của Uỷ ban nhân dân
QSDĐ Quyền sử dụng đất
TNHH Trách nhiệm hữu hạn TNMT Tài nguyên môi trường TTHC Thủ tục hành chính
UBND Ủy ban nhân dân
Trang 9DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
các trường học 59 Bảng 2.5 Số liệu cấp Giấy phép xây dựng trên địa bàn TP Vinh 63 Bảng 2.6 Số liệu huy động nguồn lực thành phố Vinh 3 năm 2015-2017 64
Biểu đồ:
Biểu đồ 2.1 Kết quả kiểm tra trật tự xây dựng của các chủ đầu tư dự án
trên địa bàn thành phố Vinh 45 Biểu đồ 2.2 Kết quả kiểm tra trật tự xây dựng nhà ở riêng lẻ của nhân
dân trên địa bàn thành phố Vinh 45 Biểu đồ 2.3 Đánh giá việc giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực
đô thị 65 Biểu đồ 2.4 Đánh giá công tác quản lý, bảo trì hệ thống hạ tầng kỹ thuật 69
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tốc độ phát triển đô thị diễn ra khá nhanh Đến nay cả nước đã có hơn
770 đô thị, trong đó có gần 100 thành phố và thị xã Đô thị hóa đã biến đất đai ruộng vườn thành nhà ở cao tầng, chung cư tấp nập, kéo theo là cư dân tập trung
về đô thị ngày càng gia tăng, đủ mọi thành phần, lứa tuổi, gây áp lực lên hệ thống giao thông, hạ tầng kỹ thuật và môi trường đô thị
Tại Việt Nam chưa có một thể chế chính thức của chính quyền đô thị nên vấn đề quản lý đô thị gặp rất nhiều khó khăn Quản lý đô thị là một phần trong công tác quản lý hành chính nhà nước nói chung, là bề nổi của việc quản lý xã hội và là động lực cho sự phát triển Thực tiễn những năm qua, công tác quản lý
đô thị đã mang lại hiệu quả làm cho bộ mặt đô thị có nhiều biến chuyển theo xu hướng tích cực Tuy nhiên quản lý đô thị vẫn còn nhiều mặt hạn chế, yếu kém chưa đáp ứng đòi hỏi của phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ mới, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế Đầu tiên là vấn đề quy hoạch các vùng để phát huy tối đa các lợi thế so sánh, vấn đề quy hoạch chi tiết trong nội
bộ vùng đảm bảo hợp lý, hài hòa, khoa học giữa các khu chức năng; vấn đề quy hoạch xen dắm trên nền các khu dân cư cũ để không làm mất đi cảnh quan tự nhiên Tiếp theo là vấn đề đầu tư xây dựng hạ tầng và quản lý sử dụng, khai thác các công trình hạ tầng công cộng thiết yếu như đường sá, cầu cống, bến phà, ga tàu, bến xe; hệ thống cấp nước sạch, hệ thống thoát nước mặt và hệ thống thoát nước thải; vấn đề thu gom và xử lý chất thải rắn đô thị đảm bảo kịp thời và giảm thiểu tác động đến môi trường để hướng đến việc xây dựng và phát triển đô thị xanh và bền vững; vấn đề quản lý trong xây dựng nhà ở riêng lẻ của nhân dân đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật nhưng không gây ảnh hưởng đến các
hộ liền kề; vấn đề quản lý trật tự an toàn giao thông để giảm thiểu nguy cơ tai nạn giao thông
Trang 11Để giải quyết các vấn đề nêu trên, cần thiết phải tìm hiểu bản chất của vấn
đề quản lý đô thị từ đó tìm ra giải pháp tháo gỡ các vướng mắc và nâng cao hiệu quả của công tác quản lý đô thị, hướng đến xây dựng nhiều đô thị thông minh trong tương lai
Thành phố Vinh là trung tâm chính trị kinh tế, văn hoá - xã hội của tỉnh Nghệ An, một tỉnh lớn nằm ở vùng Bắc Trung bộ, có vị trí ở phía Đông - Nam của tỉnh Định hướng Quy hoạch tổng thể đô thị Việt Nam đến năm 2020 theo Quyết định số 10/1998/QĐ-TTg đã xác định Vinh là trung tâm đô thị vùng Bắc Trung bộ, một trong mười trung tâm của cả nước; Quyết định số 239/2005/QĐ-TTg ngày 30/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ, đặc biệt là Quyết định số 2468/QĐ-TTg ngày 29/12/2015 của Thủ tướng Chính phủ đã đưa Vinh tiến thêm một tầm cao mới, với vai trò, vị trí tương xứng với vị thế mà Vinh có được: trung tâm kinh tế - văn hóa vùng Bắc Trung bộ đến năm 2020 theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQTW của Bộ Chính trị
Lĩnh vực quản lý đô thị tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An hiện nay được chính quyền và nhân dân tỉnh nhà quan tâm đặc biệt Cùng với tốc độ phát triển kinh tế, tốc độ phát triển đô thị Vinh ngày càng tăng nhanh, đòi hỏi các nhà quản
lý phải có những giải pháp hợp lý để giải quyết bài toán đô thị - xã hội - môi trường đáp ứng yêu cầu của thực tế đặt ra
Với những lý do trên, em đã chọn đề tài “tăng cường quản lý đô thị thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành kinh tế chính trị
2 Tổng quan nghiên cứu
Vấn đề quản lý đô thị tuy không mới nhưng vẫn là vấn đề có tính thời sự nóng bỏng hiện nay Có không ít đề tài, luận án, luận văn, các bài báo nghiên cứu về vấn đề này, trong đó, những công trình liên quan trực tiếp đến đề tài có thể kể đến là:
Lê Trọng Bình (9-2009), Pháp luật và Quản lý đô thị, Trường Đại học
Trang 12Kiến trúc Hà Nội, Khoa Sau đại học Tài liệu cung cấp những kiến thức cơ bản
về quản lý và phát triển đô thị, quy luật phát triển đô thị, công cụ chủ yếu để quản lý đô thị là pháp luật, quy hoạch và bộ máy nhà nước, đảm bảo cho đô thị phát triển một cách trật tự, phù hợp với quy luật khách quan và hình thái kinh tế
xã hội nước ta
Nguyễn Đình Hương (2000), Đô thị hóa và quản lý kinh tế đô thị ở Hà
về quá trình đô thị hóa và vấn đề quản lý kinh tế đô thị, phân tích trên địa bàn thành phố Hà Nội với tốc độ đô thị hóa nhanh và các vấn đề phát sinh của đô thị hóa với Hà Nội, từ đó đề xuất những giải pháp để chính quyền đô thị quản lý phát triển kinh tế trong xu thế hội nhập
Nguyễn Thế Bá (2004), Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị, NXB Xây
dựng, Hà Nội Tác giả phân tích tổng quan về nguyên lý thiết kế quy hoạch xây dựng, vấn đề cốt lõi của quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị là tổ chức không gian đô thị và đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm xây dựng một đô thị hợp lý, hài hòa giữa sự phát triển con người, xã hội và thiên nhiên trong sự phát triển bền vững
Bộ Xây dựng (2005), Giáo trình quản lý xây dựng, NXB Xây dựng, Hà
Nội Các tác giả đã hệ thống, phân tích tổng quan về quản lý xây dựng nói chung
và quản lý xây dựng đô thị nói riêng Đồng thời đưa ra những giải pháp để quản
lý xây dựng hiệu quả
Trương Minh Dục (2012), “Vấn đề quản lý đô thị ở Việt Nam trong thời
kỳ đổi mới”, Lý luận chính trị, (số 12/2012), trang 59-64 Tác giả đã đánh giá
tình hình quản lý đô thị trong thời kỳ đổi mới, thuận lợi, khó khăn và thách thức của chính quyền đô thị trong hoạt động quản lý đô thị Từ đó đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đô thị
Võ Kim Cương (2004), Quản lý đô thị thời kỳ chuyển đổi, NXB Xây
Dựng, Hà Nội Tài liệu nghiên cứu những vấn đề cơ bản về quản lý đô thị trong
Trang 13thời kỳ đổi mới cơ chế quản lý và trước áp lực đô thị hóa với tốc độ nhanh đối với những thành phố vốn đã có nhiều yếu tố mất cân đối về kinh tế, môi trường sinh thái và đời sống xã hội còn nhiều vấn đề nan giải
Nguyễn Đình Hương - Nguyễn Hữu Đoàn (2003), Giáo trình Quản lý đô
thị, NXB Thống kê, Hà Nội Trong công trình này, các tác giả nêu lên một số
vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về đô thị và bộ máy quản lý nhà nước về đô thị Tác giả đã làm rõ cơ sở pháp lý về hoạt động quản lý đô thị, như: một số quy định về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; một số quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; quản lý việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; thống kê, kiểm kê đất đai; quản lý giám sát việc thực hiện quyền của người sử dụng đất; thanh tra kiểm tra việc chấp hành các quy định của Pháp luật về đô thị; giải quyết tranh chấp Các tác giả nêu lên các vấn đề lý luận kinh tế và quản lý
đô thị ở Việt Nam dựa trên cơ sở khoa học kinh tế
Lê Huy Bá (2015), Bảo vệ môi trường đô thị Việt Nam, NXB Đại học quốc
gia TP Hồ Chí Minh Tác giả đã phân tích tầm quan trọng của môi trường sống đô thị là rất quan trọng nhất là với người sống tại các đô thị Sống trong một môi trường đô thị xanh - sạch - đẹp, một môi trường có hệ thống cây xanh góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của con người, bảo đảm cân bằng hệ sinh thái và hướng tới sự phát triển bền vững đô thị Một đô thị không quá đông đúc, không hoặc ít khói bụi, đường sá ít xe cộ, đi lại dễ dàng, trật tự, đúng luật, ít hoặc không
có tai nạn giao thông Chất lượng cuộc sống cư dân đô thị được đảm bảo không những thu nhập tăng thêm, mà hơn thế, là môi trường sống an toàn, sạch sẽ, thanh bình trong những khu dân cư, những căn hộ xanh, sạch, đầy bóng mát Xây dựng
và bảo vệ được những điều vừa nêu ra, chính là bảo về môi trường đô thị
Nhìn chung, các tài liệu trên đã có những cách tiếp cận khác nhau hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp đến vấn đề về quản lý đô thị những năm gần đây Tuy nhiên, trong số các công trình liên quan chưa có công trình nào nghiên cứu về công tác quản lý đô thị tại thành phố Vinh với tư cách là luận văn thạc sỹ chuyên ngành kinh
Trang 14tế chính trị Hơn nữa, mỗi địa phương có điều kiện và thực trạng khác nhau nên các giải pháp đưa ra cũng sẽ phải có nhiều thay đổi để phù hợp với từng đặc điểm của mỗi địa phương Vì vậy, với mong muốn dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn tại thành phố Vinh, luận văn có thể đưa ra những giải pháp thiết thực và thích hợp để tăng cường quản lý đô thị thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực trạng công tác quản lý đô thị tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ
An, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả của việc quản lý hành chính nhà nước của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An trong quá trình xây dựng Vinh thành trung tâm của vùng Bắc Trung Bộ
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý đô thị
- Phân tích thực trạng công tác quản lý đô thị tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý đô thị trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề quản lý đô thị tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
- Về thời gian: Từ năm 2015 đến năm 2017, giải pháp đến năm 2025
- Về nội dung: Các lĩnh vực chính của công tác quản lý đô thị bao gồm: (1) quy hoạch xây dựng, (2) quản lý hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị, (3) quản lý trật tự an toàn giao thông, trật tự xây dựng, (4) vệ sinh môi trường đô thị Tuy nhiên do vấn đề quản lý đô thị có phạm vi rộng, một số lĩnh vực phải kết hợp
Trang 15với các ngành khác như: Công an, xây dựng nên luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu gồm có 3 nội dung chính: Quy hoạch xây dựng đô thị, quản lý hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị và vệ sinh môi trường đô thị
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn sử dụng phương pháp tư duy logic và các quan điểm của Đảng
và nhà nước ta về quản lý đô thị để nghiên cứu trình bày các nội dung mang tính chất lý luận và thực tiễn về công tác quản lý đô thị
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
5.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
5.2.1.1 Thông tin thứ cấp
Thu thập các thông tin trên cơ sở các bài nghiên cứu của các chuyên gia trong lĩnh vực đô thị từ mạng internet; các Báo cáo kinh tế - xã hội các năm
2015, 2016, 2017 của UBND thành phố Vinh, các Đề án liên quan đến lĩnh vực
đô thị của thành phố Vinh đã và đang thực hiện; các báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ các năm 2015, 2016, 2017 của các đơn vị trực thuộc UBND thành phố Vinh gồm: Công ty cổ phần Quản lý và phát triển hạ tầng đô thị Vinh, Công ty
cổ phần công viên cây xanh thành phố Vinh, Công ty TNHH một thành viên môi trường đô thị tỉnh Nghệ An và Đội Quản lý trật tự đô thị thành phố Vinh
5.2.1.2 Thông tin sơ cấp
Thu thập số liệu dựa vào phỏng vấn các đối tượng: nhân dân, các cán bộ
xã, phường và các đơn vị trực thuộc UBND thành phố Vinh; các cán bộ quản lý
Trang 16Nghệ An, Đội trưởng Đội Quản lý trật tự đô thị thành phố Vinh
+ Cấp phường xã: Chủ tịch UBND và cán bộ đô thị các phường, xã: Lê Mao, Trường Thi, Hưng Chính
+ Nhân dân: Đại diện nhân dân khối 16 phường Trường Thi, khối Trung Hòa 2 phường Lê Mao và nhân dân xóm 8 xã Hưng Chính, thành phố Vinh
- Số lượng phỏng vấn: 15 người
- Thời gian phỏng vấn: tháng 01 năm 2018
- Nội dung phỏng vấn:
+ Cán bộ quản lý: các khó khăn và tồn tại trong hoạt động quản lý đô thị
và phương hướng đề xuất giải pháp giải quyết trong tương lai
+ Nhân dân: nhìn nhận về hiệu quả quản lý đô thị và mong muốn xây dựng thành phố xanh và bền vững
- Mục đích phỏng vấn: Để có cái nhìn khách quan, hoàn chỉnh từ cả 2 phía: chính quyền và nhân dân thành phố Vinh về hoạt động quản lý đô thị
5.2.2 Phương pháp xử lý số liệu
a Phương pháp xử lý số liệu sơ cấp:
Tiến hành phân tích thống kê mô tả bằng kỹ thuật lập bảng, sắp xếp theo thứ
tự các dữ liệu đã thu được, sử dụng phần mềm Microsoft Excel để lập biểu đồ…
Từ đó, đưa ra ý nghĩa và mục đích của nghiên cứu đã thực hiện, qua đó rút ra kết
luận thực trạng cho vấn đề nghiên cứu
b Phương pháp xử lý số liệu thứ cấp:
Đối với nguồn dữ liệu bên trong thì tiến hành tổng hợp các dữ liệu có được
bằng phần mềm Microsoft Excel để có thể đưa ra những thông tin chính xác nhất
về vấn đề cần nghiên cứu Đối với nguồn dữ liệu bên ngoài, vì có từ nhiều nguồn khác nhau nên phải so sánh xem các nguồn cung cấp khác nhau đưa ra những lý luận có gì giống và khác nhau Nếu khác nhau thì so sánh xem cách tiếp cận nào phù hợp với vấn đề nghiên cứu hơn, từ đó đi đến hệ thống lý luận hợp lý làm nền
tảng cho hoạt động nghiên cứu
Trang 175.2.3 Phương pháp phân tích số liệu
Đề tài tiếp cận nghiên cứu từ khái quát tình hình quản lý đô thị ở các địa phương, phân tích những nguyên nhân chủ quan và khách quan trong điều kiện
cụ thể của thành phố Vinh
5.2.4 Phương pháp so sánh
Thông qua nguồn số liệu đã thu thập từ thực tế và các số liệu thứ cấp đã
điều tra, tiến hành xem xét thông qua các tiêu chí cụ thể để so sánh giữa các năm, so sánh với địa phương khác Từ đó, xác định rõ thực trạng quản lý đô thị tại thành phố Vinh
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận: hệ thống hoá và làm rõ thêm những vấn đề lý luận
về quản lý đô thị
6.2 Ý nghĩa thực tiễn:
+ Đánh giá thực trạng công tác quản lý đô thị tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An từ năm 2015 đến năm 2017 trên cả hai mặt: thành tựu và hạn chế, qua
đó làm rõ được nguyên nhân, tồn tại trong công tác này
+ Đề xuất một số giải pháp phù hợp với thực tiễn thành phố Vinh nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý đô thị tại thành phố Vinh đến năm 2030
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có ba chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý đô thị
Chương 2 Thực trạng quản lý đô thị trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh
Nghệ An Chương 3 Giải pháp tăng cường quản lý đô thị trên địa bàn thành phố Vinh,
tỉnh Nghệ An
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ ĐÔ THỊ
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý đô thị
1.1.1 Khái niệm về đô thị và quản lý đô thị
1.1.1.1 Khái niệm đô thị
Đô thị Việt Nam được hiểu là một khu dân cư trong đó lực lượng lao động chủ yếu là phi nông nghiệp, sống và làm việc theo lối sống thành thị [18 tr.05]
“ Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn” [11 tr.01]
1.1.1.2 Phân loại
Việc phân loại đô thị được thực hiện bằng phương pháp tính điểm Điểm phân loại đô thị là tổng số điểm đạt được của các tiêu chí
- Đô thị loại đặc biệt: là Thủ đô hoặc trung tâm tổng họp cấp quốc gia,
quốc tế về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học
và công nghệ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước; Quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 5.000.000 người trở lên
- Đô thị loại I: là trung tâm tổng hợp cấp quốc gia, cấp vùng hoặc cấp
tỉnh về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng liên tỉnh hoặc cả nước; Quy mô dân số: Đô thị là thành phố trực thuộc trung, ương: quy mô dân số toàn đô thị
Trang 19đạt từ 1.000.000 người trở lên;; Đô thị là thành phố thuộc tỉnh hoặc thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương: quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 500.000 người trở lên
- Đô thị loại II: là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành cấp
vùng, cấp tỉnh về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ, trung tâm hành chính cấp tỉnh, đầu mối giao thông, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một vùng liên tỉnh; Quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 200.000 người trở lên
- Đô thị loại III: là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành về
kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ cấp tỉnh, đầu mối giao thông, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, vùng liên tỉnh; Quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 100.000 người trở lên
- Đô thị loại IV: là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành cấp
tỉnh, cấp huyện về kinh tế, tài chính, vãn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ, trung tâm hành chính cấp huyện, đầu mối giao thông, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, huyện hoặc vùng liên huyện; Quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 50.000 người trở lên
- Đô thị loại V: là trung tâm hành chính hoặc trung tâm tổng hợp cấp
huyện hoặc trung tâm chuyên ngành cấp huyện về kinh tế, văn hóa, giáo dục, đào tạo, đầu mối giao thông, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện hoặc cụm liên xã; Quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 4.000 người trở lên
- Phân loại đô thị áp dụng cho một số đô thị có tính chất đặc thù: Đô
thị là trung tâm du lịch, khoa học và công nghệ, giáo dục, đào tạo có tiêu chí quy
mô dân số và mật độ dân số có thể thấp hơn nhưng tối thiểu đạt 70% mức quy định; các tiêu chí khác phải bảo đảm mức quy định của loại đô thị tương ứng
Đô thị loại III, loại IV và loại V ở miền núi, vùng cao, có đường biên giới quốc gia có tiêu chí quy mô dân số có thể thấp hơn nhưng tối thiểu đạt 50% mức quy
Trang 20định; các tiêu chí khác tối thiểu đạt 70% mức quy định của loại đô thị tương ứng Đô thị ở hải đảo thì tiêu chí trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc cảnh quan đô thị tối thiểu đạt 50% mức quy định; các tiêu chí về quy mô dân số, mật độ dân số, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp và tiêu chuẩn về kinh tế - xã hội tối thiểu đạt 30% mức quy định của loại đô thị tương ứng
1.1.2 Khái niệm về quản lý đô thị
a) Khái niệm:
Trong xã hội, đô thị luôn xuất hiện các vấn đề về nhu cầu ăn, ở, đi lại, làm việc, học tập, chăm sóc sức khoẻ, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, Các nhu cầu đó ngày càng đòi hỏi cao hơn và các nhu cầu mới thường xuyên phát sinh Để đáp ứng các nhu cầu đó việc tổ chức xã hội đô thị một cách khoa học và việc quản lý các hoạt động trở thành một nhu cầu khách quan
Quản lý đô thị là quá trình tác động bằng các cơ chế, chính sách của các chủ thể quản lý đô thị (các cấp chính quyền, các tổ chức xã hội, các sở, ban ngành chức năng) vào các hoạt động đô thị nhằm duy trì hay thay đổi hoạt động đó
Trên góc độ nhà nước, quản lý đô thị là sự can thiệp bằng quyền lực của mình (bằng pháp luật, thông qua pháp luật) vào các quá trình phát triển kinh tế,
xã hội ở đô thị nhằm phát triển đô thị theo định hướng nhất định, làm cho các đô thị trở thành những trung tâm hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật và giao lưu quốc tế của mỗi vùng lãnh thổ
Trong công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, đô thị đóng vai trò chủ đạo cho sự phát triển kinh tế xã hội Vì vậy cần phải đặt ra nhiệm vụ cao hơn về nhu cầu qủan lý ở đô thị trên mọi lĩnh vực kinh tế xã hội nhằm góp phần thúc đẩy tiến trình xây dựng một Nhà nước dân chủ và xã hội công bằng, Nhà nước đó thật sự là của dân, do dân và vì dân, là công cụ để quản lý con người sổng và làm việc theo pháp luật Xây dựng đô thị là một công tác quan trọng trong hệ thống quản lý đô thị Nếu việc xây dựng không tuân theo định hướng mà quy hoạch đã vạch ra thì không kiểm soát được sự phát triển đô thị và
Trang 21có thể dẫn đến những thiệt hại to lớn nhiểu mật về kinh tế xã hội
Quản lý đô thị bao gồm quản lý hành chính đô thị và quản lý nghiệp vụ trôn mọi tình vực ở đô thị Quản lý hành chính có tác dụng duy trì, điều khiển mọi hoạt động trên mọi lĩnh vực thuộc địa bàn đô thị, Cơ quan quản lý hành chính chịu trách nhiệm cao nhất về các sự việc xảy ra ở đô thị Quản lý hành chính là một công việc rất da dạng và phức tạp, đòi hỏi một cơ chế quản lý đầy
đủ và đồng bộ Hệ thống các văn bản cần rõ rằng thống nhất và viên chức nhỉ nước cũng cấn thông thạo chuyên môn hành chính Hệ thống pháp quy càng khoa học bao nhiêu thì các hoạt động của đô thị càng nhịp nhàng bấy nhiêu Quản lý chuyên môn nghiệp vụ trên các ngành, các lĩnh vực của đô thị chính là
hỗ trợ cho hệ thống quản lý nhà nước Mỗi ngành đều có các cơ quan quản lý của mình Họ hoạt động theo các văn bản pháp quy, quy định, quy phạm của ngành dọc đổng thời thực hiện các nhiệm vụ cụ thể của cơ quan quản lý nhà nước, chịu sự điều hành, điều phối của cơ quan quản lý hành chính cấp trên Như vậy quản lý chuyên môn nghiệp vụ không đơn thuần là thực hiện theo dúng các quy định, quy phạm kỹ thuật của ngành mà còn phải thực hiện tốt các nhiệm
vụ dược giao từ cơ quan quản lý nhà nước cấp trên Nhìn nhận quản lý đô thị theo một nghĩa hẹp (từ các chuyên ngành), thì quản lý đô thị chính là quản lý và phát huy hiệu quả tài sản cố định của đô thị song song với việc không ngừng bổ sung và phát triển chúng, tức là đáp ứng những nhu cầu của đời sống vật chất và tinh thần ở mức độ cao nhất
Quản lý đô thị liên quan đến việc quản lý khối nhà nước và khối tư nhân Mục tiêu chung của quản lý đô thị là nâng cao hiệu quả và tính hợp lý trong quá trình sử dụng các nguồn lực của đô thị (con người, kỹ thuật, vật liệu, thông tin, dịch vụ, cơ sở hạ tầng và hệ thống kinh tế của sản xuất)
Nhà nước không phải là chủ thể duy nhất sản xuất và cung cấp tuyệt đối các dịch vụ đô thị mà nhà nước thực hiện vai trò là nhà phát triển, người hỗ trợ, người điều phối, người khuyến khích cho khối tư nhân để nhằm mục tiêu phát triển cộng
Trang 22đồng, kinh tế và xã hội bền vững
b) Đặc trưng:
Quản lý đô thị là khoa học về quản lý, nội dung của quản lý đô thị bao gồm các vấn đề kinh tế và xã hội ở đô thị Công tác quản lý đô thị là khâu quyết định cho việc thực hiện những định hướng phát triển đô thị Nội dung chủ yếu của công tác quản lý đô thị là vận dụng các chính sách nhằm thiết lập kỷ cương,
nề nếp trong việc quản lý đất đai, quy hoạch, kiến trúc, kết cấu hạ tầng, môi trường, tài chính giảm nghèo ở đô thị… đồng thời đề xuất các kiến nghị với các cấp trong việc nghiên cứu xây dựng các chính sách cho quản lý đô thị
Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế, các chính sách phát triển đô thị là một
bộ phận của chính sách phát triển kinh tế quốc dân Do vậy quản lý đô thị là hoạt động tổng hợp, khoa học và là nghệ thuật, đòi hỏi con người làm nghề quản lý đô thị phải vận dụng được kiến thức của nhiều ngành, nghề, lĩnh vực khác nhau
Thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam xuất hiện nhiều đặc điểm mới trong công tác quản lý đô thị
Một là, quản lý các mối quan hệ giữa khối tư nhân và khối nhà nước
Trong nền kinh tế thị trường, khối tư nhân đóng vai trò quan trọng trong việc tạo
ra và cung cấp các dịch vụ đô thị Nhà nước ngày càng tạo điều kiện cho tư nhân tạo ra và cung cấp các dịch vụ đô thị một cách độc lập hoặc là đối tác với nhà nước Xu hướng này sẽ là xu hướng chính trong tương lai mà tên gọi khác của
nó là “xã hội hóa” Đặc biệt là trong xu thế mà khối nhà nước đang thiếu hụt các nguồn lực để cung cấp dịch vụ mà khối tư nhân có thể phân phối dịch vụ hiệu quả hơn và nhà nước hạn chế sự can thiệp sâu vào việc cung cấp dịch vụ công cộng và cơ sở hạ tầng bởi khối tư nhân có thể gánh chịu những rủi ro trong lĩnh vực này là hợp lý hơn
Hai là, đổi mới cấu trúc và chức năng của chính quyền đô thị Chính
quyền trong nền kinh tế thị trường áp dụng nguyên tắc “người sử dụng phải trả tiền” khi nào có thể và phát triển một hướng tiếp cận mang tính hợp tác trong
Trang 23việc quản lý khối nhà nước Để tăng tính hiệu quả trong việc phân phối các dịch
vụ đô thị, chính quyền đô thị đang được đổi mới và cơ cấu lại Trong đó đặc điểm đổi mới của chính quyền đô thị là sự phân quyền (phân chia quyền hạn và nghĩa vụ cho các cấp quản lý), hợp tác hóa (để nâng cao hiệu quả quản lý, chống lợi ích nhóm, hạn chế ngoại ứng cần có sự hợp tác giữa các đô thị, đô thị và nông thôn), đối tác đô thị (mối quan hệ các đô thị tạo thành vùng kinh tế tăng trưởng hay vùng kinh tế trọng điểm), tư nhân hóa (để nân cao hiệu quả sản xuất trong các lĩnh vực mà nhà nước làm không hiệu quả)
Ba là , sắp xếp tổ chức nội bộ cho quá trình quản lý đô thị Thay đổi việc sắp
xếp tổ chức từ cấu trúc ra lệnh điều hành sang các cấu trúc mới mềm dẻo hơn với cấp quy hoạch và ra quyết định ở cấp thấp hơn, có nhiều trách nhiệm hơn
Bốn là, đổi mới trong hệ thống tài chính đô thị nhà nước Tài chính đô thị
nhà nước đang thay đổi cả về dòng thu lẫn dòng chi, điều này ảnh hưởng đến cách mà người cung cấp dịch vụ sử dụng và cơ cấu vốn cơ bản của dịch vụ đô thị Bao gồm: đổi mới hệ thống thu ngân sách, đổi mới chi phí đô thị, đổi mới đối với tài chính tập thể
c) Chức năng quản lý đô thị theo lĩnh vực
Trong công tác quản lý đô thị bao gồm nhiều nội dung liên quan Các lĩnh vực hoạt động của đô thị thường được quan tâm gồm quản lý các lĩnh vực: kinh
tế đô thị, xây dựng đô thị, đất đai và nhà ở đô thị, kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị, kết cấu hạ tầng xã hội đô thị, dân số, lao động và việc làm đô thị và môi trường
đô thị
1.2 Nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý đô thị
1.2.1 Nội dung công tác quản lý đô thị
Công tác quản lý đô thị gồm nhiều lĩnh vực liên quan như đã trình bày ở mục trên Theo đó một đô thị muốn quản lý tốt đầu tiên phải đề cập đến vấn đề quy hoạch xây dựng đô thị; sau đó là việc quản lý cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị
và quản lý vệ sinh môi trường đô thị
1.2.1.1 Quản lý về quy hoạch đô thị
Trang 24Quy hoạch đô thị là việc tổ chức không gian kiến trúc và bố trí công trình trên một khu vực lãnh thổ trong từng thời kỳ, làm cơ sở pháp lý cho việc chuẩn
bị đầu tư xây dựng, quản lý xây dựng và phát triển kinh tế xã hội
Quy hoạch đô thị gồm: (i) Quy hoạch chung được cho thành phố trực thuộc trung ương, thành phố thuộc tỉnh, thị xã, thị trấn và đô thị mới (ii) Quy hoạch phân khu các khu vực trong thành phố, thị xã và đô thị mới (iii) Quy hoạch chi tiết được lập theo yêu cầu phát triển, quản lý đô thị hoạch nhu cầu xây dựng
- Quy hoạch chung đô thị: là việc tổ chức không gian, hệ thống các công
trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở cho một đô thị phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đô thị, bảo đảm quốc phòng, an ninh và phát triển bền vững Quy hoạch chung đô thị xác định định hướng chung phát biển không gian đô thị, tức là bố trí các khu chức năng tổng quát sử dụng đất và
hệ thống hạ tằng kỹ thuật của đô thị Các khu chức năng tổng quát được hiểu là các khu dân cư, các khu công nghiệp, các công trình công cộng tập trung, các mảng cây xanh và mặt nước lớn, đất nông lâm nghiệp, đất chuyên dùng (an ninh, quốc phòng, công trình đặc biệt khác)
- Quy hoạch phân khu: là việc phân chia và xác định chức năng sử dụng
đất và mạng lưới công trình hạ tầng nhằm cụ thể hóa nội dung của quy hoạch chung đô thị Nội dung của quy hoạch phân khu bao gồm: xác định phạm vi ranh giới, diện tích, tính chất khu vực lập quy hoạch, chỉ tiêu dự kiến về dân số, sử dụng đất, hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật đối với từng ô phố và đấu nối hạ tầng
kỹ thuật chung; xác định chức năng sử dụng đất cho từng khu đất; nguyên tắc tổ chức không gian, kiến trúc cảnh quan và đánh giá tác môi trường chiến lược Quy hoạch phân khu được lập trên bản đồ địa hình tỷ lệ 1/5000 hoặc 1/2000
- Quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị: Quy hoạch chi tiết cụ thể hóa nội
dung quy hoạch phân khu và quy hoạch chung trên bản đồ tỷ lệ 1/500 Nội dung của quy hoạch chi tiết bao gồm: việc xác định chỉ tiêu về dân số, hạ tầng xã hội,
hạ tầng kỹ thuật và yêu cầu tổ chức không gian kiến trúc cho toàn khu vực quy
Trang 25hoạch; bố trí công trình hạ tầng xã hội, chi tiêu sử dụng đất và yêu cầu về kiến trúc công trình đối với từng lô đất; bố trí mạng lưới các công trình hạ tầng kỹ thuật đến ranh giới lô đất, đánh giá môi trường chiến lược Quy hoạch chi tiết chính là quy hoạch tổng mặt bằng của các dự án đầu tư xây dựng, là cơ sở để định vị công trình, thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật xây dụng công trính và thực hiện xây dựng [11 tr.12]
Quản lý quy hoạch đô thị: Là tổng thể các biện pháp, cách thức mà chính quyền đô thị vận dụng các công cụ quản lý để tác động vào các hoạt động xây dựng và phát triển đô thị (chủ yếu là phát triển không gian vật thể) nhằm đạt được các mục tiêu đề ra
Yêu cầu của công tác quản lý quy hoạch xây dựng là phải kiểm soát được
sự phát triển của đô thị một cách hệ thống; quá trình kiểm soát đó phải được thực hiện công khai và minh bạch; đồng thời phải thay đổi tư duy và biện pháp kiểm soát phát triển; vấn đề kiểm soát phát triển phải linh hoạt và phải đặt trong bối cảnh thực tế
*Mục tiêu của công tác quản lý quy hoạch gồm: Lập và phê duyệt quy hoạch đúng quy trình, đúng thẩm quyền, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật trong từng khâu, đảm bảo sản phẩm quy hoạch mang tính khoa học và nghệ thuật; Đảm bảo đưa sản phẩm quy hoạch đi từ bản vẽ đến hiện thực; Kiểm soát quá trình phát triển của đô thị, cụ thể là:
+ Đảm bảo sự phát triển của đô thị có công bằng, trật tự, hiệu quả bền vững + Khai thác có hiệu quả các nguồn lực tự nhiên, xã hội, môi trường;
+ Đảm bảo tính an toàn, tiện nghi cho cư dân đô thị và cho khách đến làm việc, nghỉ ngơi, du lịch;
+ Giữ gìn bản sắc truyền thống văn hóa lịch sử, cấu trúc của đô thị
+ Cung cấp đầy đủ các dịch vụ cho đời sống sinh hoạt và sản xuất của đô thị; + Hỗ trợ sự phát triển của cơ sở hạ tầng kỹ thuật;
+ Đảm bảo sự công bằng xã hội và lợi ích kinh tế, văn hóa giữa các nhóm
Trang 26dân cư và thành phần kinh tế
Nội dung công tác quản lý quy hoạch xây dựng: Quản lý quy hoạch đô thị
là một trong những lĩnh vực quan trọng nhất trong công tác quản lý đô thị Nội dung quản lý quy hoạch đô thị trong thực tế được cụ thể thành những nhiệm vụ chủ yếu như sau: (i) Lập và xét duyệt quy hoạch đô thị (ii) Soạn thảo và ban hành
hệ thống các văn bản pháp quy về quản lý quy hoạch xây dựng đô thị (iii) Xây dựng hệ thống kiểm soát và phát triển đô thị theo quy hoạch và pháp luật (iv) Tổ chức quản lý nhà nước về quy hoạch và xây dựng đô thị Các nội dung cụ thể trong quản lý quy hoạch đô thị gồm:
- Phạm vi, ranh giới, quy mô dân số, đất đai vùng quản lý;
- Quy định về các vùng phát triển, các không gian phát triển kinh tế;
- Quy định về quản lý hệ thống đô thị và nông thôn;
- Quy định về vị trí, vai trò, chức năng, quy mô các công trình hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật mang tính chất vùng, liên vùng;
- Quy định về phạm vi bảo vệ, hành lang an toàn đối với các công trình đầu mối, các công trình hạ tầng kỹ thuật chính theo tuyến mang tính chất vùng, liên vùng và các biện pháp bảo vệ môi trường
- Quy định về bảo tồn các di sản thiên nhiên, các công trình kiến trúc có giá trị, khu danh lam thắng cảnh, khu di tích lịch sử, văn hóa vùng;
- Phân công và quy định trách nhiệm quy hoạch quản lý cho các cấp chính quyền địa phương trong vùng theo đồ án quy hoạch xây dựng vùng;
1.2.1.2 Quản lý về hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị
Hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị bao gồm: hệ thống giao thông, thông
tin liên lạc, cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, cấp thoát nước, xử lý chất thải, nghĩa địa, nghĩa trang; cây xanh công viên và các công trình khác Đây
là những cơ sở vật chất, những công trình phục vụ cho đời sống hàng ngày của người dân đô thị và mang tính dịch vụ công cộng
Hệ thống công trình giao thông gồm: Mạng lưới đường (đường bộ, đường
Trang 27thủy, đường sắt, đường hàng không) và các công trình đầu mối kỹ thuật giao thông (cầu, hầm, quảng trường, bến bãi, cảng hàng không, nhà ga, bến xe, cảng thủy)
Hệ thống thông tin liên lạc gồm công trình đầu mối và mạng lưới phục vụ nhằm đáp ứng các nhu cầu giao tiếp qua nhiều phương tiện giữa các cá thể trong cộng đồng nhằm phục vụ các loại dịch vụ: thư tín, bưu kiện, bưu điện chuyển phát; liên quan đến sự quản lý là: điện thoại, điện tín hữu tuyến; điện thoại không dây; các dịch vụ internet Các công trình trong hệ thống thông tin liên lạc gồm: công trình đầu mối; cột và tháp truyền thu và phát sóng; thiết bị thu phát sóng, mạng lưới đường dây
Hệ thống công trình cấp điện và chiếu sáng gồm: Nhà máy phát điện (thuỷ điện, nhiệt điện, máy phát điện chạy dầu); Trạm biến áp, tủ phân phối, tủ điều khiển; Hệ thống đường dây, cáp dẫn điện; Cột và đèn chiếu sáng
Hệ thống cấp nước gồm các công trình cung cấp nước mặt hoặc nước ngầm và các công trình đầu mối (Trạm xử lý cấp nước, trạm bơm; công trình giếng khoa, đài nước); hệ thống truyền tải và phân phối nước
Hệ thống thoát nước gồm: Sông, ao, hồ điều hoà, đê đập; Cống, rãnh, kênh, mương, máng thoát nước; Trạm bơm cố định hoặc lưu động; Công trình
xử lý nước thải
Hệ thống thu gom và xử lý chất thải gồm: Nhà vệ sinh; Trạm trung chuyển chất thải rắn; các cơ sở xử lý chất thải rắn và công trình phụ trợ: Khu liên hợp xử lý chất thải rắn, bãi chôn lấp chất thải rắn, lò hoặc nhà máy thiêu đốt chất thải rắn, nhà máy xử lý và chế biến phân vi sinh, bãi ủ rác các công trình tái sinh, tái chế chất thải rắn
Các hệ thống công trình hạ tầng khác:
Hệ thống công trình ngầm (công trình công cộng ngầm và phần ngầm của các công trình xây dựng gồm các công trình như: hầm đỗ xe, tầng hầm của nhà cao tầng, bể chứa nước lớn bố trí ngầm, hầm phục vụ lưu trữ, phục vụ khi
có chiến tranh; công trình giao thông ngầm phục vụ giao thông được xây dựng
Trang 28dưới mặt đất: tàu điện ngầm, đường ngầm vượt qua các tuyến giao thông chính…; công trình hạ tầng kỹ thuật ngầm gồm các công trình đường ống cấp nước, cấp năng lượng, thoát nước; công trình đường dây cấp điện, thông tin liên lạc; hào, tuynel kỹ thuật và các công trình đầu mối hạ tầng kỹ thuật được xây dựng ngầm)
Cây xanh, mặt nước: là hạ tầng xã hội những lại chiếm vai trò quan trọng trong hệ thống hạ tầng kỹ thuật với mục đích nâng cao sinh hoạt văn hóa, đời sống tinh thần cho cộng đồng dân cư, mà còn là yếu tố kỹ thuật, yếu tố môi trường không thể thiếu được đối với các đô thị
Nghĩa trang: là nơi để an táng người chết tập trung theo các hình thức táng khác nhau, thuộc các đối tượng khác nhau như nghĩa trang nhân dân, nghĩa trang quân đội, nghĩa trang làng, nghĩa trang công giáo, các nghĩa trang nay được quản lý, xây dựng theo quy hoạch Xây dựng, quy hoạch xây dựng nghĩa trang là việc tổ chức không gian kiến trúc, phân khu chức năng và hệ thống hạ tầng kỹ thuật trong nghĩa trang nhằm khai thác sử dụng có hiệu quả về đất đai và đáp ứng yêu cầu về cảnh quan, bảo vệ môi trường, làm cơ sở pháp lý cho việc đầu tư xây dựng, cải tạo, sử dụng và quản lý nghĩa trang
Hệ biển báo, tín hiệu: là nơi truyền đạt các hiệu lệnh, là nơi cung cấp thông tin những điều cần phải làm, nên biết đối với những hoạt động Hệ thống biển báo có mối liên quan tới hầu hết các hệ thống hạ tầng kỹ thuật khác như: giao thông, năng lượng, cấp nước, thoát nước
Nội dung công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật bao gồm: Lập, lưu trữ hồ sơ; phát hiện các hư hỏng, sự cố, có biện pháp phối hợp sửa chữa khắc phục; giám sát thực hiện duy tu, bảo dưỡng, cải tạo nâng cấp; ký kết hợp đồng cung cấp các dịch vụ công cộng về hạ tầng kỹ thuật đô thị với các tổ chức, cá nhân có nhu cầu
sử dụng; đảm bảo chế độ khai thác, sử dụng theo đúng quy trình, quy phạm kỹ thuật do Nhà nước ban hành; phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm
Trang 291.2.1.3 Quản lý về vệ sinh môi trường
Môi trường đô thị là môi trường sống của con người tại khu vực đô thị, là vấn đề quan tâm của các nhà quản lý, kỹ thuật, chính trị và xã hội ngay từ khi mới hình thành đô thị Vấn đề môi trường đô thị gắn liền với việc sử dụng tài nguyên, quản lý môi trường sinh thái đô thị và phát triển bền vững
Môi trường đô thị là môi trường xây dựng mang tính nhân tạo nhiều hơn
là tự nhiên, con người biến đổi tự nhiên cho phù hợp với điều kiện sống và làm việc, do vậy môi trường đô thị mang tính là một hệ sinh thái, ở trạng thái cân bằng động với sự cân đối giữa nguồn vào ra về năng lượng, vật chất về mọi phương diện
Môi trường đô thị được cấu tạo nên bởi nhiều thành phần vật chất phong phú, đa dạng khác nhau, bao gồm: các khu ở của dân cư, khu sản xuất, khu công nghiệp, khu nghỉ ngơi giải trí, các hệ thống giao thông vận tải, hệ thống kỹ thuật
đô thị Môi trường đô thị đang đứng trước nguy cơ ô nhiễm, tức là sự thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường Do vậy vấn đề đảm bảo vệ sinh môi trường, giảm thiểu ô nhiễm cần đăt lên hàng đầu cho các nhà quản lý
Để quản lý vệ sinh môi trường, các nhà quản lý cần quan tâm trên ba thành phần môi trường có ảnh hưởng nhất đến cuộc sống con người ở đô thị là môi trường khí, môi trường nước và môi trường đất ở đô thị
Các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường khí bao gồm: hạn chế xe tư nhân, kiểm soát ô nhiễm công nghiệp, quy hoạch môi trường và đổi mới cách thức sử dung nhiêu liệu trong sinh hoạt Theo đó hạn chế xe tư nhân thông qua phí đăng ký, lưu hành và thuế nhiên liệu; kiểm soát ô nhiễm công nghiệp thông qua thuế môi trường, đấu thầu xả chất thải độc hại, miễn thuế đổi mới công nghệ; quy hoạch môi trường là sử dụng tốt hơn nguồn tài nguyên sẵn có bảo vệ sức khỏe như quy hoạch không gian, điểm thải khí, mức độ xả khí và các điều kiện khác; đổi mới cách thức sử dụng nhiên liệu gồm việc giáo dục, hướng dẫn
Trang 30hoặc thậm chí ngăn cấm để cư dân đô thị sử dụng nhiên liệu tiết kiệm hơn, sạch hơn và hiệu quả kinh tế cao hơn
Môi trường nước ở đô thị gồm nước mặt và nước ngầm; vấn đề ô nhiễm chất bẩn và suy thoái nguồn nước do công nghiệp, sinh hoạt và giao thông gây ra Ngoài ra vấn đề khai thác quá mức đang dẫn tới việc cạn kiệt nguồn tài nguyên này Để kiểm soát ô nhiễm môi trường nước đòi hỏi các nhà quản
lý phải di dời các nhà máy có nguy cơ ô nhiễm cao ra khỏi khu vực đô thị; yêu cầu áp dụng công nghệ làm sạch đạt tiêu chuẩn cho phép đối với các nhà máy còn lại; có chiến lược đầu tư cho giao thông công cộng, hạn chế tiêu thụ nhiên liệu xăng pha chì; quy hoạch xây dựng các nghĩa trang, bệnh viện hợp
lý, thu phí hoặc thuế tài nguyên để tài trợ cho chi phí xử lý và giáo dục ý thức cộng đồng
Môi trường đất ở đô thị đang đứng trước các nguy cơ ô nhiễm bao gồm: thoái hóa đất tự nhiên và đất canh tác (sa mạc hóa, xói mòn, a xít hóa), nhiễm bẩn do công nghiêp và sinh hoạt (do bãi rác, khu công nghiệp ô nhiễm và nghĩa địa) và việc cạn kiệt nguồn tài nguyên khi đất canh tác bị lạm dụng biến thành đất ở Tốc độ đô thị hóa tăng nhanh làm phạm vi đô thị
mở rộng chiếm cả những vùng đất nhạy cảm với môi trường như đất ngập nước, đất sinh thái, lấp hồ ao và kênh thoát nước Đô thị càng hiện đại càng đòi hỏi đất cho các nhu cầu: làm bãi chứa các chất thải công nghiệp, bãi chứa nguyên vật liệu (kể cả độc hại), bãi chứa rác thải sinh hoạt và nghĩa trang Những khu vực này sau một thời gian hoạt động trở nên không sử dụng được (do hết niên hạn phục vụ như bãi rác) hoặc buộc phải di dời ra ngoài thành phố (do ô nhiễm, do không kinh tế nữa), chúng trở thành vùng đất kém phát triển trong lòng đô thị
Vấn đề tất yếu cho các nhà quản lý là dân cư phát triển đông ở đô thị thì đất đai sử dụng sẽ phải tăng lên, quan trọng là phải sử dụng như thế nào để phát triển bền vững Do vậy cần lựa chọn xây dựng những đô thị trung bình với việc
sử dụng ít đất đai hơn, đi lại ít hơn, hạ tầng ít hơn, quản lý đơn giản hơn và dành
Trang 31nhiều không gian xanh hơn Ngoài ra việc phát triển đô thị còn phải lựa chọn vị trí để tiết kiệm quỹ đất nông nghiệp, sử dụng hợp lý và bảo vệ các vùng đất nhạy cảm với hệ sinh thái đô thị
Một vấn đề rất đáng lưu tâm và là nguyên nhân gây nhiễm bẩn đất và nước chính là chất thải rắn đô thị Môi trường sống đô thị đòi hỏi phải quản lý chất thải rắn theo quy mô công nghiệp và tập trung, trong khi đó truyền thống định cư, lối sống từ nền văn minh nông nghiệp chỉ xử lý theo quy mô từng hộ gia đình Hầu hết vùng nông thôn Việt Nam không có bãi rác mà chỉ có nghĩa trang, rác thải đươc tái sinh, tái sử dụng ngay trong hộ gia đình Đối với đô thị phải có một hệ thống từ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn
Chất thải rắn đô thị gồm nhiều loại, từ rác sinh hoạt, công nghiệp, xây dựng đến bệnh viện đều có thể gây ô nhiễm cho thành phố Do vậy cần đưa ra khỏi thành phố và chôn lấp, xử lý hợp vệ sinh Việc đầu tư và vận hành hệ thống quản lý rác thải có chi phí rất lớn (1m3 rác cần từ 8 đến 15USD chi phí xử lý trọn gói tùy theo đô thị và tính chất rác thải chưa tính đến chi phí đầu tư ban đầu) Bãi để chứa rác cũng tốn khá nhiều diện tích đất (diện tích đất để chôn lấp rác lên đến hàng triệu m2
chưa để đến khu vực cây xanh và cách ly) Khi đất đã làm bãi chứa rác chỉ dùng làm khu cây xanh và không thể làm đất ở Các loại rác đặc biệt ngày càng phát triển ở khu vực đôthị như rác thải nguy hiểm của công nghiệp như kim loại nặng, hóa chất độc hại, rác phóng xạ, rác từ bệnh viện, lò
mổ cần phải xử lý đặc biệt như đốt ở lò cao, khử trùng, bê tông hóa Hệ thống thu gom, vận chuyển và xử lý các loại phế thải này hầu như mới bắt đầu hình thành ở Việt Nam do các quốc gia hảo tâm tài trợ, hoặc gần đây một số địa phương đã mua dây chuyền, công nghệ xử lý rác lỗi thời của nước ngoài về xây dựng trên địa phương nhưng cũng chưa xử lý triệt để được các loại rác thải nguy hại này
Trang 321.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình thực hiện công tác quản lý
sự tồn tại và phát triển của nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và phục vụ người dân Do đó cơ chế chính sách có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quản trị quốc gia; phản ánh thái độ, cách xử sự của nhà nước đối với một vấn đề công, nên nó thể hiện rõ những xu thế tác động của nhà nước lên các chủ thể trong xã hội, giúp họ vận động đạt được những giá trị tương lai mà nhà nước mong muốn Cùng với mục tiêu định hướng, cách thức tác động của cơ chế chính sách cũng có vai trò định hướng cho các chủ thể hành động
Cơ chế chính sách là công cụ hữu hiệu chủ yếu để nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, duy trì sự tồn tại và phát triển của nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và phục vụ người dân Dưới góc độ quản lý, quản trị quốc gia, nhà nước sử dụng chính sách như một công cụ quan trọng tác động vào các lĩnh vực đời sống xã hội để đạt được mục tiêu định hướng của nhà nước
Cơ chế chính sách tạo động lực cho các đối tượng tham gia hoạt động kinh tế - xã hội theo mục tiêu chung Muốn đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội chung, nhà nước phải ban hành nhiều chính sách, trong đó mỗi
Trang 33chính sách lại có những cách thức tác động mang tính khuyến khích đối với các chủ thể thuộc mọi thành phần như: miễn giảm thuế, tạo cơ hội tiếp cận với nguồn vốn có lãi suất ưu đãi, ban hành những thủ tục hành chính đơn giản và các chế độ ưu đãi đặc biệt khác, Sự tác động của chính sách không mang tính bắt buộc, mà chỉ khuyến khích các chủ thể hành động theo ý chí của nhà nước
Cơ chế chính sách phát huy mặt tích cực, đồng thời khắc phục những hạn chế của nền kinh tế thị trường Trong nền kinh tế thị trường, quy luật cạnh tranh và các quy luật thị trường khác đã thúc đẩy mỗi chủ thể trong xã hội đầu
tư vào sản xuất kinh doanh, không ngừng đổi mới công nghệ nâng cao năng suất lao động, chất ượng sản phẩm, hạ giá thành hàng hóa và dịch vụ cung cấp cho xã hội Nhờ đó mà cả xã hội và từng người dân, tổ chức đều được hưởng lợi như: hàng hóa và dịch vụ tăng về số lượng, đa dạng, phong phú về chủng loại, thương hiệu, mẫu mã, chất lượng ngày càng tược nâng cao với giá tiêu dùng ngày càng rẻ Nhưng, sự vận hành của thị trường cũng gây ra những tác động tiêu cực mà các nhà kinh tế gọi là mặt không thành công hay mặt trái của thị trường như: độc quyền trong sản xuất cung ứng không đầy đủ hàng hóa công cộng, sự bất công bằng, chênh lệch giàu nghèo và thất nghiệp gia tăng, bất ổn định kinh tế vĩ mô, cá lớn nuốt cá bé gây ảnh hưởng không tốt lên toàn
xã hội và mỗi người dân Trong tình hình đó, nhà nước phải sử dụng hệ thống
cơ chế chính sách để giải quyết những vấn đề bất cập về kinh tế, khắc phục những thất bại của thị trường thông qua trợ cấp, cung ứng dịch vụ công cho người dân do các doanh nghiệp nhà
1.2.2.2 Nguồn nhân lực
Con người luôn là vấn đề trung tâm của sự phát triển Con người là chủ thể quản lý và cũng là đối tượng quản lý Vấn đề nhân lực cho công tác quản lý
đô thị hiện nay đang là vấn đề đáng quan tâm Nếu đội ngũ công chức có trình
độ chuyên môn, có kiến thức hiểu biết sâu rộng, liên ngành, nghiệp vụ hành chính thành thạo thì sẽ quản lý đô thị đạt hiệu quả Ngược lại nếu bộ máy quản
Trang 34lý đô thị thiếu công chức có năng lực, thiếu tầm nhìn, thiếu tâm huyết, thiếu kiến thức về kinh tế đô thị, còn bệnh chủ quan, giáo điều, bảo thủ, làm việc theo chủ nghĩa kinh nghiệm và thực dụng, ít có khả năng tiếp thu những yêu cầu mới của
xã hội, của cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại thì hiệu quả của công tác quản
lý đô thị không thể cao được
Chất lượng nguồn nhân lực là chỉ tiêu tổng hợp có ý nghĩa quyết định tới nguồn nhân lực và phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó có 5 yếu tố cơ bản gồm: Sức khỏe; trình độ văn hóa; trình độ chuyên môn, kỹ thuật; kỹ năng lao động và nhóm các phẩm chất khác của nguồn nhân lực bao gồm: đạo đức, thái độ, ý thức
kỷ luật và tác phong làm việc, khả năng sáng tạo, tính thích ứng… trong đó tác phong làm việc có vai trò quan trọng đặc biệt trong một tổ chức
Trình độ văn hóa, trình độ về chuyên môn kỹ thuật phản ánh kiến thức của người lao động Kiến thức cùng với kỹ năng và phẩm chất lao động tạo nên năng lực làm việc và vì vậy quyết định chất lượng nguồn nhân lực Đối với một
tổ chức thì năng lực thực hiện công việc ở từng vị trí công tác của lực lượng lao động sau tuyển dụng phản ánh chất lượng của nguồn nhân lực
Thêm vào đó, nhân lực quản lý đô thị phải có tâm và phải có tầm; phải có tâm huyết với nghề, tâm lý vững vàng thì mới yên tâm dốc hết sức lực cho công tác quản lý đô thị Đối với những vị trí nhân lực làm công việc trực tiếp thường xuyên tiếp túc với đối tượng bị quản lý cần có bản lĩnh chính trị vững vàng, chuyên môn nghề nghiệp chắc chắn để có thể truyền đạt tối đa mệnh lệnh hành chính, ý chí của người quản lý đến đối tượng bị quản lý, đồng thời không bị mua chuộc, bao che cho các hành vi xấu
Trình độ hiểu biết của đối tượng bị quản lý cũng ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý Ở các vùng đô thị có dân trí cao, người dân hiểu biết pháp luật, biết cách bảo vệ môi trường sống thì hiệu quả quản lý cao hơn; ngược lại ở các vùng ngoại ô, các khu vực tập trung đông lao động phổ thông có nhận thức pháp luật hạn chế, tác phong,lối sống của cư dân nông nghiệp thì hiệu quả quản lý thấp
Trang 351.2.2.3 Nguồn kinh phí
Muốn xây dựng đô thị thì cần nguồn lực về kinh tế là rất lớn Muốn công tác quản lý đô thị có hiệu quả thì cũng cần nguồn kinh phí lớn Kinh phí để thực hiện đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng giao thông, hạ tầng xã hội theo đúng quy hoạch được duyệt, làm cơ sở để phát triển các ngành nghề, lĩnh vực khác
Hướng tới mục tiêu hiện đại hóa nền hành chính công cần có kinh phí để đầu tư hệ thống trang thiết bị kỹ thuật, ứng dụng các công nghệ hiện đại, xanh
và bền vững, giảm thiểu tác động đến môi trường (như hệ thống camera giám sát
an ninh, hệ thống quan trắc tự động xả thải, hệ thống tín hiệu giao thông sử dụng năng lượng mặt trời, hệ thống cơ sở dữ liệu nền GIS để quản lý hạ tầng kỹ thuật…) hoặc các chi phí cho đào tạo, chuyển giao công nghệ, đặc biệt là công nghệ xử lý chất thải rắn, xử lý nước thải công nghiệp và độc hại…
Ngoài ra với chủ trương tinh gọn bộ máy, giảm đầu mối nhân sự quản lý thì cần có kinh phí cho việc thưởng - phạt phân minh; chi phí cho thu nhập tăng thêm của đội ngũ quản lý và các nhân sự hoạt động trực tiếp, đầu tư trang thiết
bị, kỹ thuật, hệ thống cơ sở dữ liệu và công cụ hỗ trợ; kinh phí để đầu tư hạ tầng
kỹ thuật đô thị đảm bảo đồng bộ, xứng tầm theo đúng quy hoạch được duyệt Ngoài ra, nguồn kinh phí cho công tác đào tạo, chuyển giao công nghệ cũng góp phần không nhỏ đến hiệu quả của công tác quản lý đô thị
1.2.2.4 Cơ chế phối hợp của các cơ quan trong việc thực hiện công tác quản lý đô thị
Trong bộ máy hành chính nhà nước các cấp gồm nhiều đơn vị, ngành, lĩnh vực có liên quan trong công tác quản lý đô thị như: ngành tài chính, ngành công thương, ngành giao thông, ngành xây dựng, ngành thông tin và truyền thông Các cơ quan liên quan này nếu phối hợp với nhau nhịp nhàng thì tăng hiệu quả của công tác quản lý, ngược lại nếu các cơ quan không phối hợp tốt, chồng chéo, không hợp tác, thống nhất thì công tác quản lý đô thị cũng gặp khó khăn
Trang 36Để công tác quản lý đô thị đạt được hiệu quả cao thì điều kiện tiên quyết là phải xây dựng được cơ chế phối hợp trong hoạt động giữa các cơ quan, tổ chức, cùng với đó là các điều kiện để bảo đảm cho cơ chế phối hợp được vận hành đồng bộ, kịp thời
Thực tiễn cho thấy, việc phối hợp trong hoạt động quản lý đô thị có phạm
vi rất rộng, từ công tác phối hợp giữa các cơ quan công quyền với nhau trong bộ máy nhà nước cho đến sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội (như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh ) Bên cạnh đó, còn có cơ chế phối hợp huy động mọi tổ chức, cá nhân, công dân tham gia vào công tác quản lý đô thị
Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước tạo cơ sở cho việc thi hành Hiến pháp cũng như các văn bản quy phạm pháp luật trong thực tế cuộc sống; góp phần nâng cao ý thức pháp luật, đề cao ý nghĩa tôn trọng pháp luật, đề cao kỷ cương phép nước, qua đó góp phần phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm các quyền công dân; phát huy được các nguồn lực để tập trung và xử lý có hiệu quả những vấn đề khó khăn, phức tạp trong công tác quản lý đô thị mà đối với một người, một cơ quan, tổ chức không thể giải quyết được
Tuy nhiên, do điều kiện hoàn cảnh kinh tế - chính trị - xã hội, lĩnh vực phối hợp trong hoạt động quản lý đô thị giữa các ngành liên quan như ngành tài chính, ngành công thương, ngành giao thông, ngành xây dựng, ngành thông tin
và truyền thông chưa được quy định cụ thể; các quy định về điều kiện bảo đảm cho việc phối hợp được đồng bộ, chặt chẽ, thường xuyên cũng chưa được pháp luật đề cập
1.2.2.5 Ý thức của người dân
Người dân đô thị chủ yếu là nhân dân của khu vực ngoại ô di chuyển vào
đô thị và một phần dân gốc của đô thị Các hoạt động hàng ngày của cư dân đô thị tác động trực tiếp hay gián tiếp lên môi trường và hệ thống hạ tầng kỹ thuật
đô thị Chẳng hạn như đi lại trên đường, nước thải sinh hoạt đổ ra mương hay
Trang 37phát thải rác sinh hoạt ra môi trường… Do vậy nếu người dân có ý thức tốt thì
sẽ hạn chế các tác động xấu lên môi trường đô thị; ngược lại có ý thức ko tốt thì gây tác hại cho hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị và môi trường đô thị
Tại các nước phát triển, cư dân đô thị được giáo dục sớm ý thức bảo vệ môi trường, phân loại rác tại nguồn, xả thải đúng nơi quy định; do vậy khi trưởng thành họ trở thành những công dân tốt cho môi trường đô thị Ngược lại tại nhiều nước đang phát triển xem nhẹ việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho con em; mặt khác họ cũng là tấm gương xấu khi trưởng thành, làm cha, làm mẹ và có các hành động trước mặt con cái họ như: đi vệ sinh không đúng nơi quy định, không phân loại rác tại nguồn, che lấp các miệng hố ga thu nước… Khi trở thành những chủ doanh nghiệp, những cư dân đô thị nếu có ý thức bảo vệ môi trường sẽ chọn các phương pháp sản xuất kinh doanh và hình thức xả thải hạn chế giảm thiểu đến môi trường đô thị và ngược lại nếu không
có ý thức lại lựa chọn các công nghệ sản xuất lạc hậu, xả thải trực tiếp chưa qua xử lý ra môi trường để tiết kiệm chi phí thì sớm muộn cũng sẽ được những bài học đắt giá từ môi trường như: biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường
Do vậy muốn quản lý đô thị hiệu quả phải có biện pháp nâng cao nhận thức của nhân dân về văn minh đô thị, văn hóa đô thị cho xứng tầm với sự phát triển của xã hội; bắt đầu với việc giáo dục ý thức con trẻ lúc còn ngồi trên ghế nhà trường; và những bậc làm cha làm mẹ, thầy cô giáo phải là tấm gương sáng cho con em họ noi theo về ý thức bảo vệ môi trường, văn minh đô thị
1.3 Kinh nghiệm quản lý đô thị của các địa phương trong nước và bài học rút ra cho cho thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
1.3.1 Kinh nghiệm thành phố Đà Nẵng
1.3.1.1 Khai thác và quản lý tốt kết cấu hạ tầng giao thông
Thành phố Đà Nẵng tiến hành rà soát, điều chỉnh quy hoạch giao thông vận tải gắn với Quy hoạch chung, Quy hoạch sử dụng đất theo hướng hiện đại hóa, ưu tiên sử dụng đất để phát triển giao thông công cộng, hạn chế xây dựng
Trang 38công trình cao tầng tập trung đông người khu vực trung tâm thành phố; nghiên cứu quy hoạch phân khu chức năng để phát triển không gian đô thị về phía Tây của thành phố sau khi hình thành tuyến đường vành đai phía Tây, đường cao tốc
Đà Nẵng - Quảng Ngãi, đường Hồ Chí Minh đoạn La Sơn - Túy Loan và ga đường sắt mới tại quận Liên Chiểu
Bên cạnh đó, TP Đà Nẵng cũng xây dựng quy hoạch phát triển giao thông ngầm, giao thông trên cao vào quy hoạch chung của thành phố Đà Nẵng đến năm 2030 tầm nhìn 2050 Mục tiêu là phát triển cơ sở vật chất hiện đại, tạo dựng môi trường sống về giao thông, nhà ở, việc làm, vui chơi giải trí, đảm bảo
an ninh quốc phòng Đà Nẵng trong 30 năm sau sẽ là thành phố “Đáng sống, đa dạng, hấp dẫn, thân thiện và phát triển bền vững”
Đà Nẵng kiểm soát việc cấp phép xây dựng đối với công trình tập trung đông người như trung tâm thương mại, nhà hàng, khách sạn, phải đảm bảo diện tích bãi đỗ xe và thực hiện chặt chẽ công tác hậu kiểm sau cấp phép Ưu tiên kinh phí, có cơ chế khuyến khích đầu tư xây dựng các nút giao thông khác mức, các bãi đỗ xe khu vực trung tâm
Đối với công tác quản lý, tiếp tục triển khai Dự án đầu tư xây dựng hệ thống giám sát điểu khiển giao thông thông minh, nhân rộng hệ thống camera giám sát giao thông trên địa bàn thành phố để phục vụ công tác xử lý vi phạm trật tự an toàn giao thông, nâng cao ý thức tham gia giao thông của người dân
Tiếp tục triển khai kịp thời các giải pháp về tổ chức giao thông như tổ chức giao thông một chiều một số tuyến đường; cấm đỗ xe ngày chẵn, ngày lẻ; lắp đặt đèn tín hiệu điều khiển giao thông; xây dựng các vịnh dừng đỗ xe trước các trường học; Xây dựng và triển khai đề án tăng cường vận tải công cộng kết hợp với kiểm soát sử dụng phương tiện cơ giới cá nhân, kiểm soát và điều tiết hợp lý các phương tiện vận tải vào trung tâm thành phố
Phát triển, quản lý, khai thác tốt kết cấu hạ tầng giao thông là một trong những điều kiện cần để xây dựng văn hóa giao thông, góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông
Trang 391.3.1.2 Quản lý đô thị qua mạng xã hội facebook
UBND thành phố Đà Nẵng đã bắt kịp xu thế thời đại khi mà mọi người, mọi nhà đều mạng xã hội Đó là việc lập trang Facebook “Quản lý đô thị Đà Nẵng: Tiện nghi - xanh - sạch - đẹp”.Trang này đã trở thành “kho” chuyện về việc xây dựng thành phố Đà Nẵng xanh - sạch - đẹp, theo đó, bất kỳ người dân nào cũng có thể phản ảnh mọi vấn đề của công tác quản lý đô thị: từ cái cột đèn
hư cho đến chiếc nắp cống hở, chuyện nước ngập hoặc những bãi rác không đúng nơi quy định Không cần đơn thư rườm rà, người dân có thể viết hoặc
“dán” lên tường của trang Facebook này, sẽ có lực lượng chức năng đến tận nơi khắc phục Ý tưởng này nhằm mục đích đánh thức trách nhiệm công dân trong công tác quản lý đô thị nói chung Ban đầu chỉ có “admin” (quản trị) trang và mạng lưới cán bộ công chức các lĩnh vực, sau đó những phản ảnh không còn gói gọn trong các vấn đề hạ tầng đô thị mà cả các vấn đề về du lịch, trật tự đô thị, văn hóa, giao thông thì các lãnh đạo cấp sở cũng tham gia trả lời và bình luận trên trang để cùng nhau tháo gỡ Cứ có người phản ảnh thông tin thì chia nhau theo lĩnh vực xử lý mà “dán” vào “tường” nhà người đó
Cái lợi của quản lý đô thị trên Facebook là xác định được vấn đề ngay qua việc người phản ảnh có thể viết, chụp ảnh, quay phim rất trực quan, sinh động Vấn đề đô thị thì khắp nơi, thông tin càng đa chiều, thay cho lực lượng chính quyền đi kiểm tra thì nay đã có hàng nghìn “tai mắt” của chính quyền để kiểm tra, phản ánh kịp thời các vấn đề về quản lý đô thị Nhờ Facebook mà dù ở công
sở hay đi công tác xa, kể cả nước ngoài, lực lượng quản lý nhà nước vẫn có thể theo dõi được các thông tin lĩnh vực bởi cộng đồng cập nhật liên tục Hơn nữa, khi thông tin công khai, độ tương tác cao nên người dân có thể tăng cường giám sát, công chức không thể quan liêu, chây ỳ được
Với trang Facebook này, mỗi công dân Đà Nẵng đều có thể thể hiện vai trò người làm chủ đô thị, thể hiện trách nhiệm của mình với cộng đồng xã hội bởi đây không phải là sản phẩm thuần túy của chính quyền Mỗi thông tin, phản
Trang 40ánh khi đưa lên sẽ được công khai trên mạng, mọi người cùng đóng góp với người phản ánh; như vậy thông tin sẽ thành đa chiều; chính quyền có thêm kênh thông tin để thu thập và giải thích, tuyên truyền cho nhân dân biết những chủ trương, chính sách mới Người dân trước đây chỉ phản ánh thông tin qua đơn thư, kiến nghị cử tri, nhiều khi giải quyết các sự vụ không kịp thời thì nay chỉ cần phản ánh lên trang sẽ được chính quyền phản hồi ngay và kịp thời xử lý
Người dân càng tín nhiệm cũng là lúc nhóm quản lý nghĩ đến một mục tiêu xa hơn là “xanh - sạch - đẹp” như ý niệm ban đầu Đó là việc xây dựng cộng đồng thành viên thực hiện văn hóa văn minh đô thị thông qua cam kết chấp hành văn hóa xếp hàng, văn hóa còi xe, văn hóa khạc nhổ Văn minh đô thị phụ thuộc chính vào ý thức người dân, do vậy một khi nâng cao được ý thức của người dân thì đó cũng là cách điều chỉnh hành vi để việc QLĐT được tốt hơn
1.3.2 Kinh nghiệm thành phố Huế
1.3.2.1 Phát triển đô thị Huế xanh
Thành phố Huế đã có nhiều cố gắng trong việc bảo tồn, phát huy giá trị
di sản; đồng thời, hướng đến phát triển bền vững theo hướng tăng trưởng xanh, bảo tồn tối đa các giá trị vốn có của môi trường, cảnh quan thiên nhiên theo định hướng “đô thị sinh thái, văn hóa, cảnh quan, thân thiện với môi trường”, được cộng đồng trong nước và quốc tế ghi nhận Bằng việc bố trí hài hòa trong tổng thể không gian kiến trúc đô thị, cảnh quan môi trường với những thảm xanh sinh thái bao gồm sông, núi, gò đồi, đầm phá và nét chấm phá nổi bật là sông Hương thơ mộng uốn khúc giữa thành phố Huế đã tạo nên đặc trưng riêng của đô thị Huế trong sự hài hòa với thiên nhiên và được mệnh danh là một “bài
ca đô thị”
Để giữ cho đô thị di sản, cảnh quan môi trường, chính quyền thành phố bảo tồn riêng từng khu đô thị di sản không chỉ cải tạo để thích ứng với cuộc sống mới, mà vẫn duy trì đặc điểm tổ chức không gian cũ ở các phường nội thành; bảo tồn các vùng cảnh quan 2 bên bờ sông Hương, các đồi Vọng Cảnh,